Thứ Hai, 25 tháng 4, 2022

MỘT CÂU HỎI VÀ BÀI LÀM VỀ GIÁ TRỊ CỦA MÔN LỊCH SỬ ĐỐI VỚI NỀN GIÁO DỤC QUA VIỆC BỘ GIÁO DỤC ĐỀ XUẤT LÀ MÔN"TỰ CHỌN"!

Đề ra: Suy nghĩ của anh/ chị về giá trị của bộ môn lịch sử đối với sự hình thành nhân cách của con người?
********

BÀI LÀM
Khởi nguồn từ huyền thoại Rồng Tiên kết hợp, sông núi giao hoà để hình thành dòng giống Việt Nam. Mẹ Âu Cơ đưa năm mươi con lên núi khai sơn phá thạch, cha Lạc Long Quân đưa 50 con về biển nghìn trùng. Ngay từ cột mốc lịch sử đầu tiên đó đến nay, đất nước ta đã trải qua bao năm tháng thăng trầm suốt 4000 năm dựng và giữ nước. Xuyên suốt chiều dài lịch sử đó, nhân dân ta đã kết tinh nhiều giá trị nhân văn cao đẹp. Nhưng một điều đáng nói trong cuộc sống hiện nay là nhiều học sinh đã bỏ mặc môn lịch sử dân tộc để chạy theo những môn học “hợp thời” mà quên rằng: môn lịch sử mang một giá trị hết sức to lớn trong sự hình thành nhân cách của con người.

Trước hết ta cần hiểu rõ về bộ môn lịch sử: Bộ môn lịch sử là bộ môn khoa học về nghiên cứu và phân tích những sự kiện đã xảy ra, bao gổm ba thời kì: cổ đại, trung đại và cận đại. Chẳng hạn, ta học về lịch sử khởi nguồn của dân tộc ta vào những ngày đầu hình thành nước Văn Lang, hoặc là những triều đại phong kiến trong lịch sử Đại Việt, cho đến thời đại kháng Pháp, đánh Mỹ thần thánh của dân tộc,… và cả lịch sử của Hy Lạp, Liên Xô, vương quốc Anh,…

Như vậy, với cách hiểu trên ta thấy lịch sử là một chặng đường dài của mỗi quốc gia. Dân tộc nào cũng trải qua những năm tháng hào hùng bi tráng. Và nhờ những năm tháng đó mà con người càng hoàn thiện hơn, càng phát triển hơn về mọi mặt trong đó có nhân cách.

Đầu tiên là về kinh nghiệm sống. Từ cuộc sống bộ tộc chuyển sang cuộc sống cộng đồng, con người đã bỏ đi những thói quen không đẹp để hoàn thiện hơn. Chúng ta đúc kết những kinh nghiệm về cuộc sống như nhường nhịn, chia sẻ, yêu thương, giúp đỡ, vị tha, nhân hậu,… nhờ đó mà từ những ứng xử, cử chỉ, lời ăn tiếng nói,.. trở nên văn minh và được truyền lại qua nhiều thế hệ. Ta nhớ đến một Lý Công Uẩn khi dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, Người đã viết một bài chiếu để xem xét ý kiến của muôn dân. Trong bài “Thiên đô chiếu” này, Người đã tinh tế khi kết thúc bài chiếu rằng: “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chổ ở. Các khanh nghĩ thế nào?” Câu hỏi này đã làm hiện ra một Lý Công Uẩn có kinh nghiệm sống, vì đây là một việc làm liên quan đến sinh mệnh của Đất nước, của muôn dân. Nên sự đồng cảm, dân chủ giữa vua với dân là điều rất quan trọng. Do Người xuất thân từ cửa chùa, vì vậy những lẽ sống hợp tình hợp lý đã đi vào trong con người của vị vua anh minh này từ thuở bé.

Bên cạnh đó, bộ môn lịch sử còn giúp cho mỗi người nhìn vào chiều dài lịch sử, rồi tự soi vào giá trị đạo đức bản thân để phát hiện những điểm chưa tốt và chỉnh sửa, khắc phục. Qua những năm phong kiến kiềm hãm, nhân phẩm người phụ nữ bị đánh giá thấp, những bất công đối với những kẻ thấp cổ bé miệng vô cùng nhiều. Tiếp cận với bộ môn lịch sử, để thấu hiểu lẽ đời, tình người, ta sẽ không để cho bản thân mình vướng vào những tư tưởng ấu trĩ để đánh mất đi vẻ đẹp văn minh, vẻ đẹp đạo đức trong mỗi chúng ta. Nhìn cuộc sống ngày nay, văn minh hơn, tốt đẹp hơn, nhưng đâu đó vẫn còn những hủ tục lạc hậu như bạo lực gia đình, ngược đãi với phụ nữ và trẻ em, tư tưởng trọng nam khinh nữ… những điều này đã là của quá khứ rồi, ta đừng lôi nó ra xã hội ngày nay. Nó là nguyên nhân làm băng hoại giá trị đạo đức con người, nhân rộng căn bệnh vô cảm. Một người có học lịch sử, sẽ thấu hiểu, sẽ loại bỏ được những điều tệ hại đó khỏi con người và cuộc sống ngày nay. Tiêu biểu nhất là các hoạt động tuyên truyền của những nhóm sinh viên Hà Nội, luôn đi về những vùng sâu, vùng xa để làm công tác tư tưởng, loại bỏ những suy nghĩ và hành động tiêu cực từng diễn ra trong lịch sử. Làm cho họ hiểu đó không phải là phong tục mà đã trở thành tệ nạn xã hội.

Không chỉ vậy, học lịch sử còn giúp cho tâm hồn trở nên đẹp hơn, nó không chỉ cho ta kiến thức nhất thời, mà còn cho ta cả một tâm hồn đẹp. Đó là sự biết ơn đối với những người đã hy sinh cho tổ quốc, cho sự yên bình của chúng ta hôm nay. Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống “uống nước nhớ nguồn” nên vào những ngày lễ 30 tháng 04, ngày Quốc khánh, thì mọi nhà đều cắm cờ đỏ sao vàng để thể hiện niềm vui chiến thắng, niềm vui độc lập suốt bao năm tháng vẫn chưa hề phai nhạt. Không chỉ vậy mà hành động cắm cờ còn thể hiện sự biết ơn đối với những anh hùng đã hy sinh trên chiến trường. Đặc biệt là hình ảnh dòng người viếng thăm lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, viếng tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thắp hương lên mộ các anh hùng liệt sĩ,… Hành động đó thật đẹp biết bao, thật thiêng liêng biết bao.

Mỗi trang sử là những bài học kinh nghiệm quý giá, giúp ta nhìn ra cái tốt, cái xấu, biết nhận thức rõ về bản chất của xã hội, từ đó giúp cá nhân mỗi con người có thái độ sống sao cho phù hợp với thực tại và cần có cái nhìn lạc quan về tương lại. Thật vậy, người thanh niên xứ Nghệ – Nguyễn Ái Quốc quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước trong tình cảnh nước mất, nhà tan, các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đều thất bại. Bên cạnh đó, Người nhìn thấy được những hạn chế trong con đường cứu nước của những bậc tiền bối như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu,… Điều này giúp người rút ra được kinh nghiệm khi ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc phân biệt được đâu là bạn đâu là thù. Hơn nữa, khi nhìn về lịch sử phát triển của các nước Tây Âu, nhận thấy sự bất công trong nền móng Tư Bản chủ nghĩa, nên khi Cách mạng tháng Tám thành công, Người đã quyết định đưa nước Việt Nam từ chế độ Phong kiến, tiến thẳng lên xây dựng Xã hội Chủ nghĩa. Chính những nhận thức rõ về xã hội mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã làm nước Việt Nam thoát khỏi sự áp bức bóc lột của chế độ Tư bản trong thời kì quá độ.

Ngoài những giá trị to lớn khi học về môn Lịch sử nói chung và nước nhà nói riêng, thì môn lịch sử của nước ngoài như Anh, Trung Quốc, Lào, Campuchia, các nước Mỹ-latinh đều được đưa vào sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy chính thống của nền giáo dục nước ta. Hiểu về lịch sử nước ngoài là thể hiện sự ham học hỏi, trau dồi vốn hiểu biết, và cũng là một thiện chí vô cùng to lớn của người Việt Nam muốn hoà nhập vào năm châu, xoá đi mọi rào cản về chủng tộc, màu da,… lịch sử nước ngoài giúp ta khá nhiều cho việc hình thành những vốn sống, nó sẽ là hành trang bổ ích cho mỗi công dân trong thời đại giao lưu, hợp tác và phát triển.

Bên cạnh những giá trị bổ ích của bộ môn lịch sử đối với sự hình thành nhân cách của con người, trong xã hội ngày nay lại rất nhiều bạn trẻ, nhất là những học sinh thiếu ý thức, chưa có nhận thức tinh tế về môn lịch sử: cho rằng môn lịch sử là môn học bài, chóng quên, không học môn lịch sử mà chỉ chạy theo những môn học bổ trợ cho kì thi Đại học, hoặc là những kẻ vì không thấu hiểu lịch sử nước nhà mà lại có hành động phản bội tổ quốc, phản động,… đáng lên án nhất là nhà sử học Trần Trọng Kim đã làm tay sai cho Pháp, Cù Huy Hà Vũ với những bài viết chống phá chế độ,… Họ quên rằng qua bao năm tháng vất vả, gian lao, suốt chặng đường lịch sử dài kháng chiến bảo vệ dòng sinh mệnh của dân tộc thì nước ta mới có ngày hôm nay.

Vì vậy, bài học to lớn nhất mà ta rút ra được từ môn Lịch sử đó là phải yêu Tổ quốc, có lòng biết ơn đối với những anh hùng dựng nước và giữ nước. Học được những bài học căn bản này thì ta mới tiến đến sự hoàn thiện về nhân cách cá nhân. Dù là còn một học sinh ngồi trên ghế nhà trường hay đã là một công dân thì việc cần làm là rèn dũa nhận thức cho đúng đắn, phải có sự am hiểu rõ về Lịch sử dân tộc để không bị lôi kéo vào con đường phản bội, xuyên tạc quê hương, đất nước. Cần có biện pháp xử phạt nghiêm minh đối với những kẻ chống phá chế độ, quên đi dòng Lịch sử hào hùng của dân tộc…

Khẳng định lại lần nữa, bộ môn lịch sử đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách ở mỗi con người. Do đó, mỗi chúng ta cần coi trọng, đề cao bộ môn Lịch sử trong thời đại hiện nay điều đó cũng phần nào thể hiện chúng ta là người yêu Tổ quốc, giàu lòng biết ơn và có nhận thức đúng đắn./.

Yêu nước ST.

THEO CHÂN BÁC 26/4/1951: "BỘ ĐỘI CHƯA ĂN CƠM, CÁN BỘ KHÔNG ĐƯỢC KÊU MÌNH ĐÓI"

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18, ngày 26 tháng 4 năm 1951: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”.
Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội ta; là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho đội ngũ cán bộ quân đội yêu cầu phải luôn chăm lo đến đơn vị, đồng cam cộng khổ với bộ đội thì bộ đội nhất định tin và nghe theo: “Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh”. Và Người khẳng định: “Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”.
Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, mối quan hệ cán-binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, gương mẫu để bộ đội học tập, noi theo; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”.
Trong giai đoạn hiện nay, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội hằng ngày một cách chu đáo, không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình cảm, sự nêu gương của cán bộ đối với bộ đội. Đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân với tay” thì cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; từ đó, bộ đội sẽ mang hết khả năng để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải luôn là hạt nhân đoàn kết; kiên quyết chống biểu hiện xa rời cấp dưới, quan liêu, hách dịch, vô cảm…; phải thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới.
QĐND
12

TT PUTIN GỬI LỜI TÂM HUYẾT ĐẾN NHÂN DÂN TRÊN TOÀN THẾ GIỚI !

 

Kính gửi các công dân trên hành tinh Trái Đất tuyệt vời của chúng ta!

Tôi, Tổng thống liên bang Nga, Vladimir Putin, đã quyết định trực tiếp nói chuyện với tất cả các bạn, mà không cần thông qua các nhà ngoại giao, các thống đốc và nhà báo của các bạn. Ở Nga, có một thứ gọi là "tai miệng", nơi bạn không thể nói dối, lừa đảo và diễn hài. Nên tôi sẽ nói thẳng để mọi người kiểm chứng tính xác thực của những gì tôi nói.

Nước Nga là một quốc gia giàu có vĩ đại, giá trị chính là hơn 150 triệu người sống trong một lãnh thổ nơi công lý là trên tất cả. Chúng ta không cần những lãnh thổ mới. Chúng tôi có một nguồn năng lượng dồi dào và tất cả các nguồn lực khác. Kể từ thời Great Tartaria và Great Moghol, người dân miền Bắc Âu đã phát triển không phải thông qua các chuyến bay thập tự chinh và thực dân hóa Mỹ, Châu Phi, Ấn Độ, nghiện ma túy ở Trung Quốc, mà thông qua Trung Quốc làm việc của Ur và trong hòa bình của họ.

Những người biết tiếng Nga hiểu rằng "Nga" là một tính từ đề cập đến tất cả người dân của đất nước chúng tôi. Những người Slav Nga, những người Tatar Nga, người Do Thái Nga, những người Nga vẫn ở trong trái tim, mặc dù văn hóa, ngôn ngữ, cách sống của họ có thể khác nhau. Chúng tôi hoan nghênh sự đa dạng thống nhất này.

Một lần nữa, người dân Nga của Nga buộc phải hy sinh mạng sống của họ, bảo vệ thế giới khỏi chủ nghĩa Quốc xã và Chủ nghĩa Phát xít. Chúng tôi đã trao đổi 50 POW của chúng tôi để lấy 50 lính Ukraina. Những người lính Ukraine đã được điều trị y tế tại bệnh viện của chúng tôi, ăn ba bữa ăn nồng nhiệt mỗi ngày và trở về nhà.

Chúng tôi nhận được những người lính Nga với ngón tay và cơ quan sinh sản. Ngay cả bọn Phát xít cũng không làm điều này trong cuộc chiến vừa qua. Chúng tôi sẽ trình bày bằng chứng này cho một tòa án tương lai. Sẽ là nhục nhã cho bất cứ ai bây giờ ủng hộ những kẻ khốn nạn này.

Các nhà cai trị của bạn ở Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Úc và các quốc gia khác đã theo phe với những người phụ này, những người trong chiến đấu đặt thường dân, phụ nữ mang thai và trẻ em lên trước bản thân họ, và cố tình cắt xén họ. Những người Isonsniers của chiến tranh Tôi cảm thấy khó để tưởng tượng bất cứ ai trong tâm trí bình thường của họ sẽ ủng hộ những con quái vật này. Và những người thầu, học giả, Macron và những người dân chủ chủ nghĩa tục tĩu khác không chỉ bảo vệ tội phạm, mà còn tích cực vũ trang cho họ, cung cấp tiền cho họ, điều đó không đủ để giảm giá ở các quốc gia của bạn.

Giá cả đang tăng, thế giới đang sụp đổ, nhưng không phải vì người Nga đang thanh tẩy Châu Âu khỏi những linh hồn ma quỷ mà bởi vì bạn âm thầm quan sát và thực sự ủng hộ làn sóng Quốc xã mới. Chúng tôi sẽ không đến Berlin lần này, chúng tôi sẽ dừng lại ở biên giới lịch sử của chúng tôi, và tất cả những linh hồn ma quỷ mà những người lãnh đạo của bạn mở rộng cánh cửa của họ, sẽ sắp xếp cho bạn một cuộc sống mới "tinh thể", như những Phát xít đã làm, bằng cách thêm sự cắt bao quy đầu của các cơ quan sinh sản.

Kêu gọi tất cả những ai muốn sống và làm việc trong hòa bình, nuôi dạy trẻ em và làm bạn với những người trên toàn thế giới. Giúp Nga chống lại một căn bệnh ung thư mới "Chủ nghĩa Quốc xã Ukraina" Không phải Ukraine nơi những người dân hòa bình và chăm chỉ sống, mà là chủ nghĩa Quốc xã, được nạp năng lượng bởi diều hâu của Mỹ và NATO cho thuế của bạn. Nếu các nhà lãnh đạo của bạn ủng hộ chủ nghĩa Quốc xã, hãy đẩy họ xuống đáy, nắm quyền từ tay bạn.

Người dân Nazis Ukraina tự bảo vệ mình khỏi đạn với dân thường, những người cai trị của bạn, dưới lý do của nước Nga khủng khiếp, cũng đã quyết định khiến dân số phải chịu trọng lượng của giá cao và sắp tư nhân hóa. Ở Ukraine cũng như ở nhà, những người phát xít sống tốt nhờ những công dân bình thường, và những người dân bình thường phải chịu đựng, đây là những tội ác giống hệt ở Ukraine như ở phương Tây. Chúng tôi không phá vỡ lời hứa nào, và các nhà lãnh đạo của bạn đã đánh cắp 300 tỷ đô la và euro từ người dân Nga. Chúng ăn cắp tài sản của công dân của đất nước chúng tôi trên thế giới, cố tình cắt xén lính của chúng tôi, cấm tiếng Nga, họ tấn công vào Nhà thờ của Chúa.

Tôi thấy làm thế nào, ở các quốc gia nơi các nhà lãnh đạo thắt chặt các lệnh trừng phạt chống lại Nga, có một nhận thức ngày càng tăng về những gì đang xảy ra và làn sóng biểu tình ngày càng tăng. Bạn nên suy nghĩ và thay thế những chính trị gia núp sau lưng bạn bằng đạn và giá. Và đừng bỏ nó ra cho đến khi sau này. Nếu chúng ta đoàn kết, thì trong một tuần nữa sẽ không còn Phát xít ở Ukraine. Cuộc sống bình thường sẽ được khôi phục ở châu Âu, Mỹ và các quốc gia khác, và cùng nhau chúng ta sẽ phán xét những Phát xít Ukraina và tất cả các nhà lãnh đạo ủng hộ đưa chủ nghĩa Quốc xã đến một tòa án mới của luật pháp.

Nguyên nhân của chúng tôi là công bằng, chúng tôi sẽ đánh bại chủ nghĩa Quốc xã. Tôi muốn chia sẻ chiến thắng này với tất cả các bạn, cùng nhau và càng sớm càng tốt.

Vladimir Putin tái bút.

KHÔNG THỂ BẺ CONG LỊCH SỬ


Gần 50 năm trôi qua kể từ ngày 30/4/1975, ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tới nay vẫn còn có những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử. Họ cố tình khoét sâu những vết thương chiến tranh, chia rẽ dân tộc, đưa ra các luận điệu bẻ cong lịch sử bởi những động cơ, ý đồ xấu, những mưu đồ lợi ích của bản thân và các nhóm chống đối. Hành động này không chỉ là việc xét lại lịch sử mà còn là sự phá hoại tương lai.

BA “MẢNH ĐẤT” TRÊN MẠNG XÃ HỘI VÀ ÂM MƯU PHÁ HOẠI

 

Để hiện thực hóa mục tiêu chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã và đang cấu kết với nhau, ra sức đẩy mạnh các hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta. Nắm bắt ưu thế của mạng xã hội, chúng đã chọn mạng xã hội như là một “mặt trận” mới để thực hiện mục tiêu chống phá nước ta. Chúng chia môi trường mạng xã hội thành ba “mảnh đất” khác nhau để chống phá bằng các thủ đoạn ngày càng công khai, trực diện, nhưng phù hợp với từng “chất đất” trong ba “mảnh đất” ấy.

Ba “mảnh đất” đó là gì?

 NỖI NHỤC MẤT NƯỚC KHÔNG ĐƯỢC PHÉP LÃNG QUÊN!

Đây là bức ảnh được chụp tại Biên Hòa vào năm 1860, mô tả cảnh một người phụ nữ An Nam làm "nghề" cho chó bú. Những con chó ở đây là chó Tây, chó ngoại của những chủ đồn điền, địa chủ, quan Pháp. Và những người mẹ An Nam này phải chia sẻ giọt sữa của mình cho những con chó ấy, liệu những người mẹ sống trong bối cảnh đất nước tan nát, bị đô hộ, bị “khai hóa văn minh” liệu có đủ sữa cho những đứa con của mình hay không? Không ai rõ cũng chẳng ai hay.
Đó là những hình ảnh đớn đau đã diễn ra cách đây 150 năm mà có lẽ phần lớn chúng ta không tưởng tượng nổi và không nghĩ là nó có thực. Một câu hỏi chình ình trong tâm thức: “Liệu phải chăng bấy giờ, thân phận của cha ông chúng ta không bằng một con chó?”.
Một cái nghề đớn đau khác là đi đồn điền cao su - cái nghề mà khả năng “sống dở chết dở” và “biệt tăm biệt tích” rất cao, và nghề này được nhắc đến trong Lão Hạc của nhà văn Nam Cao. Theo Université Clermont Auvergne, báo cáo tại 11/20 đồn điền cao su lớn nhất An Nam, tỷ lệ tử vong của lao động An Nam lên tới 47% vào năm 1927. Tức là cứ 2 người đi lao động ở đồn điền cao su thì có 1 người chết, 1 người sống dặt dẹo. Tại đồn điền cao su của Micheline, có tới 90% công nhân mắc bệnh sốt rét, 40% trong số đã chết. Do những cái xác quá nhiều nên giới chủ Pháp đành chôn ở dưới các gốc cây cao su, rải rác ở trong từng.
Điều đau đớn của những người còn sống phải đạp lên nấm mồ của những người đã khuất.
Đó là hai ví dụ phản biện lại những luận điểm “khai hóa văn minh”, “đem tự do đến” của những tri thức cấp tiến khi họ mở mồm nói về giai đoạn Pháp đô hộ Việt Nam. Những luận điểm này có vẻ đang ngày càng phổ biến và mở rộng, được tiếp nhận rộng mở hơn.
Đa phần những người sinh sống hiện tại không thấu hiểu được “nỗi nhục mất nước”. Đau đớn thay cho lịch sử, cho những người đã khuất, khi họ phải nằm xuống trong sự nhục nhã và đám con cháu mất dậy nói rằng cái thứ đàn áp họ - lại là những con người nhân nghĩa “mang văn minh đến”.
Tờ Hoàn Cầu của Trung Quốc và RT của Nga từng cà khịa Nhật Bản: “Hơn 300 ngàn người đã chết dưới bom hạt nhân ở Hiroshima và Nagasaki. Là một nỗi nhục nhã nếu như họ không dám nêu tên quốc gia đã gây ra tội ác đó”. Tờ Yonhap của Hàn Quốc bình luận rằng: “Hơn 200 ngàn phụ nữ Hàn quốc đã bị những gã quân phiệt hãm hại. Và một bộ phận giới trẻ ngày nay không biết gì về điều đó. Đó là một nỗi nhục của người dân bán đảo Triều Tiên mà chúng ta không được phép quên, cũng tuyệt đối không được xét lại”.
Điều đáng sợ nhất của một dân tộc là lãng quên quá khứ của chính dân tộc mình và thờ ơ bỏ mặc cho chủ nghĩa bịa đặt và xét lại lịch sử diễn ra.
“Các ngươi nghĩ con người sẽ chết đi khi nào? Khi bị bệnh ư? KHÔNG!!! Khi ăn phải nấm độc ư? KHÔNG!!! Khi bị đại pháo bắn vào ư? KHÔNG!!! CON NGƯỜI TA CHỈ CHẾT ĐI KHI BỊ QUÊN LÃNG!!!”- Dr Hiriluk (One Piece"
---

Có thể là hình ảnh đen trắng về 1 người và văn bản cho biết 'gettyimages 55753112'

NGÀY 26-4-1975: MỞ MÀN CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH!

         Sáng 26-4-1975, binh lính địch bảo vệ vòng ngoài căn cứ Nước Trong lùng sục các vùng chung quanh đã chạm súng với trinh sát Sư đoàn 304. Tới 7 giờ 30 phút, địch cho hai máy bay tới đánh vào đội hình Trung đoàn 9, Sư đoàn 304. Trong ngày 26-4, địch dùng phi pháo liên tục đánh phá khu vực tây bắc Nước Trong và Long Thành. Trước giờ G chiến dịch, địch cho không quân đánh phá ác liệt khu vực trận địa của Quân đoàn 2.

17 giờ ngày 26-4, Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn. Pháo binh của Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 và Quân khu 7 đồng loạt nổ súng trút bão lửa vào Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hòa, Nước Trong, Long Thành, Ðức Thạnh, Bà Rịa...

Hướng đông do Quân đoàn 2 đảm nhiệm: Mũi Sư đoàn 304, Trung đoàn 9 tiến công Trường thiết giáp; Trung đoàn 24 tiến đánh Trường bộ binh ở căn cứ Nước Trong. Tới 18 giờ 45 phút, Trung đoàn 9 chiếm được Trường thiết giáp, địch co lại ở khu vực Trường bộ binh và Trường biệt kích, đồng thời điều thêm lực lượng từ Biên Hòa lên tổ chức phản kích.

17 giờ 35 phút, Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) tiến công quận lỵ Long Thành, Trung đoàn 46 luồn sâu vào sau lưng địch đánh chiếm ngã ba Phước Thiềng, Trung đoàn 18 bao vây địch ở Bỉnh Sơn và làm dự bị cho Sư đoàn.

20 giờ ngày 26-4, Trung đoàn 12 (Sư đoàn 3, Quân khu 5) đánh chiếm Ðức Thạnh, Ðất Ðỏ, Long Ðiền, rồi cùng lực lượng địa phương xóa bỏ một loạt vị trí ven biển.

Hướng đông nam do Quân đoàn 4 đảm nhiệm: Hai Trung đoàn 270 và 273 (Sư đoàn 341) tiến công căn cứ Trảng Bom, trong khi đó Trung đoàn 266 tiến công khu vực phòng thủ của địch từ Hưng Nghĩa - ấp Bàu Cá, tiêu diệt lực lượng còn lại của Sư đoàn 18 và Trung đoàn 5 thiết giáp ngụy. Cùng ngày, Sư đoàn 6 triển khai nam quốc lộ 4 tiến công Hố Nai. Lữ đoàn 52 làm dự bị ở ngã ba Dầu Giây.

Các lực lượng vùng ven trên hai hướng đông và đông nam, đồng loạt tổ chức đánh chiếm các cầu: Ghềnh, Rạch Chiếc, Rạch Cát. Ðịch phản kích chiếm lại, ta chuẩn bị đánh tiếp. Ðoàn đặc công 116 đánh chiếm cầu xa lộ Ðồng Nai, đánh bại lực lượng địch phản kích, giữ vững cầu.

Hướng bắc, đến ngày 26-4, các đơn vị của Quân đoàn 1 đã chiếm lĩnh xong các vị trí sẵn sàng xuất phát tiến công. Một bộ phận Sư đoàn 312 áp sát căn cứ Chánh Lưu, Phước Vĩnh, Phước Hòa thu hút sự chú ý của địch, buộc chúng phải điều Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 ra chặn đường 14. Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 đánh chiếm cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ, thực hành mở cửa đường 16. Ðêm 26-4, Sở Chỉ huy Quân đoàn 1 chuyển từ Rạch Bè xuống Ván Hương để trực tiếp chỉ huy các hướng tiến công.

Hướng tây và tây nam, ngày 26-4, Ðoàn 232 và chủ lực Khu 8 triển khai xong và hoàn thành công tác chuẩn bị. Sư đoàn 8 nhanh chóng tiến ra cắt đường số 4 đoạn từ Long Ðịnh đến Tân Hiệp. Sư đoàn 5 áp sát quốc lộ 4 đoạn từ Bến Lức đến Trà Cao, vượt sông đoạn Ninh - Lộc Giang. Trung đoàn 16 bộ binh tiến công An Lạc - Bình Ðiền. Tiểu đoàn bộ đội địa phương.

Mỹ Tho phối hợp lực lượng vũ trang huyện chiếm đoạn từ Long Ðịnh đến Bủng Môn. Tiểu đoàn đặc công 263, Tiểu đoàn công binh 291 cùng du kích huyện Cái Bè chiếm đoạn từ Hòa Khánh đến bắc Mỹ Thuận. 20 giờ ngày 26-4, Sư đoàn 3 chiếm Ðức Thạnh.

Cùng ngày 26-4, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền gửi thư động viên toàn thể cán bộ và chiến sĩ: ..."Trận quyết chiến chiến lược lịch sử giành thắng lợi cuối cùng của dân tộc bắt đầu. Toàn thể các đơn vị lực lượng vũ trang giải phóng có trách nhiệm dốc toàn lực tiến công, giải phóng quê hương, khu căn cứ của mình đồng thời có trách nhiệm phối hợp chặt tạo điều kiện cho mặt trận Sài Gòn - Gia Ðịnh giành thắng lợi hoàn toàn"...

Trong ngày 26-4, Khu ủy và Quân khu ủy 9 gửi thư kêu gọi và phát động một cao trào tiến công mạnh mẽ đều khắp tất cả huyện, xã với khí thế tổng tiến công và nổi dậy tự giải phóng xã, huyện mình. Quân khu ra lệnh cho lực lượng các tỉnh áp sát vào ven các thị xã để đêm 29 rạng 30-4 đồng loạt tiến công dứt điểm theo kế hoạch đã được thông qua./.
Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG, QUY CHỤP ĐẢNG VIÊN CHÂN CHÍNH VỚI NHỮNG NGƯỜI VI PHẠM KỶ LUẬT ĐẢNG

 

       Thời gian qua, trên một số thông tin mạng, nhất là sau khi Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật một số tổ chức đảng, đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo cao thì các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại ra sức vu khống, nói điều sằng bậy về tinh thần của những người Cộng sản.

VỀ QUAN ĐIỂM "ĐẢNG TA LÀ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN"!

         Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Đó là một lời khẳng định, sự nhắc nhở mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải ghi nhớ và thực hiện.
Đảng Cộng sản Việt Nam, qua nhiều thời kỳ với nhiều tên gọi khác nhau, có khi là Đảng Cộng sản Đông Dương (1930 – 1951), Đảng Lao động Việt Nam (1951 – 1976), đã lãnh đạo nhân dân ta liên tiếp thực hiện và giành thắng lợi nhiều cuộc cách mạng, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc. Đó là sứ mệnh lịch sử mà cũng là công lao của Đảng, không thể phủ định.
Chính vì vậy, Đảng ta xứng đáng và phải giữ cho được vai trò là đảng cầm quyền. Đó là sự khẳng định của Hồ Chí Minh, không phải chỉ cho bản thân mình, mà còn cho các thế hệ đồng bào và lớp lớp đồng chí đã không quản ngại hi sinh đi theo Đảng, một lòng một dạ trung thành với Đảng. Từ bỏ vai trò cầm quyền chính là phủ định công lao của đồng bào, đồng chí và chiến sĩ đã chiến đấu vì mục tiêu cao đẹp của Đảng, từ ngày thành lập cho đến nay. Giữ cho được là một đảng cầm quyền cũng không phải chỉ để cho Đảng mà còn cho nhân dân, cho dân tộc.
Để giữ cho được là đảng cầm quyền, Đảng ta đã pháp quy hóa mong muốn đó của Bác, bằng Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cả trong bản năm 1980, năm 1992 và năm 2013. Riêng Hiến pháp 2013 nêu chi tiết và chia thành các khoản, gồm 136 chữ, nhiều nội dung cụ thể hơn, được phát triển sâu rộng hơn, bao gồm khái quát cả tính chất, vai trò, trách nhiệm và phương thức hoạt động:
“1. Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.
3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng được toàn dân chấp nhận (thông qua việc đại biểu của nhân dân (là Quốc hội) đã tán thành Hiến pháp). Thực tế cho thấy, đến nay, trừ một số kẻ chống phá Đảng ta và nhà nước ta đòi bãi bỏ Điều 4 của Hiến pháp, còn lại tất thảy đồng bào ta vẫn cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là lực lượng lãnh đạo xã hội, đồng nghĩa với việc hưởng ứng đi theo con đường của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, là tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Đây không phải là hiện tượng cá biệt ở Việt Nam mà là mô hình chung có tính quy luật ở các nước xã hội chủ nghĩa. Suy cho cùng, đó là một thực tế khách quan. “Trong các nước xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản là tổ chức thực hiện sự thống trị của giai cấp vô sản, cho nên sự lãnh đạo duy nhất của đảng cộng sản đối với hệ thống chính trị là điều đương nhiên. Điều đó được thể hiện ở đường lối, chính sách của đảng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ được thể chế hóa trong toàn bộ hiến pháp và pháp luật. Bảo đảm sự lãnh đạo của đảng cộng sản là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là bản chất, quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Từ khi ra đời đến nay, Đảng là nhân tố bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó không phải là ý chí chủ quan về chính trị mà là một tất yếu khách quan của lịch sử, mọi mưu toan hạ thấp vai trò của Đảng Cộng sản là trái với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân”.
Tại sao không là “Đảng ta là đảng cầm quyền” mà phải là “một đảng cầm quyền”? “Một” thể hiện tính duy nhất, hàm ý cả tính tuyệt đối. Đảng không được chia sẻ quyền lực với đảng khác trong vai trò cầm quyền của mình (nên hiểu là “không chia sẻ quyền lực” chứ không độc nhất tồn tại, vì thời của Bác còn có Đảng Dân chủ Việt Nam (1944 đến năm 1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (1946 – 1988), nhưng không giữ vai trò lãnh đạo. Tức là không liên minh, liên kết với bất kỳ đảng khác để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình. Đây không phải là sự độc chiếm quyền lực mà đó là kết quả tất yếu của lịch sử.
Tuy nhiên, cũng cần hiểu đầy đủ lời của Người: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Ở đây, Hồ Chí Minh đã hàm ý cảnh báo. Vì là “một đảng cầm quyền” nên có thể phát sinh những vấn đề do chỉ có một đảng nắm quyền, nhất là khi nắm quyền liên tục trong một thời gian dài. Thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc chắn Hồ Chí Minh hiểu rằng mọi sự vật, hiện tượng đều luôn vận động và biến đổi. Là đảng duy nhất cầm quyền, ở đỉnh cao quyền lực, rất có thể nội bộ đảng nảy sinh những trì trệ, thậm chí sai lầm, nếu đảng giáo điều, không phát huy và mở rộng dân chủ, không lắng nghe phản ánh từ nhân dân, không tiếp thu các ý kiến phản biện… Rất có thể, khi cầm quyền trong thời gian dài, đảng tự xây cho mình một “tháp ngà” và tự cách biệt mình với quần chúng nhân dân. Nghiêm trọng hơn, chính điều đó nảy sinh quan liêu, xa dân, tham nhũng, thậm chí độc đoán, dần đánh mất lòng tin của nhân dân. Điều này đã từng xảy ra với một số đảng, dẫn đến kết cục đảng không cầm quyền được nữa, gây những hệ lụy nguy hiểm cho quốc gia, cho dân tộc.
Về điều này, chuyên gia về tư tưởng Hồ Chí Minh, PGS.TS Bùi Đình Phong đã viết: “Đảng cầm quyền phải chống thói “kiêu ngạo cộng sản” như cách nói của Lênin. Trong điều kiện một đảng cầm quyền, duy nhất lãnh đạo cách mạng, bệnh kiêu ngạo dễ nảy sinh. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc tới bệnh kiêu ngạo. Đó là thói “tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”. Bệnh kiêu ngạo dễ dẫn đến mất dân chủ, xa dân, sai về đường lối, hư hỏng về đạo đức. Tự mãn, tự túc là bó mình lại, không cho mình tiến bộ thêm”.
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, một triều đại lúc mới khai sáng thì luôn có vua sáng tôi hiền, có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước thì về sau lại trở nên trì trệ, khủng hoảng, suy tàn. Đây là một hiện tượng bình thường trong lịch sử, trong xã hội, được khái quát trong tư tưởng của người phương Đông, “trăng có khi tròn khi khuyết”. Nhận thức được vấn đề này Đảng luôn luôn tự đổi mới, tự hoàn thiện mình, tự khắc phục các hạn chế, khuyết điểm điểm để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, với yêu cầu lãnh đạo cụ thể.
Vì vậy, là thành viên của “một đảng cầm quyền”, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Những chữ “thực sự”, “thật sự”, “thật” là sự nhấn mạnh của Bác đối với các yêu cầu của Đảng, của mỗi đảng viên trong lời khẳng định “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Tức là, một đảng cầm quyền thì đảng viên phải thực sự như thế, không thể khác được.
Lời cảnh báo này có ẩn ý sâu sắc nên đôi khi không được nhận ra một cách đầy đủ, mà nhiều khi chỉ hiểu rằng Đảng phải cố làm sao giữ được vai trò cầm quyền mà quên những lời nhắc nhở của Bác về những nguy cơ của một đảng cầm quyền cũng như những yêu cầu của đảng viên trong đảng cầm quyền đó. Xét về từ ngữ, lời căn dặn, phát triển từ hàm ý cảnh báo, nhiều hơn hẳn lời khẳng định (50 so với 7 chữ), cũng đủ nói lên tầm quan trọng của lời cảnh báo này.
Đó chính là mỗi đảng viên phải có đạo đức cách mạng. Thực tế hiện nay cho thấy, đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên trở thành một phẩm chất gắn liền với sự tồn tại của Đảng. Hơn bao giờ hết, đạo đức cách mạng trở thành một đòi hỏi quan trọng và cần thiết cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo. Vì vậy, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị để một mặt phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, mặt khác không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng và sự gương mẫu trong cán bộ, đảng viên, đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng nhưng vẫn còn phải tiếp tục thực hiện tích cực và quyết liệt hơn nữa. Nên lời cảnh báo trên vẫn còn nguyên giá trị!

Yêu nước ST.

Phát huy dân chủ trong Đảng để phát triển dân chủ xã hội.

 

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã đi qua chặng đường hơn 20 năm. Thành tựu mà Đảng và nhân dân ta đạt được trong công cuộc đổi mới có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn. Qua hơn 20 năm đổi mới, mà trước hết là đổi mới tư duy, nhận thức lý luận của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong đó có nhận thức về dân chủ đã có những chuyển biến rất căn bản.

Một trong những mục tiêu lớn của đổi mới là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đảng CSVN mang bản chất giai cấp công nhân, giai cấp cách mạng nhất. Với bản chất cách mạng ấy, sức mạnh của giai cấp công nhân được thể hiện tập trung và kết tinh trong sức mạnh của Đảng, tất yếu và tự nhiên bắt nguồn từ mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với dân. Đảng CSVN tồn tại không có mục đích nào khác ngoài phục vụ nhân dân, phấn đấu cho lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội. Nhân dân và dân tộc ủy thác cho Đảng trọng trách lãnh đạo đất nước đi lên CNXH, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, do đó là đảng cầm quyền thì Đảng phải làm hết sức mình để quyền lực thuộc về nhân dân, của nhân dân, mang lại những lợi ích chính đáng cho nhân dân, bảo đảm quyền dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân.

Để thực hiện dân chủ trong xã hội thì trước hết phải đảm bảo dân chủ trong Đảng. Trong Đảng phải tiến hành dân chủ rộng rãi, “phải thực sự mở rộng dân chủ để đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”. Đảng đòi hỏi mỗi đảng viên phải nói và làm đúng đường lối, nghị quyết của Đảng. Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân chính là do sự thiếu dân chủ trong Đảng. Đảng CSVN luôn kiên trì nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng, chống mọi biểu hiện vi phạm quyền dân chủ, dân chủ hình thức, lợi dụng dân chủ để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt Đảng là sự thống nhất biện chứng giữa dân chủ và tập trung. Tập trung không đối lập và tách rời dân chủ. Tập trung dân chủ là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung. Do đó, độc đoán, chuyên quyền là hoàn toàn xa lạ với nguyên tắc này. Tập thể lãnh đạo bảo đảm cho việc thực thi dân chủ nhưng tập thể lãnh đạo không phải là dựa dẫm vào nhau, mà là sử dụng trí tuệ tập thể. Vì sao cần phải tập thể lãnh đạo? Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc một số mặt của một vấn đề. Vì vậy cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm, người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt thì vấn đề mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm”. Do vậy, “nếu lãnh đạo không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc”. Tuy nhiên, tập thể lãnh đạo phải luôn đi đôi cùng cá nhân phụ trách, bởi, như Bác dạy: “việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy”.

Coi trọng và thực hành dân chủ cũng là thể hiện sự coi trọng dân và vì dân của Đảng. Vì nhờ có dân chủ nên đời sống chính trị trong Đảng lành mạnh, trí tuệ của Đảng không ngừng được phát huy, mối quan hệ giữa Đảng với dân ngày càng gắn bó và không ngừng được mở rộng. Từ đó, uy tín của Đảng trong dân ngày càng to lớn, sâu rộng. Dân càng tin yêu Đảng càng tích cực đóng góp những ý kiến tâm huyết để Đảng có những quyết sách đúng đắn. Như vậy dân chủ trong xã hội cũng sẽ phát triển. Phát huy dân chủ trong Đảng, phát triển dân chủ trong xã hội sẽ làm cho người dân càng gần gũi với Đảng bởi họ thấy quyền làm chủ và lợi ích thiết thân của mình được bảo đảm, từ đó mọi đường lối, chính sách của Đảng sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội trong điều kiện một đảng cầm quyền cũng nhằm phát huy quyền làm chủ, vai trò chủ động sáng tạo của các đoàn thể nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, đặc biệt trong việc tham gia phản biện xã hội, quản lý nhà nước và vận động nhân dân thực hiện các đường lối chủ trương của Đảng, từ đó càng thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với dân.

Thực tế thời gian qua, ở nơi này, nơi khác, nhân dân chưa hoàn toàn được thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình. Không phải mọi việc đều là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Một trong những nguyên nhân là do cuộc đấu tranh chống quan liêu tham nhũng chưa đạt kết quả như mong muốn, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm, bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước chậm được củng cố và đổi mới. Tham nhũng quan liêu là nguyên nhân chính làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng, làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng với dân. Để thực sự phát huy dân chủ trong Đảng, phát triển dân chủ trong xã hội nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, phát huy đầy đủ hiệu lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước, Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

Bên cạnh đó, là đảng cầm quyền trong điều kiện hiện nay ở nước ta, Đảng cần đặc biệt quan tâm tới việc chăm lo đội ngũ cán bộ để đảm bảo sự phát triển liên tục của cách mạng và và sự bền vững của chế độ. Muốn vậy, Đảng phải đổi mới quan niệm và phương pháp tiến hành công tác cán bộ theo hướng thực sự dân chủ, kết hợp với tập trung thống nhất theo một quy trình chặt chẽ. Song song đó, cần tăng cường việc lãnh đạo, kiểm tra cán bộ, đảng viên, kiên quyết xử lý những đảng viên, đặc biệt là đảng viên cán bộ có chức có quyền có sai phạm.

Hơn bao giờ hết, Đảng cần quán triệt và vận dụng một cách sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là của toàn dân tộc lãnh đạo đất nước đi đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. 

Quyền lực và kiểm soát quyền lực.

 1 Quyền lực chính trị, một hình thái đặc biệt, quan trọng nhất của quyền lực xã hội. Nó xuất hiện sơ khai cùng với chế độ tư hữu và nhà nước. Loài người bắt đầu xuất hiện chế độ tư hữu thì đồng thời cũng bước đầu hình thành sự phân chia quyền lực và nhà nước xuất hiện. Khi xã hội phát triển, giai cấp tư sản bước lên vũ đài chính trị, tự xác lập quyền đại diện quốc gia bằng nhà nước thì cũng đồng thời xuất hiện các đảng chính trị, đại diện cho lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác nhau. Đảng chính trị nào cũng muốn giành lấy chính quyền nhà nước, dùng nhà nước để thể hiện sức mạnh và sử dụng nhà nước làm công cụ để thống trị xã hội. Quyền lực chính trị gắn liền với các đảng chính trị.

Các đảng chính trị của giai cấp vô sản, tiêu biểu là đảng cộng sản đã chỉ rõ mục đích của mình trong Tuyên ngôn làm rung động thế giới: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: Tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền” - Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (ĐCS).

2 V.I.Lê-nin đã lãnh đạo ĐCS(b) Nga dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, xây dựng Nhà nước Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết (Liên Xô). ĐCS(b) Nga vừa giữ vai trò độc quyền lãnh đạo xã hội, vừa là đảng cầm quyền. Quyền lực chính trị của ĐCS(b) Nga đồng thời cũng là quyền lực của Nhà nước Xô-viết. ĐCS Liên Xô không chấp nhận chế độ đa nguyên chính trị, trên thực tế không có các đảng đối lập. Sau Liên Xô là hệ thống các nước XHCN, trong đó có Việt Nam, đều được xây dựng theo mô hình Xô-viết. Quyền lực chính trị của ĐCS Liên Xô được thể hiện rõ ở chế độ chuyên chính vô sản. Sức mạnh của nó đã từng làm biến đổi thế giới trong gần suốt thế kỷ XX. Phe XHCN đứng đầu là Liên Xô đã tạo ra một sự tương đối cân bằng trong cán cân quyền lực với các nước tư  bản chủ nghĩa (đứng đầu là Hoa Kỳ) trên toàn thế giới.

Trong thời kỳ đầu của Nhà nước Xô-viết, với cương vị là người đứng đầu cơ quan lãnh đạo tối cao của ĐCS, đồng thời là người giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (cơ quan nắm quyền lực cao nhất của Nhà nước Liên Xô), V.I.Lê-nin đã sớm phát hiện những nguyên nhân làm tha hóa quyền lực trong hệ thống chuyên chính vô sản. Sau mấy năm đầu cầm quyền, do sai lầm về đường lối tiến ngay lên chủ nghĩa cộng sản bất chấp quy luật khách quan nên nội bộ Đảng đứng trước nguy cơ từng bước bị thoái hóa khi các cơ quan từ Trung ương đến cơ sở đều không thực hành nghiêm chế độ dân chủ, bè phái chia rẽ nặng nề, không giữ nghiêm tính thống nhất và kỷ luật của Đảng. Với tính hấp dẫn của một đảng chấp chính, bọn cơ hội đã tìm mọi cách chui vào Đảng, khiến trong Đảng không ít đảng viên quá kém đến mức V.I.Lê-nin chỉ rõ: “Phải thanh trừ ra khỏi Đảng chừng chín mươi chín phần trăm những người... tham gia Đảng sau năm 1918”(1).

Trong các cơ quan nhà nước, chủ nghĩa quan liêu, thói vô trách nhiệm, chủ nghĩa hình thức, hội họp quá nhiều: “So với tất cả các nước trên thế giới thì chúng ta chiếm kỷ lục về số lượng đại hội. Không một nước cộng hòa dân chủ nào lại họp nhiều đại hội như nước ta; vả lại họ cũng không cho phép họp nhiều như thế”(2). Nạn giấy tờ và tệ hối lộ phổ biến, không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu và dần dần trên thực tế đã mất khả năng kiểm soát. Quan hệ giữa Đảng và Nhà nước chưa có một cơ chế hợp lý (ngày nay chúng ta thường nói phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế). Bộ máy của các cơ quan Xô-viết quá cồng kềnh, tiêu chuẩn chức danh không rõ ràng, đùn đẩy trách nhiệm. Hoạt động kinh tế kém hiệu quả do không có kiểm tra nên thực hành tùy tiện. Do vậy thất thoát, tham ô, lãng phí quá lớn, bọn cơ hội tha hồ “đục nước béo cò”. Công tác tổ chức - cán bộ kém, bộ máy cồng kềnh, trùng lắp, biên chế tăng vọt, không bố trí đúng người, đúng việc, nhiều vị bộ trưởng không xứng đáng: “Chúng ta có 18 bộ dân ủy thì 15 bộ quá kém; không thể tìm đâu ra các vị bộ trưởng dân ủy tốt”(3). Các ban của Đảng và của Hội đồng Bộ trưởng quá nhiều. Đã có 120 ban. Nhưng có bao nhiêu ban là cần thiết? 16 thôi, V.I.Lê-nin khẳng định. Quan liêu giấy tờ, nghị quyết nhiều, luật pháp không thiếu nhưng không làm sao chuyển biến được tình hình. Quyền lực chính trị bị tha hóa và không được kiểm soát. Nguyên nhân do đâu? Theo V.I.Lê-nin, vì những người cộng sản chưa nhận rõ sự nguy hiểm của ba kẻ thù ở ngay trong Đảng, trong mỗi đảng viên:

Một là, “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa... tưởng rằng chỉ bằng những pháp lệnh cộng sản là có thể giải quyết được tất cả mọi nhiệm vụ của mình”.

Hai là, thiếu văn hóa, nên chỉ nói những chuyện nhảm nhí chứ không phải chính trị.

Ba là, nạn hối lộ. “Nếu còn có một hiện tượng như nạn hối lộ, nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được, vì mọi biện pháp đều sẽ lơ lửng trên không trung, sẽ hoàn toàn không mang lại kết quả gì cả. Một đạo luật chỉ có thể đưa tới kết quả xấu hơn, nếu trên thực tiễn nó được đem áp dụng trong điều kiện nạn hối lộ còn được dung thứ và đang thịnh hành”(4).

Những chỉ dẫn của V.I.Lê-nin nói trên rõ ràng gợi cho chúng ta suy ngẫm nguyên nhân những yếu kém hiện nay của Đảng ta, mà trong phát biểu trước Hội nghị cán bộ quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Từ trước đến nay, Đảng ta luôn luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Đã có không ít các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về xây dựng Đảng. Các Cương lĩnh, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đều có đề cập đến công tác xây dựng Đảng; có đại hội có báo cáo riêng về xây dựng Đảng. Chỉ tính từ Đại hội VI đến nay, BCH Trung ương đã ban hành 8 nghị quyết, Bộ Chính trị ban hành 6 nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng. Ban Bí thư khoá VII đã chỉ đạo tiến hành tổng kết 20 năm xây dựng Đảng thời kỳ 1975-1995; Ban Bí thư khóa IX chỉ đạo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới (1986-2006), trong đó có phần về xây dựng Đảng...

Chúng ta đã tiến hành công tác xây dựng Đảng thường xuyên, liên tục trong nhiều nhiệm kỳ, với nhiều biện pháp, nhiều cuộc vận động, làm cho Đảng ta ngày càng tiến bộ, trưởng thành; song vẫn còn nhiều hạn chế. Các mặt khuyết điểm, yếu kém chưa khắc phục được bao nhiêu, có mặt còn phức tạp thêm, gây băn khoăn, lo lắng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tác động tiêu cực vào sức chiến đấu, vai trò lãnh đạo của Đảng”.

3 V.I.Lê-nin từng khẳng định, người thông minh không phải là người không mắc sai lầm, người thực sự thông minh là người biết nhận ra sai lầm và quyết tâm sửa chữa. Hồ Chí Minh chỉ rõ một đảng biết nhận ra khuyết điểm để cùng nhau sửa chữa là một đảng mạnh, là một đảng tiến bộ, chắc chắn sẽ được lòng dân. Người cũng đã từng nhắc “mở đại hội thì phải cùng nhau dân chủ nghị bàn, nghị rồi thì phải quyết, quyết tâm và tín tâm mà thi hành, nói thì phải làm, chứ đừng biến “khẩu hiệu cách mạng của Đảng mà hóa ra lá bùa thày cúng””(5).

V.I.Lê-nin đã tự phê bình để tình trạng đó kéo dài trong mấy năm liền, nhận ra sai lầm, thừa nhận đó là lỗi của bản thân và đã chỉ ra biện pháp tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng. Người thừa nhận việc giải quyết công việc, quy trách nhiệm và kiểm soát quyền lực trong Đảng và cơ quan Xô-viết. “Trên hình thức, sửa chữa hiện tượng đó là việc rất khó, vì ở nước ta chỉ có một đảng cầm quyền duy nhất đang lãnh đạo”(6). Do đó, kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng cũng đồng thời là việc kiểm soát quyền lực trong các cơ quan nhà nước, bởi hầu hết các quan chức trong bộ máy nhà nước đều là đảng viên cộng sản. Kiểm soát quyền lực của Đảng và của Nhà nước trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền cần phải có một hệ thống các giải pháp đồng bộ, phải thống nhất giữa Đảng và Nhà nước. V.I.Lê-nin đề xuất các giải pháp chủ yếu:

Một là, kiên quyết thanh đảng. “Cuộc thanh đảng tới đây sẽ nhằm vào những người cộng sản lên mặt quan cai trị. Tất cả những người chỉ biết có lập ra hết ban này đến ban nọ, chỉ biết có hội họp, bàn cãi suông, chứ một công việc đơn giản cũng không biết làm... Trong khi đó công tác mà họ phụ trách lại không được tiến hành”(7). Người chỉ đạo kiên quyết trừng phạt những kẻ quan liêu, hối lộ và dung túng hối lộ, đưa ra khỏi Đảng và phế truất họ khỏi bộ máy nhà nước, giao cho tòa án trừng phạt theo luật pháp. Biện pháp thanh đảng quan trọng nhất, quý báu nhất là dân chủ, dựa hẳn vào ý kiến chỉ dẫn của quần chúng công nông ngoài Đảng để tiến hành thanh đảng: “Nếu chúng ta có thể thực sự tiến hành thanh đảng như thế, từ cấp lãnh đạo tối cao đến tận cơ sở, mà không vì nể cá nhân, thì đó sẽ là một thành quả thật sự to lớn của cách mạng”(8).

Hai là, cần hợp nhất hai cơ quan đảng và cơ quan Xô-viết có chức năng, nhiệm vụ tương đồng do một Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách, “giữa hai cơ quan phải có mối liên hệ, vì thiếu mối liên hệ thì hai guồng máy chủ yếu ấy đôi khi sẽ quay vô tác dụng”(9). Đó là hợp nhất Ủy ban Kiểm tra của Đảng với Ban Thanh tra công nông và Ban Đối ngoại của Đảng với Bộ Ngoại giao. Theo V.I.Lê-nin, cần giao cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyền hạn lớn hơn, một cơ chế quyền lực khác. Cụ thể là, nó chịu trách nhiệm trước đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng chứ không chịu trách nhiệm trước BCH Trung ương. Cơ chế này xác định BCH Trung ương là cơ quan có quyền và chấp hành nhiệm vụ của đại hội Đảng, còn Ủy ban Kiểm tra Trung ương là cơ quan có quyền giám sát và kiểm tra quyền lực của BCH do đại hội ủy nhiệm. Hai cơ quan này hoạt động độc lập, cùng chịu trách nhiệm và kiểm soát của cơ quan quyền lực tối cao của Đảng là đại hội đại biểu toàn quốc.

Ba là, kiên quyết tinh giản biên chế, tổ chức. Cụ thể là phải kiểm tra các quyết định về tinh giản biên chế, phải giảm bớt các ban của Đảng, của Hội đồng Bộ trưởng dân ủy, Hội đồng lao động và quốc phòng “để cho các hội đồng ấy nhận rõ và làm tròn nhiệm vụ của chính mình, chứ đừng phân tán sức lực của họ, với ý thức rằng chính mình là người chịu trách nhiệm thì người ta lại nấp sau các ban. Đến thánh cũng không biết đâu mà lần trong các ban đó, không làm thế nào mà tìm ra người chịu trách nhiệm; mọi cái đều rối tung và cuối cùng, người ta đưa ra một nghị quyết trong đó tất cả mọi người đều chịu trách nhiệm”(10).

Bốn là, kiểm soát việc giáo dục và học tập của đảng viên và cán bộ, công chức, đồng thời sử dụng cán bộ đúng với trình độ, năng lực thực tế của họ. Theo V.I.Lê-nin, những người cộng sản phải biết tổ chức công tác giáo dục một cách thực tế; giáo dục và học tập thực sự nghiêm túc, không phải dạy theo lối kinh viện và học theo lối hư danh. Phải hiểu “rằng mình chưa thông thạo công việc, rằng mình phải bắt đầu học tập từ a, b, c trở đi”. Đào tạo gắn liền với sử dụng, lấy thực tiễn để kiểm soát, đánh giá. Theo V.I.Lê-nin thì đảng cầm quyền “cần phải thừa nhận và không nên sợ phải thừa nhận rằng trong 100 trường hợp thì có đến 99 trường hợp là những người cộng sản phụ trách không được sử dụng đúng theo khả năng của họ. Họ không biết tiến hành công việc. Hiện nay điều họ phải làm chính là học tập”(11).

Di huấn của V.I.Lê-nin vẫn nóng bỏng tính thời sự giúp chúng ta khắc phục khuyết điểm, hạn chế mà Báo cáo công tác xây dựng Đảng của BCH Trung ương khóa XII trình Đại hội XIII của Đảng đã viết: “ …công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trong tình hình mới; chất lượng, hiệu quả chưa đồng đều ở các cấp. Công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của nhiều cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu; công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy chưa đi vào nền nếp. Công tác giám sát ở các cấp chưa thường xuyên, có nơi, có lúc chưa thực chất, phạm vi, đối tượng còn hẹp; hiệu quả phát hiện, cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế. Việc thi hành kỷ luật đảng ở một số nơi chưa nghiêm, còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm. Giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm, có nơi còn né tránh”.

Bất cập trong công tác sửa đổi.

 



Việc tách Luật Giao thông đường bộ thành 2 luật riêng rẽ vẫn tiếp tục nhận được nhiều ý kiến tranh luận (Ảnh minh hoạ).

Tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIV (tháng 10-2020), đại đa số đại biểu đã bỏ phiếu không đồng ý tách Luật Giao thông đường bộ (GTĐB) thành 2 luật mới là Luật GTĐB sửa đổi do Bộ Giao thông vận tải chủ trì xây dựng và Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ (TTATGTĐB) do Bộ Công an chủ trì xây dựng. Mới đây, tại Phiên họp thứ 10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XV, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quốc Hùng cho biết Ban Cán sự đảng Chính phủ đã báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị về việc tách Luật GTĐB. Đến nay, việc tách 2 luật nhận được nhiều ý kiến trái chiều, tranh luận gay gắt bởi tính bất cập của vấn đề.

Bất cập bởi hai luật này đang có sự chồng chéo ở nhiều điều khoản liên quan đến phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các chính sách lớn của từng dự án bởi Luật TTATGTĐB do Bộ Công an đề xuất xây dựng, trên cơ sở tách từ Luật GTĐB năm 2008, đến nay nhiều khoản vẫn chưa đạt được sự thống nhất giữa các bên. Nếu tách ra, Luật GTĐB (sửa đổi) vô tình trở nên “què quặt” vì thiếu 2 thành tố quan trọng là quy tắc GTĐB và người điều khiển phương tiện GTĐB. Còn Luật TTATGTĐB lại không phủ hết được các nội dung liên quan đến an toàn giao thông đường bộ như kết cấu hạ tầng đường bộ, phương tiện giao thông, vận tải đường bộ.

Bất cập ở khâu thi hành bởi sinh ra 2 luật đồng nghĩa người dân khi tham gia giao thông phải thực hiện đồng thời 2 luật. Liệu có khả năng tranh chấp trách nhiệm và quyền hạn giữa Bộ Giao thông vận tải và Bộ Công an trong quản lý giao thông đường bộ hay không? Hiện nay chưa rõ cơ quan nhà nước nào chịu trách nhiệm chính về TTATGTĐB? Đây không phải là một lý do buộc phải thêm 1 luật để giải quyết vấn đề.

Bất cập ở khâu tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật khi Luật GTĐB là một trong những luật thiết yếu của đời sống hằng ngày, cần dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Liệu có gây khó khăn cho người dân trong việc cùng lúc phải ghi nhớ và thực hiện không phải 1 mà 2 luật?

Bất cập ở việc tăng thêm tổ chức bộ máy, biên chế bởi theo đề xuất của Chính phủ, việc đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe hiện đang do Bộ GTVT quản lý sẽ chuyển sang cho Bộ Công an (điều được điều chỉnh bởi Luật TTATGTĐB). Đa số đại biểu Quốc hội trong kỳ họp trước cũng đã bỏ phiếu không đồng tình với việc này bởi việc chuyển giao thẩm quyền đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe sẽ vô tình "đẩy" những cán bộ của Bộ GTVT đang thực hiện nhiệm vụ tương đối tốt trở nên thất nghiệp, trong khi Bộ Công an sẽ phải tuyển nhân sự để đảm nhận trọng trách mới.

Thực hiện các nghị quyết của Ðảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, nhiều cơ quan có nhiệm vụ tương đồng hiện nay đang được thí điểm sáp nhập để cùng lúc thực hiện nhiều nhiệm vụ thì tại sao một luật không thể bao hàm nhiều nội dung cần điều chỉnh như Luật GTÐB có thể bao gồm lĩnh vực an toàn giao thông, kết cấu hạ tầng và vận tải đường bộ?

Luật GTĐB đang được kết cấu theo một tổng thể thống nhất mà trong đó, việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông chỉ là một nội dung thống nhất cho các loại hình giao thông. Liệu Luật TTATGTĐB ra đời có thể kéo theo sự ra đời của nhiều luật TTATGT khác như đường sắt, đường thủy, đường hàng không? Bởi vậy, việc phân tách 2 luật cần được cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng, thận trọng trên cơ sở tôn trọng, bảo đảm tính thống nhất trong tổng thể hệ thống pháp luật.

Đấu tranh, đẩy lùi lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

 

Ở nước ta hiện nay, bên cạnh lối sống vì con người, vì cộng đồng xã hội được ví như những đóa hoa tỏa ngát hương thơm làm đẹp cho đời thì vẫn còn một bộ phận người có lối sống tiêu cực, gây hại cho cách mạng và xã hội, đó là lối sống thực dụng.