Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

CẢNH BÁO: TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN XUẤT BẢN SÁCH LỊCH SỬ SAI SỰ THẬT

 

        Hoàng Cơ Định em trai của Hoàng Cơ Minh cầm đầu Trung ương Việt Tân lại cho xuất bản sách lịch sử với cái gọi là "Đôi dòng Sử Việt" in năm 2022 từ thời lập quốc đến nay!

          Điều đáng nói là nhiều nội dung trong cuốn sách này xuyên tạc trắng trợn vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ Tổ quốc của đất nước, vinh danh số ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn... và nhiều vấn đề khác nữa, chuyển vào trong nước.




VÌ ẢO VỌNG "PHỤC QUỐC" CỦA ĐÀO MINH QUÂN, CÁI KẾT ĐẮNG CHO 5 KẺ CHỐNG PHÁ TỔ QUỐC!

 

          Đào Minh Quân là ai?

          Đào Minh Quân (Đào Văn), sinh ngày 27/7/1952 tại Thừa Thiên-Huế, quốc tịch Mỹ, trú tại Santa Ana, California. Năm 1991, Đào Minh Quân cùng những người khác thành lập tổ chức phản động lưu vong có tên gọi “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” tại Mỹ và tự xưng “Thủ tướng” với ý đồ phát triển lực lượng là những người trong các trại tị nạn ở Đông Nam Á, Hồng Kông; đồng thời đưa một số đối tượng của tổ chức về nước hoạt động chống phá. Trong tổ chức này, Quân tự phong cho mình là “Thủ tướng”.

          Được sự giúp đỡ của nhân dân, lực lượng của Tổng cục An ninh và công an địa phương đã tổ chức công tác đấu tranh phá rã, ngăn ngừa hoạt động, đến năm 2007, về cơ bản, tổ chức này đã không còn hoạt động. Tuy nhiên năm 2014, cơ quan an ninh lại phát hiện Quân rủ rê, lôi kéo, tập hợp lực lượng để khôi phục tổ chức phản động “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”. Từ đó, chúng xâm nhập về Việt Nam hoạt động, trong đó, nguy hiểm nhất là tiến hành hoạt động quân sự, như thành lập tổ chức vũ trang và rèn luyện quân đội... Đặc biệt, chúng lập danh sách một số cán bộ lãnh đạo chính quyền tại một số địa phương để lập kế hoạch ám sát.

          Năm 2016, Quân móc nối với Phạm Lisa lôi kéo nhiều người trong và ngoài nước thông qua mạng xã hội thành lập các “nhóm hành động” để thực hiện các vụ khủng bố với chủ trương “giết sạch, đốt sạch, phá sạch”. Các đối tượng đã móc nối để tiến hành hành vi khủng bố tại Biên Hòa và sân bay Tân Sơn Nhất dịp 30/4/2017. Tuy nhiên, kế hoạch chưa hoạt đông được thì các đồng phạm đã bị cơ quan an ninh ngăn chặn và tiến hành bắt. Ngày 11/11/2018, “Thủ tướng tự xưng” Đào Minh Quân lại một lần nữa tự xưng làm “Tổng thống” của cái gọi là “Đệ tam Việt Nam Cộng hòa”.

          Ngày 30/1/2018, Cổng thông tin điện tử Bộ Công an đã phát đi thông báo của Bộ Công an Việt Nam về tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”. Theo thông báo này, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an thông báo tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” là tổ chức khủng bố. Vì vậy, bất kỳ ai có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia; tài trợ, nhận tài trợ của “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” tổ chức; hoạt động theo chỉ đạo của “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”.v.v... đều là phạm tội “Khủng bố”, “Tài trợ khủng bố” và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

          5 người lãnh 49 năm tù

          Vì ảo vọng tin vào sự hão huyền của tổ chức "Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” và họ tin Quân sẽ hoành tráng, chễm trễ làm tổng thống tại Việt Nam có thể ở cái tuổi "gần đất xa trời" như Quân, các đối tượng Nguyễn Thị Rành (69 tuổi), Nguyễn Thị Chính (67 tuổi), Nguyễn Anh Hùng (72 tuổi), Văng Bá Cảnh (74 tuổi, cùng ngụ Tiền Giang) và Nguyễn Hoàng Phương (52 tuổi, ngụ TP.HCM) đã đồng ý tham gia vào tổ chức này để tuyên truyền chống lại nhà nước Việt Nam.

          Từ năm 2018 đến khi bị phát hiện vào tháng 4/2021, tại xã Long Bình Điền, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, các đối tượng Rành, Phương, Chính, Hùng và Cảnh đã có hành vi gia nhập tổ chức phản động "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời"; tham gia bầu Đào Minh Quân làm tổng thống "Đệ tam Việt Nam Cộng hòa", may cờ, khăn choàng chuẩn bị đón Quân về nước. Các đối tượng đã nhiều lần tổ chức và tham gia các cuộc họp trực tuyến với các đối tượng trong nhóm tổ chức khủng bố này trên mạng xã hội tuyên truyền, chống phá Nhà nước, đòi lật đổ chính quyền nhân dân. Đầu năm 2022 các đối tượng này đã được quần chúng nhân dân phối hợp với lực lượng An ninh điều tra, bắt giữ.

          Ngày 19/4/2022, TAND tỉnh Tiền Giang đã xét xử sơ thẩm 5 bị cáo trên với các hành vi chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tuyên phạt bị cáo Rành 16 năm tù, Phương 14 năm tù, Chính 8 năm tù, Hùng 6 năm tù và Cảnh 5 năm tù. Riêngị cáo Rành ngoài việc tham gia tổ chức của Đào Minh Quân còn là người chủ mưu xúi giục, hoạt động đắc lực, lôi kéo các bị cáo Chính, Hùng và Cảnh cùng thực hiện nên nhận khung hình phạt cao nhất. Bi cáo Phương là người giúp cho các bị cáo trong vụ án gia nhập tổ chức phản động, nhận chuyển tiền của tổ chức phản động cho bị cáo khác có mức án 12 năm, các bị cáo còn lại từ 5 năm đến 8 năm tù. Tổng cộng 49 năm cho 5 bị cáo.

          Một cái giá quá đắt cho những kẻ ảo vọng nhẹ dạ cả tin. Đào Minh Quân - một tên ngụy còn ngoan cố, một kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam sống chui, lủi ở hải ngoại, chuyên lừa lọc kiểu bào hô hào khuếch trương thanh thế "phục cuốc" bằng súng nhựa, máy may, tàu biển làm bằng bìa cacton chuyên làm trò hề trên mạng xã hội mà cũng có nhiều kẻ tin sái cổ đến mức điên cuồng vi phạm pháp luật?! Âu cũng là bài học cho những ai nhẹ dạ cả tin vào tổ chức này.

                                                                                      St PQ

Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam a) Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam - Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của dân tộc và thời đại. Người đã tiếp thu, kế thừa những giá trị, tinh hoa văn hóa của loài người, trong đó chủ yếu là chủ nghĩa Mác - Lênin, giải đáp các vấn đề của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. - Trong suốt chặng đường hơn một nửa thế kỷ, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng và Nhân dân ta trên con đường thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. - Trong bối cảnh của tình hình thế giới đang diễn biến ngày càng nhanh, phức tạp và khó lường hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta nhận thức đúng những vấn đề lớn có liên quan đến việc bảo vệ nền độc lập dân tộc, phát triển xã hội và bảo đảm quyền con người; độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội vì lợi ích con người. b) Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của dân tộc Việt Nam - Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là thế giới quan, phương pháp luận xem xét và xử lý các vấn đề thực tiễn. Trung thành với những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng những nguyên lý đó vào thực tiễn, Hồ Chí Minh đã loại bỏ những gì không thích hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra và giải quyết một cách linh hoạt, khoa học, hiệu quả. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”. - Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh ở chỗ đã bao gồm một hệ thống những quan điểm lý luận toàn diện và sâu sắc về chiến lược, sách lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, về sự cải biến cách mạng đối với thế giới, về đạo đức, phong cách, phương pháp Hồ Chí Minh, về việc hiện thực hóa các tư tưởng ấy trong đời sống xã hội... - Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự định hướng cho sự phát triển của dân tộc. Dựa trên các quá trình có tính quy luật của thời đại, Hồ Chí Minh đã xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đó là con đường “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, là mục tiêu “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất độc lập, dân chủ và giàu mạnh”; phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu vào quần chúng nhân dân, chiếm lĩnh trái tim, khối óc, trở thành hành động cách mạng của hàng triệu, hàng triệu con người; là sức mạnh tinh thần to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNamxã hội chủ nghĩa. 2. Giá trị quốc tế của tư tưởng Hồ Chí Minh a) Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh khát vọng thời đại - Ngay trong những năm 20 của thế kỷ XX, trong quá trình hình thành, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện khát vọng chung của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Những nhận thức sâu sắc và độc đáo về mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản phản ánh khát vọng độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. - Từ nghiên cứu lý luận, áp dụng vào những điều kiện cụ thể, Hồ Chí Minh đã hình thành một hệ thống các luận điểm chính xác và đúng đắn về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bằng cách đó, tư tưởng Hồ Chí Minh đã góp phần khơi dậy các phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc cho các dân tộc thuộc địa và bị áp bức trên thế giới. b) Tìm ra con đường đấu tranh tự giải phóng cho các dân tộc thuộc địa - Đóng góp lớn nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thời đại là đã chỉ ra con đường cách mạng, tiếp theo đó là phương pháp để thức tỉnh những người bị áp bức ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Ngay từ rất sớm, Người đã nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, đặt cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa vào phạm trù cách mạng vô sản và hoạt động không mệt mỏi cho phong trào cách mạng thế giới. Trong đó, Người đã chỉ ra khả năng to lớn, vai trò chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối với cách mạng vô sản và phong trào cách mạng thế giới nói chung. - Tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam, Người đi đến khẳng định bài học chung của các dân tộc là: “... trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”. c) Cổ vũ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả giải phóng con người Tư tưởng Hồ Chí Minh và cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Người là một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Chính vì vậy mà năm 1987, chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã vinh danh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. - Sự nghiệp đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới của đất nước ta thực hiện theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đã và đang cổ vũ cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Đó cũng chính là tác động cổ vũ to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh. 3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay - Là nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu, quán triệt trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở các giai đoạn phát triển của cách mạng. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là yêu cầu, nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay. - Cũng như chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời từ yêu cầu của thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn luôn vận động và phát triển, phải vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, hết sức tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc, làm mất đi tính sáng tạo của tư tưởng của Người. - Trong sự vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, phải tuân theo thế giới quan, phương pháp luận khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tuyệt đối trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đề phòng những tư tưởng cơ hội, xét lại, thực chất là phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh./.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG NƯỚC TA

Những quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng nước ta đã và đang xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều, mức độ ngày càng cao, biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây ra những tác động tiêu cực và hậu quả khó lường, làm tổn hại to lớn đến tiến trình xây dựng và phát triển đất nước. Nhận diện và nắm rõ bản chất các loại quan điểm sai trái, thù địch; phân tích, đánh giá đầy đủ các lực lượng, đối tượng tham gia, các thủ đoạn và nội dung của những quan điểm sai trái, thù địch mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng là yêu cầu có tính quyết định để từ đó giúp Đảng, Nhà nước ta có phương thức đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi chúng trong thực tiễn. Bản chất của những quan điểm sai trái, thù địch Đặt trong quan hệ với chế độ xã hội, “quan điểm sai trái, thù địch” có thể khái quát là những lời nói, bài viết, hành động,… của cá nhân/nhóm xã hội (chủ thể) phản ánh không đúng (sai trái) thực tế đời sống chính trị, kinh tế, xã hội,… của một quốc gia, “thổi phồng” tiêu cực, “bơm căng” mâu thuẫn, “bóp méo” chính sách thực tế với mục đích làm thay đổi, sụp đổ chế độ chính trị, tan rã hệ thống chính quyền, gây mất đoàn kết trong nhân dân,… hướng đến mục tiêu thiết lập nên một chế độ chính trị, một chính quyền mới theo mong muốn của chủ thể. Những quan điểm sai trái, thù địch thường được triển khai bằng cách tung ra các khẩu hiệu, những lời tuyên bố, phân tích, đánh giá không đúng sự thật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm khiêu khích, bôi nhọ, đe dọa, gây mâu thuẫn trong nội bộ hệ thống chính trị quốc gia; đào sâu, xuyên tạc các mâu thuẫn vốn có trong cơ chế, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn giữa chính quyền với các tầng lớp nhân dân; gây mâu thuẫn giữa quốc gia này với các quốc gia khác về các vấn đề kinh tế, chính trị, biên giới, quốc phòng, an ninh;… để chuyển hóa dần ý thức xã hội, tiến tới hình thành những hoạt động tiêu cực hướng đến xóa bỏ chế độ chính trị đương thời. Quan điểm sai trái, thù địch luôn xuất hiện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta với nhiều mức độ và thủ đoạn ngày càng tinh vi, diễn biến ngày càng phức tạp, phạm vi chống phá ngày càng rộng lớn. Đặc biệt, trong suốt thời gian từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước thường bám vào các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, dân chủ để đưa ra những quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đất nước. Nhìn chung, các quan điểm sai trái, thù địch chống phá Việt Nam luôn có mối quan hệ chặt chẽ với tình hình “diễn biến hòa bình” trên thế giới. Kể từ khi chủ nghĩa xã hội ra đời ở Liên Xô đến nay, mục tiêu nhất quán của chủ nghĩa đế quốc là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện mục tiêu này, các thế lực thù địch, phản động đã không từ một âm mưu, thủ đoạn thâm độc nào, trong đó có “diễn biến hòa bình”. Bản chất cốt lõi của những quan điểm sai trái, thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh mục tiêu xuyên suốt của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các nước phương Tây và các thế lực thù địch, phản động thực hiện đối với các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Những chiến lược, sách lược, chiêu bài “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện qua việc truyền bá, loan truyền những quan điểm sai trái, thù địch, nhằm phủ định nền tảng tư tưởng chính trị, phá vỡ khối đoàn kết dân tộc, làm khủng hoảng kinh tế - xã hội, giảm sút niềm tin của người dân vào chế độ và cuối cùng là làm tan rã chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước. Ở Việt Nam, trong nhiều năm qua, bản chất của việc tiến hành những “quan điểm sai trái, thù địch” là nhằm mục tiêu xóa bỏ vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam; muốn Việt Nam từ bỏ con đường đi lên xã hội xã hội chủ nghĩa; thay đổi chế độ chính trị theo hướng biến Việt Nam thành “sân sau”, thành bộ phận lệ thuộc vào hệ thống tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Trong đó, “coi việc chống phá Đảng Cộng sản là một nhiệm vụ cơ bản, một khâu đột phá quyết định”. Lực lượng, thủ đoạn truyền bá những quan điểm sai trái, thù địch vào nước ta Trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng thù địch, phản động tham gia tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta thường tập trung ở 3 nhóm cơ bản sau: (1) Nhóm những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Nhóm này bao gồm những nhà chống cộng khét tiếng và cả lãnh đạo của một số quốc gia phương Tây. (2) Nhóm những phần tử cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với một số văn nghệ sĩ, trí thức chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức phản động. (3) Nhóm một số cán bộ, đảng viên (có những đảng viên đã từng giữ chức vụ trung, cao cấp trong hệ thống chính trị của nước ta) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và một số người do nhận thức lệch lạc, bị lôi kéo, bị kích động, mua chuộc. Đây là những người phản bội lại quá khứ hào hùng của dân tộc, phản bội lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chủ trương, chính sách, trong cách ứng xử của những người lãnh đạo cơ quan, đơn vị nơi những người này công tác. Từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay, các thế lực thù địch, phản động quốc tế đã sử dụng nhiều thủ đoạn để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Cơ bản có 4 thủ đoạn sau: (1) Tạo dư luận phản cách mạng. Thực hiện thủ đoạn này, các thế lực thù địch, phản động tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông để tiến hành tuyên truyền, xuyên tạc. Họ tin rằng “làm nhiễu loạn trên lĩnh vực nghe nhìn và lĩnh vực tư tưởng, từ đó làm lung lay niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản của mọi người, đó là một thủ đoạn có thể sử dụng để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa”. (2) Xâm nhập tư tưởng. Các thế lực thù địch, phản động tiến hành hàng loạt hoạt động để tăng cường tiếp xúc với nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, kết hợp với tăng cường trao đổi văn hóa, y tế, giáo dục,… qua đó truyền bá tư tưởng chính trị, quan niệm giá trị, lối sống của các nước tư bản chủ nghĩa cho người dân. (3) Kiềm chế về kinh tế. Thực hiện thủ đoạn này, các thế lực thù địch, phản động từ nước ngoài sử dụng phối hợp nhiều chiêu bài để các nước xã hội chủ nghĩa luôn lệ thuộc hoặc gặp khó khăn về kinh tế, từ đó gây ra áp lực, đặt ra yêu sách về vấn đề chính trị như: viện trợ kinh tế, kỹ thuật kèm theo điều kiện để xâm nhập, chuyển hóa, khống chế và khi cần sẽ thúc ép trả nợ hoặc đưa ra các đòn “trừng phạt kinh tế” buộc các nước xã hội chủ nghĩa phải nhượng bộ về chính trị. (4) Nuôi dưỡng “thế lực dân chủ”. Các thế lực thù địch, phản động cho rằng, muốn phá hoại bức tường đồng vách thép của chủ nghĩa xã hội thì cần phải “gieo trồng hạt giống tự do”, nuôi dưỡng những phần tử mà họ gọi là những “chiến sĩ dân chủ”… dần tiến tới “giải phóng dân chủ”. Sau sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Mỹ và một số nước phương Tây đặt mục tiêu tiếp theo là xóa sổ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và làm tan rã nốt các Đảng Cộng sản vào cuối thế kỷ XX. Việt Nam được xác định là một trọng điểm trong mục tiêu đó và “mục tiêu số một của họ lúc này là làm sao sớm xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ được chính quyền cách mạng, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”. Trong quá khứ và cả hiện tại, các thế lực thù địch, phản động vẫn luôn ra sức chống phá cách mạng nước ta với nhiều luận điệu, lời lẽ xuyên tạc, vu khống Đảng và Nhà nước ta. Những luận điệu sai trái, thù địch mà kẻ thù nhắm đến để tuyên truyền, chống phá thường tập trung vào các nội dung cơ bản sau: Một là, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nền tảng tư tưởng đúng đắn đó là kim chỉ nam dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thế nhưng, cố tình phủ nhận tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, các thế lực thù địch rêu rao quan điểm cho rằng: “Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, chủ nghĩa xã hội khoa học không có sức sống”, là “bóng ma ám ảnh châu Âu”, những thất bại của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là do “những chính sách Mác-Lênin bắt nguồn từ một nhận thức sai về lịch sử và về bản chất con người” (4). Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động đã nêu các quan điểm có tính chất xuyên tạc, bóp méo, thậm chí vu cáo, dựng chuyện, nhằm bôi nhọ đời tư, hạ thấp uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng thường xuyên bịa đặt những luận điệu như: “Nhật ký trong tù không phải của Hồ Chí Minh”, “Hồ Chí Minh bắt đầu nảy ra tư tưởng cứu nước kể từ khi Pháp bác đơn cho theo học trường thuộc địa”, rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “sáng tác ra tư tưởng Hồ Chí Minh để giúp Đảng chỉnh hướng trong cơn bối rối”. Hai là, chống phá Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng. Nhờ xác định Cương lĩnh, đường lối đúng đắn nên Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong 2 cuộc chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã thoát khỏi tình trạng chậm phát triển, bước vào hàng ngũ các quốc gia có thu nhập trung bình, có tốc độ tăng trưởng cao ở khu vực Đông Nam Á; trở thành thành viên có trách nhiệm, tích cực trong cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, Đảng ta nắm vững và xử lý hài hòa các mối quan hệ lớn, như mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với chính trị; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động cố tình phủ nhận tính đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng ta, phủ nhận những thành quả cách mạng của nhân dân ta, đồng thời cổ xúy, tán dương chủ nghĩa tư bản, dân chủ tư sản, yêu cầu phải thực hiện tư nhân hóa hoàn toàn theo kiểu tư bản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập… và cho rằng nếu không thực hiện như thế, có nghĩa là Đảng Cộng sản Việt Nam đang “bảo thủ, giáo điều, cứng nhắc, lỗi thời”(6). Thực chất, việc chống phá Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới thiết lập chế độ đa đảng. Ba là, chống phá tổ chức của Đảng. Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đạo đức, văn minh, đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu là nhiệm vụ, mục tiêu xuyên suốt, cốt lõi, bảo đảm sự tồn tại và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng nước ta. Hơn 90 năm qua, kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta không ngừng xây dựng, chỉnh đốn để luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc; là biểu tượng của trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân tộc. Trong công tác tổ chức Đảng, các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá các nguyên tắc xây dựng Đảng, đặc biệt là nguyên tắc “tập trung dân chủ”. Chúng thường rêu rao luận điệu: “Thực hiện tập trung dân chủ sẽ dẫn đến mất dân chủ trong Đảng, làm cho Đảng rơi vào độc đoán, chuyên quyền” và tích cực tuyên truyền, khuyến khích thực hiện “dân chủ tuyệt đối”, “dân chủ phi chính trị”. Họ còn ra sức cổ vũ cho cái gọi là “bất đồng chính kiến” hòng tạo những mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ Đảng. Họ tích cực o bế những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, nhằm dựng nên “những ngọn cờ” chống phá Đảng, Nhà nước ta. “Họ đối lập những người lãnh đạo Đảng với đông đảo đảng viên, chia rẽ lớp đảng viên này với lớp đảng viên khác, mưu toan gây ra mâu thuẫn nội bộ”. Với chiêu bài này, các thế lực thù địch, phản động hướng đến mục tiêu phá vỡ sự thống nhất, đoàn kết của Đảng, âm mưu làm tê liệt hoặc tan rã tổ chức đảng, làm cho năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, của đảng viên suy yếu dần, tạo mảnh đất màu mỡ cho việc phát triển các “thế lực dân chủ”. Bốn là, chống phá mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn xác định mối liên hệ, gắn bó máu thịt với nhân dân. Trong các Cương lĩnh, đường lối chính trị đề ra, Đảng luôn quán triệt nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, bao nhiêu quyền hành đều từ dân, bao nhiêu lực lượng đều do dân; luôn giáo dục mọi cán bộ, đảng viên phải yêu dân, kính dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân và phải hết sức làm điều có lợi cho dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách để chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Chúng tuyên truyền, kích động, chuyển hóa những xung đột xã hội thành mâu thuẫn giữa chính quyền, lực lượng vũ trang với nhân dân. Chúng cố tình khoét sâu những khuyết điểm, sai phạm của một số cán bộ, đảng viên; thổi phồng, quy chụp, làm phức tạp hóa, chính trị hóa những khuyết điểm, sai phạm; lợi dụng các phần tử bất mãn, phản động đội lốt tôn giáo, dân tộc để kích động đồng bào tư tưởng kỳ thị, hiềm khích, ích kỷ, hẹp hòi, cái gọi là “hận thù dân tộc”, nhằm gây bất ổn trong nhân dân, âm mưu bạo động lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta từ bên trong. Năm là, chống phá những thành tựu xây dựng, phát triển đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việt Nam đang vững bước tiến lên trên con đường xây dựng xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với nhiều thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do quá độ lên chủ nghĩa xã hội chưa có tiền lệ trong lịch sử, nên không tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta nghiêm túc, thẳng thắn nhìn nhận, đúc rút kinh nghiệm, bài học để lãnh đạo công cuộc đổi mới ngày càng phù hợp với các quy luật phát triển khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động cố tình khoét sâu, thổi phồng những sai lầm, phủ định những thành tựu chúng ta đạt được hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo, đường lối chính trị của Đảng ta. Ngoài ra, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng mạng xã hội để phát tán các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận những thành quả cách mạng để chống phá ta. Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội xuất hiện nhiều bộ sách, tài liệu liên quan đến tôn giáo, dân tộc, địa danh, nhân vật, lịch sử, chính trị đội lốt nghiên cứu, sưu tầm… có khuynh hướng xét lại, phủ nhận quan điểm chính thức của Đảng và Nhà nước ta, khơi mào cho sự trỗi dậy của tư tưởng phản động, lạc hậu, kích động sự thù hận mù quáng,… Việc nhận diện và nắm rõ bản chất những luận điệu sai trái, thù địch là cơ sở quan trọng để chúng ta kịp thời có những biện pháp phản bác, đấu tranh, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta./.

Những “công dân số” U.70

 

Ở tuổi lên lão, những tưởng thời gian sẽ làm hạn chế sự nhanh nhạy với công nghệ, nhưng ở Hà Nội, nhiều cán bộ, đảng viên tham gia tổ dân phố và các hội, đoàn thể có không ít sáng kiến để nắm bắt tiến bộ khoa học-công nghệ, ứng dụng hiệu quả vào công việc hằng ngày, góp phần chuyển đổi số ở khu dân cư, tổ dân phố của mình.

Học quên tuổi tác

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với những ứng dụng hiện đại trở nên phổ biến trong cuộc sống hằng ngày, nhiều tiện ích được thực hiện chỉ bằng một cái nhấp chuột trên máy vi tính hay điện thoại kết nối internet. Để không bị tụt hậu trong việc tiếp cận và làm chủ công nghệ, những người cao tuổi ở phường Dịch Vọng Hậu (quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) đã tổ chức lớp học về máy vi tính, internet ngay tại khu dân cư. Lớp học do Hội Khuyến học phường tổ chức với mong muốn xóa “khoảng trắng” kiến thức công nghệ thông tin (CNTT), hướng tới xây dựng thế hệ “công dân số” dành cho người cao tuổi (từ 50 tuổi trở lên).
Bà Nguyễn Thị Tý, Chủ tịch Hội Khuyến học phường Dịch Vọng Hậu cho biết: "Kể từ năm 2014 đến nay, các lớp tin học ngắn hạn được tổ chức tại trung tâm học tập cộng đồng ở các khu dân cư. Tất cả người dân trên địa bàn phường có nhu cầu đều có thể tham gia nhưng đa phần học viên là cán bộ hưu trí. Giảng viên của lớp là những sinh viên, kỹ sư chuyên ngành CNTT tình nguyện giảng dạy theo phương pháp “cầm tay chỉ việc”, học viên thực hành các kỹ năng ngay trên máy vi tính nên dễ hiểu, dễ nhớ".

Đến năm 2020, đã có 10 lớp tin học cơ bản được tổ chức với hàng trăm học viên tham gia. Cảm phục trước sự nhiệt tình ham học hỏi của các ông, bà, để giúp các lớp học được tổ chức ngày càng chuyên nghiệp và đạt hiệu quả tốt hơn, năm 2020, Trường THCS và THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm (quận Cầu Giấy) đã hỗ trợ bằng việc cử các thầy, cô giáo trong Tổ Tin học đứng lớp, dành riêng phòng máy vi tính cho học viên thực hành. Sau khóa học, Trường THCS và THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm tổ chức bế giảng, đánh giá kết quả học tập, trao chứng chỉ tin học cho các học viên.

Trao đổi với chúng tôi, nhà giáo Đàm Tiến Nam, Hiệu trưởng Trường THCS và THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm đánh giá cao sáng kiến phổ cập tin học cho người dân, nhất là những người cao tuổi trong thời đại công nghệ, giúp họ tiếp cận nhanh chóng và sử dụng hiệu quả thông tin, dữ liệu phong phú trên mạng. Nhờ có kiến thức được học, những cán bộ, người cao tuổi ở khu dân cư có thể soạn thảo văn bản, thực hiện thủ tục hành chính công trên mạng một cách nhanh chóng, thuận tiện, không mất thời gian đi lại... Đặc biệt, trước sự tác động của dịch Covid-19, cư dân có thể nhanh chóng kết nối, thành lập các nhóm trên mạng xã hội Zalo, Facebook để trao đổi thông tin dịch bệnh, đăng ký tiêm chủng... Bên cạnh đó, dù chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng nhờ làm chủ CNTT nên nhiều hoạt động của các tổ dân phố, các hội, đoàn thể không bị “đứt gãy”. Các cuộc họp qua ứng dụng Zoom được triển khai; người chủ trì, điều hành là các bà, các ông ở tuổi 60, 70.

Theo bà Nguyễn Thị Tý, đầu năm học 2021-2022, trong thời điểm dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, hội khuyến học đã tổ chức thành công hội nghị trực tuyến biểu dương và động viên 180 thầy, cô giáo, học sinh có thành tích xuất sắc trên địa bàn phường qua ứng dụng Zoom. Các tổ dân phố cũng quan tâm tổ chức Tết Trung thu trực tuyến để các cháu gặp nhau, phá cỗ trông trăng qua mạng...

Những công dân gương mẫu chuyển đổi số

Cán bộ tổ dân phố phần nhiều là người hưởng chế độ hưu trí. Việc quản lý khu dân cư với số lượng dân cư đông khiến họ gặp một số khó khăn trong việc kết nối, triển khai nhiệm vụ chính trị của địa phương, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Để khắc phục hạn chế này, các ông, bà đang cố gắng làm chủ công nghệ và biến công nghệ thành công cụ để phục vụ tốt hơn cho công việc của mình. Ngoài các nhóm Zalo, Facebook, nhiều khu dân cư đã thành lập fanpage riêng để kết nối cư dân. Vì thế, ở thời điểm giãn cách xã hội hoặc hạn chế tập trung đông người để phòng, chống dịch, các hoạt động ở khu dân cư trên địa bàn TP Hà Nội vẫn được duy trì thông suốt.

Ở tuổi ngoài 70, ông Trần Văn Hưng, Bí thư chi bộ kiêm Tổ trưởng tổ dân phố Phúc Lý 2 (phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm) vẫn xốc vác, tham gia nhiệt tình trực chốt vùng xanh, phối hợp kiểm soát khu dân cư. Nhiều lúc lại thấy ông xắn tay cùng bà con dọn vệ sinh môi trường, khơi thông cống rãnh... Ông kể: Nhờ nhóm Zalo dân cư hoạt động hiệu quả nên các chủ trương, chính sách, chỉ đạo công việc của cấp trên xuống được triển khai thuận lợi, nhanh chóng. Thậm chí, chỉ sau vài ngày nhận được chủ trương tiêm vaccine ngừa Covid-19, tổ dân phố của ông đã hoàn thành việc kê khai, đăng ký tiêm, dù thời điểm đó thành phố đang giãn cách xã hội.

Từ nền tảng tổ dân phố điện tử được xây dựng trước đó, ông Lê Thanh Mẽ, Tổ trưởng tổ dân phố số 7 (phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm) đã lập thành 3 nhóm Zalo. Đại diện các gia đình của 280 hộ dân trên địa bàn đều tham gia nhóm Zalo nên việc nắm bắt thông tin, chủ trương của chính quyền các cấp rất kịp thời. "Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ nên mọi việc đều triển khai rất trôi chảy”, ông Lê Thanh Mẽ cho biết. Từng là giảng viên Trường Đại học Mỏ Địa chất Hà Nội, phát huy khả năng sử dụng thành thạo các ứng dụng trên máy vi tính, từ thông tin của các hộ dân qua đợt đăng ký tiêm chủng, ông Lê Thanh Mẽ đã nhập dữ liệu vào bảng biểu trong máy tính để lập riêng “dữ liệu dân cư” của tổ dân phố một cách rất khoa học, thuận tiện bóc tách dữ liệu phục vụ yêu cầu công việc sau này. Chỉ cần một cái nhấp chuột là ông có ngay dữ liệu dân số như: Số lượng trẻ em, người cao tuổi, số người có thẻ bảo hiểm y tế... mà không cần mất thời gian vào sổ lưu trữ.

Đánh giá cao sự chủ động, tinh thần trách nhiệm của những công dân gương mẫu trong việc ứng dụng công nghệ, hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động của chính quyền ở cơ sở, ông Hoàng Văn Dũng, Phó chủ tịch UBND phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm bày tỏ: "Rất nhiều cán bộ tổ dân phố dù tuổi cao nhưng vẫn nỗ lực ứng dụng CNTT, không chỉ kịp thời truyền tải thông tin chỉ đạo, hướng dẫn của Đảng, Nhà nước, TP Hà Nội và quận mà còn vận động, kêu gọi sự đóng góp rất lớn của nhân dân cả về vật chất, tinh thần để hỗ trợ công tác phòng, chống dịch và các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương".

Đẩy mạnh xây dựng đạo đức cán bộ, công chức, viên chức nhà nước

 

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng đạo đức cán bộ, công chức, viên chức nhà nước

THS. NGUYỄN ĐỨC MẠNH, THS. NGUYỄN TIẾN HIỆP HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
21:36, ngày 28-07-2015

TCCSĐT - Đạo đức bắt nguồn từ lương tâm, lòng trắc ẩn của con người, là cái gốc làm người. Đạo đức cán bộ, công chức, viên chức nhà nước không chỉ bắt nguồn từ lương tâm, lòng trắc ẩn, mà còn được Nhà nước quy định và thể chế hóa bằng pháp luật.

Xây dựng đạo đức cán bộ, công chức, viên chức là công việc được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi trọng ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc xây dựng đạo đức cán bộ, công chức, viên chức nhà nước trong suốt 70 năm qua xuất phát từ đạo lý và cơ sở lý luận - thực tiễn sau:

1- Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đều xuất thân từ nhân dân, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, mà ngân sách nhà nước lại chủ yếu là do nhân dân đóng thuế. Cho nên, xét về mặt đạo lý và lương tâm con người, cán bộ, công chức, viên chức tất phải yêu dân, kính trọng dân, thương dân, bảo vệ dân, vì dân phục vụ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Trong bầu trời không gì quý bằng dân; cán bộ là “công bộc của dân”, bởi vậy, việc gì có lợi cho dân dù nhỏ nhất cũng phải làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ nhất cũng phải tránh.

Người xưa có câu “quan nhất thời, dân vạn đại”, hay “dân vi quý, xã tắc vi thứ, quân vi khinh”,… Những câu nói đó đều có hàm ý nhắc nhở các quan lại (kể cả vua chúa) khi đang tại vị chức quyền phải quý trọng, chăm lo cho nhân dân, chớ khinh thị, hách dịch, sách nhiễu dân, tham ô, tham nhũng tài sản của dân để rồi bị dân thị phi, xa lánh mà trở nên bi ai, cô quả.

2- Nhà nước ta hay bất cứ nhà nước dân chủ nào trên thế giới đều có các quy định pháp luật về đạo đức của đội ngũ làm công ăn lương của nhà nước, theo các tiêu chuẩn và nguyên tắc được xã hội thừa nhận. Các tiêu chuẩn và nguyên tắc đó của Nhà nước là: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, khách quan, trung thực, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, pháp luật; không ngừng học tập mở mang kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để phụng sự đất nước được tốt nhất và đem lại lợi ích cho dân được nhiều nhất. Trong luật công vụ hay luật đạo đức công chức của nhiều nước trên thế giới, người ta dựa vào các tiêu chuẩn, nguyên tắc này để đào tạo, tuyển chọn, sàng lọc và phát triển đội ngũ công chức nhà nước nhằm đạt tới mục tiêu chất lượng, hiệu quả, chuyên nghiệp. Thời phong kiến ở nước ta, dưới triều đại vua Lê Thánh Tông, nhờ việc ban hành Bộ luật Hồng Đức mà triều đình đã trừng trị nghiêm khắc các quan lại tham nhũng, vô đạo và xây dựng được một đội ngũ quan lại có đức, có tài, góp phần làm cho đất nước phát triển yên bình, thịnh trị trong nhiều năm. Cho nên, sẽ là vô tâm, vô đạo và vô lý khi một cán bộ, công chức, viên chức của một nhà nước dân chủ như Nhà nước ta hiện nay lại có các hành vi cửa quyền, hách dịch, hà lạm công quỹ, tham nhũng, hối lộ, bòn rút tiền của nhân dân, coi thường pháp luật và ít chịu học hành.

Xây dựng đạo đức cán bộ, công chức, viên chức không chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, mà còn phụ thuộc vào sự hợp tác, sự nỗ lực và tự giác của mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong việc tu thân, rèn đức, không ngừng nâng cao nhận thức chính trị, xã hội cũng như trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ cho bản thân.

3- Nhà nước ta đang trong quá trình tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cho nên đạo đức cán bộ, công chức, viên chức phải là đạo đức cách mạng của người cộng sản. Điểm giống nhau giữa người có đạo đức cách mạng với các tu sĩ, tăng, ni, môn đồ của Chúa Giê-su và Phật Thích Ca là ở chỗ, tu thân, dưỡng tính, cầu mong sự an lành và hành thiện, tránh ác; còn điểm khác nhau là ở chỗ, đạo đức cách mạng là đạo đức của những hành động cải tạo thực trạng cũ kỹ, lạc hậu để tạo dựng xã hội mới, văn minh, tiến bộ, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nguyên tắc chỉ đạo hành động của người có đạo đức cách mạng là: lý luận gắn với thực tiễn; lời nói gắn với việc làm; cách mạng gắn với khoa học; lợi ích cá nhân gắn kết hài hòa với lợi ích xã hội và sẵn sàng hy sinh, cống hiến cho lý tưởng, dân tộc và đất nước. Muốn thực hiện được nguyên tắc đó, người có đạo đức cách mạng phải được trang bị những kiến thức về chính trị, kinh tế, văn hóa, hành chính, pháp luật, quản lý, an ninh, quốc phòng, đối ngoại,… Bởi vậy, có thể nói, những cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức cách mạng của người cộng sản phải là những người có tinh thần học tập không ngừng để nâng cao kiến thức, hiểu biết cho bản thân, như V.I. Lê-nin từng nói: Người ta chỉ trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng những kiến thức mà nhân loại đã tạo ra. Trái lại, những cán bộ, công chức, viên chức ít chịu học hành để nâng cao nhận thức, hiểu biết thì chưa thật sự có đạo đức cách mạng và theo đó, tài năng, hiểu biết của họ cũng sẽ mai một, bất cập. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên nỗ lực, phấn đấu để đạt đến yêu cầu “vừa hồng, vừa chuyên”, tức là vừa có đức, vừa có tài, bởi theo Người, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, còn có tài mà không có đức thì sẽ trở thành người vô dụng.

Xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, công chức, viên chức nhất thiết phải thường xuyên gắn với việc tự phê bình và phê bình để “tẩy rửa” “chủ nghĩa cá nhân” vị kỷ và thói quen vun vén, thủ lợi còn đeo bám trong một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức. Thực tế cho thấy, “chủ nghĩa cá nhân” là nguyên nhân, gốc rễ của các tệ nạn, hiện tượng tiêu cực trong bộ máy công quyền và khiến cho không ít cán bộ, công chức, viên chức sa lạc vào con đường hư hỏng, tội lỗi, bị kỷ luật, thải hồi, thậm chí bị vào tù. Sự suy thoái đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức là một trong những nhân tố gây khó khăn, thiệt hại cho sự phát triển kinh tế - xã hội và làm cho nhân dân giảm sút niềm tin vào Nhà nước.

4- Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin từng phân tích vai trò, ý nghĩa của đạo đức cách mạng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Theo V.I. Lê-nin, thực chất của việc xây dựng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa là xây dựng đời sống văn hóa, văn minh, trong đó đạo đức cộng sản là giá trị cốt lõi. Sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô trước đây được giải thích bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận đảng viên đảng cộng sản ở các cương vị lãnh đạo, khiến cho dân chúng bất mãn, mất niềm tin vào chế độ chính trị - xã hội mà họ từng kỳ vọng.

Lý luận về đạo đức cách mạng hay đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và sự đổ vỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô là những căn cứ, đồng thời là bài học thực tiễn để chúng ta thấy rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề xây dựng đạo đức cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta hiện nay.

5- Đạo đức cán bộ, công chức, viên chức có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả, tiến độ thực thi chính sách, pháp luật nói chung và đặc biệt là đến quan hệ hợp tác quốc tế. Mức độ tin tưởng vào Nhà nước và việc thực hiện chính sách, pháp luật của người dân như thế nào một phần phụ thuộc vào cách nhìn nhận, đánh giá của họ về đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Mỗi thái độ, lời nói, việc làm có lý, có tình của người cán bộ, công chức, viên chức khi tiếp xúc, giải quyết công việc, nhu cầu của người dân sẽ có tác dụng lôi kéo, khích lệ họ chấp hành chính sách, pháp luật. Ngược lại, người dân sẽ thất vọng, phản ứng, thậm chí đối phó, bất hợp tác và gây khó khăn, phức tạp cho công tác quản lý nhà nước. Trong quan hệ quốc tế, chúng ta có được sự đánh giá tốt đẹp của người nước ngoài về đất nước, con người Việt Nam trước hết là do sự giao lưu, tiếp xúc của họ với những cán bộ, công chức, viên chức có đức, có tài. Ngược lại, sự kém đức, bất tài của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức có thể sẽ trở thành cơ hội cho những kẻ xấu bên ngoài tung tin thất thiệt, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an quốc gia.

6- Đạo đức cán bộ, công chức, viên chức còn là điểm tựa, là bản lề cho việc xây dựng văn hóa gia đình, đạo đức xã hội và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vì mỗi con người là một thành viên của gia đình và mỗi gia đình lại là tế bào của xã hội, cho nên một xã hội đạo đức phải bao gồm trong nó các cá nhân và gia đình đạo đức. Một xã hội đạo đức chính là một dân tộc, quốc gia đạo đức - dân tộc, quốc gia đó sẽ có sức mạnh và phát triển bền vững. Từ cách suy diễn như vậy mới thấy đạo đức cán bộ, công chức, viên chức có sự ảnh hưởng, tác động rất lớn đối với việc xây dựng gia đình văn hóa, xã hội đạo đức và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Từ sự trải nghiệm cuộc sống mà người ta thường thấy, những cán bộ, công chức, viên chức có đạo đức là những người có thể chất và tinh thần tốt, có gia đình văn hóa, có quan hệ xã hội và bạn bè tốt. Trái lại, những cán bộ, công chức, viên chức kém đạo đức thì không những tâm trạng và đời sống gia đình của họ thường bất an, mà việc thực thi công vụ, nghiệp vụ và pháp luật của họ cũng thường có sự sai lệch, thiếu sót, thậm chí gây oan sai, thiệt hại cho người dân.

Để đẩy mạnh xây dựng đạo đức cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, thiết nghĩ, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp như sau:

Một là, việc xây dựng đạo đức cán bộ, công chức, viên chức trước hết phải dựa vào nhân dân, bởi như đã nói ở trên, cán bộ, công chức, viên chức đều từ trong dân mà ra, cho nên người dân biết rõ về họ. Các cơ quan kiểm tra, thanh tra của Đảng và Nhà nước cần trực tiếp tổ chức lấy ý kiến, nhận xét của nhân dân kết hợp với các kênh thông tin có nội dung phản ánh của người dân để đánh giá đạo đức cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, duy trì và hoàn thiện cách thức lấy phiếu tín nhiệm đối với những cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trưởng, phó ở các cơ quan, đơn vị. Ý kiến phản ánh của người dân và kết quả bỏ phiếu tín nhiệm sẽ trở thành căn cứ để các cơ quan kiểm tra, thanh tra công khai đánh giá, xếp hạng đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức nói chung và của cán bộ lãnh đạo, quản lý theo định kỳ hằng năm. Có như vậy, cán bộ, công chức, viên chức nói chung và nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý mới thực sự lắng nghe, thấu hiểu nhân dân và tự cảm nhận, đánh giá về bản thân để từ đó tu thân, rèn đức, chịu khó học hành, bồi dưỡng kiến thức và nâng cao trình độ cho mình.

Hai là, Nhà nước ta đã có những quy định về đạo đức cán bộ, công chức, viên chức trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ, thực thi pháp luật và giao tiếp với dân, nhưng các quy định này đang nằm rải rác, phân tán trong nhiều văn bản của các bộ, ngành khác nhau, bởi vậy, nên giao cho cơ quan chức năng thuộc hệ thống lập pháp phối hợp với các cơ quan hành pháp tập hợp các quy định đó lại, để trên cơ sở đó, chỉnh sửa, bổ sung, xây dựng một văn bản pháp luật mới, đó là Luật Đạo đức công vụ. Theo đó, tất cả các lĩnh vực, ngành, nghề thuộc khu vực nhà nước đều phải căn cứ vào Luật Đạo đức công vụ để quy định một cách cụ thể, chi tiết về những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm, cũng như về hình thức, mức độ chế tài sự vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức đối với các quy định đã ban hành.

Ba là, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục chú trọng kiện toàn các cơ quan có chức năng tổ chức kiểm tra, thanh tra về trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức để bảo đảm cho các hoạt động đào tạo, tuyển chọn, đánh giá, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, đề bạt, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật,... đối với đội ngũ này theo các nguyên tắc: khách quan, công khai, công bằng, chính xác, đúng pháp luật./.

  •  
  •  
  •  
  •  

Việt Nam - điểm đến và điển hình chưa có trong tiền lệ

 

Có thể thấy, với những thành quả cách mạng to lớn và khẳng định rõ tính ưu việt của chế độ XHCN, Việt Nam luôn là “điểm đến của hòa bình”, là quốc gia tổ chức nhiều sự kiện quốc tế, khu vực nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề của toàn nhân loại, hoặc các mục tiêu thiên niên kỷ. Tiêu biểu như: Tuần lễ Cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) 2017; Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018 (WEF ASEAN 2018); Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên năm 2019... Điều đó cho thấy, Việt Nam không chỉ có đủ năng lực, điều kiện tổ chức các sự kiện quan trọng mang tầm quốc tế; mà quan trọng hơn là khẳng định được sự tin cậy cao của các nước dành cho Việt Nam.

Đặc biệt, từ năm 2014, việc Việt Nam chính thức tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc đã khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta cả trong đối ngoại và hợp tác quốc tế, phù hợp với khát vọng và truyền thống ngàn đời của dân tộc ta, thể hiện trách nhiệm với thế giới trong giải quyết những vấn đề nóng bỏng, phức tạp, vì nền hòa bình của toàn nhân loại.

Từ thành quả cách mạng Việt Nam khi đi theo con đường CNXH, nhiều quốc gia trên thế giới đã chủ động bắt tay, hợp tác trên nhiều phương diện với Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 189 nước thuộc tất cả các châu lục và có quan hệ tốt đẹp với tất cả nước lớn, các ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 17 quốc gia (trong đó có 3 đối tác chiến lược toàn diện), 13 đối tác toàn diện. Đáng nói hơn là uy tín, vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng được nâng cao trên trường quốc tế. Khi các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta thực hiện các chuyến công du, thăm ngoại giao đến các nước, kể cả những cường quốc trên thế giới, luôn nhận được sự tiếp đón trọng thị, nồng nhiệt, cởi mở của các nhà lãnh đạo cao nhất. Đặc biệt, lãnh đạo các đảng phái trên thế giới (dù khác nhau về chế độ, thể chế) nhưng đã chủ động bắt tay hợp tác, ký kết nhiều nội dung phối hợp trên nhiều lĩnh vực. Những năm gần đây, bạn bè quốc tế, các tổ chức lớn trên thế giới, cùng nhiều quốc gia phát triển mời Việt Nam tham dự nhiều Hội nghị Thượng đỉnh nhóm các nền kinh tế phát triển trên thế giới; dự các hội nghị chia sẻ kinh nghiệm lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng cử đại biểu dự nhiều hội thảo khoa học, hội nghị trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm lãnh đạo giữa các đảng cộng sản, hoặc giữa các chính đảng với nhau.

Dẫn chứng như vậy để thấy rằng, hầu hết các quốc gia, các đảng phái trên thế giới đều ghi nhận, tôn trọng sự lựa chọn con đường tiến lên CNXH của Việt Nam; ghi nhận những nỗ lực xây dựng, phát triển chế độ, xem đó là điển hình chưa có trong tiền lệ, tạo niềm tin cho bạn bè quốc tế về sự lựa chọn mô hình XHCN về mục đích mà chúng ta đang tiến đến đó là nhân văn, nhân ái, hòa bình, về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hòa hiếu. 

Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”

 

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam. Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.       

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!).

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. 

Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Mưu đồ phía sau “những lời có cánh”

 

Trên một số trang mạng nước ngoài gần đây đăng tải nhiều bài viết tập trung “phân tích” về chủ trương, cách thức vận hành trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam. Các bài viết này “ngợi khen” việc nhất quán “mỗi người dân là một chiến sĩ” thể hiện cách làm sáng tạo, hiệu quả.

Họ thuyết giảng: Vì dịch bệnh cũng là một loại “giặc” nên đáng ra quân đội phải là lực lượng duy nhất có trách nhiệm đương đầu, ứng phó. Thế nhưng, Việt Nam đã biết cách biến mỗi người dân thành một chiến sĩ nên công cuộc chống “giặc dịch” trở nên hiệu quả.

Trên luận điệu đó, họ cố tình suy diễn: Quân đội không thể hiện được vai trò, vị trí của mình, nên cần phải “dân sự hóa hoạt động quân sự”; trao sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) cho quần chúng. Có nghĩa, phải tinh giản biên chế trong quân đội một cách mạnh mẽ, chỉ để lại một vài cơ quan chỉ đạo chiến lược; cũng nên giảm ngân sách đầu tư cho quốc phòng và không nên “nuôi” một số lượng quân thường trực “đông nhưng không mạnh”... vì nếu có biến cố gì đi nữa, thì nhân dân ứng phó là đủ (?)

Với cách lập luận lập lờ nêu trên khiến không ít người thoạt nghe đã sinh ra a dua, cổ xúy, tán dương. Một số người dân đón nhận thông tin một chiều tỏ ra nghi hoặc về sức mạnh quân đội, rồi bày tỏ sự ủng hộ “dân sự hóa” một số lĩnh vực hoạt động quân sự, dành ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế...

Từ những phân tích trên, các bài viết còn viện dẫn về chuyện một số quốc gia trên thế giới không cần xây dựng lực lượng quân đội, chỉ thiết lập đội tự vệ quốc gia với quân số ít. Thậm chí, có quốc gia không bận tâm đến việc BVTQ, vì trong xu thế hội nhập, các nước sẽ biết cách tôn trọng độc lập, tự do, chủ quyền của mỗi quốc gia.

Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm hạ thấp ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ BVTQ, hạ bệ vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng, BVTQ; thúc đẩy xu hướng nhận thức tiêu cực, tạo áp lực tâm lý để xới lên đề xuất “giải tán” quân đội, cắt giảm nguồn lực đầu tư cho quân đội và quốc phòng. Đây là thủ đoạn nhằm phá vỡ “lõi hạt nhân” trong kết cấu thế trận chiến tranh nhân dân, làm tan hỏng, mục rũa nền quốc phòng toàn dân từ bên trong.

Ở một diễn biến khác, những kẻ thủ ác lại rêu rao: Việt Nam đang “quân sự hóa hoạt động dân sự”. Họ cho rằng: Chống dịch là một dạng hoạt động dân sự, nhưng quân đội lại ồ ạt đưa lực lượng, vũ khí, trang bị vào “trấn áp” dịch-đó là biểu hiện “quân sự hóa hoạt động dân sự”.

Một mặt, họ quy kết quân đội không đủ mạnh, không thể làm tròn nghĩa vụ với nhân dân, nên cố tình kéo quần chúng vào một cuộc chiến “vô thưởng vô phạt”; cổ vũ người dân lên tuyến đầu để bao biện cho sự hèn nhát, sợ dịch bệnh của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Mặt khác, họ tung hô: Đảng, Nhà nước và quân đội đang tô hồng vai trò của chính mình, “làm màu” để mị dân.

Thực chất, đây là thủ đoạn đánh tráo sự thật, xóa nhòa bản chất hoạt động bảo vệ, phục vụ nhân dân, phủ định vai trò, đóng góp to lớn của QĐND Việt Nam trong phòng, chống dịch Covid-19 suốt gần hai năm qua. Trên thực tế, QĐND Việt Nam đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những lực lượng xung kích trên tuyến đầu; bảo vệ nhân dân bằng tất cả tình yêu thương. Thậm chí nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến với loại “giặc vô hình” để phụng sự Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

Vậy nên, “những lời có cánh” nêu trên, thoạt qua, có thể nhầm tưởng là hợp lý, vô hại, nhưng xét về thực chất lại chính là khuynh hướng thủ đoạn khá mới, cố tình làm sai lệch nhận thức của quần chúng, mang lại nhiều hệ lụy và hậu quả to lớn; ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội; tác động trực tiếp đến kết quả xây dựng quân đội; chi phối nghiêm trọng công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và tiềm lực, nguồn lực BVTQ trong tình hình mới.

Một loại “vi trùng độc hại” phá hủy nhân cách từ bên trong

 Trong hơn 9 thập niên lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã giáo dục, rèn luyện một lớp thế hệ cán bộ, đảng viên kiên trung, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Có rất nhiều câu chuyện về lối sống cao đẹp của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Điển hình như câu chuyện trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kể về Bí thư Đảng ủy xã Tiến Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) nảy ra sáng kiến cho vật liệu lót đường trước, rồi mới cho đất đá vào thì đường mới chịu được sức nặng của đoàn xe. Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã đã triệu tập đảng viên họp và yêu cầu dỡ nhà, chặt tre lót đường cho xe qua. Được Đảng bộ xã hưởng ứng, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã về dỡ nhà mình trước. Khi dỡ nhà, có người đến hỏi: “Sao ông dỡ nhà?”. Đồng chí trả lời: “Vì miền Nam ruột thịt, vì chiến trường đang thiếu vũ khí chiến đấu, tôi không thể đứng nhìn đoàn xe không qua được. Xe chưa qua, nhà không tiếc!”. Sau đó, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã cho người nhà cùng với bộ đội, thanh niên xung phong, vác gỗ, tre ra để làm nền đường.

Những tình cảm, trách nhiệm vì dân, vì nước vẫn được phần đông cán bộ, đảng viên giữ gìn, phát huy trong thời đại mới. Tuy nhiên, những năm qua, cũng đã xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng. Một trong những biểu hiện dễ thấy của người cán bộ, đảng viên có lối sống này là sống vị kỷ, xem lợi ích của mình là tối thượng, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Những người này thường “vui trước thiên hạ, lo sau thiên hạ”, họ luôn tìm mọi cách thu vén, thậm chí tranh đoạt lợi ích cho riêng mình, bất chấp việc đó có ảnh hưởng đến người khác và tập thể hay không.

Cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng thường có tham vọng rất lớn, hám công danh, địa vị; họ tìm mọi cách để đạt được mục tiêu chính trị, leo lên các vị trí chức vụ cao, sẵn sàng “chạy” dưới mọi hình thức để dễ bề kiếm chác. Trong công việc, ngoài mặt thì họ tỏ ra tích cực, trách nhiệm, nhưng đằng sau đó, họ lại làm cho xong việc, làm cho có, cốt “đánh trống ghi tên”; khi gặp khó khăn, người có lối sống thực dụng thường dễ thoái chí, bàn lui, không dám làm, tìm cách đùn đẩy, co cụm sống trong “khoảng an toàn”; khi có thành tích thì tranh công, khi có khuyết điểm thì tìm cách đổ lỗi, không dám nhận trách nhiệm về mình. Thậm chí, người có chức vụ, quyền hạn đã dung dưỡng, bao che cho sai trái, tiêu cực, từ đó tạo ra những nhóm lợi ích để trục lợi. Trong ứng xử, người có lối sống thực dụng chỉ chú tâm vào mối quan hệ đem lại giá trị cho họ, các mối quan hệ có giá trị lợi dụng càng lớn thì càng tỏ vẻ chặt chẽ, thân thiết, nhưng khi mối quan hệ đó không còn mang lại lợi ích cho họ thì nhanh chóng nhạt phai.  

Trong những dịp được gặp gỡ, trò chuyện với các thế hệ đảng viên đi trước, khi được hỏi về lối sống thực dụng hiện nay, các bậc tiền bối đều cảm thấy lo lắng về tác hại của lối sống này đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên trẻ. Nhiều đảng viên lão thành từng cảnh báo rằng, nếu cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng sẽ rất nguy hại với tổ chức, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, làm giảm uy tín, hình ảnh của cán bộ, đảng viên trong lòng nhân dân. 

“Đánh tráo khái niệm”

 

Thời gian qua, liên tiếp có một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng khởi tố để điều tra, xử lý do những sai phạm trong thực hiện công vụ. Điển hình nhất là các vụ việc liên quan đến ông Trương Quốc Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội; ông Nguyễn Minh Quân, Giám đốc Bệnh viện TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh); trước đó là vụ án của ông Nguyễn Nhật Cảm, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Hà Nội và Nguyễn Quốc Anh, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đã bị đưa ra xét xử. Trong những vụ việc này, nhiều cán bộ liên quan cũng bị khởi tố để điều tra hoặc đã phải vào tù.

Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Dù sai phạm của các cán bộ y tế này là rõ ràng và nguyên nhân hoàn toàn do họ cố tình làm sai, gây bất bình xã hội, nhưng thật nực cười khi một số cá nhân lại sử dụng mạng xã hội để viết bài công kích, vu cáo thể chế chính trị, lên án chế độ của Việt Nam, hoặc lợi dụng đài, báo nước ngoài thiếu thân thiện với đất nước mà điển hình là VOA tiếng Việt để phát biểu bừa bãi. Họ đổ lỗi rằng, sở dĩ các cán bộ trên tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện"; "Đảng Cộng sản Việt Nam không những là nguyên nhân sinh ra tham nhũng mà còn không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công"...

Điển hình là những trang Facebook của các đối tượng như: Dương Quốc Chính, Phạm Minh Vũ, Trân Văn... Trên Facebook, Dương Quốc Chính tán phát bài viết: “Ai cho quan làm người lương thiện” với một cách lý giải kiểu đổi trắng thay đen. Facebook của Phạm Minh Vũ tán phát bài viết: “Cái kết của một người có tài đi theo Đảng”, xóa nhòa ranh giới giữa công và tội. Trên VOA tiếng Việt, bài viết: “Từ vụ Nguyễn Quang Tuấn: Thể chế chuyên biến giả thành thật và ngược lại!” của Trân Văn ra sức công kích chế độ. Đây là những giọng điệu không xa lạ gì trong thời gian qua, vì nó được nuôi dưỡng bởi tiền của các thế lực phản động từ nước ngoài chuyên chống phá đất nước. Vì thế, họ sẵn sàng dựng chuyện bằng bất cứ lý do gì.

Đổ lỗi, vu cáo cho thể chế hay đổ lỗi cho chế độ là chiêu bài quen thuộc của một số nhóm đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, họ đã nhầm, hoặc do cố tình “đánh lận con đen” khi quy chụp rằng, chế độ mà chúng ta đang xây dựng đã sinh ra tham nhũng.  

Từ cổ đại đến hiện đại, tất cả học giả kinh tế hay chính trị đều thống nhất một quan điểm: Tham nhũng là hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu, khách quan trong xã hội có nhà nước (có giai cấp). Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ chính trị “đa đảng” hay “một đảng” và cũng không phụ thuộc vào trình độ phát triển.

Hiểu một cách cơ bản thì tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực trong xã hội có giai cấp, có nhà nước. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc nó trong một thời gian ngắn. Để phòng, chống tham nhũng, mọi quốc gia đều phải sử dụng các công cụ, biện pháp trong quản trị nhà nước nhằm triệt tiêu nó. Bởi thế, đổ lỗi cho chế độ ta mới sinh ra tham nhũng là rất thiếu hiểu biết, hoặc đó là cách ngụy biện.

Xin được dẫn chứng: Trước vấn đề tham nhũng, Trung Quốc đã ban hành nhiều quy định, đồng thời sử dụng biện pháp rất mạnh để đấu tranh với tham nhũng. Trung Quốc cũng có hàng loạt đạo luật phòng, chống tham nhũng như: Luật Chống hối lộ năm 1988, Luật Chống tham nhũng năm 1997. Năm 2010 Trung Quốc còn ban hành sách trắng về chống tham nhũng. Singapore cũng xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Singapore đã ban hành đạo luật Chống Tham nhũng và Luật Sung công tài sản tham nhũng để đấu tranh với tội phạm tham nhũng. Với Hoa Kỳ, cường quốc này xác định tham nhũng là một tội phạm nghiêm trọng và không thể xóa bỏ hoàn toàn. Hoa Kỳ có cơ quan chuyên làm nhiệm vụ chống tham nhũng trực thuộc Bộ Tư pháp, đó là Cục Điều tra liên bang (FBI). Ngay cả Liên hợp quốc cũng có Công ước về chống tham nhũng. Do là vấn đề tất yếu nên dù có rất nhiều biện pháp phòng, chống thì tham nhũng vẫn không thể mất đi.

Trong 5 năm thực hiện chủ trương “đả hổ, diệt ruồi” (2013-2017) của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Trung Quốc có 182.000 quan chức cấp cao và quan chức ở địa phương bị truy tố vì hành vi tham nhũng và lạm dụng chức vụ quyền hạn.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố Chỉ số Cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2020 cho thấy, một bức tranh màu xám về tình trạng tham nhũng trên toàn thế giới, với hơn 2/3 trong số 180 quốc gia được đánh giá chỉ đạt điểm dưới 50 trên thang điểm 100. Như vậy có thể thấy, tham nhũng là vấn đề toàn cầu chứ không riêng bất cứ một quốc gia nào.

Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Nội chính Trung ương phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, trong thời gian từ năm 2013 đến 2020, tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Kết quả này cũng cho thấy, mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch đối với công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta đều trở nên trơ trẽn, nực cười.

Tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV, phát biểu với Quốc hội về vấn đề liên quan đến các sai phạm của cán bộ ngành y tế trong đấu thầu, mua sắm trang thiết bị y tế, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an đã khẳng định: Sai phạm trong ngành y không phải do lỗi cơ chế. “Chúng tôi khẳng định không phải do các lỗi này, mà đều có việc lợi dụng tình hình khó khăn, lách luật để vi phạm và đây là những vi phạm hình sự rất đáng phải xử lý", Đại tướng Tô Lâm nhấn mạnh.

Quá trình điều tra, các cán bộ này đã thừa nhận sai phạm. Cơ quan điều tra đều có yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm cá nhân trong từng vụ việc và đã chứng minh rõ yếu tố tư lợi, tham ô, tham nhũng, trục lợi... Đơn cử như việc mua máy móc, có trường hợp thông đồng với nhà thầu, đẩy giá ăn chia, trích phần trăm. Đây là yếu tố tư lợi, biểu hiện tham ô, tham nhũng...