Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

NGÀY 26-4-1975: MỞ MÀN CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

 Sáng 26-4-1975, binh lính địch bảo vệ vòng ngoài căn cứ Nước Trong lùng sục các vùng chung quanh đã chạm súng với trinh sát Sư đoàn 304. Tới 7 giờ 30 phút, địch cho hai máy bay tới đánh vào đội hình Trung đoàn 9, Sư đoàn 304. Trong ngày 26-4, địch dùng phi pháo liên tục đánh phá khu vực tây bắc Nước Trong và Long Thành. Trước giờ G chiến dịch, địch cho không quân đánh phá ác liệt khu vực trận địa của Quân đoàn 2.

17 giờ ngày 26-4, Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn. Pháo binh của Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 và Quân khu 7 đồng loạt nổ súng trút bão lửa vào Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hòa, Nước Trong, Long Thành, Ðức Thạnh, Bà Rịa...
Hướng đông do Quân đoàn 2 đảm nhiệm: Mũi Sư đoàn 304, Trung đoàn 9 tiến công Trường thiết giáp; Trung đoàn 24 tiến đánh Trường bộ binh ở căn cứ Nước Trong. Tới 18 giờ 45 phút, Trung đoàn 9 chiếm được Trường thiết giáp, địch co lại ở khu vực Trường bộ binh và Trường biệt kích, đồng thời điều thêm lực lượng từ Biên Hòa lên tổ chức phản kích.
17 giờ 35 phút, Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) tiến công quận lỵ Long Thành, Trung đoàn 46 luồn sâu vào sau lưng địch đánh chiếm ngã ba Phước Thiềng, Trung đoàn 18 bao vây địch ở Bỉnh Sơn và làm dự bị cho Sư đoàn.
20 giờ ngày 26-4, Trung đoàn 12 (Sư đoàn 3, Quân khu 5) đánh chiếm Ðức Thạnh, Ðất Ðỏ, Long Ðiền, rồi cùng lực lượng địa phương xóa bỏ một loạt vị trí ven biển.
Hướng đông nam do Quân đoàn 4 đảm nhiệm: Hai Trung đoàn 270 và 273 (Sư đoàn 341) tiến công căn cứ Trảng Bom, trong khi đó Trung đoàn 266 tiến công khu vực phòng thủ của địch từ Hưng Nghĩa - ấp Bàu Cá, tiêu diệt lực lượng còn lại của Sư đoàn 18 và Trung đoàn 5 thiết giáp ngụy. Cùng ngày, Sư đoàn 6 triển khai nam quốc lộ 4 tiến công Hố Nai. Lữ đoàn 52 làm dự bị ở ngã ba Dầu Giây.
Các lực lượng vùng ven trên hai hướng đông và đông nam, đồng loạt tổ chức đánh chiếm các cầu: Ghềnh, Rạch Chiếc, Rạch Cát. Ðịch phản kích chiếm lại, ta chuẩn bị đánh tiếp. Ðoàn đặc công 116 đánh chiếm cầu xa lộ Ðồng Nai, đánh bại lực lượng địch phản kích, giữ vững cầu.
Hướng bắc, đến ngày 26-4, các đơn vị của Quân đoàn 1 đã chiếm lĩnh xong các vị trí sẵn sàng xuất phát tiến công. Một bộ phận Sư đoàn 312 áp sát căn cứ Chánh Lưu, Phước Vĩnh, Phước Hòa thu hút sự chú ý của địch, buộc chúng phải điều Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 ra chặn đường 14. Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 đánh chiếm cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ, thực hành mở cửa đường 16. Ðêm 26-4, Sở Chỉ huy Quân đoàn 1 chuyển từ Rạch Bè xuống Ván Hương để trực tiếp chỉ huy các hướng tiến công.
Hướng tây và tây nam, ngày 26-4, Ðoàn 232 và chủ lực Khu 8 triển khai xong và hoàn thành công tác chuẩn bị. Sư đoàn 8 nhanh chóng tiến ra cắt đường số 4 đoạn từ Long Ðịnh đến Tân Hiệp. Sư đoàn 5 áp sát quốc lộ 4 đoạn từ Bến Lức đến Trà Cao, vượt sông đoạn Ninh - Lộc Giang. Trung đoàn 16 bộ binh tiến công An Lạc - Bình Ðiền. Tiểu đoàn bộ đội địa phương.
Mỹ Tho phối hợp lực lượng vũ trang huyện chiếm đoạn từ Long Ðịnh đến Bủng Môn. Tiểu đoàn đặc công 263, Tiểu đoàn công binh 291 cùng du kích huyện Cái Bè chiếm đoạn từ Hòa Khánh đến bắc Mỹ Thuận. 20 giờ ngày 26-4, Sư đoàn 3 chiếm Ðức Thạnh.
Cùng ngày 26-4, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền gửi thư động viên toàn thể cán bộ và chiến sĩ: ..."Trận quyết chiến chiến lược lịch sử giành thắng lợi cuối cùng của dân tộc bắt đầu. Toàn thể các đơn vị lực lượng vũ trang giải phóng có trách nhiệm dốc toàn lực tiến công, giải phóng quê hương, khu căn cứ của mình đồng thời có trách nhiệm phối hợp chặt tạo điều kiện cho mặt trận Sài Gòn - Gia Ðịnh giành thắng lợi hoàn toàn"...
Trong ngày 26-4, Khu ủy và Quân khu ủy 9 gửi thư kêu gọi và phát động một cao trào tiến công mạnh mẽ đều khắp tất cả huyện, xã với khí thế tổng tiến công và nổi dậy tự giải phóng xã, huyện mình. Quân khu ra lệnh cho lực lượng các tỉnh áp sát vào ven các thị xã để đêm 29 rạng 30-4 đồng loạt tiến công dứt điểm theo kế hoạch đã được thông qua.


"BỘ ĐỘI CHƯA ĂN CƠM, CÁN BỘ KHÔNG ĐƯỢC KÊU MÌNH ĐÓI"

 Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18, ngày 26 tháng 4 năm 1951: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”.

Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội ta; là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho đội ngũ cán bộ quân đội yêu cầu phải luôn chăm lo đến đơn vị, đồng cam cộng khổ với bộ đội thì bộ đội nhất định tin và nghe theo: “Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh”. Và Người khẳng định: “Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”.
Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, mối quan hệ cán-binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, gương mẫu để bộ đội học tập, noi theo; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”.
Trong giai đoạn hiện nay, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội hằng ngày một cách chu đáo, không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình cảm, sự nêu gương của cán bộ đối với bộ đội. Đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân với tay” thì cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; từ đó, bộ đội sẽ mang hết khả năng để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải luôn là hạt nhân đoàn kết; kiên quyết chống biểu hiện xa rời cấp dưới, quan liêu, hách dịch, vô cảm…; phải thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn đảng ta hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Để quy luật ấy phát huy tác dụng, tạo ra động lực cho sự phát triển, phải thông qua hoạt động của con người, của mỗi cán bộ đảng viên và mỗi tổ chức Đảng. Thực tiễn đã chứng minh: nếu nơi nào, khi nào, đảng viên và tổ chức đảng nhận thức đúng, đầy đủ, có động cơ đúng, hành động kiên quyết thì tự phê bình và phê bình phát huy tác dụng; ngược lại thì tự phê bình và phê bình chỉ còn là hình thức, nửa vời, "gặp chăng hay chớ", thậm chí trở thành công cụ cho những kẻ vụ lợi, phá hoại Đảng. Do đó, nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình nghiêm túc trong toàn Đảng, là nhiệm vụ quan trọng và bức thiết trong tình hình hiện nay, để tự phê bình và phê bình phát huy tác dụng, thực sự là quy luật phát triển của Đảng.

Hồ Chí Minh cho rằng, tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, đây là cấp độ có ý nghĩa sâu sắc bao trùm nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Trong bao nhiêu năm hoạt động bí mật, dù bị bọn thực dân khủng bố gắt gao và Đảng ta gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm, nhưng Đảng ta ngày càng phát triển, càng mạnh mẽ và đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi. Đó là vì Đảng ta khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình". Tự phê bình và phê bình được Hồ Chí Minh xác định là một trong 12 điều "Tư cách của Đảng chân chính cách mạng". Tự phê bình và phê bình "Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ". Thực hiện tốt tự phê bình và phê bình "Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công".

Vì vậy, ngay từ đầu tác phẩm Sửa đổi lối làm việc - tác phẩm đã thể hiện rất sâu sắc và toàn diện về vấn đề tự phê bình và phê bình - Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề "Phê bình và sửa chữa". Theo Người, Đảng không che dấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ, đảng viên.

Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm; mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng. Do vậy, mục đích tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, phần xấu bị mất dần đi. "Phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng. Trái lại, còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín thể diện càng tăng thêm".

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa chữa cách làm cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ". Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau sửa chữa những khuyết điểm.

Tự phê bình và phê bình là quy luật chung của các Đảng Cộng sản, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam lại càng quan trọng. Đảng ta ra đời từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa nửa phong kiến, chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến, thực dân "Cũng như những người hàng ngày lội bùn" nên trên người ắt nhiễm hơi bùn. Điều đó không có gì lạ. Mặt khác, khi đảng viên có chức, có quyền rất dễ nảy sinh những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, quan liêu, xa rời quần chúng. Muốn khắc phục những biểu hiện đó, cần tiến hành tự phê bình và phê bình ráo riết, thường xuyên. Cũng như người lội bùn lâu mà nhiễm hơi bùn thì phải tắm rửa và "phải tắm rửa lâu mới sạch".

Mục đích của tự phê bình và phê bình mà Hồ Chí Minh chỉ ra chứa đựng yếu tố cách mạng và tính nhân văn sâu sắc. Để đạt được mục đích ấy cần phải có thái độ đúng, phương pháp đúng, có lý, có tình, trên tình thương yêu giai cấp. Trước hết phải có thái độ đúng trong tự phê bình và phê bình.

Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: Bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi, v.v… mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó. Nhưng "phải suy tính cho kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy" "Để chữa khỏi những bệnh kia, ta phải tự phê bình ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau". Trong lúc phê bình, khuyết điểm phải vạch ra rõ ràng, mà ưu điểm cũng phải nhắc đến. Phải biết khuyến khích nhau, bắt chước nhau, giúp nhau tiến bộ.

Hồ Chí Minh yêu cầu tự phê bình và phê bình phải thường xuyên, liên tục, kiên trì. "Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong đảng sẽ không có bệnh mà đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng". Nếu không làm thường xuyên thì khuyết điểm sẽ ngày càng tích tụ nhiều lên, lấn át ưu điểm. Những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, tham ô, tham nhũng, vi phạm tư cách đảng viên, nguyên nhân suy cho cùng là do không thường xuyên tự phê bình và tiếp thu phê bình. Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của chúng ta thì cũng như giấu diếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy hiểm đến tính mệnh. Phát hiện càng sớm, điều trị bệnh càng chóng khỏi; để bệnh nặng rất khó chữa, thậm chí có khi không chữa nổi.

 Hồ Chí Minh kết luận: "Trong công tác, trong tranh đấu, trong huấn luyện, các đảng viên, các cán bộ, cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình. Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi"[1]. Trong tự phê bình và phê bình phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, kiên quyết chống bệnh tự mãn, kiêu ngạo, tự tư tự lợi, ba hoa… Phải thực hành khẩu hiệu "chí công vô tư".

Tư tưởng Hồ Chí Minh: tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng có giá trị lịch sử và ý nghĩa lý luận, thực tiễn to lớn đối với Đảng, nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên ta. Những tư tưởng đó đã kịp thời định hướng, nâng cao nhận thức và cổ vũ hoạt động tự phê bình và phê bình, khắc phục kịp thời những khuyết điểm yếu kém của cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động lãnh đạo cách mạng. Tư tưởng đó không chỉ có giá trị to lớn trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, mà còn có ý nghĩa rất sâu sắc, thiết thực đối với công tác xây dựng Đảng ta hiện nay.

Giá trị của tư tưởng đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn đảng ta hiện nay.

Quán triệt và thực hiện trong quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình. Khẳng định tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của đảng với nhân dân. Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đảng là một tổ chức chính trị, tất yếu trong quá trình vận động, phát triển, nội bộ Đảng sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Nhưng đó không phải là mâu thuẫn đối kháng, mà là mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu.

Chính nhờ có sự trung thành, quán triệt và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình trong xây dựng và hoạt động, có nhiều chỉ thị nghị quyết, mở nhiều đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong toàn đảng mà Đảng ta mới có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; mới có đủ bản lĩnh vượt qua những thử thách cam go, vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng ở những thời điểm hiểm nghèo, thời điểm vận mệnh "ngàn cân treo sợi tóc".

Thực tiễn xây dựng Đảng cho thấy: Lúc nào, nơi nào việc tự phê bình và phê bình không được thực hiện nghiêm túc thì lúc đó, nơi đó xuất hiện những điều kiện làm suy yếu tổ chức đảng, làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực trong xã hội.

Hiện nay, vẫn còn những biểu hiện xem nhẹ, chưa thực sự nghiêm túc tự phê bình và phê bình. Ở nơi này, nơi khác, lúc này lúc khác, sinh hoạt tự phê bình và phê bình chỉ còn là hình thức. Người ta vẫn tổ chức sinh hoạt đều đặn, nhưng thực chất lại tước mất linh hồn của các buổi sinh hoạt, đó là nguyên tắc dân chủ, cho nên tự phê bình và phê bình bị biến thành vũ khí cầu lợi cá nhân.

Ngày nay, bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, chứa đựng những yếu tố khó lường. Đảng lãnh đạo nhân dân ta thực hiện sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ của Đảng rất nặng nề. Phạm vi, quy mô lãnh đạo ngày càng mở rộng, đối tượng lãnh đạo đa dạng phức tạp; vai trò lãnh đạo của Đảng tăng lên, đòi hỏi Đảng phải luôn luôn và thực sự trong sạch vững mạnh.

Trong khi đó, cuộc sống sinh hoạt của cán bộ, đảng viên chịu nhiều chi phối, tác động của nhiều yếu tố, cả tích cực và tiêu cực. Do những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, sự du nhập lối sống ngoại lai và các tệ nạn xã hội… đã tác động, làm nhiều người thay đổi về quan niệm thang giá trị đạo đức xã hội, làm xói mòn nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp. Đó là những nguy cơ đe dọa sự trong sạch của đảng và của cả hệ thống chính trị.

Một bộ phận cán bộ đảng viên suy thoái về đạo đức lối sống, sa lầy vào chủ nghĩa cá nhân, thực dụng. Sinh ra nhiều căn bệnh nguy hiểm: cục bộ, ích kỷ, vụ lợi, ham quyền lực, ham của cải làm giàu bất chính; lối sống thì xa hoa, hưởng lạc… Không ít cán bộ, đảng viên vì lợi ích cá nhân, mải lo lợi ích cá nhân, gia đình mà quên hết lợi ích của Đảng, của dân.

Để khắc phục tình trạng trên, tự phê bình và phê bình phải được coi là biện pháp cơ bản, có ý nghĩa quyết định. Thực hiện tốt tự phê bình và phê bình cho phép giải quyết thấu đáo các vấn đề nảy sinh về tư tưởng, đạo đức, lối sống một cách kiên quyết, ráo riết nhưng thiết thực, có lý có tình, không rơi vào tình trạng đối kháng, đao to búa lớn, do đó mà đạt hiệu quả cao. Mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng cần thực hiện nghiêm túc những quy định mới về tự phê bình và phê bình mà Hội nghị Trung ương đảng đã ra: Mở rộng dân chủ, khuyến khích tranh luận; tôn trọng tập hợp và xem xét để tiếp thu hết ý kiến đúng đắn của các cấp ủy viên và đảng viên trước khi quyết định. Tập trung vào một số biện pháp chủ yếu như: tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đặc biệt là giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho cán bộ, đảng viên hiểu rõ vai trò, sự cần thiết phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, mục đích phương pháp tự phê bình và phê bình, kiên quyết duy trì, thực hiện nghiêm túc nền nếp chế độ tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, chống mọi biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội thực dụng, cục bộ bè phái, mất đoàn kết.

Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên không thực hiện tốt nghị quyết, chỉ thị của Đảng về tự phê bình và phê bình, nhất là những người có thái độ thành kiến, trù dập người phê bình; phải có biện pháp bảo vệ người phê bình đã dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; mặt khác phải có biện pháp buộc người có khuyết điểm, bị phê bình phải sửa chữa khuyết điểm.

Trong điều kiện xã hội bùng nổ thông tin như hiện nay, các luồng thông tin, các nguồn thông tin, các hình thức truyền tin rất đa dạng phong phú. Một mặt nó mở ra điều kiện thuận lợi mới để thực hiện dân chủ công khai và công bằng trong xã hội.… Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu chu đáo để phát huy tác dụng tốt hơn trong công tác xây dựng Đảng. Mặt khác, cần phải có biện pháp quản lý được tất cả các luồng, các nguồn tin, các phương tiện thông tin, có thể áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm thẩm định, điều tra, kiểm tra nhanh và chính xác các tin tức; quản lý chặt chẽ hoạt động thông tin tự phê bình và phê bình cả ở diện rộng và diện hẹp; chính nó cung cấp những cứ liệu thực tiễn thiết thực cho công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới; và chỉ như vậy mới đảm bảo cho tự phê bình và phê bình thực sự vì sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội.

 

GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên không gian mạng không thể được thực hiện thành công và hiệu quả, nếu như chủ nhân của sự nghiệp ấy không có ý thức bảo vệ xứng tầm; việc giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng không được quan tâm đúng mức, bồi đắp thường xuyên.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, đặc biệt là công nghệ thông tin, internet đã trở thành không gian xã hội mới - “không gian mạng”. Đây là khái niệm được sử dụng thời gian gần đây ở Việt Nam; được hiểu là “mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian, thời gian”. Không gian mạng có đặc điểm cơ bản là: tốc độ truyền tải, tìm kiếm thông tin nhanh, lưu trữ thông tin khổng lồ; tính liên kết cộng đồng, không biên giới, tính đa phương tiện, tương tác rất cao; là một bộ phận cấu thành của xã hội, bao trùm mọi mặt đời sống xã hội, mang lại những cơ hội, vận hội mới để các quốc gia, dân tộc hợp tác và phát triển. Mặt tích cực và mặt tiêu cực của không gian mạng rất phức tạp. Thông tin trên không gian mạng thật giả lẫn lộn, thiếu tính chính xác, khó kiểm chứng và kiểm soát, tác động tiêu cực đối với văn hóa cộng đồng; làm gia tăng nguy cơ lộ lọt bí mật nhà nước; suy giảm quyền lực nhà nước và sức mạnh quốc gia. Đồng thời, là công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại; môi trường “màu mỡ” cho các tổ chức khủng bố, tội phạm hoạt động, v.v.

Lợi dụng lợi thế đó, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu đã, đang triệt để khai thác tính lan tỏa nhằm thực hiện “cuộc cách mạng truyền thông” đưa các thông tin xấu độc, giả mạo, những hình ảnh khiêu dâm, kích động bạo lực, kêu gọi hình thành các hội nhóm trái phép, lực lượng chính trị đối lập hoạt động đối trọng với Đảng; tuyên truyền lối sống thực dụng phương Tây, hưởng thụ, kích động hận thù dân tộc; bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, trong dịp Đại hội lần thứ XIII Đảng và bầu cử Quốc hội khóa XV, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021- 2025 của Nhà nước ta vừa qua, chúng đã sử dụng hàng ngàn website, blog, hàng trăm tạp chí, báo, nhà xuất bản và đài phát thanh có chương trình tiếng Việt để đẩy mạnh các chiến dịch thông tin xuyên tạc, phá hoại về tư tưởng; xuyên tạc các văn kiện trình Đại hội và công tác nhân sự của Đảng; kích động, chia rẽ nội bộ, hình thành các tổ chức chính trị đối lập, hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta. Mục đích của chúng là làm chuyển biến, thay đổi nhận thức chính trị, không phân biệt được thông tin thật và giả, dần dần tin vào những thông tin giả mạo, xấu độc dẫn đến mất niềm tin vào cuộc sống, xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước.

Nhận rõ tầm quan trọng và sự bức thiết bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, ngày 25/7/2018, Đảng ta ra Nghị quyết về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng” và Nghị quyết về “Chiến lược An ninh mạng quốc gia”. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng không gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, rộng khắp, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế; xây dựng, phát triển và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam trên không gian mạng”. Quân đội ta thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là thực hiện nhiệm vụ trong môi trường tác chiến mới, với phương thức, hình thái chiến tranh mới - “không có khói súng”. Điều đó khách quan thúc đẩy, tạo thời cơ và thuận lợi mới, nhưng cũng đặt ra những thách thức đối với nhiệm vụ giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong Quân đội. Yêu cầu cơ bản của giáo dục là phải củng cố, nâng cao nhận thức, niềm tin, thái độ, tình cảm và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng cho mọi cán bộ, chiến sĩ, góp phần hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh mạng và nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.

Để làm được điều đó, cần thực hiện một số nội dung, biện pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường giáo dục nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Quán triệt và thực hiện tốt chỉ thị, nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật trong toàn quân, nhất là các văn bản quy phạm pháp luật về an ninh mạng và bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, như: Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 25/12/2013 của Bộ Chính trị về phát triển và tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông trên Internet; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng Internet và thông tin trên mạng; Thông tư số 09/2014/BTTTT, ngày 19/8/2014 của Bộ thông tin và Truyền thông về hoạt động quản lý, cung cấp sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội; Chỉ thị số 03/CT-BQP, ngày 23/01/2014 của Bộ Quốc phòng về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin và một số vấn đề về tổ chức hoạt động tác chiến không gian mạng; Thông tư số 56/2020/TT-BQP của Bộ Quốc phòng, ngày 05/5/2020 về Quy định quản lý và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong Bộ Quốc phòng, v.v. Phân tích làm rõ bản chất không gian mạng, lợi dụng hình thức này để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch. Nâng cao hiệu quả giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đồng thời, giáo dục Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược An ninh mạng quốc gia, chỉ thị, quy định của Quân đội về quản lý, sử dụng Intrernet, mạng xã hội, v.v. Qua đó, làm cho cán bộ, chiến sĩ “nhận thức, đánh giá đúng, đầy đủ, sâu sắc về thời cơ, thách thức đối với nước ta trên không gian mạng, xác định đúng đắn mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo và nhiệm vụ, giải pháp để có quyết tâm và biện pháp mạnh mẽ, kiên quyết trong không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới”.

Hai là, đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong Quân đội. Cần rà soát, điều chỉnh, xây dựng nội dung, chương trình giáo dục phù hợp với tình hình nhiệm vụ của Quân đội. Trong đó, ưu tiên những nội dung xây dựng bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, phẩm chất đạo đức, phong cách, lối sống; ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; những kiến thức đạo đức, văn hóa, xã hội, khả năng tự vệ và kỹ năng phòng, chống thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Nâng cao chất lượng biên soạn tài liệu học tập chính trị cho các đối tượng. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống với hiện đại. Đổi mới phương thức tuyên truyền của các cơ quan truyền thông Quân đội, phát huy hơn nữa lợi thế của mạng Intrernet; đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục trên không gian mạng. Bên cạnh các hình thức tuyên truyền miệng, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, nói chuyện chuyên đề, hỏi và đáp về pháp luật, quản lý và sử dụng mạng xã hội, cần chú trọng phát huy hiệu quả các trang mạng xã hội, lực lượng chuyên trách đấu tranh trên không gian mạng, Ban chỉ đạo 35 các cấp. Phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm của các chủ thể, mà trực tiếp là cấp uỷ, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, cán bộ chính trị trong lãnh đạo, định hướng, chỉ đạo giáo dục nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.

Ba là, bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng đấu tranh bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Trong đó, tập trung bồi dưỡng phương pháp đấu tranh, tổ chức tuyên truyền trên không gian mạng; phương pháp nhận biết, tiếp nhận thông tin, cách tự vệ, “miễn dịch” trước những thông tin giả, xấu, độc hại; cách tổ chức phối hợp giữa các lực lượng trong theo dõi, xử lý thông tin xấu, độc trên không gian mạng; kỹ năng nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động chống phá trên không gian mạng và các hành vi vi phạm an ninh mạng; kỹ năng sử dụng các biện pháp kỹ thuật khắc phục hậu quả khi bị tấn công trên không gian mạng. Với các lực lượng chuyên trách, cơ quan báo chí Quân đội, cần bồi dưỡng cách thức tổ chức tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm, tổ chức các vệt bài tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận; cách thức xây dựng, duy trì các chuyên mục phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, mở rộng liên kết, số hóa các hoạt động tuyên truyền, đấu tranh trên không gian mạng; đấu tranh, ngăn chặn, bóc gỡ, vô hiệu hóa hoạt động của các tài khoản, kênh thông tin xấu, độc; xây dựng kênh truyền thông uy tín tuyên truyền, định hướng thông tin dư luận trên mạng, như: Youtube, Fanpage, Facebook; đẩy mạnh tương tác, chia sẻ, quảng bá thông tin chính thống đến cộng đồng.

Bốn là, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong Quân đội. Ở đây, cần đặc biệt chú ý hai hướng đấu tranh cơ bản quan hệ chặt chẽ với nhau: thứ nhất, tích cực, chủ động đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc; thứ hai, đấu tranh bảo vệ chủ quyền, an toàn, an ninh không gian mạng để giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong Quân đội. Thực hiện hai hướng đấu tranh trên, cần tích cực, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chúng. Phát huy sức mạnh tổng hợp, vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban, ngành có liên quan đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch của các đối tượng thù địch, phần tử cơ hội trên mạng xã hội.

 

Giữ gìn nhân phẩm, danh dự người đảng viên

 

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XI đến nay, toàn Đảng, toàn dân ta được chứng kiến những bước tiến vượt bậc, thành quả to lớn với thay đổi về chất trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, việc Đảng ta quyết tâm chống “giặc nội xâm”-nạn tham nhũng-một cách quyết liệt, triệt để được các chuyên gia ví như một cuộc đại chỉnh đốn chưa từng có trong lịch sử xây dựng, phát triển của Đảng ta.

Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Trung ương đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để tiếp tục khẳng định quyết tâm làm trong sạch đội ngũ. Trong đó, để tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; không cho lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, Trung ương đã ban hành Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 về những điều đảng viên không được làm. 

Mặc dù vậy, nhìn vào những vụ việc vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước của cán bộ, đảng viên bị phát hiện, xử lý chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay khiến nhiều người chưa thể yên tâm. Nhất là suốt hơn hai năm qua, trong khi cả nước đang gồng mình vượt qua đại dịch, lại có không ít trường hợp cán bộ, đảng viên đã bất chấp liêm sỉ, bất chấp luật pháp và đạo đức xã hội để trục lợi, khiến dư luận xã hội dè bỉu, phẫn nộ.

Chúng ta biết rằng, có không ít trường hợp cán bộ, đảng viên lúc đương chức, khi phát biểu trong hội nghị, trả lời báo chí thì tỏ ra mình liêm khiết, chí công vô tư để đánh bóng uy tín, tên tuổi. Thế nhưng khi tay đã “vấy bẩn” thì những lời phát biểu ấy càng trở nên lố bịch, làm trò cười cho dư luận. Sự nghiệp chính trị, danh dự, uy tín mà biết bao nỗ lực, phấn đấu bền bỉ không dễ gì có được cũng theo đó mà lụi tàn. Thậm chí, những cán bộ, đảng viên “hai mặt” ấy còn làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin nơi quần chúng vào Đảng, bởi họ đều là những người đã từng một thời được quần chúng hết mực tin yêu. Niềm tin là thứ không dễ gì có được, nhưng một khi đã đánh mất niềm tin nơi quần chúng thì cũng không dễ gì lấy lại được. 

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Người khẳng định: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn mỗi đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho đất nước hoàn toàn độc lập, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Phải biết đặt lợi ích của dân tộc, của giai cấp lên trên lợi ích cá nhân, vững vàng trước mọi khó khăn, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Người chỉ rõ, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết “phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu... sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải”.

Những chỉ dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người không phải bỗng dưng mà có được, không thể mua được bằng tiền bạc hay địa vị mà “do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố"... Ngày hôm qua anh là người tốt, có ích cho xã hội, nhưng nếu không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện thì chưa hẳn hôm nay anh còn là người tốt, thậm chí còn gây tổn hại cho uy tín, thanh danh của tổ chức, gây họa cho xã hội...

Danh dự làm nên phẩm hạnh con người, là thước đo giá trị của mỗi người trong xã hội. Với một người bình thường, danh dự đã là cao quý. Là cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, quản lý, danh dự càng cao quý, thiêng liêng. Bác Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn giữ gìn, bồi đắp đạo đức, nhân cách. Người căn dặn: "Hạnh dục phương", nghĩa là đức hạnh, đạo đức phải vuông vắn, ngay thẳng, không làm điều gì khuất tất. Phải tránh xa những thói xấu “lười biếng, gian giảo, tham ô”. Phải biết sống “ngay thẳng, không có việc gì phải giấu Đảng”, “không tham địa vị. Không tham tiền tài”... Đó là phẩm chất, đức hạnh, danh dự của người cộng sản. Cán bộ, đảng viên phải biết giữ “thanh danh của Đảng” và “danh giá của mình”. 

Trong nhiều bài viết và nhiều lần phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở, phân tích sâu sắc về tư cách, đạo đức cách mạng, về liêm sỉ và danh dự của người cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ thanh liêm, giữ liêm sỉ và danh dự của người đảng viên. "Nếu không liêm thì của gì cũng cả gan lấy. Không sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế không chỉ rước họa làm “thân bại danh liệt” và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi, kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn mà làm thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được. Khi không có tài đức mà dám cầm trọng trách để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ. Khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố là vô hình trung đã vứt bỏ mất danh dự, liêm sỉ, tức là lòng hổ thẹn của mình rồi”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Những con số nêu ra trên đây là những trường hợp đã bị phát hiện, xử lý, nhưng trên thực tế, vẫn còn một phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang tự đánh mất phẩm giá, làm hoen ố danh dự của người cộng sản. Họ đã không kiên tâm, bền chí nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn danh dự hai tiếng “đảng viên”; không vượt qua được cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh hoa”. Cũng bởi thế, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, trong nhiều bài viết, bài phát biểu của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh đến lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên là phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân làm cho không ít cán bộ nảy sinh căn bệnh tham ô, tư túi, đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích tập thể, trên cả lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Những bài học đau đớn, xót xa từ rất nhiều cán bộ, đảng viên chỉ vì chút lợi ích vật chất tầm thường mà đánh mất phẩm giá, danh dự, uy tín vẫn còn nguyên giá trị, là tấm gương để chúng ta tự mình soi chiếu, tự mình suy ngẫm và có hành động đúng đắn. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải luôn khắc cốt ghi tâm rằng, một khi đánh mất nhân phẩm và danh dự là mất đi giá trị làm người. Hơn thế, giữ gìn phẩm giá, danh dự, uy tín của một người đảng viên không chỉ là giữ gìn cho mình mà đó còn là giữ gìn và bảo vệ danh thơm, tiếng tốt của Đảng một cách bền vững nhất.

 

Lịch sử, ý nghĩa ngày Quốc tế lao động 1/5


Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác. 

Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ. 
Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: "...Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ". Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không kiếm cớ chối từ.

Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mít tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ "Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!" Cuộc bãi công lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston…hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ phải làm 8 giờ.

Các cuộc biểu tình tại Chicago bị đàn áp nặng nề và diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt... gây nên sự kiện thảm sát Haymarket làm 4 người chết, hơn 70 bị thương và trên 100 người bị bắt năm 1886 tại Chicago, Mỹ. Nhưng cuối cùng, giới chủ phải chấp nhận yêu sách của công nhân. Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: "Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến như vậy".

Ngày 20/6/1889, ba năm sau "thảm kịch" tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản II được nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Friedrich Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước.Từ đó, ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Năm 1920, được sự phê chuẩn của Lênin, Liên Xô (cũ) là nước đầu tiên cho phép người dân được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng kiến này dần dần được nhiều nước khác trên thế giới tán thành.

Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội./.

 

Lịch sử và ý nghĩa của ngày Giải phóng miền Nam (30/4/1975 - 30/4/2022)

 

Vào cuối năm 1974 – đầu năm 1975, nhận thấy tình hình so sánh lực lượng ở Miền Nam có sự thay đổi mau lẹ có lợi cho cách mạng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn Miền Nam trong hai năm 1975 và 1976. Bộ Chính trị nhấn mạnh “cả năm 1975 là thời cơ” và chỉ rõ “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng hoàn toàn Miền Nam trong năm 1975”. Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh cần tranh thủ thời cơ đánh thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh. Sau chiến thắng của quân ta ở chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế-Đà Nẵng, Bộ Chính trị đã nhận định: “Thời cơ chiến lược đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng Miền Nam” và đã đưa ra quyết định: “phải tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng Miền Nam trước mùa mưa”, đồng thời chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được Bộ Chính trị quyết định mang tên “chiến dịch Hồ Chí Minh”. Trước khi tấn công giải phóng Sài Gòn, quân ta đã tiến công Xuân Lộc và Phan Rang, đây là những căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch để bảo vệ Sài Gòn từ phía đông.

Vào lúc 17 giờ ngày 26/4, quân ta đã nổ súng mở đầu chiến dịch, năm cánh quân của ta đã vượt qua tuyến phòng thủ của địch để tiến vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếm các cơ quan đầu não của chúng. 10 giờ 45 phút ngày 30/4, xe tăng và bộ binh của ta tiến vào Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ Nội các của Sài Gòn, Dương Văn Minh vừa lên chức tổng thống ngày 28/4 đã phải tuyên bố đầu hàng quân ta không điều kiện. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng tung bay trên Dinh Độc Lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Đại thắng mùa xuân 1975 đã chứng minh trí tuệ và tài thao lược của Đảng ta trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng, cũng như chứng minh tinh thần quật khởi của người dân Việt Nam trong đấu tranh chống ngoại xâm. Chiến thắng đã chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc, cả nước cùng tiến lên CNXH. Thắng lợi này đã đi vào lịch sử nước ta và của thế giới, như một trang sử chói lọi ở những năm 70 của thế kỷ XX, mang tầm quốc tế, tầm thời đại sâu sắc.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ đây tập trung sức lực và trí tuệ hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng cuộc sống mới; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chiến thắng ngày 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc. Quân và dân ta đã đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta mãi tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông ta đã chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Chúng ta càng tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt tài tình của Đảng cộng sản Việt Nam, vào tinh thần quật cường bất khuất và trí thông minh, sáng tạo của dân tộc ta, của quân đội ta. Mỗi người dân Việt Nam nguyện tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, quyết tâm vươn lên hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh theo chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra./.

 

Kỷ niệm 152 năm Ngày sinh V.I.Lê Nin - Lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng vô sản thế giới

V.I.Lênin tên thật là Vladimir Ilits Ulianov, sinh ngày 22/4/1870 trong một gia đình trí thức tiến bộ ở thành phố Simbirsk (nay là Ulianovsk) của nước Nga. Năm 1891, V.I.Lênin tốt nghiệp ngành Luật, trường Đại học Petersburg và từ năm 1893 trở thành người lãnh đạo nhóm mácxít ở Saint Petersburg. Năm 1894, V.I.Lênin vào Đảng Xã hội Dân chủ Nga. Từ đấy, Người là một trong những nhà tổ chức, lãnh đạo cách mạng Nga.

Là một nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Lênin đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động toàn thế giới, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc.

Theo Lênin, xây dựng chủ nghĩa cộng sản là nhiệm vụ phức tạp hơn nhiệm vụ lật đổ giai cấp tư sản, rằng tương lai của chủ nghĩa cộng sản thuộc về thanh niên, thanh niên là người xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Người cho rằng: “Thế hệ những người lao động được đào tạo trong xã hội tư bản chủ nghĩa thì giỏi lắm chỉ có thể giải quyết được nhiệm vụ phá hủy nền móng của chế độ tư bản già cỗi và đặt được nền móng vững chắc, trên đó chỉ có thế hệ khởi công trong những điều kiện mới, mới có thể xây dựng được”. Như vậy tương lai của chủ nghĩa cộng sản thuộc về thanh niên. Nếu không lôi cuốn được toàn thể quần chúng thanh niên vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới thì sẽ không thể xây dựng được xã hội cộng sản chủ nghĩa.

V.I.Lênin là người đầu tiên vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn nước Nga; chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho việc thành lập Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga - tiền thân của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga, một đảng vô sản kiểu mới đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga làm nên cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, và thực hiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xô Viết; là người đưa chủ nghĩa Mác từ lý luận trở thành hiện thực. Người tích cực đấu tranh cho chủ nghĩa quốc tế vô sản, thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) để lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tập hợp mọi lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.

Dưới ngọn cờ của V.I.Lênin, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới được hình thành; chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt; các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã. Tên tuổi của Lênin đã gắn liền với những cải biến cách mạng vĩ đại nhất trong xã hội loài người từ đầu thế kỷ XX đến nay.

Với cách mạng Việt Nam, tư tưởng của Lênin đã mở ra những chân trời mới, soi đường, chỉ lối cho nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn vận dụng một cách sáng tạo những tư tưởng của Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, tiến hành Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Trong hành trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vô cùng cảm động và hạnh phúc khi đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và Nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

Kỷ niệm 152 năm Ngày sinh V.I Lênin là dịp để mỗi người dân Việt Nam tưởng nhớ và biết ơn công lao to lớn của Người, một nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, người thầy của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm, ra sức thi đua học tập, lao động sáng tạo, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, xây dựng đất nước phát triển, góp phần tích cực vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngày một giàu mạnh và văn minh.

 

TƯỞNG NHỚ ÔNG NHÂN NGÀY KỈ NIỆM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC!

         Ngày nay, nhắc đến Anh hùng lực lượng vũ trang, cố Đại tá Phạm Ngọc Thảo (ảnh dưới ) ai ai cũng đều biết, bởi ông được xếp vào hàng 4 cán bộ tình báo cách mạng hoạt động thành công nhất trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (gồm: cố Đại tá Phạm Ngọc Thảo, cố Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, cố Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ và cố Đại tá Lê Hữu Thúy).
Phạm Ngọc Thảo hy sinh ngày 17-7-1965 khi mới 43 tuổi, trong vỏ bọc là sĩ quan cao cấp của chính quyền Sài Gòn. Về cái chết của vị anh hùng, đã có nhiều tư liệu được báo chí đề cập đến. Ở đây, chỉ xin mở ra một vài chi tiết liên quan do ông Trần Xuân Roanh (88 tuổi, ngụ phường Thống Nhất, TP.Biên Hòa) - là một trong những người chứng kiến thời điểm Phạm Ngọc Thảo bị bắt tại Biên Hòa, cung cấp.

CUỘC ĐÀO THOÁT
LY KỲ:
Ông Trần Xuân Roanh quê gốc ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Năm 1954, ông Roanh theo đoàn giáo dân Công giáo của giám mục Pierre Phạm Ngọc Chi di cư vào Nam. Thời điểm đó có trên 800 ngàn giáo dân theo các linh mục di cư vào Nam trong tổng số 1 triệu di dân, nên chính phủ Ngô Đình Diệm lập ra Phủ Tổng ủy di cư để sắp xếp nơi ăn, chốn ở, việc làm cho đồng bào di cư. Trong đó, đoàn giáo xứ Bùi Chu của giám mục Pierre Phạm Ngọc Chi được cấp khu đất 25 ngàn hécta để tái định cư ở Xuân Lộc và Biên Hòa. Ông Roanh được giám mục Pierre Phạm Ngọc Chi cử làm việc ở Phủ Tổng ủy di cư, sau đó trở thành Ủy viên công cán Phủ Tổng thống.

Tại đây, ông Roanh quen biết và chơi thân với 2 nhân vật: Phạm Ngọc Thảo và Vũ Ngọc Nhạ - thường gọi là Hai Long. Lý do gắn kết đầu tiên là cả 3 đều là dân Công giáo toàn tòng, kế đến là “hợp gu”. Phạm Ngọc Thảo còn gọi là Albert Thảo, hay Chín Thảo, cha ông là Adrian Phạm Ngọc Thuần - một địa chủ lớn ở Vĩnh Long có quốc tịch Pháp, rất thân thiết với Giám mục Ngô Đình Thục (anh của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu), Chín Thảo là con đỡ đầu của vị giám mục quyền uy này. Cả Chín Thảo và Hai Long đều công khai lý lịch tham gia kháng chiến chống Pháp, không hề giấu giếm. Năm 1954, Chín Thảo được Giám mục Ngô Đình Thục giới thiệu với Ngô Đình Nhu, sau đó làm việc tại Phòng Nghiên cứu chính trị của Phủ Tổng thống.

Ông Roanh kể, có “ngờ ngợ” đoán Hai Long hoạt động cách mạng, vì có vài lần Hai Long “gợi ý” ông khi đánh máy các công văn mật của Phủ Tổng thống thì giữ nguyên tờ giấy carbon (giấy than - một cách “photocopy” trước đây) rồi vứt vào sọt rác, sẽ có người kín đáo nhặt và chuyển đi. Riêng Chín Thảo thì ông và mọi người đều không hề nghi ngờ, chỉ đánh giá đây là một người yêu nước và theo chủ nghĩa dân tộc. Đó là vỏ bọc tuyệt vời, rất khéo léo của Phạm Ngọc Thảo.

Năm 1958, ông Roanh nhận ra bản chất của chính quyền Ngô Đình Diệm nên xin nghỉ việc, về Biên Hòa sinh sống. Trong khi đó, Phạm Ngọc Thảo ngày càng được Ngô Đình Diệm tin cậy, trở thành nhân vật có thế lực và tầm ảnh hưởng rất lớn trong quân đội Sài Gòn. Chỉ trong 2 năm 1964-1965, chính trường Sài Gòn liên tục bị chấn động bởi một loạt các cuộc đảo chính, trong đó có 2 cuộc đảo chính do Phạm Ngọc Thảo tham gia và đóng vai trò chủ chốt, được mệnh danh là “Người của những cuộc đảo chính”. Vì thế sau khi trở thành Tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu quyết định tìm bắt bằng được Phạm Ngọc Thảo để diệt trừ hậu họa. Trước tình thế đó, Chín Thảo trốn về Thủ Đức ẩn náu dưới sự hỗ trợ của các vị linh mục.

Mấy hôm sau ngày ông Thảo hy sinh, ông Roanh nhận được điện thoại của người quen làm việc bên an ninh quân đội. Người này sau đó về Biên Hòa, trao cho ông Roanh bộ quần áo cùng với chiếc ghế bố, cả 2 đều dính máu, nói đây là kỷ vật của Chín Thảo, nhờ ông tìm cách trao lại cho bà Phạm Ngọc Thảo (lúc ấy vợ con ông Thảo sống ở Mỹ). Người này cũng cho biết, khoảng hơn 1 giờ sáng 17-7-1965, Phạm Ngọc Thảo bị Giám đốc Cục An ninh quân đội, Trung tá Nguyễn Ngọc Loan tra tấn dã man và bóp hạ bộ cho đến chết. Những kỷ vật này sau đó ông Roanh đã tìm cách chuyển cho bà Phạm Thị Nhiệm, vợ của Chín Thảo.
Ông Roanh cho biết, khoảng đầu tháng 7-1965 Chín Thảo có liên lạc với ông, địa điểm hẹn gặp là tại mộ Đoàn Văn Cự (nay thuộc phường Long Bình, TP.Biên Hòa). Cuộc gặp diễn ra chóng vánh, Chín Thảo nói vắn tắt về hoàn cảnh của mình và hỏi ý kiến của ông Roanh về việc tạm lánh ở Biên Hòa. Ông Roanh đồng tình với quyết định trên và khuyên ông Thảo cứ tiếp tục ẩn náu.

Ban đầu, Chín Thảo ở tại nhà thờ Bến Gỗ (nay thuộc xã An Hòa, TP.Biên Hòa) nhưng do an ninh truy lùng ráo riết, linh mục Giuse Nguyễn Quang Lãm (giáo xứ Vinh Sơn, nay thuộc quận 3, TP.Hồ Chí Minh) sắp xếp cho Phạm Ngọc Thảo về đan viện Phước Lý (xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch ngày nay). Khoảng 6 giờ sáng 16-7-1965, Phạm Ngọc Thảo bị một nhóm 10 người đi trên 2 xe ô tô bắt cóc ngay tại đan viện, đưa lên xe chạy thẳng tới khu rừng chồi (nằm ở khoảng giữa ngã tư Vũng Tàu và ngã ba Bến Gỗ ngày nay, cách quốc lộ 51 khoảng 1km, lúc đó thuộc địa bàn xã Long Bình Tân) để thủ tiêu. Phạm Ngọc Thảo bị bắn vào đầu, nhưng ngay lúc đó có một tốp công nhân cạo mủ cao su đi đến nên nhóm này sợ bị lộ, không kịp kiểm tra xem Chín Thảo đã chết chưa đã quay xe chạy mất.

Phạm Ngọc Thảo bị bắn nhưng không chết, chỉ vỡ xương hàm. 9 giờ sáng, một nhóm giáo dân xã Long Bình Tân phát hiện ông nằm bên đường nên đưa vào trại di cư Công giáo ở gần đó. Ông Thảo xưng là thầy dòng, bị tai nạn và muốn gặp cha xứ để chịu phép xức dầu trước khi chết. Ông trùm họ đạo ở đây là Nguyễn Trọng Điền nhờ một giáo dân tên Đặng Văn Nhung đến gặp linh mục Giuse Bùi Đức Cường ở giáo họ Đa Minh (phường Tam Hiệp, TP.Biên Hòa). Linh mục Cường thuê xe lam (lambretta) đến đón Chín Thảo, đưa về giấu ở ngôi nhà gần Hội dòng nữ tu Đa Minh.

Tuy nhiên, khi chiếc xe lam qua trạm kiểm soát Tân Mai vào lúc 10 giờ 30, một nhân viên cảnh sát cũng là giáo dân trong xứ Đa Minh nên biết linh mục Cường, thấy linh mục đi cùng một người đàn ông bị thương, máu me đầy mặt nên sinh nghi, ghi lại biển số xe lam là NA-6575-A và báo lại cho Trưởng chi cảnh sát quận Đức Tu (tên gọi cũ của TP.Biên Hòa) là Nguyễn Phước Hiệp. Ông Hiệp một mặt trình báo cho Trưởng ty Cảnh sát Biên Hòa Dương Đình Đôi và Quận trưởng quận Đức Tu là Đại úy Cao Văn Của, một mặt tung cảnh sát chìm tìm kiếm Chín Thảo ở khu vực xứ Đa Minh. Sự việc trọng đại, Trưởng ty Cảnh sát Biên Hòa Dương Đình Đôi gọi điện báo cáo Tỉnh trưởng Biên Hòa là Trung tá Trần Văn Hai, nhận được chỉ thị bằng mọi giá phải bắt cho được Phạm Ngọc Thảo và giao cho bên an ninh quân đội.

HY SINH
Lúc 17 giờ 10, một toán cảnh sát bắt giữ Chín Thảo ở khu vực Hội dòng nữ tu Đa Minh rồi đưa về dinh Tư lệnh Quân đoàn 3. Cùng ngày, ông Roanh đưa một nhóm hộ lý vào Nhà thương Biên Hòa (Bệnh viện đa khoa Đồng Nai cũ) thực tập, vì ông có mở một lớp y tế cấp cứu. Khoảng gần 18 giờ, ông Roanh đang ngồi nhậu với một người tên Thọ, phụ trách Nhà thương Biên Hòa thì ông Thọ nhận được điện thoại kêu đưa bác sĩ, hộ lý sang dinh Tư lệnh Quân đoàn 3 gấp.

Ông Roanh giải thích thêm, trước kia dinh Tỉnh trưởng Biên Hòa nằm ở khu vực Nhà thiếu nhi Đồng Nai hiện nay. Đêm 18 rạng sáng 19-2-1965, nhóm của Phạm Ngọc Thảo làm đảo chính (còn gọi là cuộc “biểu dương lực lượng 19-2-1965”) thì “bộ sậu” lãnh đạo ở Biên Hòa đều thay đổi. Trung tướng Nguyễn Bảo Trị về làm Tư lệnh Quân đoàn 3, sử dụng dinh Tỉnh trưởng Biên Hòa làm dinh của mình. Tỉnh trưởng Biên Hòa là Trung tá Mã Sanh Nhơn bị bắt, mất chức, Trung tá Trần Văn Hai về thay thế và dời dinh tỉnh trưởng về góc đường Nguyễn Trãi, cạnh chợ Biên Hòa. 2 dinh thự nằm kề nhau, cùng với Tòa Hành chánh tỉnh (còn gọi là Tòa Bố, nằm ở vị trí UBND tỉnh hiện nay) là một tổng thể, nhưng phía bên dinh Tư lệnh Quân đoàn 3 mới có bãi đáp trực thăng.

Ông Thọ rủ ông Roanh cùng sang. Vào bên trong, ông Roanh giật mình khi thấy người nằm trên chiếc băng ca khiêng xuống từ xe quân đội là Phạm Ngọc Thảo. Ông Thảo cũng nhận ra ông Roanh, nhưng chỉ nhìn thoáng qua mà không nói gì.

Lúc ấy, ông Thảo mặc áo nâu, quần cụt đen, máu dính bê bết. Ông Thảo nói với một người lính tên là Sáu Voi: “Anh cho tôi hỏi có anh Sáu Nhơn ở đây không? Nếu có, nhờ anh nói với Sáu Nhơn là tìm giúp tôi bộ đồ khác để thay”. Sáu Nhơn, tức là Phó tỉnh trưởng Biên Hòa Đỗ Thành Nhơn, do trong “thời điểm tế nhị” đã tránh mặt, không xuất hiện. Ông Roanh thấy vậy, trở về nhà mình lấy bộ đồ “xi-vin” (civil, có nghĩa là dân dụng, là quần tây, áo sơ mi) đem qua cho người lính canh giữ Chín Thảo, nói: “Ông Sáu Nhơn không có ở nhà, người nhà ổng nhờ tôi đem bộ đồ này gởi cho ông Chín Thảo mặc đỡ”. Người lính này nhận, đưa hộ lý thay cho Chín Thảo. Chỉ khoảng 15 phút sau, một chiếc trực thăng H-34 đưa Phạm Ngọc Thảo về Sài Gòn, “áp tải” là đích thân Trưởng ty Cảnh sát Biên Hòa Dương Đình Đôi. Khi băng ca bị khiêng đi, Phạm Ngọc Thảo nhìn thoáng qua ông Roanh, cái nhìn như thay vạn lời nói.
Ngày 17-7-1965, báo chí đưa tin Đại tá Phạm Ngọc Thảo chết tại Cục An ninh quân đội (số 8 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn)./.
Môi Trường ST.

Hiểu thêm chiến sĩ qua học tiếng dân tộc thiểu số

 

Trung đoàn 246 (Sư đoàn 346, Quân khu 1) thực hiện nhiệm vụ quản lý cán bộ, chiến sĩ phần lớn là con em các dân tộc thiểu số (DTTS), với phong tục, tập quán và nền văn hóa đa dạng. Để phát huy những nét truyền thống, bản sắc văn hóa các dân tộc, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ, Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn đã tiến hành những cách làm hay, sáng tạo để nâng cao kiến thức và đời sống văn hóa, tinh thần cho bộ đội.

Trung tá Lý Phương Bắc, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 246 cho biết: “Quá trình thực hiện nhiệm vụ, đơn vị triển khai mô hình câu lạc bộ (CLB) tiếng DTTS nhằm giúp cán bộ có điều kiện hiểu biết thêm về văn hóa vùng miền, tâm tư, tình cảm, tạo sự gần gũi, hiểu biết hơn về đối tượng quản lý; chiến sĩ được nói và phát huy bản sắc dân tộc mình trong quá trình công tác, thêm tin yêu, gắn bó với đơn vị hơn”. CLB chú trọng vào tiếng dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông; được tổ chức thành 4 tổ học tập, mỗi tổ chia thành các nhóm.

Hiểu thêm chiến sĩ qua học tiếng dân tộc thiểu số
Lãnh đạo Trung đoàn 246 trao đổi với học viên trong lớp học tiếng dân tộc thiểu số. 

Các tổ, nhóm cấp tiểu đoàn, đại đội sinh hoạt vào sáng thứ bảy hằng tuần trong khoảng một giờ. Hằng tháng, CLB sinh hoạt tập trung một lần vào chiều thứ sáu tuần đầu của tháng. Ngoài ra, trung đoàn thường xuyên tổ chức ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả nghiêm túc, chặt chẽ. Sau gần hai năm thành lập, CLB có 215 lượt thành viên tham gia.

Theo Thiếu tá Lương Quốc Khánh, Phó chủ nhiệm Chính trị, Chủ nhiệm CLB tiếng DTTS của trung đoàn, hằng tuần, hằng tháng, Ban Chính trị xây dựng kế hoạch, nội dung tự học gửi đến cơ quan, đơn vị, phân chia theo từng cụm từ vựng, từng bài, từng phần, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, bảo đảm tính khoa học, phù hợp với nhận thức của người học. Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị còn hướng dẫn cán bộ tự nghiên cứu việc dạy và học tiếng DTTS trên ứng dụng YouTube của điện thoại thông minh. Hằng tháng, vào ngày chính trị-văn hóa tinh thần ở cơ sở, các cơ quan, đơn vị đều bố trí thời gian để cán bộ trao đổi kiến thức học tiếng DTTS trong tháng; chỉ huy cơ quan, đơn vị kiểm tra nhận thức việc tự học của từng đồng chí cán bộ.

Để nâng cao chất lượng giảng dạy, đơn vị chú trọng công tác xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên gồm 5 đồng chí, chủ yếu là các chính trị viên, chính trị viên phó đại đội, có khả năng sư phạm, tiến hành biên soạn, thục luyện giáo án. Nội dung tập trung vào những từ vựng giao tiếp thông thường, cách phiên âm, cấu trúc câu tiếng DTTS, cách sử dụng số từ trong câu cơ bản và biết được cách xưng hô, chào hỏi, giới thiệu, hẹn gặp, hỏi đường, đếm số, nói về thời gian, tên các ngày trong tuần và các tháng trong năm. Trung đoàn còn chỉ đạo Ban Chính trị chủ động phối hợp với gia đình và địa phương nơi đóng quân rà soát, nắm chắc những quân nhân là người DTTS nhập ngũ vào đơn vị, đặc biệt là những người có khả năng nói, viết và phát âm tốt để làm lực lượng nòng cốt trong học tiếng DTTS.

Là người trực tiếp lên lớp giảng dạy, Trung úy Ma Thế Cường, Chính trị viên Đại đội Trinh sát 20 cho biết: “Quá trình giảng dạy, đội ngũ giáo viên luôn tích cực, chủ động nghiên cứu, đổi mới về nội dung, phương pháp tuyên truyền, kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, giúp người học nắm chắc những từ vựng theo từng chủ đề. Các thành viên trao đổi với nhau, tập phát âm ngay tại lớp; tiến hành ôn luyện, kiểm tra bằng hình thức vấn đáp và trắc nghiệm để nắm chất lượng người học vào cuối tuần. Trong giờ thứ 8, sinh hoạt hằng ngày tại đơn vị, các thành viên sử dụng tiếng DTTS để nâng cao khả năng giao tiếp”.

Thiếu úy Nguyễn Hồng Đạt, Chính trị viên Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, chia sẻ: “Được tham gia sinh hoạt CLB giúp chúng tôi hiểu hơn về tâm tư, tình cảm và ngôn ngữ, phong tục, tập quán của quê hương các chiến sĩ. Từ đó, tình cảm cán binh thêm gắn kết, các chiến sĩ cũng thêm tin tưởng và chia sẻ nhiều hơn với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị”.

Không chỉ học tập tại đơn vị, trong các đợt hành quân dã ngoại làm công tác dân vận của trung đoàn, CLB tiếng DTTS đã phát huy được vai trò, bằng các hình thức sử dụng tờ rơi, tuyên truyền bằng tiếng của đồng bào địa phương; tổ chức nhiều buổi giao lưu, biểu diễn nhạc cụ truyền thống, giới thiệu về văn hóa các dân tộc với nhân dân địa phương. Qua đó giúp bà con thêm hiểu, gần gũi, tăng cường hiệu quả công tác dân vận, mối đoàn kết quân dân.

Có thể khẳng định, CLB tiếng DTTS đã góp phần thiết thực vào việc giúp cấp ủy, chỉ huy và đội ngũ cán bộ Trung đoàn 246 nắm chắc tình hình tư tưởng, quản lý, giáo dục bộ đội; phục vụ tốt công tác tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Bài và ảnh: HẢI BIÊN - VĂN HỒI

NGUỒN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2022

TT PUTIN GỬI LỜI TÂM HUYẾT ĐẾN NHÂN DÂN TRÊN TOÀN THẾ GIỚI!

     Kính gửi các công dân trên hành tinh Trái Đất tuyệt vời của chúng ta!
Tôi, Tổng thống liên bang Nga, Vladimir Putin, đã quyết định trực tiếp nói chuyện với tất cả các bạn, mà không cần thông qua các nhà ngoại giao, các thống đốc và nhà báo của các bạn. Ở Nga, có một thứ gọi là "tai miệng", nơi bạn không thể nói dối, lừa đảo và diễn hài. Nên tôi sẽ nói thẳng để mọi người kiểm chứng tính xác thực của những gì tôi nói.

Nước Nga là một quốc gia giàu có vĩ đại, giá trị chính là hơn 150 triệu người sống trong một lãnh thổ nơi công lý là trên tất cả. Chúng ta không cần những lãnh thổ mới. Chúng tôi có một nguồn năng lượng dồi dào và tất cả các nguồn lực khác. Kể từ thời Great Tartaria và Great Moghol, người dân miền Bắc Âu đã phát triển không phải thông qua các chuyến bay thập tự chinh và thực dân hóa Mỹ, Châu Phi, Ấn Độ, nghiện ma túy ở Trung Quốc, mà thông qua Trung Quốc làm việc của Ur và trong hòa bình của họ.

Những người biết tiếng Nga hiểu rằng "Nga" là một tính từ đề cập đến tất cả người dân của đất nước chúng tôi. Những người Slav Nga, những người Tatar Nga, người Do Thái Nga, những người Nga vẫn ở trong trái tim, mặc dù văn hóa, ngôn ngữ, cách sống của họ có thể khác nhau. Chúng tôi hoan nghênh sự đa dạng thống nhất này.

Một lần nữa, người dân Nga của Nga buộc phải hy sinh mạng sống của họ, bảo vệ thế giới khỏi chủ nghĩa Quốc xã và Chủ nghĩa Phát xít. Chúng tôi đã trao đổi 50 POW của chúng tôi để lấy 50 lính Ukraina. Những người lính Ukraine đã được điều trị y tế tại bệnh viện của chúng tôi, ăn ba bữa ăn nồng nhiệt mỗi ngày và trở về nhà.

Chúng tôi nhận được những người lính Nga với ngón tay và cơ quan sinh sản. Ngay cả bọn Phát xít cũng không làm điều này trong cuộc chiến vừa qua. Chúng tôi sẽ trình bày bằng chứng này cho một tòa án tương lai. Sẽ là nhục nhã cho bất cứ ai bây giờ ủng hộ những kẻ khốn nạn này.

Các nhà cai trị của bạn ở Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Úc và các quốc gia khác đã theo phe với những người phụ này, những người trong chiến đấu đặt thường dân, phụ nữ mang thai và trẻ em lên trước bản thân họ, và cố tình cắt xén họ. Những người Isonsniers của chiến tranh Tôi cảm thấy khó để tưởng tượng bất cứ ai trong tâm trí bình thường của họ sẽ ủng hộ những con quái vật này. Và những người thầu, học giả, Macron và những người dân chủ chủ nghĩa tục tĩu khác không chỉ bảo vệ tội phạm, mà còn tích cực vũ trang cho họ, cung cấp tiền cho họ, điều đó không đủ để giảm giá ở các quốc gia của bạn.

Giá cả đang tăng, thế giới đang sụp đổ, nhưng không phải vì người Nga đang thanh tẩy Châu Âu khỏi những linh hồn ma quỷ mà bởi vì bạn âm thầm quan sát và thực sự ủng hộ làn sóng Quốc xã mới. Chúng tôi sẽ không đến Berlin lần này, chúng tôi sẽ dừng lại ở biên giới lịch sử của chúng tôi, và tất cả những linh hồn ma quỷ mà những người lãnh đạo của bạn mở rộng cánh cửa của họ, sẽ sắp xếp cho bạn một cuộc sống mới "tinh thể", như những Phát xít đã làm, bằng cách thêm sự cắt bao quy đầu của các cơ quan sinh sản.

Kêu gọi tất cả những ai muốn sống và làm việc trong hòa bình, nuôi dạy trẻ em và làm bạn với những người trên toàn thế giới. Giúp Nga chống lại một căn bệnh ung thư mới "Chủ nghĩa Quốc xã Ukraina" Không phải Ukraine nơi những người dân hòa bình và chăm chỉ sống, mà là chủ nghĩa Quốc xã, được nạp năng lượng bởi diều hâu của Mỹ và NATO cho thuế của bạn. Nếu các nhà lãnh đạo của bạn ủng hộ chủ nghĩa Quốc xã, hãy đẩy họ xuống đáy, nắm quyền từ tay bạn.

Người dân Nazis Ukraina tự bảo vệ mình khỏi đạn với dân thường, những người cai trị của bạn, dưới lý do của nước Nga khủng khiếp, cũng đã quyết định khiến dân số phải chịu trọng lượng của giá cao và sắp tư nhân hóa. Ở Ukraine cũng như ở nhà, những người phát xít sống tốt nhờ những công dân bình thường, và những người dân bình thường phải chịu đựng, đây là những tội ác giống hệt ở Ukraine như ở phương Tây. Chúng tôi không phá vỡ lời hứa nào, và các nhà lãnh đạo của bạn đã đánh cắp 300 tỷ đô la và euro từ người dân Nga. Chúng ăn cắp tài sản của công dân của đất nước chúng tôi trên thế giới, cố tình cắt xén lính của chúng tôi, cấm tiếng Nga, họ tấn công vào Nhà thờ của Chúa.

Tôi thấy làm thế nào, ở các quốc gia nơi các nhà lãnh đạo thắt chặt các lệnh trừng phạt chống lại Nga, có một nhận thức ngày càng tăng về những gì đang xảy ra và làn sóng biểu tình ngày càng tăng. Bạn nên suy nghĩ và thay thế những chính trị gia núp sau lưng bạn bằng đạn và giá. Và đừng bỏ nó ra cho đến khi sau này. Nếu chúng ta đoàn kết, thì trong một tuần nữa sẽ không còn Phát xít ở Ukraine. Cuộc sống bình thường sẽ được khôi phục ở châu Âu, Mỹ và các quốc gia khác, và cùng nhau chúng ta sẽ phán xét những Phát xít Ukraina và tất cả các nhà lãnh đạo ủng hộ đưa chủ nghĩa Quốc xã đến một tòa án mới của luật pháp.

Nguyên nhân của chúng tôi là công bằng, chúng tôi sẽ đánh bại chủ nghĩa Quốc xã. Tôi muốn chia sẻ chiến thắng này với tất cả các bạn, cùng nhau và càng sớm càng tốt.
Vladimir Putin tái bút./.


Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC VỚI"GIẢI THIÊNG" LỊCH SỬ!

     "Giải thiêng" là một khuynh hướng sáng tạo văn học, nghệ thuật của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại, với mục đích là hóa giải những điều huyền bí, linh thiêng của nhân vật, sự kiện lịch sử; đưa nhân vật, sự kiện trở về với bản chất thật, với đời sống bình thường.
Việc văn học, nghệ thuật "giải thiêng" các nhân vật lịch sử, nhất là các danh nhân giúp độc giả nhận ra những chiều cạnh đời thường, từ đó có cái nhìn đầy đủ, biện chứng, dân chủ hơn về nhân vật, và càng thấy các danh nhân là "người thực, việc thực" chứ không phải huyền thoại.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại lợi dụng "giải thiêng" để dung tục hóa, tầm thường hóa danh nhân, nhằm thực hiện mưu đồ hạ bệ thần tượng khiến công chúng, nhất là giới trẻ mất niềm tin vào lịch sử dân tộc. Thời gian gần đây, có những câu chuyện “giải thiêng” đã được nhiều người vạch rõ cái ý đồ, động cơ chính trị không tốt nhưng cũng xin nhắc qua để làm căn cứ cho chủ đề bài viết.

Một nhà phê bình gốc Việt sống ở Pháp lâu năm, vì hằn học một điều gì đó, cũng có thể là do phương pháp nghiên cứu không phù hợp hay trình độ học... mà cố tình xuyên tạc Nguyễn Ái Quốc không phải là tác giả của những bài báo nổi tiếng viết bằng tiếng Pháp trước năm 1925. Những căn cứ đưa ra cũng rất vu vơ, thiếu tính khoa học. Thậm chí chỉ dựa vào một băng phỏng vấn của phóng viên Pháp với Bác Hồ đã “khái quát” Hồ Chí Minh không giỏi tiếng Pháp nên không thể viết được những tác phẩm thật sự tài năng kia. Nghĩa là nhà phê bình muốn “giải thiêng” huyền thoại Hồ Chí Minh-một tác giả tiếng Pháp mà rất nhiều chính khách, văn nghệ sĩ trên thế giới khẳng định và ca ngợi.

Gần đây, tác giả lại có cuốn sách “Phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX” cũng có ý đồ “giải thiêng” những “tượng đài” phê bình nổi tiếng. Với cái nhìn “bề trên”, tác giả phủ nhận các giá trị văn hóa của nền lý luận phê bình văn học cách mạng. Những ý kiến hàm hồ, cực đoan này chẳng xứng để đọc nếu không có lời “bảo hiểm” của một nhà văn-biên tập cuốn sách coi “tên tuổi” tác giả là “bảo đảm bằng vàng”. Trong thời buổi nhiễu loạn thông tin thật giả lẫn lộn nên những lời “bảo chứng” này sẽ là nguy hiểm nếu được tiếp nhận ở bộ phận độc giả, nhất là độc giả trẻ tuổi.

Dịp Tết Canh Dần 2022, cũng một tác giả gốc Việt có bài viết gây chú ý về bánh chưng. Là món ăn quen thuộc của người Việt trong những ngày Tết, có người thích hay không thích bánh chưng là chuyện thường tình, chả có gì đáng nói. Nhưng thâm ý của tác giả không phải là viết về món ăn mà là hạ thấp một biểu tượng văn hóa, sâu xa hơn là “giải thiêng” biểu tượng Vua Hùng. Nếu một hình tượng văn hóa vốn bị hiểu sai mà được xây dựng thành biểu tượng thì sự “giải thiêng” là một đóng góp đưa vấn đề về với chân lý sự thật. Nhưng một biểu tượng đã trở thành “cổ mẫu” vững bền hàng nghìn năm hầu như được mọi người dân tôn sùng (là cỗ cúng tổ tiên trong ngày Tết) mà có người “giải thiêng” thì là nói ngược, thậm chí là sự xúc phạm cộng đồng!

Nói ngược đã là “chiêu pháp” không mới của những kẻ rỗng tuếch nhưng thích nổi danh. Nhân loại đã xây dựng điều này thành điển cố kẻ đốt đền để nhắc nhở muôn đời rằng thế gian không thiếu những kẻ như vậy. Cái đáng nói là có một số ít người-đáng trách là có những người có học, cũng a dua, tung hô là “mới”, là “dũng cảm”, là “khuấy cái ao văn hóa tù đọng” để “tạo ra cách hiểu mới gây tranh luận”...

Mới nhất là nhân chuyện xung đột Nga-Ukraine, một số Facebooker liên hệ với việc Việt Nam “xâm lược” Campuchia làm tổn hại biết bao sinh linh. Đây là âm mưu “giải thiêng lịch sử” thực sự nguy hiểm vì nó xuyên tạc, bóp méo sự thật. Cuộc chiến tranh giúp dân tộc Campuchia của Việt Nam là cuộc chiến chính nghĩa, cuộc chiến chống lại bè lũ diệt chủng bị cả loài người lên án. Cuộc chiến này đã giúp hồi sinh cả một dân tộc. Thế nên nhân dân Campuchia gọi những người giải phóng là “bộ đội nhà Phật”!

Tình trạng trên hết sức nguy hiểm, như những tế bào “tiền ung thư” nếu không có biện pháp loại bỏ triệt để sẽ tiềm tàng gây nên những khối u ác tính. Tình hình ấy đặt ra những bài học gì?

Một là, bài học về giáo dục lịch sử truyền thống yêu nước. Được coi như là điểm tựa, là bệ phóng giúp con người bay cao bay xa vào tương lai, nói lịch sử cắt nghĩa hiện tại và tương lai là vậy. Cắt đứt với cội rễ lịch sử con người tất yếu mất đi điểm tựa, mất đi bệ phóng sẽ hoang mang, lạc đường, ngơ ngác trên con đường không lý tưởng. 

Thấu hiểu lịch sử sẽ thấu cảm thấm thía hơn những bài học cha ông truyền lại cho con cháu. Không cần cắt nghĩa lại qua biểu tượng bánh chưng, cha ông dạy ta bài học gì, nhưng cần hiểu sâu hơn thâm ý của Vua Hùng không truyền ngôi cho các hoàng tử đi tìm ngọc ngà châu báu hay thuốc trường sinh mà truyền ngôi cho Lang Liêu là nông dân dâng lên món quà quê mộc mạc. Đó còn là vấn đề đạo hiếu! Còn là ứng xử văn hóa “của cho không bằng cách cho” rất mực tinh tế, sâu sắc nhân văn! Thế nên không chỉ hiểu biểu tượng bằng cách cắt nghĩa cấu trúc nội tại mà còn phải hiểu các mạch ngầm văn hóa thao thiết chảy hàng nghìn năm để kết tinh và nuôi dưỡng biểu tượng!

Sống trong bối cảnh toàn cầu hóa, số hóa, tự động hóa, như một lẽ tự nhiên con người (theo nghĩa phổ biến), nhất là giới trẻ được tiếp xúc, hít thở, hấp thụ mọi luồng văn hóa trên khắp thế giới. Họ có ngoại ngữ, sử dụng công nghệ thông tin ở mức phổ thông (điện thoại thông minh) là đủ để có thể truy cập vào mọi ngõ ngách văn hóa khắp thế giới. Họ hiểu biết nhiều, thông minh, là điều kiện để trở thành “công dân toàn cầu”. Mặt trái là nếu không được trang bị tinh thần dân tộc, thiếu bản lĩnh sẽ có xu hướng rời xa cội rễ Tổ quốc dẫn tới lai căng. Một bộ phận thanh niên ta biết sử nước ngoài, biết tên cầu thủ, danh ca, hoa hậu... quốc tế hơn nhiều sử nước nhà, các tấm gương anh hùng tổ tiên... là hiện tượng vừa bất thường vừa bình thường. Việc ngăn chặn, giảm bớt sự bất thường ấy chỉ có thể bằng con đường giáo dục!

Hai là, như phần đầu bài viết dẫn chứng, có những vấn đề lịch sử mang tính hiển nhiên nhưng vẫn bị xuyên tạc, bóp méo. Có những biểu tượng văn hóa bền vững, thiêng liêng như thế mà vẫn có người “giải thiêng”. Đó là ý đồ chính trị cơ hội hay tâm lý hằn học, thích nổi danh... thì không khó hiểu. Nhưng còn những vấn đề ngụy trang dưới cái vỏ học thuật để đánh lừa người khác, thậm chí được in thành sách rồi quảng cáo như là một kiệt tác? Lại cho thấy công tác đào tạo một cách bài bản, khoa học đội ngũ biên tập viên, thẩm định viên được đặt ra một cách cấp thiết. Trước mắt và lâu dài họ phải là những “màng lọc” sớm nhất ngăn lại những cặn bã tinh thần không nên phổ biến trong cộng đồng.

Ba là, quan sát phía mặt trái của những luồng ý kiến tiêu cực, sai trái, phản động cả trong và ngoài nước (cả trên mạng và sách báo in) thì kẻ xấu thường tập trung vào “giải thiêng” hình tượng Hồ Chí Minh. Do vậy phải đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thực chất, thường xuyên, liên tục, lan tỏa sâu rộng hơn nữa vào mọi tầng lớp nhân dân. Trước hết phải thấm nhuần tư tưởng "Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Đấy cũng là một cách thiết thực ngăn ngừa tác hại mưu đồ của những kẻ xấu hòng bôi nhọ, hạ bệ thần tượng Bác Hồ.

Là nhà cách mạng thực tiễn, nhà triết học hành động, Bác sống ở trong dân, không ở trên dân, Bác là người sống đúng nhất với chân lý một tấm gương sống hơn cả trăm bài diễn văn tuyên truyền. Là cán bộ, đảng viên, đoàn viên, tất cả là học trò của Bác, học theo Bác, nhất là học tính liêm chính của Người thì dân sẽ tin và không một tư tưởng phản động nào, dù được ngụy trang bằng thứ nghệ thuật nguy hiểm, thâm độc nào có thể lung lay được. Tăng cường hơn nữa tuyên truyền, quảng bá những tác phẩm văn học nghệ thuật chân chính về Chủ tịch Hồ Chí Minh vì Bác Hồ là một hiện tượng văn hóa mang tầm nhân loại với tầm vóc tư tưởng và nghệ thuật lớn lao để sáng tạo đến không cùng!   

Bốn là về biện pháp hành chính. Trong xã hội hiện đại, con người điều chỉnh suy nghĩ, hành vi của mình theo luật pháp. Thiếu niềm tin vào pháp luật sẽ dẫn đến thiếu tôn trọng luật, dễ có hành động chệch khỏi các chuẩn mực pháp lý. Pháp luật bắt nguồn từ đạo đức. Đạo đức là gốc của nhân cách nên cũng là gốc của pháp luật. Do vậy nâng cao ý thức pháp luật cũng là cách bồi dưỡng, giáo dục đạo đức. Luật phải đi vào đời sống mới có giá trị. Việc giảng dạy pháp luật ở nhà trường phổ thông và việc tuyên truyền giáo dục pháp luật thường xuyên ở các đơn vị hành chính cơ sở phải rất được coi trọng./.
Yêu nước ST.