Sáng 26-4-1975, binh lính địch bảo vệ vòng ngoài căn cứ Nước Trong lùng sục các vùng chung quanh đã chạm súng với trinh sát Sư đoàn 304. Tới 7 giờ 30 phút, địch cho hai máy bay tới đánh vào đội hình Trung đoàn 9, Sư đoàn 304. Trong ngày 26-4, địch dùng phi pháo liên tục đánh phá khu vực tây bắc Nước Trong và Long Thành. Trước giờ G chiến dịch, địch cho không quân đánh phá ác liệt khu vực trận địa của Quân đoàn 2.
Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022
NGÀY 26-4-1975: MỞ MÀN CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH
"BỘ ĐỘI CHƯA ĂN CƠM, CÁN BỘ KHÔNG ĐƯỢC KÊU MÌNH ĐÓI"
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18, ngày 26 tháng 4 năm 1951: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn đảng ta hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Để quy luật ấy phát huy tác dụng, tạo ra động lực cho sự phát triển, phải thông qua hoạt động của con người, của mỗi cán bộ đảng viên và mỗi tổ chức Đảng. Thực tiễn đã chứng minh: nếu nơi nào, khi nào, đảng viên và tổ chức đảng nhận thức đúng, đầy đủ, có động cơ đúng, hành động kiên quyết thì tự phê bình và phê bình phát huy tác dụng; ngược lại thì tự phê bình và phê bình chỉ còn là hình thức, nửa vời, "gặp chăng hay chớ", thậm chí trở thành công cụ cho những kẻ vụ lợi, phá hoại Đảng. Do đó, nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình nghiêm túc trong toàn Đảng, là nhiệm vụ quan trọng và bức thiết trong tình hình hiện nay, để tự phê bình và phê bình phát huy tác dụng, thực sự là quy luật phát triển của Đảng.
Hồ Chí Minh cho rằng, tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, đây
là cấp độ có ý nghĩa sâu sắc bao trùm nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định: "Trong bao nhiêu năm hoạt động bí mật, dù bị bọn thực dân khủng bố gắt
gao và Đảng ta gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm, nhưng Đảng ta ngày càng phát
triển, càng mạnh mẽ và đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành công, kháng chiến
thắng lợi. Đó là vì Đảng ta khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê
bình". Tự phê bình và phê bình được Hồ Chí Minh xác định là một trong 12
điều "Tư cách của Đảng chân chính cách mạng". Tự phê bình và phê bình
"Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ". Thực hiện tốt tự phê bình và phê
bình "Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công".
Vì vậy, ngay từ đầu tác phẩm Sửa đổi lối làm việc - tác phẩm đã thể hiện rất sâu sắc và
toàn diện về vấn đề tự phê bình và phê bình - Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề
"Phê bình và sửa chữa". Theo Người, Đảng không che dấu những khuyết
điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa
chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ, đảng viên.
Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết
điểm; mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng. Do vậy, mục đích tự
phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa
xuân, phần xấu bị mất dần đi. "Phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm
thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng. Trái lại, còn làm cho sự lãnh đạo mạnh
mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín thể diện càng tăng thêm".
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Mục đích phê bình cốt để giúp
nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa chữa cách làm cho tốt hơn, đúng
hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ". Mục đích là cho mọi người học lẫn
ưu điểm của nhau và giúp nhau sửa chữa những khuyết điểm.
Tự phê bình và phê bình là quy luật chung của các Đảng Cộng
sản, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam lại càng quan trọng. Đảng ta ra đời từ một
nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa nửa phong kiến, chịu ảnh hưởng nặng nề của
tư tưởng phong kiến, thực dân "Cũng như những người hàng ngày lội
bùn" nên trên người ắt nhiễm hơi bùn. Điều đó không có gì lạ. Mặt khác,
khi đảng viên có chức, có quyền rất dễ nảy sinh những biểu hiện của chủ nghĩa
cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, quan
liêu, xa rời quần chúng. Muốn khắc phục những biểu hiện đó, cần tiến hành tự
phê bình và phê bình ráo riết, thường xuyên. Cũng như người lội bùn lâu mà nhiễm
hơi bùn thì phải tắm rửa và "phải tắm rửa lâu mới sạch".
Mục đích của tự phê bình và phê bình mà Hồ Chí Minh chỉ ra
chứa đựng yếu tố cách mạng và tính nhân văn sâu sắc. Để đạt được mục đích ấy cần
phải có thái độ đúng, phương pháp đúng, có lý, có tình, trên tình thương yêu
giai cấp. Trước hết phải có thái độ đúng trong tự phê bình và phê bình.
Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: Bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp
hòi, v.v… mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng
minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ
hơn, vì nó phá hoại từ trong ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch
đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó. Nhưng "phải suy tính cho kỹ lưỡng.
Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy" "Để chữa
khỏi những bệnh kia, ta phải tự phê bình ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy
lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với
nhau". Trong lúc phê bình, khuyết điểm phải vạch ra rõ ràng, mà ưu điểm
cũng phải nhắc đến. Phải biết khuyến khích nhau, bắt chước nhau, giúp nhau tiến
bộ.
Hồ Chí Minh yêu cầu tự phê bình và phê bình phải thường
xuyên, liên tục, kiên trì. "Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm
điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì
trong đảng sẽ không có bệnh mà đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng". Nếu không làm
thường xuyên thì khuyết điểm sẽ ngày càng tích tụ nhiều lên, lấn át ưu điểm. Những
cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, tham ô, tham nhũng, vi phạm tư cách đảng
viên, nguyên nhân suy cho cùng là do không thường xuyên tự phê bình và tiếp thu
phê bình. Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của
chúng ta thì cũng như giấu diếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc để bệnh
ngày càng nặng thêm, nguy hiểm đến tính mệnh. Phát hiện càng sớm, điều trị bệnh
càng chóng khỏi; để bệnh nặng rất khó chữa, thậm chí có khi không chữa nổi.
Hồ Chí Minh kết luận: "Trong công tác, trong
tranh đấu, trong huấn luyện, các đảng viên, các cán bộ, cần phải luôn luôn tự hỏi
mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình. Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình, thì khuyết điểm nhất
định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi"[1].
Trong tự phê bình và phê bình phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, kiên quyết
chống bệnh tự mãn, kiêu ngạo, tự tư tự lợi, ba hoa… Phải thực hành khẩu hiệu
"chí công vô tư".
Tư tưởng Hồ Chí Minh: tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng có
giá trị lịch sử và ý nghĩa lý luận, thực tiễn to lớn đối với Đảng, nhà nước và
đội ngũ cán bộ, đảng viên ta. Những tư tưởng đó đã kịp thời định hướng, nâng
cao nhận thức và cổ vũ hoạt động tự phê bình và phê bình, khắc phục kịp thời những
khuyết điểm yếu kém của cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng trong suốt quá
trình xây dựng và hoạt động lãnh đạo cách mạng. Tư tưởng đó không chỉ có giá trị
to lớn trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, mà còn có ý nghĩa rất sâu sắc, thiết
thực đối với công tác xây dựng Đảng ta hiện nay.
Giá trị của tư tưởng
đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn đảng ta hiện nay.
Quán triệt và thực hiện trong quá trình xây dựng và hoạt động,
Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình. Khẳng định tự phê bình và phê
bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ
trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của đảng với nhân dân. Tự phê bình và phê
bình là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ
vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đảng là một tổ chức
chính trị, tất yếu trong quá trình vận động, phát triển, nội bộ Đảng sẽ nảy
sinh mâu thuẫn. Nhưng đó không phải là mâu thuẫn đối kháng, mà là mâu thuẫn giữa
cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu.
Chính nhờ có sự trung thành, quán triệt và vận dụng đúng đắn
tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình trong xây dựng và hoạt động, có
nhiều chỉ thị nghị quyết, mở nhiều đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, đẩy mạnh tự
phê bình và phê bình trong toàn đảng mà Đảng ta mới có đủ sức mạnh lãnh đạo
cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; mới có đủ bản lĩnh
vượt qua những thử thách cam go, vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng ở những
thời điểm hiểm nghèo, thời điểm vận mệnh "ngàn cân treo sợi tóc".
Thực tiễn xây dựng Đảng cho thấy: Lúc nào, nơi nào việc tự
phê bình và phê bình không được thực hiện nghiêm túc thì lúc đó, nơi đó xuất hiện
những điều kiện làm suy yếu tổ chức đảng, làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực
trong xã hội.
Hiện nay, vẫn còn những biểu hiện xem nhẹ, chưa thực sự
nghiêm túc tự phê bình và phê bình. Ở nơi này, nơi khác, lúc này lúc khác, sinh
hoạt tự phê bình và phê bình chỉ còn là hình thức. Người ta vẫn tổ chức sinh hoạt
đều đặn, nhưng thực chất lại tước mất linh hồn của các buổi sinh hoạt, đó là
nguyên tắc dân chủ, cho nên tự phê bình và phê bình bị biến thành vũ khí cầu lợi
cá nhân.
Ngày nay, bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, chứa
đựng những yếu tố khó lường. Đảng lãnh đạo nhân dân ta thực hiện sự nghiệp đổi
mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ của Đảng rất nặng
nề. Phạm vi, quy mô lãnh đạo ngày càng mở rộng, đối tượng lãnh đạo đa dạng phức
tạp; vai trò lãnh đạo của Đảng tăng lên, đòi hỏi Đảng phải luôn luôn và thực sự
trong sạch vững mạnh.
Trong khi đó, cuộc sống sinh hoạt của cán bộ, đảng viên chịu
nhiều chi phối, tác động của nhiều yếu tố, cả tích cực và tiêu cực. Do những
tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, sự du nhập lối sống
ngoại lai và các tệ nạn xã hội… đã tác động, làm nhiều người thay đổi về quan
niệm thang giá trị đạo đức xã hội, làm xói mòn nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp.
Đó là những nguy cơ đe dọa sự trong sạch của đảng và của cả hệ thống chính trị.
Một bộ phận cán bộ đảng viên suy thoái về đạo đức lối sống,
sa lầy vào chủ nghĩa cá nhân, thực dụng. Sinh ra nhiều căn bệnh nguy hiểm: cục
bộ, ích kỷ, vụ lợi, ham quyền lực, ham của cải làm giàu bất chính; lối sống thì
xa hoa, hưởng lạc… Không ít cán bộ, đảng viên vì lợi ích cá nhân, mải lo lợi
ích cá nhân, gia đình mà quên hết lợi ích của Đảng, của dân.
Để khắc phục tình trạng trên, tự phê bình và phê bình phải được coi là biện pháp cơ bản, có ý nghĩa
quyết định. Thực hiện tốt tự phê bình và phê bình cho phép giải quyết thấu
đáo các vấn đề nảy sinh về tư tưởng, đạo đức, lối sống một cách kiên quyết, ráo
riết nhưng thiết thực, có lý có tình, không rơi vào tình trạng đối kháng, đao
to búa lớn, do đó mà đạt hiệu quả cao. Mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng cần
thực hiện nghiêm túc những quy định mới về tự phê bình và phê bình mà Hội nghị
Trung ương đảng đã ra: Mở rộng dân chủ, khuyến khích tranh luận; tôn trọng tập
hợp và xem xét để tiếp thu hết ý kiến đúng đắn của các cấp ủy viên và đảng viên
trước khi quyết định. Tập trung vào một số biện pháp chủ yếu như: tăng cường
giáo dục chính trị, tư tưởng, đặc biệt là giáo dục đạo đức cách mạng, làm
cho cán bộ, đảng viên hiểu rõ vai trò, sự cần thiết phải đẩy mạnh tự phê bình
và phê bình, mục đích phương pháp tự phê bình và phê bình, kiên quyết duy trì,
thực hiện nghiêm túc nền nếp chế độ tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ
chức Đảng, cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội. Thực hiện đúng nguyên tắc tập
trung dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, chống mọi biểu hiện
chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội thực dụng, cục bộ bè phái, mất đoàn kết.
Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện
và xử lý nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên không thực hiện tốt nghị quyết,
chỉ thị của Đảng về tự phê bình và phê bình, nhất là những người có thái độ
thành kiến, trù dập người phê bình; phải có biện pháp bảo vệ người phê bình đã
dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; mặt khác phải có biện pháp buộc
người có khuyết điểm, bị phê bình phải sửa chữa khuyết điểm.
Trong điều kiện xã hội bùng nổ thông tin như hiện nay, các
luồng thông tin, các nguồn thông tin, các hình thức truyền tin rất đa dạng
phong phú. Một mặt nó mở ra điều kiện thuận lợi mới để thực hiện dân chủ công
khai và công bằng trong xã hội.… Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu chu đáo
để phát huy tác dụng tốt hơn trong công tác xây dựng Đảng. Mặt khác, cần phải
có biện pháp quản lý được tất cả các luồng, các nguồn tin, các phương tiện
thông tin, có thể áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm thẩm định, điều tra, kiểm
tra nhanh và chính xác các tin tức; quản lý chặt chẽ hoạt động thông tin tự phê
bình và phê bình cả ở diện rộng và diện hẹp; chính nó cung cấp những cứ liệu thực
tiễn thiết thực cho công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới; và chỉ như vậy
mới đảm bảo cho tự phê bình và phê bình thực sự vì sự đoàn kết, thống nhất
trong Đảng và trong toàn xã hội.
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa trên không gian mạng không thể được thực hiện thành công và hiệu quả, nếu
như chủ nhân của sự nghiệp ấy không có ý thức bảo vệ xứng tầm; việc giáo dục ý
thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng không được quan tâm đúng mức, bồi đắp
thường xuyên.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự
phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, đặc biệt là công
nghệ thông tin, internet đã trở thành không gian xã hội mới - “không gian mạng”.
Đây là khái niệm được sử dụng thời gian gần đây ở Việt Nam; được hiểu
là “mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn
thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều
khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội
không bị giới hạn bởi không gian, thời gian”. Không gian mạng có đặc điểm cơ
bản là: tốc độ truyền tải, tìm kiếm thông tin nhanh, lưu trữ thông tin
khổng lồ; tính liên kết cộng đồng, không biên giới, tính đa phương tiện,
tương tác rất cao; là một bộ phận cấu thành của xã hội, bao trùm mọi
mặt đời sống xã hội, mang lại những cơ hội, vận hội mới để các quốc gia,
dân tộc hợp tác và phát triển. Mặt tích cực và mặt tiêu cực của không gian
mạng rất phức tạp. Thông tin trên không gian mạng thật giả lẫn lộn, thiếu tính
chính xác, khó kiểm chứng và kiểm soát, tác động tiêu cực đối với văn hóa cộng
đồng; làm gia tăng nguy cơ lộ lọt bí mật nhà nước; suy giảm quyền lực nhà nước
và sức mạnh quốc gia. Đồng thời, là công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi
dụng phá hoại; môi trường “màu mỡ” cho các tổ chức khủng bố, tội phạm hoạt động,
v.v.
Lợi dụng lợi thế đó, các thế lực thù địch, phản động và phần
tử xấu đã, đang triệt để khai thác tính lan tỏa nhằm thực hiện “cuộc cách mạng
truyền thông” đưa các thông tin xấu độc, giả mạo, những hình ảnh khiêu dâm,
kích động bạo lực, kêu gọi hình thành các hội nhóm trái phép, lực lượng chính
trị đối lập hoạt động đối trọng với Đảng; tuyên truyền lối sống thực dụng
phương Tây, hưởng thụ, kích động hận thù dân tộc; bôi nhọ uy tín của các đồng
chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, trong dịp Đại hội lần thứ XIII Đảng và bầu
cử Quốc hội khóa XV, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021- 2025 của Nhà nước ta vừa qua,
chúng đã sử dụng hàng ngàn website, blog, hàng trăm tạp chí, báo, nhà xuất bản
và đài phát thanh có chương trình tiếng Việt để đẩy mạnh các chiến dịch thông
tin xuyên tạc, phá hoại về tư tưởng; xuyên tạc các văn kiện trình Đại hội và
công tác nhân sự của Đảng; kích động, chia rẽ nội bộ, hình thành các tổ chức
chính trị đối lập, hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã
hội ở nước ta. Mục đích của chúng là làm chuyển biến, thay đổi nhận thức chính
trị, không phân biệt được thông tin thật và giả, dần dần tin vào những thông
tin giả mạo, xấu độc dẫn đến mất niềm tin vào cuộc sống, xa rời sự lãnh đạo, chỉ
đạo của Đảng, Nhà nước.
Nhận rõ tầm quan trọng và sự bức thiết bảo vệ Tổ quốc trên
không gian mạng, ngày 25/7/2018, Đảng ta ra Nghị quyết về “Chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trên không gian mạng” và Nghị quyết về “Chiến lược An ninh mạng quốc gia”.
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng không
gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, rộng khắp, tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển kinh tế; xây dựng, phát triển và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam trên
không gian mạng”. Quân đội ta thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên
không gian mạng là thực hiện nhiệm vụ trong môi trường tác chiến mới,
với phương thức, hình thái chiến tranh mới - “không có khói súng”. Điều
đó khách quan thúc đẩy, tạo thời cơ và thuận lợi mới, nhưng cũng đặt ra những
thách thức đối với nhiệm vụ giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng
trong Quân đội. Yêu cầu cơ bản của giáo dục là phải củng cố, nâng cao nhận thức,
niềm tin, thái độ, tình cảm và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng
cho mọi cán bộ, chiến sĩ, góp phần hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an
ninh mạng và nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.
Để làm được điều đó, cần thực hiện một số nội dung, biện
pháp cơ bản sau:
Một là, tăng cường giáo dục nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên
không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Quán triệt và thực hiện
tốt chỉ thị, nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước,
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác giáo dục chính trị,
đạo đức, pháp luật trong toàn quân, nhất là các văn bản quy phạm
pháp luật về an ninh mạng và bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng,
như: Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 25/12/2013 của Bộ Chính trị về phát triển và
tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông
trên Internet; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản
lý, cung cấp, sử dụng Internet và thông tin trên mạng; Thông tư số
09/2014/BTTTT, ngày 19/8/2014 của Bộ thông tin và Truyền thông về hoạt động quản
lý, cung cấp sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội; Chỉ
thị số 03/CT-BQP, ngày 23/01/2014 của Bộ Quốc phòng về tăng cường công tác bảo
đảm an toàn thông tin và một số vấn đề về tổ chức hoạt động tác chiến không
gian mạng; Thông tư số 56/2020/TT-BQP của Bộ Quốc phòng, ngày 05/5/2020
về Quy định quản lý và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong
Bộ Quốc phòng, v.v. Phân tích làm rõ bản chất không gian mạng, lợi dụng hình
thức này để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch. Nâng cao hiệu
quả giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống “Bộ đội
Cụ Hồ”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đồng
thời, giáo dục Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược An
ninh mạng quốc gia, chỉ thị, quy định của Quân đội về quản lý, sử dụng
Intrernet, mạng xã hội, v.v. Qua đó, làm cho cán bộ, chiến sĩ “nhận thức,
đánh giá đúng, đầy đủ, sâu sắc về thời cơ, thách thức đối với nước ta trên
không gian mạng, xác định đúng đắn mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo và
nhiệm vụ, giải pháp để có quyết tâm và biện pháp mạnh mẽ, kiên quyết trong
không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới”.
Hai là, đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương
pháp giáo dục nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong Quân
đội. Cần rà soát, điều chỉnh, xây dựng nội dung, chương trình giáo dục phù hợp
với tình hình nhiệm vụ của Quân đội. Trong đó, ưu tiên những nội dung xây dựng
bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, phẩm chất đạo đức, phong cách, lối sống; ý
thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; những kiến thức đạo đức,
văn hóa, xã hội, khả năng tự vệ và kỹ năng phòng, chống thông tin xấu
độc trên mạng xã hội. Nâng cao chất lượng biên soạn tài liệu học tập chính
trị cho các đối tượng. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp
giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống với hiện đại. Đổi mới phương thức
tuyên truyền của các cơ quan truyền thông Quân đội, phát huy hơn nữa lợi thế
của mạng Intrernet; đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
trên không gian mạng. Bên cạnh các hình thức tuyên truyền miệng, tổ chức
các cuộc thi tìm hiểu, nói chuyện chuyên đề, hỏi và đáp về pháp luật, quản lý
và sử dụng mạng xã hội, cần chú trọng phát huy hiệu quả các trang mạng
xã hội, lực lượng chuyên trách đấu tranh trên không gian mạng, Ban chỉ đạo 35
các cấp. Phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm của các chủ thể, mà trực
tiếp là cấp uỷ, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, cán bộ chính trị trong lãnh
đạo, định hướng, chỉ đạo giáo dục nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không
gian mạng.
Ba là, bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Trong đó, tập trung bồi dưỡng phương
pháp đấu tranh, tổ chức tuyên truyền trên không gian mạng; phương pháp nhận
biết, tiếp nhận thông tin, cách tự vệ, “miễn dịch” trước những thông tin giả,
xấu, độc hại; cách tổ chức phối hợp giữa các lực lượng trong theo dõi, xử
lý thông tin xấu, độc trên không gian mạng; kỹ năng nhận diện âm mưu, thủ đoạn
của các thế lực thù địch, phản động chống phá trên không gian mạng
và các hành vi vi phạm an ninh mạng; kỹ năng sử dụng các biện pháp kỹ thuật
khắc phục hậu quả khi bị tấn công trên không gian mạng. Với các lực lượng
chuyên trách, cơ quan báo chí Quân đội, cần bồi dưỡng cách thức tổ
chức tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm, tổ chức các vệt bài tuyên
truyền, định hướng tư tưởng, dư luận; cách thức xây dựng, duy trì các
chuyên mục phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Bồi
dưỡng kỹ năng nghiệp vụ, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, mở
rộng liên kết, số hóa các hoạt động tuyên truyền, đấu tranh trên không
gian mạng; đấu tranh, ngăn chặn, bóc gỡ, vô hiệu hóa hoạt động của
các tài khoản, kênh thông tin xấu, độc; xây dựng kênh truyền thông uy tín
tuyên truyền, định hướng thông tin dư luận trên mạng, như: Youtube,
Fanpage, Facebook; đẩy mạnh tương tác, chia sẻ, quảng bá thông tin chính
thống đến cộng đồng.
Bốn là, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá
của các thế lực thù địch để nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc
trên không gian mạng trong Quân đội. Ở đây, cần đặc biệt chú ý hai hướng đấu
tranh cơ bản quan hệ chặt chẽ với nhau: thứ nhất, tích cực, chủ động đấu tranh
phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc; thứ hai, đấu tranh bảo vệ chủ quyền, an
toàn, an ninh không gian mạng để giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc trên
không gian mạng trong Quân đội. Thực hiện hai hướng đấu tranh trên, cần tích cực,
chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu
tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chúng. Phát huy sức mạnh tổng hợp, vai
trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan, ban, ngành có liên quan đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm, luận
điệu sai trái, thù địch của các đối tượng thù địch, phần tử cơ hội trên mạng xã
hội.
Giữ gìn nhân phẩm, danh dự người đảng viên
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XI đến nay, toàn Đảng,
toàn dân ta được chứng kiến những bước tiến vượt bậc, thành quả to lớn với thay
đổi về chất trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, việc Đảng ta quyết
tâm chống “giặc nội xâm”-nạn tham nhũng-một cách quyết liệt, triệt để được các
chuyên gia ví như một cuộc đại chỉnh đốn chưa từng có trong lịch sử xây dựng,
phát triển của Đảng ta.
Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Trung ương
đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn
Đảng và hệ thống chính trị để tiếp tục khẳng định quyết tâm làm trong sạch đội
ngũ. Trong đó, để tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất
chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; không cho lợi dụng chủ
trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực
hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, Trung ương đã ban hành
Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 về những điều đảng viên không được
làm.
Mặc dù vậy, nhìn vào những vụ việc vi phạm kỷ luật Đảng,
pháp luật Nhà nước của cán bộ, đảng viên bị phát hiện, xử lý chỉ tính từ đầu
nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay khiến nhiều người chưa thể yên tâm. Nhất là suốt
hơn hai năm qua, trong khi cả nước đang gồng mình vượt qua đại dịch, lại có
không ít trường hợp cán bộ, đảng viên đã bất chấp liêm sỉ, bất chấp luật pháp
và đạo đức xã hội để trục lợi, khiến dư luận xã hội dè bỉu, phẫn nộ.
Chúng ta biết rằng, có không ít trường hợp cán bộ, đảng viên
lúc đương chức, khi phát biểu trong hội nghị, trả lời báo chí thì tỏ ra mình
liêm khiết, chí công vô tư để đánh bóng uy tín, tên tuổi. Thế nhưng khi
tay đã “vấy bẩn” thì những lời phát biểu ấy càng trở nên lố bịch, làm trò cười
cho dư luận. Sự nghiệp chính trị, danh dự, uy tín mà biết bao nỗ lực, phấn đấu
bền bỉ không dễ gì có được cũng theo đó mà lụi tàn. Thậm chí, những cán bộ, đảng
viên “hai mặt” ấy còn làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin nơi quần chúng vào Đảng,
bởi họ đều là những người đã từng một thời được quần chúng hết mực tin yêu. Niềm
tin là thứ không dễ gì có được, nhưng một khi đã đánh mất niềm tin nơi quần
chúng thì cũng không dễ gì lấy lại được.
Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn
luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng
sáng, vàng càng luyện càng trong”. Người khẳng định: “Một dân tộc, một đảng và
mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm
nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong
sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn mỗi đảng viên
không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho đất nước
hoàn toàn độc lập, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Phải biết đặt lợi ích
của dân tộc, của giai cấp lên trên lợi ích cá nhân, vững vàng trước mọi khó
khăn, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.
Người chỉ rõ, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức
cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh,
chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao
quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết “phải ra sức
học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì
tức là thoái bộ, là lạc hậu... sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải”.
Những chỉ dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị. Danh dự,
nhân phẩm, uy tín của một người không phải bỗng dưng mà có được, không thể mua
được bằng tiền bạc hay địa vị mà “do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà
phát triển và củng cố"... Ngày hôm qua anh là người tốt, có ích cho xã hội,
nhưng nếu không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện thì chưa hẳn hôm nay anh còn
là người tốt, thậm chí còn gây tổn hại cho uy tín, thanh danh của tổ chức, gây
họa cho xã hội...
Danh dự làm nên phẩm hạnh con người, là thước đo giá trị của
mỗi người trong xã hội. Với một người bình thường, danh dự đã là cao quý. Là
cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, quản lý, danh dự càng cao quý, thiêng liêng.
Bác Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn giữ gìn, bồi đắp đạo
đức, nhân cách. Người căn dặn: "Hạnh dục phương", nghĩa là đức hạnh,
đạo đức phải vuông vắn, ngay thẳng, không làm điều gì khuất tất. Phải tránh xa
những thói xấu “lười biếng, gian giảo, tham ô”. Phải biết sống “ngay thẳng,
không có việc gì phải giấu Đảng”, “không tham địa vị. Không tham tiền tài”...
Đó là phẩm chất, đức hạnh, danh dự của người cộng sản. Cán bộ, đảng viên phải
biết giữ “thanh danh của Đảng” và “danh giá của mình”.
Trong nhiều bài viết và nhiều lần phát biểu, Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở, phân tích sâu sắc về tư cách, đạo đức cách mạng,
về liêm sỉ và danh dự của người cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực
hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh
mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ thanh liêm, giữ liêm sỉ và danh dự của người đảng
viên. "Nếu không liêm thì của gì cũng cả gan lấy. Không sỉ thì việc gì
cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế không chỉ rước họa làm “thân bại danh
liệt” và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi, kẻ làm quan mà cái gì
cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn mà làm thì sao mà thiên hạ
không loạn, quốc gia không mất cho được. Khi không có tài đức mà dám cầm trọng
trách để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ. Khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không làm
cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống xảo
trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố là vô hình trung đã vứt bỏ mất danh dự, liêm sỉ,
tức là lòng hổ thẹn của mình rồi”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Những con số nêu ra trên đây là những trường hợp đã bị phát
hiện, xử lý, nhưng trên thực tế, vẫn còn một phận không nhỏ cán bộ, đảng viên
đang tự đánh mất phẩm giá, làm hoen ố danh dự của người cộng sản. Họ đã không
kiên tâm, bền chí nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn danh dự hai tiếng “đảng
viên”; không vượt qua được cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh hoa”. Cũng bởi thế, từ
đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, trong nhiều bài viết, bài phát biểu của
mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh đến lời dạy của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên là phải kiên quyết đấu tranh chống chủ
nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân làm cho không ít cán bộ nảy sinh căn bệnh tham
ô, tư túi, đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích tập thể, trên cả lợi ích của
quốc gia, dân tộc.
Những bài học đau đớn, xót xa từ rất nhiều cán bộ, đảng viên
chỉ vì chút lợi ích vật chất tầm thường mà đánh mất phẩm giá, danh dự, uy tín vẫn
còn nguyên giá trị, là tấm gương để chúng ta tự mình soi chiếu, tự mình suy ngẫm
và có hành động đúng đắn. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải luôn khắc cốt ghi tâm
rằng, một khi đánh mất nhân phẩm và danh dự là mất đi giá trị làm người. Hơn thế,
giữ gìn phẩm giá, danh dự, uy tín của một người đảng viên không chỉ là giữ gìn
cho mình mà đó còn là giữ gìn và bảo vệ danh thơm, tiếng tốt của Đảng một cách
bền vững nhất.
Lịch sử, ý nghĩa ngày Quốc tế lao động 1/5
Ngay sau khi thành lập
Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu
tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp
tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được
coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số
nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần
lan sang các nước khác.
Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong
trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là
sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc
phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc
Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ.
Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động
Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: "...Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất
cả các công nhân sẽ là 8 giờ". Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt
đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp
đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định
của công nhân mà không kiếm cớ chối từ.
Ngày 1/5/1886, do
yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công
nhân trên toàn nước Mỹ đã tham
gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu
tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ
chức mít tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ "Từ hôm nay
không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc,
8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!" Cuộc bãi công lôi cuốn ngày càng
đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác
trên nước Mỹ đã nổ
ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington,
New York, Baltimore, Boston…hơn
125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ phải làm 8 giờ.
Các cuộc biểu
tình tại Chicago bị đàn áp nặng nề và diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người
làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại
cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị
thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt... gây nên sự kiện thảm sát Haymarket làm 4 người chết, hơn 70 bị thương
và trên 100 người bị bắt năm 1886 tại Chicago, Mỹ. Nhưng
cuối cùng, giới chủ phải chấp nhận yêu sách của công nhân. Báo cáo
của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: "Chưa bao giờ trong lịch sử nước
Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến
như vậy".
Ngày 20/6/1889, ba năm sau "thảm kịch" tại thành
phố Chicago, Quốc tế cộng sản II được nhóm họp tại Paris (Pháp).
Dưới sự lãnh đạo của Friedrich
Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy
ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp
vô sản các nước.Từ đó, ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh
của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của
công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.
Năm 1920, được sự phê chuẩn của Lênin, Liên Xô (cũ) là nước
đầu tiên cho phép người dân được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng
kiến này dần dần được nhiều nước khác trên thế giới tán thành.
Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Đây cũng là ngày biểu
thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế
giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội./.
Lịch sử và ý nghĩa của ngày Giải phóng miền Nam (30/4/1975 - 30/4/2022)
Vào cuối năm 1974
– đầu năm 1975, nhận thấy tình hình so sánh lực lượng ở Miền Nam có sự thay đổi
mau lẹ có lợi cho cách mạng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã đề ra kế hoạch giải
phóng hoàn toàn Miền Nam trong hai năm 1975 và 1976. Bộ Chính trị nhấn mạnh “cả
năm 1975 là thời cơ” và chỉ rõ “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc
cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng hoàn toàn Miền Nam trong năm 1975”. Bộ
Chính trị cũng nhấn mạnh cần tranh thủ thời cơ đánh thắng nhanh để đỡ thiệt hại
về người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa, giảm
bớt sự tàn phá của chiến tranh. Sau chiến thắng của quân ta ở chiến dịch
Tây Nguyên và chiến dịch Huế-Đà Nẵng, Bộ Chính trị đã nhận định: “Thời cơ chiến
lược đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng Miền Nam” và
đã đưa ra quyết định: “phải tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật
và vật chất giải phóng Miền Nam trước mùa mưa”, đồng thời chiến dịch giải phóng
Sài Gòn-Gia Định được Bộ Chính trị quyết định mang tên “chiến dịch Hồ Chí Minh”.
Trước khi tấn công giải phóng Sài Gòn, quân ta đã tiến công Xuân Lộc và Phan
Rang, đây là những căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch để bảo vệ Sài Gòn từ
phía đông.
Vào lúc 17 giờ ngày 26/4, quân ta đã nổ súng mở đầu chiến dịch,
năm cánh quân của ta đã vượt qua tuyến phòng thủ của địch để tiến vào trung tâm
Sài Gòn, đánh chiếm các cơ quan đầu não của chúng. 10 giờ 45 phút ngày 30/4, xe
tăng và bộ binh của ta tiến vào Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ Nội các của Sài Gòn,
Dương Văn Minh vừa lên chức tổng thống ngày 28/4 đã phải tuyên bố đầu hàng quân
ta không điều kiện. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng tung bay trên
Dinh Độc Lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Đại thắng mùa
xuân 1975 đã chứng minh trí tuệ và tài thao lược của Đảng ta trong lãnh đạo và
chỉ đạo chiến tranh cách mạng, cũng như chứng minh tinh thần quật khởi của người
dân Việt Nam trong đấu tranh chống ngoại xâm. Chiến thắng đã chấm dứt ách thống
trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới
của dân tộc, cả nước cùng tiến lên CNXH. Thắng lợi này đã đi vào lịch sử nước
ta và của thế giới, như một trang sử chói lọi ở những năm 70 của thế kỷ XX,
mang tầm quốc tế, tầm thời đại sâu sắc.
Ngày 30 tháng 4
năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi đưa đất nước ta bước
vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân ta từ đây tập trung sức lực và trí tuệ hàn gắn vết thương
chiến tranh xây dựng cuộc sống mới; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Chiến thắng ngày
30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã
hội do Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng, chói lọi
trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc. Quân và
dân ta đã đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; kết
thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho Tổ quốc;
chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất
nước ta; là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc
đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình,
dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc
giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta mãi
tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông ta đã
chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Chúng ta càng tự
hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt tài tình của Đảng cộng sản
Việt Nam, vào tinh thần quật cường bất khuất và trí thông minh, sáng tạo của
dân tộc ta, của quân đội ta. Mỗi người dân Việt Nam nguyện tiếp tục phát huy chủ
nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết
toàn dân, quyết tâm vươn lên hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế –
xã hội, quốc phòng – an ninh theo chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại
hội lần thứ XIII của Đảng đề ra./.
Kỷ niệm 152 năm Ngày sinh V.I.Lê Nin - Lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng vô sản thế giới
V.I.Lênin tên thật là Vladimir Ilits Ulianov, sinh ngày 22/4/1870 trong một gia đình trí thức tiến bộ ở thành phố Simbirsk (nay là Ulianovsk) của nước Nga. Năm 1891, V.I.Lênin tốt nghiệp ngành Luật, trường Đại học Petersburg và từ năm 1893 trở thành người lãnh đạo nhóm mácxít ở Saint Petersburg. Năm 1894, V.I.Lênin vào Đảng Xã hội Dân chủ Nga. Từ đấy, Người là một trong những nhà tổ chức, lãnh đạo cách mạng Nga.
Là một nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất,
trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Lênin đã có những đóng góp vô cùng
to lớn cho sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động toàn thế giới, đấu tranh chống
chủ nghĩa đế quốc, đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc.
Theo Lênin, xây dựng chủ nghĩa cộng sản là nhiệm vụ phức tạp
hơn nhiệm vụ lật đổ giai cấp tư sản, rằng tương lai của chủ nghĩa cộng sản thuộc
về thanh niên, thanh niên là người xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Người cho rằng:
“Thế hệ những người lao động được đào tạo trong xã hội tư bản chủ nghĩa thì giỏi
lắm chỉ có thể giải quyết được nhiệm vụ phá hủy nền móng của chế độ tư bản già
cỗi và đặt được nền móng vững chắc, trên đó chỉ có thế hệ khởi công trong những
điều kiện mới, mới có thể xây dựng được”. Như vậy tương lai của chủ nghĩa cộng
sản thuộc về thanh niên. Nếu không lôi cuốn được toàn thể quần chúng thanh niên
vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới thì sẽ không thể xây dựng được xã hội cộng sản
chủ nghĩa.
V.I.Lênin là người đầu tiên vận dụng sáng tạo những nguyên
lý của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn nước Nga; chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ
chức cho việc thành lập Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga - tiền thân của Đảng
Cộng sản Bônsêvích Nga, một đảng vô sản kiểu mới đã lãnh đạo giai cấp công nhân
và nhân dân Nga làm nên cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, và thực hiện sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xô Viết; là người đưa chủ nghĩa Mác từ lý
luận trở thành hiện thực. Người tích cực đấu tranh cho chủ nghĩa quốc tế vô sản,
thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) để lãnh đạo phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế, tập hợp mọi lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống
chủ nghĩa đế quốc.
Dưới ngọn cờ của V.I.Lênin, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Xô Viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới được hình thành; chủ nghĩa
phát xít bị tiêu diệt; các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc,
làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã. Tên tuổi của Lênin đã
gắn liền với những cải biến cách mạng vĩ đại nhất trong xã hội loài người từ đầu
thế kỷ XX đến nay.
Với cách mạng Việt Nam, tư tưởng của Lênin đã mở ra những
chân trời mới, soi đường, chỉ lối cho nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng,
Đảng luôn vận dụng một cách sáng tạo những tư tưởng của Lênin vào điều kiện cụ
thể của Việt Nam, tiến hành Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đập tan ách thống
trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đưa dân tộc
ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống
xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng
mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm
tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Trong hành trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
vô cùng cảm động và hạnh phúc khi đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận
cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin”. Chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và Nhân
dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ
nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng,
đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.
Kỷ niệm 152 năm Ngày sinh V.I Lênin là dịp để mỗi người dân
Việt Nam tưởng nhớ và biết ơn công lao to lớn của Người, một nhà tư tưởng vĩ đại,
nhà lý luận chính trị kiệt xuất, người thầy của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động thế giới, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm, ra sức thi đua học tập,
lao động sáng tạo, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, xây dựng
đất nước phát triển, góp phần tích cực vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, ngày một giàu mạnh và văn minh.
TƯỞNG NHỚ ÔNG NHÂN NGÀY KỈ NIỆM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC!
Hiểu thêm chiến sĩ qua học tiếng dân tộc thiểu số
Trung đoàn 246 (Sư đoàn 346, Quân khu 1) thực hiện nhiệm vụ quản lý cán bộ, chiến sĩ phần lớn là con em các dân tộc thiểu số (DTTS), với phong tục, tập quán và nền văn hóa đa dạng. Để phát huy những nét truyền thống, bản sắc văn hóa các dân tộc, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ, Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn đã tiến hành những cách làm hay, sáng tạo để nâng cao kiến thức và đời sống văn hóa, tinh thần cho bộ đội.
Trung tá Lý Phương Bắc, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 246 cho biết: “Quá trình thực hiện nhiệm vụ, đơn vị triển khai mô hình câu lạc bộ (CLB) tiếng DTTS nhằm giúp cán bộ có điều kiện hiểu biết thêm về văn hóa vùng miền, tâm tư, tình cảm, tạo sự gần gũi, hiểu biết hơn về đối tượng quản lý; chiến sĩ được nói và phát huy bản sắc dân tộc mình trong quá trình công tác, thêm tin yêu, gắn bó với đơn vị hơn”. CLB chú trọng vào tiếng dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông; được tổ chức thành 4 tổ học tập, mỗi tổ chia thành các nhóm.
![]() |
| Lãnh đạo Trung đoàn 246 trao đổi với học viên trong lớp học tiếng dân tộc thiểu số. |
Các tổ, nhóm cấp tiểu đoàn, đại đội sinh hoạt vào sáng thứ bảy hằng tuần trong khoảng một giờ. Hằng tháng, CLB sinh hoạt tập trung một lần vào chiều thứ sáu tuần đầu của tháng. Ngoài ra, trung đoàn thường xuyên tổ chức ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả nghiêm túc, chặt chẽ. Sau gần hai năm thành lập, CLB có 215 lượt thành viên tham gia.
Theo Thiếu tá Lương Quốc Khánh, Phó chủ nhiệm Chính trị, Chủ nhiệm CLB tiếng DTTS của trung đoàn, hằng tuần, hằng tháng, Ban Chính trị xây dựng kế hoạch, nội dung tự học gửi đến cơ quan, đơn vị, phân chia theo từng cụm từ vựng, từng bài, từng phần, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, bảo đảm tính khoa học, phù hợp với nhận thức của người học. Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị còn hướng dẫn cán bộ tự nghiên cứu việc dạy và học tiếng DTTS trên ứng dụng YouTube của điện thoại thông minh. Hằng tháng, vào ngày chính trị-văn hóa tinh thần ở cơ sở, các cơ quan, đơn vị đều bố trí thời gian để cán bộ trao đổi kiến thức học tiếng DTTS trong tháng; chỉ huy cơ quan, đơn vị kiểm tra nhận thức việc tự học của từng đồng chí cán bộ.
Để nâng cao chất lượng giảng dạy, đơn vị chú trọng công tác xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên gồm 5 đồng chí, chủ yếu là các chính trị viên, chính trị viên phó đại đội, có khả năng sư phạm, tiến hành biên soạn, thục luyện giáo án. Nội dung tập trung vào những từ vựng giao tiếp thông thường, cách phiên âm, cấu trúc câu tiếng DTTS, cách sử dụng số từ trong câu cơ bản và biết được cách xưng hô, chào hỏi, giới thiệu, hẹn gặp, hỏi đường, đếm số, nói về thời gian, tên các ngày trong tuần và các tháng trong năm. Trung đoàn còn chỉ đạo Ban Chính trị chủ động phối hợp với gia đình và địa phương nơi đóng quân rà soát, nắm chắc những quân nhân là người DTTS nhập ngũ vào đơn vị, đặc biệt là những người có khả năng nói, viết và phát âm tốt để làm lực lượng nòng cốt trong học tiếng DTTS.
Là người trực tiếp lên lớp giảng dạy, Trung úy Ma Thế Cường, Chính trị viên Đại đội Trinh sát 20 cho biết: “Quá trình giảng dạy, đội ngũ giáo viên luôn tích cực, chủ động nghiên cứu, đổi mới về nội dung, phương pháp tuyên truyền, kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, giúp người học nắm chắc những từ vựng theo từng chủ đề. Các thành viên trao đổi với nhau, tập phát âm ngay tại lớp; tiến hành ôn luyện, kiểm tra bằng hình thức vấn đáp và trắc nghiệm để nắm chất lượng người học vào cuối tuần. Trong giờ thứ 8, sinh hoạt hằng ngày tại đơn vị, các thành viên sử dụng tiếng DTTS để nâng cao khả năng giao tiếp”.
Thiếu úy Nguyễn Hồng Đạt, Chính trị viên Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, chia sẻ: “Được tham gia sinh hoạt CLB giúp chúng tôi hiểu hơn về tâm tư, tình cảm và ngôn ngữ, phong tục, tập quán của quê hương các chiến sĩ. Từ đó, tình cảm cán binh thêm gắn kết, các chiến sĩ cũng thêm tin tưởng và chia sẻ nhiều hơn với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị”.
Không chỉ học tập tại đơn vị, trong các đợt hành quân dã ngoại làm công tác dân vận của trung đoàn, CLB tiếng DTTS đã phát huy được vai trò, bằng các hình thức sử dụng tờ rơi, tuyên truyền bằng tiếng của đồng bào địa phương; tổ chức nhiều buổi giao lưu, biểu diễn nhạc cụ truyền thống, giới thiệu về văn hóa các dân tộc với nhân dân địa phương. Qua đó giúp bà con thêm hiểu, gần gũi, tăng cường hiệu quả công tác dân vận, mối đoàn kết quân dân.
Có thể khẳng định, CLB tiếng DTTS đã góp phần thiết thực vào việc giúp cấp ủy, chỉ huy và đội ngũ cán bộ Trung đoàn 246 nắm chắc tình hình tư tưởng, quản lý, giáo dục bộ đội; phục vụ tốt công tác tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Bài và ảnh: HẢI BIÊN - VĂN HỒI
NGUỒN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN






