Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

Con đường duy nhất đúng

 

Dễ nhận thấy, không phải đến tận bây giờ, kẻ thù mới hướng mũi chống phá vào việc phủ nhận CNXH, mà thực chất, đây là mục tiêu xuyên suốt, bao trùm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Cái cách mà chúng đã thành công ở Liên Xô và các nước Đông Âu 3 thập kỷ trước. Theo đó, mỗi khi có cơ hội, kiếm tìm được cái cớ về sự kiện, hiện tượng ở xã hội Việt Nam, chúng lại réo lên những thông tin phản nghịch, đậm chất ngụy biện, bịa đặt, hòng gây xáo trộn nhận thức, lung lay niềm tin về mục tiêu lý tưởng của Đảng.

Chúng ta biết rằng, suốt quá trình cách mạng, Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân tộc Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành, vững tin lựa chọn và quyết tâm đi lên theo con đường CNXH. Đây không chỉ là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, mà còn là nguyện vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là con đường duy nhất đúng, hợp với quy luật cách mạng, được thực tiễn kiểm nghiệm, khẳng định tính đúng đắn.

Lịch sử cho thấy: Từ những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, trong khi nhiều khuynh hướng cách mạng lâm vào khủng hoảng trầm trọng, bế tắc thì chỉ có con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng lãnh đạo, đi theo CNXH là phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử và đưa cách mạng Việt Nam đi tới thành công. Trải qua các giai đoạn lịch sử cách mạng khác nhau, với những thắng lợi trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như thành công trong lãnh đạo đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chính là minh chứng hùng hồn cho sự đúng đắn đó.

Đặc biệt, trong hệ thống lý luận và nhận thức của Đảng ta, luôn nhất quán, khẳng định mục tiêu cách mạng của Đảng, là: Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không còn lợi ích gì khác! Minh chứng là, trong cuộc đối đầu với "giặc Covid-19" vừa qua, toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đã chung sức đồng lòng, trực tiếp dấn thân vào nơi gian khó, hiểm nguy, khu tâm dịch... để linh hoạt, sáng tạo lãnh đạo, tổ chức phòng, chống dịch hiệu quả. Với tinh thần "chống dịch như chống giặc", “không bỏ ai lại phía sau”, “vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế”, "mỗi người dân là một chiến sĩ"... toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chủ động khắc phục khó khăn, từng bước đẩy lùi dịch bệnh, đưa đất nước phát triển trong điều kiện bình thường mới. Những thành quả tốt đẹp đó cũng chính cách thức hiện thực hóa mục tiêu, con đường cách mạng, hướng đến các đặc trưng của CNXH; khẳng định tính ưu việt của chế độ XHCN ở Việt Nam.

 Trên lĩnh vực kinh tế, đất nước ta đã đạt được những kết quả toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội. Sau hơn 35 năm đổi mới, trải qua nhiều thời khắc khó khăn, kinh tế nước nhà đã có bước tiến rất dài, khác về chất. Đặc biệt, thời gian qua, khi bóng đêm kinh tế bao trùm nhân loại thì nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ vững ổn định, phục hồi nhanh và phát triển bền vững; tiềm lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp được tăng cường; các chế độ chính sách, an sinh xã hội vì người dân được đảm bảo. Đại hội XIII của Đảng, đánh giá: "Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như hiện nay".

Những vấn đề lý luận mà Đảng Cộng sản Việt Nam đúc rút (cả trước đây và hiện nay), từng được các quốc gia, các chính đảng, tổ chức quốc tế tìm đến trao đổi, học tập kinh nghiệm, bày tỏ ấn tượng và sự ghi nhận đặc biệt. Cũng từ đây, bạn bè quốc tế có thêm cơ sở củng cố niềm tin vào thành công của Việt Nam, tăng thêm sự ủng hộ công cuộc xây dựng đất nước của Việt Nam trên con đường đi lên CNXH.

Vậy nên, không cần bàn cãi gì thêm: Đi lên CNXH là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam. Thực tế ở thời điểm hiện tại cho thấy: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, vững tin đi theo con đường cách mạng. Sự thật ấy là gáo nước lạnh hắt thẳng vào mặt những kẻ hiềm khích, cố tình chống phá cách mạng Việt Nam.

 

Bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng

 

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định.

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.

Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại, đó là: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH; Tiếp đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; và thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH. Đặc biệt, sau 25 năm (1995-2020), Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia.

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. 

Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ./.

Tạo bước chuyển đột phá cho vùng đất "chín rồng"

 

Tổng Bí thư: Tạo bước chuyển đột phá cho vùng đất "chín rồng"

(Dân trí) - Tổng Bí thư tin tưởng các tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhất định sẽ phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của phong trào "đồng khởi", khí phách anh hùng "thành đồng" Tổ quốc...

Sáng 22/4, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức tổ Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 2/4/2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 qua hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.

Tổng Bí thư: Tạo bước chuyển đột phá cho vùng đất chín rồng - 1

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại hội nghị (Ảnh: Hương Giang).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đồng chủ trì hội nghị.

Phát biểu kết luận hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, vùng Đồng bằng sông Cửu Long thực sự là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước; là "Vùng cực Nam - Thành đồng của Tổ quốc", cửa ngõ phía Tây Nam của quốc gia, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng cần được phát huy cao hơn.

Vì vậy, tiềm năng, lợi thế to lớn cho phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần được khai thác có hiệu quả hơn trên cơ sở xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai thực hiện thật tốt nghị quyết của Bộ Chính trị lần này về phát triển vùng, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu phát triển của vùng và cả nước trong thời kỳ mới.

Bộ Chính trị ban hành nghị quyết mới lần này là để tiếp tục phát huy những kết quả thành tựu to lớn đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, và vượt qua những khó khăn, thách thức mới đang đặt ra.

"Việc nghiên cứu, ban hành và tổ chức triển khai thực hiện thật tốt nghị quyết lần này sẽ góp phần để Đồng bằng sông Cửu Long "đứng dậy" làm chủ và vươn lên mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới cùng cả nước", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh.

Để tạo chuyển biến có tính đột phá trong việc phát huy tốt hơn nữa tiềm năng, lợi thế của vùng và khắc phục triệt để những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong thời gian qua, Nghị quyết lần này tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của vùng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Luận giải câu hỏi chúng ta phải làm gì và làm như thế nào để thực hiện có kết quả nghị quyết của Bộ Chính trị lần này về vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, trước hết phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của nghị quyết, nắm vững những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm của cả nước, toàn vùng, từng địa phương trong vùng, của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương.

Tổng Bí thư: Tạo bước chuyển đột phá cho vùng đất chín rồng - 2

Hội nghị được tổ chức qua hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến (Ảnh: Hương Giang).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, ngay sau hội nghị này, căn cứ vào nghị quyết và kế hoạch của Bộ Chính trị, sự chỉ đạo, hướng dẫn của các ban đảng Trung ương và các cơ quan cấp trên, các cấp ủy và tổ chức Đảng ở trung ương và các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị của các địa phương trong vùng cần khẩn trương xây dựng kế hoạch hành động, chương trình học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc nghị quyết gắn với tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các tỉnh.

Ban cán sự Đảng Chính phủ cần ráo riết chỉ đạo, khẩn trương xây dựng, ban hành Chương trình hành động triển khai thực hiện nghị quyết, giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương trong vùng. Chương trình hành động phải bám sát các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và nội dung của nghị quyết, bảo đảm sát hợp với từng địa phương trong vùng và tiểu vùng.

Các ban, bộ, ngành trung ương và các địa phương trong vùng cần cụ thể hóa nghị quyết và chương trình hành động của Chính phủ bằng các cơ chế, chính sách, kế hoạch, đề án, dự án và nguồn lực cụ thể, có tính khả thi cao. Trước mắt, Chính phủ cần tập trung ưu tiên sớm hoàn thiện và ban hành quy hoạch phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tạo cơ sở để các địa phương trong vùng xây dựng quy hoạch phát triển của địa phương mình.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mong đợi và tin tưởng rằng: "Cấp ủy, chính quyền và nhân dân các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long nhất định sẽ phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của phong trào "đồng khởi", khí phách anh hùng "thành đồng" Tổ quốc và phẩm chất cao quý, rất tốt đẹp của người miền Tây; cùng với các ban, bộ, ngành Trung ương và cấp ủy, chính quyền các cấp trong cả nước, nhất là TPHCM và toàn Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đã đổi mới, nỗ lực phấn đấu rồi càng đẩy mạnh đổi mới, nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa, thực hiện thắng lợi nghị quyết của Bộ Chính trị lần này, tạo ra bước chuyển biến mới có tính đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh trên vùng Đồng bằng sông Cửu Long - vùng đất "chín rồng" theo tinh thần: Cả nước vì Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Cửu Long vươn lên cùng cả nước và vì cả nước".

Quán triệt Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị

 Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị

19:26' 22/4/2022

Sáng 22-4, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 2-4-2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.




Hội nghị toàn quốc về phát triển vùng đồng bằng sông Cứu Long do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đồng chủ trì Hội nghị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Sau hội nghị đầu tiên về triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10-2-2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng- an ninh ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 vừa được tổ chức thành công ngày 15-4, thì đây là hội nghị thứ hai về phát triển vùng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức.

Hội nghị nhằm quán triệt sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị và cả nước, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long - vùng cực Nam của Tổ quốc, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết quan trọng này.

Hội nghị được tổ chức dưới hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến. Tại điểm cầu Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí Nguyễn Quang Dương, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương chủ trì. Cùng dự có các đồng chí lãnh đạo các vụ, cục, đơn vị trong Ban.

Hội nghị trực tuyến tại điểm cầu Ban Tổ chức Trung ương.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, bao gồm 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với tổng diện tích khoảng 40.600km2; dân số khoảng 17,5 triệu người, chiếm gần 18% dân số cả nước. Đây là vùng cực Nam của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, có nhiều tiềm năng, lợi thế cho phát triển; là vùng sản xuất và xuất khẩu lương thực, thực phẩm, thuỷ hải sản và trái cây lớn nhất của cả nước... 

Cuộc gặp xúc động

 

Hương trầm ngan ngát theo làn gió mát lành làm thắm đượm thêm cuộc tri ân và sự gặp mặt tình cờ giữa các đoàn cựu chiến binh Hà Nội nguyên là cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Pháo binh 107, Quân giải phóng tỉnh Quảng Ngãi trong chiến tranh chống Mỹ và Đoàn Thanh niên xã Tịnh Hiệp (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi), tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Tịnh Hiệp.

Trước tượng đài liệt sĩ, các cựu chiến binh: Nguyễn Danh Nho, 78 tuổi, quê ở huyện Hoài Đức, nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1 Súng máy 12,7mm, thuộc Trung đội 1, Đại đội 1; Nguyễn Huy Thắng, 71 tuổi, quê Sơn Tây, nguyên xạ thủ số 1 súng ĐKZ 75, Khẩu đội trưởng Khẩu đội 1, Trung đội 1, Đại đội 2... đã kể cho các bạn trẻ Tịnh Hiệp những câu chuyện, thành tích của Tiểu đoàn 107 anh hùng:

Ngay trận đầu ra quân, ngày 16-7-1967, tại Tà Ma-Sông Re thuộc huyện Sơn Hà (Quảng Ngãi), tiểu đoàn đập tan kế hoạch “Tìm và diệt” của Sư đoàn Không vận số 1 American, mạnh nhất nước Mỹ lúc đó; bắn cháy 52 máy bay UH-1A, 5 máy bay F4; cùng với Tiểu đoàn 20 bộ binh tiêu diệt 475 tên lính Mỹ; làm dấy lên Phong trào thi đua “Bắn cháy nhiều máy bay và tiêu diệt nhiều giặc Mỹ” trong toàn tỉnh Quảng Ngãi và Quân khu 5...

Cuộc gặp xúc động
Cựu chiến binh Tiểu đoàn pháo binh 107, Quân giải phóng tỉnh Quảng Ngãi thắp nhang tưởng nhớ đồng đội tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Tịnh Hiệp. 

Thắp nén tâm nhang từng phần mộ tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, ông Nho rưng rưng xúc động đứng trước phần mộ liệt sĩ Trịnh Mệnh, quê ở huyện Tiên Lãng (Hải Phòng), nguyên Chính trị viên Đại đội 2. Ông Nho cho biết: “Trong trận đánh căn cứ dốc Phú ở xã Bình Mỹ (Bình Sơn, Quảng Ngãi)-vị trí án ngữ đoạn đường từ ngã ba Trà Bồng đi Châu Ổ trên Quốc lộ 1A, đồng chí Mệnh trực tiếp chỉ huy Khẩu đội 1 (ĐKZ 75), phối hợp với Khẩu đội 3 Súng cối 82mm và xạ thủ súng máy 12,7mm của Đại đội 1, cùng bộ binh tiêu diệt căn cứ này”.

2 giờ ngày 6-8-1972, trong lúc chỉ huy bộ đội tiêu diệt các mục tiêu đầu cầu, dù bị đạn của địch làm gãy đôi xương đùi, anh Mệnh vẫn tiếp tục ra lệnh cho xạ thủ ĐKZ bắn đạn xuyên quả thứ hai làm nổ tung lô cốt địch. Vì tĩnh mạch đùi vỡ, máu ứ làm căng bắp cơ đã giập nên anh Mệnh khó cử động, anh đã dí mũi dao găm vào vết thương bảo xạ thủ Thắng rạch đùi anh, thắt tĩnh mạch lại để anh tiếp tục chỉ huy bộ đội. Xạ thủ Thắng sợ anh quá đau đớn nên ngần ngừ. Anh quát lên: “Làm ngay đi!”.

Xạ thủ Thắng ghìm dòng nước mắt làm theo lời chỉ huy, nhưng vì dao cùn nên không thể rạch đùi. Trịnh Mệnh được đồng đội khiêng về Trạm phẫu A90. Trước khi đi, anh Mệnh còn cởi chiếc áo trên người trao lại cho xạ thủ Thắng... Tấm gương của anh Mệnh đã tiếp thêm sức mạnh cho đồng chí, đồng đội xông lên tiêu diệt địch (trong đó có hai tên lính Mỹ cuối cùng trên đất Sơn Tịnh, Quảng Ngãi)...

Sau trận chiến, xạ thủ Thắng lên trạm phẫu thì nhận được hung tin, Chính trị viên Trịnh Mệnh đã hy sinh. Năm 1981, xạ thủ Thắng đã trở thành nhà báo Nguyễn Huy Thắng. Ông đưa em trai liệt sĩ Mệnh vào tìm hài cốt và khắc bia mộ cho anh.

Nghe chuyện về Tiểu đoàn pháo binh 107, đồng chí Nguyễn Duy Quý, Bí thư Đoàn xã Tịnh Hiệp cho biết: "Đoàn viên, thanh niên Tịnh Hiệp càng cảm phục, biết ơn sâu sắc các anh hùng liệt sĩ, thương binh đã chiến đấu giành độc lập, tự do cho Quảng Ngãi. Thế hệ trẻ chúng tôi nguyện ra sức cống hiến, xung kích xây dựng quê hương Tịnh Hiệp giàu mạnh, xứng với tấm gương anh hùng của cha anh".

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG

NGUỒN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

Ký ức về mái trường Đại dương thân yêu

 

Sáng 26-4, tại Hải Phòng, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã tổ chức gặp mặt các thế hệ của giảng viên, sinh viên nhà trường “xếp bút nghiên lên đường ra trận chiến đấu" từ năm 1964 đến năm 1979.

Ngày 1-4-1956, mái trường Đại dương chính thức được ra đời giữa lòng TP Hải Phòng trung dũng, quyết thắng, với tiền thân là Trường Sơ cấp lái tàu, Trường Sơ cấp máy tàu; năm 1959 được nâng cấp thành Trường Trung cấp Hàng hải; năm 1961 được đổi tên thành Trường Hàng hải; năm 1976, được nâng cấp thành Trường Đại học Hàng hải. Năm 2013, Trường Đại học Hàng hải được Thủ tướng Chính phủ chính thức đổi tên thành Trường Đại học Hàng hải Việt Nam.

Ký ức về mái trường Đại dương thân yêu
PGS, TS Phạm Xuân Dương, Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam phát biểu tại lễ gặp mặt.

Năm tháng qua đi, lớp lớp các thầy cô giáo, các cán bộ giảng viên, sinh viên của nhà trường đã không tiếc công sức, xương máu, với trí tuệ và lòng nhiệt huyết góp phần không nhỏ cho sự nghiệp thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ chủ quyền cả trên đất liền và biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Nhiều thầy giáo, cô giáo, nhiều cựu sinh viên đã tham gia thiết kế, chế tạo ra những con tàu không số, nhiều người khác kiên cường trực tiếp giữ vững tay lái những con tàu đặc biệt đó, những con tàu đã làm nên Đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại, trực tiếp chi viện vũ khí cho chiến trường Miền Nam...

Trong giai đoạn từ năm 1964 đến năm 1979, đã có 6 thầy giáo và gần 600 sinh viên nhà trường nhập ngũ lên đường ra trận. Trong số đó, đã có 47 liệt sĩ anh dũng hy sinh trên các chiến trường chống Mỹ và 2 cuộc chiến tranh biên giới, trong cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc biển thân yêu của Tổ quốc; gần 50 người là thương binh, gần 50 người nhiễm chất độc màu da cam, nhưng sâu thẳm trong trái tim và khối óc của những người còn sống trở về luôn có hình ảnh mái trường Đại dương thân yêu. Họ luôn mong có một ngày được trở về mái trường xưa.

Qua 66 năm xây dựng và trưởng thành, với những đóng góp vô cùng to lớn của các thế hệ thầy cô giáo và sinh viên, trong đó có những anh hùng liệt sĩ, những cựu chiến binh, cựu giảng viên, sinh viên của nhà trường, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và rất nhiều phần thưởng cao quý khác.

Ký ức về mái trường Đại dương thân yêu
 

 

Ký ức về mái trường Đại dương thân yêu
Các đại biểu tham dự lễ gặp mặt 

Phát biểu tại buổi lễ, PGS, TS Phạm Xuân Dương, Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam khẳng định, trong những năm qua, bằng sự kiên định trong triết lý giáo dục: Trí tuệ - Sáng tạo - Trách nhiệm - Nhân văn”, uy tín của nhà trường ngày càng được nâng cao cả trong nước và quốc tế, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh, hợp tác quốc tế và mọi mặt công tác khác của trường đã có những bước tiến lớn. Chất lượng sinh viên tốt nghiệp của trường được các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp trong và ngoài nước, cộng đồng xã hội đánh giá cao.   

Nhà trường luôn coi trọng những giá trị truyền thống vô cùng quý giá, trong đó việc giáo dục truyền thống anh hùng của lớp cha anh đi trước cho các thế hệ giảng viên trẻ và sinh viên đi sau là một nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

DUY ĐÔNG

NGUỒN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

Nhân rộng mô hình giúp dân hiệu quả

 

Ở mục “Đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, nêu rõ: “... Tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân...”.

Xây dựng, nhân rộng, lan tỏa những mô hình hiệu quả để góp phần làm sâu đậm hơn giá trị văn hóa, nhân văn của phẩm chất này chính là giải pháp thiết thực tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, thiết thực chống chủ nghĩa cá nhân ở các cơ quan, đơn vị.

Đúc kết kinh nghiệm từ những mô hình

Đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 4 tại TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam đã được khống chế từ cuối tháng 10-2021. Gần 6 tháng qua, các địa phương này thực hiện chiến lược thích ứng an toàn với dịch Covid-19, đưa đời sống xã hội trở lại trạng thái bình thường mới. Sau khi dốc toàn lực giúp dân chống dịch thành công, các đơn vị lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 7 lại tiếp tục triển khai các hình thức, giải pháp giúp dân khắc phục hậu quả dịch bệnh, chăm lo an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa...

Những ngày này, hòa trong không khí kỷ niệm 47 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2022), Bộ tư lệnh Quân khu 7 chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương đẩy mạnh các phong trào, hoạt động về nguồn, tri ân người có công, chăm lo công tác đền ơn đáp nghĩa. Thiếu tướng Đỗ Văn Bảnh, Phó chính ủy Quân khu 7 cho biết: "Nhiệm vụ “chống dịch, cứu dân” trong những tháng cao điểm dịch bệnh giữa năm 2021 đã để lại cho LLVT Quân khu 7 nhiều bài học quý về công tác dân vận (CTDV). Từ chủ trương thông suốt, nhất quán của Đảng ủy, Bộ tư lệnh quân khu, các cơ quan, đơn vị, địa phương đã năng động, linh hoạt, sáng tạo những mô hình giúp dân hiệu quả. LLVT quân khu đã tổ chức sơ, tổng kết, rút ra các giải pháp, kinh nghiệm huy động sức dân để lo cho dân, cách thức tiến hành CTDV trong hoàn cảnh khó khăn...

Có thể thấy, càng trong những hoàn cảnh nguy nan, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng. Đại dịch Covid-19 là một cuộc sát hạch lớn về kỹ năng ứng phó với hoàn cảnh nguy nan, phương án, giải pháp gần dân, về với dân, dựa vào dân để lo cho dân. Đó là cơ sở để củng cố niềm tin, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ máu thịt quân-dân; là bằng chứng sát thực đập tan những âm mưu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Khi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ tỏa sáng, mầm mống của chủ nghĩa cá nhân sẽ bị đẩy lùi, triệt tiêu...

Nhân rộng mô hình giúp dân hiệu quả
 Bộ đội giúp dân làm đường giao thông nông thôn. Ảnh tư liệu: TTXVN

Nhìn lại thời kỳ cao điểm của đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 4 tại TP Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam, có thể thấy, tính chủ động, sáng tạo, tinh thần quyết tâm, quyết liệt của LLVT Quân khu 7 được thể hiện một cách vừa bao quát, bao trùm, vừa cụ thể, tỉ mỉ. Chủ đề của Phong trào thi đua đặc biệt “chống dịch, cứu dân” do Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7 phát động đã thể hiện rõ chủ trương, giải pháp tiến hành CTDV trong nhiệm vụ “chống dịch như chống giặc”.

Với chức năng là lực lượng xung kích trên tuyến đầu, ngay trong tư duy, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ phải xác định đi trước một bước, xung phong tình nguyện thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, nguy cơ lây nhiễm cao, làm những việc người khác, lực lượng khác không làm được hoặc không có đủ điều kiện để làm. Phương châm “chống dịch, cứu dân” vì thế đã trở thành mệnh lệnh không lời, vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp của CTDV. Hàng loạt mô hình sáng tạo từ các đơn vị cơ sở đã hiện thực hóa chủ trương của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7.

Những mô hình tiêu biểu được đúc kết thành bài học về CTDV, đó là: “Đơn vị, địa phương tuyến sau hỗ trợ, giúp đỡ đơn vị, địa phương tuyến trước”; “Đơn vị, địa phương ngoài vùng dịch hỗ trợ, giúp đỡ đơn vị, địa phương trong vùng dịch; vùng có dịch ít giúp đỡ vùng có dịch nhiều”; “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”... Cùng với những mô hình ở cấp quân khu, nhiều mô hình hiệu quả ở các đơn vị, địa phương cũng được đúc kết thành bài học kinh nghiệm, tiêu biểu như: “Tất cả vì tuyến đầu chống dịch”, “Nhà trọ 0 đồng”, “Gian hàng 0 đồng”, “Phiên chợ 0 đồng”, “Cây ATM gạo nghĩa tình”, “Cây ATM khẩu trang”, “Hũ gạo tình thương”, “Bữa cơm nghĩa tình”, “Tủ cơm, cháo miễn phí”, “Tủ đồ dùng thiện nguyện”; “Tặng sản phẩm tăng gia sản xuất cho dân”; “Gói an sinh mùa Covid”..., các chương trình 1.000, 5.000, 20.000, 100.000 phần quà nghĩa tình... Tổng kinh phí huy động giúp dân từ các nguồn lực xã hội do LLVT Quân khu 7 thực hiện lên đến hơn 1.000 tỷ đồng, với sự tham gia của 100% cán bộ, chiến sĩ...

Nhiệm vụ “chống dịch, cứu dân” trong giai đoạn “nước sôi, lửa bỏng” đã hoàn thành, nhưng bài học kinh nghiệm về chủ trương gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trong cán bộ, chiến sĩ vẫn tiếp tục được đúc kết, làm đầy thêm, dày hơn, sâu hơn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nghị quyết 847 đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo: “Kịp thời phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt...”.

Như vậy, việc đúc kết bài học kinh nghiệm từ các mô hình giúp dân hiệu quả trong các nhiệm vụ là công việc phải được tiến hành kịp thời và thường xuyên. Phát hiện, nhân rộng các cách làm hay, mô hình hiệu quả, những điển hình tiên tiến... chính là sự cụ thể hóa phương châm lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy hoa thơm lấn át cỏ dại... trong môi trường văn hóa quân nhân.

Chuyển chủ trương thành hành động

Dịch bệnh, thiên tai, sự cố... đang là những thách thức lớn đối với đời sống xã hội, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Trong những hoàn cảnh ấy, Bộ đội Cụ Hồ luôn là lực lượng đi đầu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản và cuộc sống yên lành cho nhân dân. Có thể nói, đó chính là những “cuộc chiến thời bình” của Quân đội ta. Trong giai đoạn cao điểm bộ đội giúp dân phòng, chống dịch Covid-19, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo: “Bộ đội phải chủ động tìm đến với dân, không chờ dân khó khăn phải tìm đến bộ đội”.

Quan điểm chỉ đạo của đồng chí Bộ trưởng thể hiện tinh thần chủ động, linh hoạt, đi trước một bước trong nhiệm vụ giúp dân của Bộ đội Cụ Hồ. Những mô hình trong nhiệm vụ “chống dịch, cứu dân” của LLVT Quân khu 7 nói riêng, các đơn vị trong toàn quân tăng cường cho địa bàn Quân khu 7 thời gian qua nói chung, là một dấu mốc quan trọng trong bề dày truyền thống Quân đội ta. Đúc kết thành những bài học kinh nghiệm để ứng dụng, vận dụng, nhất là về quan điểm, chủ trương, quyết tâm, cách làm... là công việc cần thiết, thường xuyên của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong các cơ quan, đơn vị toàn quân.

Trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, Nghị quyết 847 chỉ rõ: “Tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nâng cao nhận thức, quán triệt, thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân và chức trách quân nhân...”. Bộ đội Cụ Hồ qua các thế hệ, ai cũng thuộc lòng 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, trong đó lời thề thứ 9 nêu rõ: “Khi tiếp xúc với nhân dân làm đúng ba điều nên: Kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân và ba điều răn: Không lấy của dân, không dọa nạt dân, không quấy nhiễu dân, để gây lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí”. Điều thứ 8 trong 12 điều kỷ luật, nêu rõ: “Phải bảo vệ tính mạng, tài sản của tập thể và Nhà nước”. Những điều ấy vừa mang tính bắt buộc, vừa thể hiện tinh thần tự giác của người quân nhân cách mạng. Trải qua bề dày lịch sử truyền thống, những điều ấy đã hun đúc thành bản sắc văn hóa, đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Quy luật phát triển của Quân đội ta mang tính kế thừa. Cùng với thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho bộ đội, cần phải có những hoạt động mang tính điểm nhấn, điển hình. Thông qua các mô hình hiệu quả, những tấm gương điển hình tiên tiến, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần chủ động, kịp thời, sáng tạo, có các hình thức tuyên truyền, giáo dục, học tập sinh động để những nét đẹp ấy thẩm thấu vào đời sống cán bộ, chiến sĩ, chuyển chủ trương thành hành động thiết thực. Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong mối quan hệ với nhân dân trên tinh thần tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân... chính là một trong những giải pháp giúp Quân đội ta giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó còn là vũ khí sắc bén đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, là môi trường góp phần đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân...

PHAN TÙNG SƠN

NGUỒN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

Tấm lòng đẹp như tên gọi

 

Tôi thực sự bất ngờ khi chị chia sẻ về hoàn cảnh của mình. Một người khỏe mạnh, bình thường tự nguyện gắn bó và giúp đỡ những mảnh đời khuyết tật.

Chị là Trương Thị Hoàng Mỹ, thành viên Hợp tác xã (HTX) Vụn Art có cơ sở tại Vạn Phúc (quận Hà Đông, TP Hà Nội).

Tình yêu vượt mọi rào cản

Tên của chị rất đẹp: Hoàng Mỹ. Tôi có thiện cảm với chị ngay từ lần đầu tiếp xúc. Nước da trắng, đôi môi tươi chẳng cần son phấn. Nhất là giọng nói hút hồn đậm chất miền Tây Nam Bộ, nhẹ tựa cơn gió đầu hè thoảng qua làm dịu mát cái nắng mới oi ả. Tôi nghĩ người đẹp lại khéo thế này sẽ có nhiều cơ hội để lập nghiệp, cuộc sống ắt hẳn thuận lợi. Nhưng không, chị lại chọn con đường đầy thử thách, gian nan. Ấy là hành trình gắn bó cuộc đời với người khuyết tật.

Hai con người ở cách xa nhau cả ngàn cây số. Chị Mỹ quê ở Cần Thơ, còn anh Nguyễn Quang Trung ở ngoài Hà Nội. Họ quen nhau rất tình cờ trên mạng xã hội. Những tin nhắn thú vị đã gắn kết hai người với nhau một cách tự nhiên. Khi được hỏi có biết trước anh là thanh niên khuyết tật, chị trải lòng: “Tôi biết chứ! Anh bị chấn thương cột sống sau một tai nạn giao thông không thể đi lại được. Anh đã tâm sự rất nhiều, nhất là về khuyết tật của bản thân. Qua những lần trò chuyện, tôi cảm nhận ở anh là một người sâu sắc, chân thành, biết sẻ chia”.

Suốt hai năm quen nhau, tình yêu thương trở thành động lực để chị ra Bắc gặp anh. Không quá ngỡ ngàng khi cả hai đã biết hoàn cảnh của nhau. Vì thế, ngày gặp mặt, chị càng thương anh hơn. Là sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ, sau đó công tác ở Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, từng chăm sóc nhiều bệnh nhân, chị Mỹ đồng cảm với người khuyết tật. Đặc biệt, chị có cái nhìn cởi mở, công bằng khi cho rằng người khuyết tật về cơ thể nhưng đầu óc tư duy tốt thì vẫn làm những việc phù hợp với bản thân. Điều quan trọng là cách sống của họ thế nào. Không hề kỳ thị, xa lánh, chị luôn tin tưởng vào những điều tốt đẹp ẩn chứa bên trong mỗi con người. Đó là động lực để chị đến với anh.

Tấm lòng đẹp như tên gọi
Chị Trương Thị Hoàng Mỹ hướng dẫn trẻ khuyết tật làm tranh ghép lụa. 

Ngày trở về trình bày quyết định gắn bó cuộc đời mình với anh Trung, ba mẹ chị không ưng thuận. Mẹ chị hỏi: “Con có hiểu yêu người khuyết tật sẽ phải đối mặt với cuộc sống như thế nào không? Thân gái một mình xa xôi, ai lo?”. Chị đáp lại: “Mẹ ơi! Con biết và tự lo được ạ!”. Câu trả lời ngắn gọn như một điều khẳng định chắc chắn y như cái thời kết thúc học phổ thông, ba mẹ khuyên thi sư phạm nhưng chị quyết theo học ngành y. Biết tính con đã định điều gì sẽ làm bằng được, mẹ chị nén nỗi xót thương, buông lời: “Con biết thì con cứ làm những gì đã chọn”. Vậy là năm 2011, chị rời mảnh đất Tây Đô, xa gia đình, người thân về làm dâu đất Bắc. Ngày lễ vu quy không có chú rể vào đón, chị giữ tự nhiên để ba mẹ, người thân khỏi chạnh lòng thương xót. “Lúc đó, động lực lớn nhất chính là tình thương. Mình mong sớm về chung một nhà để ngày ngày được chăm sóc, bù đắp những thiệt thòi mà anh phải gánh chịu”, chị Mỹ trải lòng.

Một cô gái trẻ về mảnh đất mới không công việc, không bạn bè, trước mắt là bao khó khăn. Khi ấy, điểm tựa duy nhất chính là người bạn đời của mình. Anh tuy khuyết tật nhưng vẫn có thể làm việc được bằng máy tính, phụ trách website của HTX Vụn Art làm tranh ghép lụa. Nhìn tấm gương chồng, chị tự nhủ: “Mình có sức khỏe ắt sẽ có việc làm, công việc sẽ tạo ra nhiều mối quan hệ mới. Cuộc đời sẽ chẳng đóng cửa đối với ai. Cuộc sống mưu sinh có khó khăn mấy thì vợ chồng cùng nhau san sẻ”. Từ sự đồng cảm nên khi nghe chồng giới thiệu về HTX của người khuyết tật, chị sẵn sàng tham gia. Thêm niềm hạnh phúc được nhen lên trong căn nhà nhỏ khi anh chị sinh con trai Nguyễn Trung Kiên (sinh năm 2013). Thi thoảng có điều kiện, hai mẹ con lại xuôi về phương Nam thăm ông bà ngoại. Nhìn con vững vàng vượt qua khó khăn, ba mẹ chị cũng yên lòng hơn.

Yêu thương, gắn bó với người khiếm khuyết

Ngồi trong gian phòng làm việc của HTX Vụn Art xung quanh có rất nhiều bức tranh tươi tắn sắc màu, chị Mỹ tỉ mẩn thiết kế cắt, ghép từng mảnh lụa nhỏ để thành tranh mẫu. Thi thoảng, chị lại ghé sang những cô bé, cậu bé ngồi kế bên nói bằng ngôn ngữ ký hiệu hướng dẫn thao tác cắt, ghép, dán tranh lụa. HTX Vụn Art do anh Lê Việt Cường, Chủ tịch Hội Người khuyết tật quận Hà Đông thành lập, là nơi tập hợp những mảnh đời khiếm khuyết trên địa bàn, dạy nghề và tạo việc làm cho họ. Trong quá trình thực hiện, anh Cường cần có cộng tác viên giúp đỡ. Được chồng giới thiệu, chị Mỹ quyết định bỏ công việc đang làm là nhân viên bán hàng của một công ty bán nhân sâm Hàn Quốc để về Vụn Art làm việc. Chị học làm tranh ghép vải, sau đó hướng dẫn lại cho người khuyết tật.

Để một sản phẩm thủ công có giá trị thẩm mỹ đòi hỏi phải có đôi tay khéo léo, khả năng cảm thụ màu sắc, trí tưởng tượng phong phú. Người bình thường làm đã khó, với người khuyết tật càng khó hơn rất nhiều. Thế nên khi làm việc không thể nóng vội được, muốn truyền tải một thông tin nào đó, chị phải vận dụng hết khả năng để giúp họ hiểu và thực hành theo. Trên cơ sở tranh mẫu, chị Mỹ lựa màu lụa phù hợp để cắt ghép thành tranh. Nhờ có chút hiểu biết về màu sắc, chị khéo kết hợp để có những bức tranh đẹp mắt. Những mẫu tranh khai thác các đề tài truyền thống dân gian luôn tạo được ấn tượng đối với người xem. Tận dụng những mảnh lụa thừa từ làng nghề, chị hướng dẫn người khuyết tật làm ra sản phẩm tranh hoàn chỉnh. Quá trình làm việc không phải lúc nào chị cũng gặp thuận lợi. Nhiều bạn tự kỷ, thiểu năng trí tuệ có những hành động bột phát, xung quanh có dao, kéo rất nguy hiểm. Thế rồi việc làm sai, làm hỏng sản phẩm là chuyện bình thường. Những khi ấy, chị không thể cáu gắt, trách mắng các em mà luôn nhẫn nại, kiên trì hướng dẫn, giải thích, uốn nắn từng tí một, vừa dạy vừa dỗ dành.

Ở môi trường lao động khá đặc biệt, chị Mỹ là người cân bằng, điều hòa các mối quan hệ của các thành viên trong HTX, cố gắng xây dựng một tập thể đoàn kết, yêu thương nhau. Qua công việc, giao tiếp, các em khuyết tật dần cải thiện về vận động, phục hồi chức năng. Ví như em Nguyễn Thùy Trang, khi mới đến bị câm điếc, không biết ngôn ngữ ký hiệu, cả ngày lầm lì, không giao tiếp với ai. Chị khéo léo động viên, dạy những ký hiệu đầu tiên, hướng dẫn từ những động tác nhỏ nhất. Sau một thời gian, Trang đã biết làm ra sản phẩm. Chị Mỹ tâm sự: “Nếu xa cách, người khuyết tật sẽ mặc cảm, ngại giao tiếp, nhưng khi gần gũi, hiểu nhau thì các em sẵn sàng chia sẻ, tâm sự mọi chuyện. Qua tiếp xúc mới thấy, thế giới của trẻ khuyết tật rất nhỏ và trong sáng, thế nên khi mình được hòa vào thế giới ấy bỗng thấy cuộc sống nhẹ nhàng, đơn giản hơn. Tại phòng tranh này không có ganh đua, giành giật, toan tính, chỉ có những điều tốt đẹp được tập hợp về đây”.

Chị Mỹ đã rất hạnh phúc khi thấy các em vui cười làm ra những sản phẩm hữu ích. Từ những sản phẩm đó, HTX liên hệ tìm đầu ra để có thu nhập cho người khuyết tật. Dẫu thu nhập không nhiều nhưng các em rất vui khi được làm việc, coi đây là mái nhà chung của mình. Anh Lê Việt Cường, Chủ nhiệm HTX Vụn Art cho biết: “Tôi cũng là người khuyết tật nên rất cảm động khi nhận được sự cảm thông và chia sẻ từ người khỏe mạnh. Chị Mỹ đã gạt qua mọi rào cản để đến với HTX cùng nâng bước những mảnh đời khiếm khuyết. Cá nhân tôi phải cảm ơn rất nhiều sự đóng góp của chị Mỹ”. Gạt đi những tính toán thiệt hơn, những so bì, ganh đua ngoài cuộc sống xô bồ, chị Trương Thị Hoàng Mỹ vẫn lặng lẽ cùng các thành viên ở HTX Vụn Art giúp người khuyết tật tìm thấy giá trị bản thân, hòa nhập cộng đồng.

Bài và ảnh: THƯ NGỌC

NGUỒN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

NỖI NHỤC MẤT NƯỚC KHÔNG ĐƯỢC PHÉP LÃNG QUÊN!

 Đây là bức ảnh được chụp tại Biên Hòa vào năm 1860, mô tả cảnh một người phụ nữ An Nam làm "nghề" cho chó bú. Những con chó ở đây là chó Tây, chó ngoại của những chủ đồn điền, địa chủ, quan Pháp. Và những người mẹ An Nam này phải chia sẻ giọt sữa của mình cho những con chó ấy, liệu những người mẹ sống trong bối cảnh đất nước tan nát, bị đô hộ, bị “khai hóa văn minh” liệu có đủ sữa cho những đứa con của mình hay không? Không ai rõ cũng chẳng ai hay.

Đó là những hình ảnh đớn đau đã diễn ra cách đây hơn 150 năm mà có lẽ phần lớn chúng ta không tưởng tượng nổi và không nghĩ là nó có thực. Một câu hỏi chình ình trong tâm thức: “Liệu phải chăng bấy giờ, thân phận của cha ông chúng ta không bằng một con chó?”.
Một cái nghề đớn đau khác là đi đồn điền cao su - cái nghề mà khả năng “sống dở chết dở” và “biệt tăm biệt tích” rất cao, và nghề này được nhắc đến trong Lão Hạc của nhà văn Nam Cao. Theo Université Clermont Auvergne, báo cáo tại 11/20 đồn điền cao su lớn nhất An Nam, tỷ lệ tử vong của lao động An Nam lên tới 47% vào năm 1927. Tức là cứ 2 người đi lao động ở đồn điền cao su thì có 1 người chết, 1 người sống dặt dẹo. Tại đồn điền cao su của Micheline, có tới 90% công nhân mắc bệnh sốt rét, 40% trong số đã chết. Do những cái xác quá nhiều nên giới chủ Pháp đành chôn ở dưới các gốc cây cao su, rải rác ở trong rừng.
Hãy thử làm một phép so sánh rất giản đơn nhưng giật mình, tỷ lệ số người chết trong các đồn điền cao su này (40%) còn lớn hơn tỷ lệ lính Pháp và lê dương chết trong Thế chiến 2 (22%).
Điều đau đớn của những người còn sống phải đạp lên nấm mồ của những người đã khuất.
Đó là hai ví dụ phản biện lại những luận điểm “khai hóa văn minh”, “đem tự do đến” của những tri thức cấp tiến khi họ mở mồm nói về giai đoạn Pháp đô hộ Việt Nam. Những luận điểm này có vẻ đang ngày càng phổ biến và mở rộng, được tiếp nhận rộng mở hơn.
Đa phần những người sinh sống hiện tại không thấu hiểu được “nỗi nhục mất nước”. Đau đớn thay cho lịch sử, cho những người đã khuất, khi họ phải nằm xuống trong sự nhục nhã và đám con cháu mất dậy nói rằng cái thứ đàn áp họ - lại là những con người nhân nghĩa “mang văn minh đến”.
Tờ Hoàn Cầu của Trung Quốc và RT của Nga từng cà khịa Nhật Bản: “Hơn 300 ngàn người đã chết dưới bom hạt nhân ở Hiroshima và Nagasaki. Là một nỗi nhục nhã nếu như họ không dám nêu tên quốc gia đã gây ra tội ác đó”. Tờ Yonhap của Hàn Quốc bình luận rằng: “Hơn 200 ngàn phụ nữ Hàn quốc đã bị những gã quân phiệt hãm hại. Và một bộ phận giới trẻ ngày nay không biết gì về điều đó. Đó là một nỗi nhục của người dân bán đảo Triều Tiên mà chúng ta không được phép quên, cũng tuyệt đối không được xét lại”.
Điều đáng sợ nhất của một dân tộc là lãng quên quá khứ của chính dân tộc mình và thờ ơ bỏ mặc cho chủ nghĩa bịa đặt và xét lại lịch sử diễn ra.
“Các ngươi nghĩ con người sẽ chết đi khi nào? Khi bị bệnh ư? KHÔNG!!! Khi ăn phải nấm độc ư? KHÔNG!!! Khi bị đại pháo bắn vào ư? KHÔNG!!! CON NGƯỜI TA CHỈ CHẾT ĐI KHI BỊ QUÊN LÃNG!!!”- Dr Hiriluk (One Piece).
Thật đau đớn và đắng cay, nếu nỗi nhục mất nước bị lãng quên. Có quá nhiều bài học nhãn tiền đã diễn ra, như bài học Ukraine, nhưng liệu chúng ta có rút ra được gì hay không?
Bức ảnh được chụp bởi Léon Et Lévy/Roger Viollet trên trang tư liệu Granger, ảnh trong bài này lấy từ Getty Images.