Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC TÔN GIÁO

 


          Bám sát nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị tham mưu với cấp ủy, chính quyền, phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch, chương trình phát triển knh tế, văn hóa, xã hội mới của địa phương; những thành tựu về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, của đồng bào các dân tộc tôn giáo, tín đồ tôn giáo nói riêng để mọi người dân Việt Nam dù là đồng bào dân tộc tôn giáo hay người Kinh, có đạo hay không có đạo đều tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách  của Đảng và Nhà nước; tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch.

Tập trung tuyên truyền nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước, địa phương đối với đồng bào dân tộc tôn giáo, tôn giáo, vận động đồng bào dân tộc tôn giáo, các tín đồ tôn giáo, các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân tộc, các chức sắc, chức việc tôn giáo thực hiện tốt các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm công dân về quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc, phát huy những giá trị về văn hoá, đạo đức của các dân tộc, tôn giáo.

Tuyên truyền nghị quyết, kết luận, nghị định của Chính phủ về công tác dân tộc, luật tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước để đồng bào dân tộc tôn giáo, mọi tín đồ, các vị chức sắc, chức việc trong các tôn giáo cũng như mọi người dân Việt Nam hiểu và thực hiện tốt.

khucvu

 

ÂNG CAO SỨC MẠNH CỦA CHI BỘ TRONG QUÂN ĐỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA TÌNH HÌNH MỚI

 

N

Thực tế hiện nay cho thấy công tác xây dựng chi bộ hiện nay có nhiều tiến bộ nhưng còn bộc lộ một số nhược điểm như: trí khoa học trong lãnh đạo chưa cao, chue trương kế hoạch thường sao chép thụ động ỷ lại vào chỉ thị nghị quyết của trên; chế độ nguyên tắc sinh hoạt chưa được thực hiện nghiêm ngặt; phong cách dân chủ tính chiến đấu trong sinh hoạt còn hạn chế.

Vì vậy, chi uỷ và mỗi đảng viên phải có trách nhiệm sâu sát quần chúng, nắm chắc tình hình nhất là lĩnh vực, bộ phận được phụ trách để phát hiện vấn đề, tìm hiểu thông tin, tiếp xúc với quần chúng, trực tiếp dự thảo nghị quyết để có nội dung thiết thực, có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng công tác lãnh đạo của chi bộ, nội dung sinh hoạt lãnh đạo tuy bao quát mọi mặt nhưng cần tập trung bàn sâu vào một hai vấn đề trọng yếu có ý nghĩa thiết thực chuyển biến chất lượng công việc, khắc phục yếu điểm của chi bộ, đơn vị.

Xây dựng quân đội về chính trị là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; là cơ sở, nền tảng, có ý nghĩa quyết định đến sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội. Sự vững mạnh về chính trị của quân đội góp phần quan trọng vào giữ vững sự ổn định chính trị-xã hội, là chỗ dựa vững chắc để Đảng, và nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn thử thách trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng quân đội về chính trị là vấn đề cơ bản, trực tiếp góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp của quân đội, đồng thời là vấn đề mang tính cấp thiết  hiện nay. Đây là vấn đề cần được Đảng, Nhà nước, quân đội tiếp tục nghiên cứu, phát triển, hoàn thiện nội dung, biện pháp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

khucvu

 

CHỦ ĐỘNG KẾT HỢP PHÒNG VÀ CHỐNG MỌI ÂM MƯU HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Quan điểm chủ động phòng ngừa, kết hợp giữa phòng và chống được Đảng khẳng định: “Chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch”; “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”. Quan điểm chỉ đạo phải ưu tiên đầu tư phát triển hạ tấng kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi; thực hiện tốt chính sách bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách dân tộc, quan tâm phát triển bồi dưỡng nguồn nhân lực, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện nghiêm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy và trò tích cực của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Kiên quyết đấu tranh với việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.

 động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc giaNghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để họat động mê tín, dị đoan, họat

Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề thuộc công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tín ngưỡng. tôn giáo để họat động mê tín, dị đoan, họat động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia để có quan điểm và biện pháp xử lý đúng đắn. Mọi sơ suất, chủ quan, nóng vội, giản đơn trong xử lý vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo đều có thể dẫn đến nguy cơ chia rẽ, làm rạn nứt khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất trật tự, an toàn xã hội, tổn hại đến quốc phòng, an ninh đất nước.

khucvu

NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN KHI THAM GIA MẠNG XÃ HỘI


Ngày nay, dường như mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng mạng xã hội vẫn liên tục tăng qua các năm; hiện, một số mạng xã hội như Facebook, Zalo, Tiktok, Youtube… có số lượng người dân Việt Nam tham gia rất lớn, trong đó có cán bộ, đảng viên.

Tận dụng ưu thế của mạng xã hội, nhiều cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội như một phương thức có hiệu quả trong công việc cũng như trong cuộc sốngbiến mạng xã hội thành công cụ hữu ích. Thông qua mạng xã hội, có thể nhanh chóng chia sẻ, trao đổi, nhận biết thông tin. Nhiều cán bộ, đảng viên biết tận dụng mạng xã hội để chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm công tác; thông tin, tuyên truyền, quảng bá các hoạt động, hình ảnh của Đảng, Nhà nước, địa phương, đơn vị đến với Nhân dân; mạng xã hội cũng là công cụ đắc lực trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng trong điều tra, nắm bắt dư luận xã hội phục vụ cho công tác tuyên giáo…

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy vẫn còn hiện tượng một số cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội khá tùy tiện, gây ảnh hưởng không tốt hình ảnh, lợi ích của cá nhân, tổ chức, địa phương. Không ít trường hợp cán bộ, đảng viên dùng mạng xã hội để nói xấu, xúc phạm, miệt thị người khác bằng loại ngôn từ thiếu văn hóa; đăng tải, chia sẻ thông tin độc hại, bịa đặt, xuyên tạc, không kiểm chứng nguồn gốc, không bảo đảm tính chính xác; đăng tải những nội dung mang tính bất mãn, gây mất đoàn kết... Nhiều trường hợp cán bộ, đảng viên đã bị cơ quan chức năng nhắc nhở, xử phạt hành chính, thậm chí bị cách chức. Những trường hợp đáng tiếc đó, có những người chủ ý, nhưng cũng không ít người vì chủ quan, thiếu thận trọng, thiếu trách nhiệm, thiếu hiểu biết về các quy định.

Thực tế này cho thấy việc xử phạt các sai phạm trên không gian mạng nói chung, và việc truy cứu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên để xảy ra sai phạm khi tham gia mạng xã hội nói riêng cần phải nghiêm khắc, kiên quyết hơn nữa, để mỗi người luôn ý thức rằng bản thân là cán bộ, đảng viên thì càng phải có trách nhiệm cao trong tự giác điều chỉnh nhận thức và hành xử đúng đắn trên môi trường mạng.

Ðến nay, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định quyền tự do thông tin của công dân và trách nhiệm của người dân khi sử dụng internet nói chung và mạng xã hội nói riêng như: Luật Báo chí năm 2016; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định số 72/2013/NÐ-CP quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng; Nghị định số 174/2013/NÐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện; Quy định về những điều đảng viên không được làm…Tuy nhiên, đối với những văn bản luật này vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa chịu khó tiếp cận, nghiên cứu, nên vẫn còn có sự hiểu biết mập mờ, dẫn đến sự thiếu trách nhiệm và dễ sai phạm trong sử dụng mạng xã hội. Vậy nên, các địa phương, cơ quan, đơn vị cũng cần thiết phải nghiên cứu, ban hành văn bản quy định về việc tham gia mạng xã hội của cán bộ, đảng viên trong phạm vi điều chỉnh của mình.

Thủ trưởng cơ quan, đơn vị; cấp ủy; các tổ chức đoàn thể cần nâng cao trách nhiệm trong công tác chỉ đạo, định hướng, theo dõi, nhắc nhở cán bộ, đảng viên, đoàn viên về những nguyên tắc cần tuân thủ khi tham gia mạng xã hội; đồng thời, có biện pháp xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm theo quy định.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực nghiên cứu và tuân thủ nghiêm túc các quy định hiện hành của Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng và cơ quan, đơn vị mình đang công tác khi tham gia mạng xã hội; phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật, tổ chức nếu sai phạm trong quá trình tham gia. Khi tham gia mạng xã hội phải lan tỏa các nội dung, hình ảnh tích cực, có tính tuyên truyền, giáo dục cao; các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, giáo dục, phát huy truyền thống cách mạng của địa phương, đất nước; thông tin, tuyên truyền những sự kiện trọng đại, những kết quả nổi bật về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương, đất nước; giới thiệu, quảng bá hình ảnh và thế mạnh của địa phương, đất nước đến với bạn bè trong nước và quốc tế…Sử dụng mạng xã hội để trao đổi, chia sẻ, chuyển tải các nội dung thông tin phục vụ nghiệp vụ công tác. Xây dựng quan điểm, lập trường vững vàng; chung tay, góp sức nhận diện, phản bác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn và các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

 

CẢNH GIÁC TRƯỚC SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


 Những năm gần đây các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị tiếp tục tập trung chống phá việc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Chúng phủ nhận thành tựu của kinh tế Việt Nam, đồng thời đặc biệt lợi dụng những bất cập, khó khăn, hạn chế, khuyết điểm của nền kinh tế nước ta để xuyên tạc, chống phá. Ví dụ chúng thổi phồng những hạn chế trong điều hành kinh tế, một số hạn chế, khuyết điểm của nền kinh tế để cho rằng tất cả là do đường lối kinh tế của Đảng ta không đúng, sự điều hành của Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành là yếu kém, dẫn đến mâu thuẫn giữa Đảng với dân ngày càng căng thẳng, nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước.

Nhưng thực tế ở Việt Nam đã bác bỏ hành vi, thủ đoạn thâm độc, xấu xa đó. Đảng ta với đường lối đúng đắn, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai thực hiện các biện pháp kinh tế với sự vào cuộc, hưởng ứng cao của cả hệ thống chính trị và nhân dân. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được duy trì ở mức khá cao; tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên”. Đặc biệt, khi đại dịch Covid – 19 xuất hiện, chúng ta vẫn vững vàng vượt qua thử thách để ổn định, phát triển đất nước. Có thực tế rất đáng trân trọng là càng trong khó khăn, gian khó, chúng ta càng có sức mạnh tổng hợp của sự đoàn kết thống nhất, của văn hóa Việt Nam. Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên số báo Xuân Nhâm dần 2022 của báo Nhân dân, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói rõ: “Qua đại dịch càng thấy niềm tin của nhân dân dành cho Đảng và chế độ tiếp tục được củng cố vững chắc; tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và tình yêu thương con người – nguồn lực tinh thần vô giá của dân tộc ta lại được tỏa sáng”.

Cả dân tộc Việt Nam ta tự hào bởi: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Quốc tế đánh giá cao sự ổn định, phát triển của kinh tế Việt Nam. Nhiều tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp đã có những đánh giá cụ thể, rõ ràng, tích cực, chính xác về tình hình kinh tế Việt Nam.

Từ thực tế, dư luận càng hiểu rõ bộ mặt thật của những kẻ chống phá. Thật ra, lâu nay, người dân đều đã hiểu các thế lực xấu luôn có nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc, công khai, trắng trợn nhằm phá hoại nền kinh tế để đi đến phá hoại cách mạng Việt Nam. Cho dù có núp dưới vỏ bọc gì, tinh vi đến đâu thì chúng cũng không lừa bịp được nhân dân, bởi nhân dân luôn tỉnh táo, cảnh giác, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống sự phá hoại đó. Đồng thời, nhân dân càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Nhà nước, các bộ, ban, ngành… Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam không chỉ đồng tình, ủng hộ bằng ý chí, quyết tâm mà từ vị trí, chức trách, công việc của mình phải tự giác thực hiện tốt mọi nghĩa vụ, nhiệm vụ, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực với nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm cao nhất. Làm được như vậy, chính là chúng ta đã thiết thực góp phần vào việc xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, hùng cường.

 

TIẾP TỤC TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC


 Căn cứ báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.  Ngày 6/4/2022, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 12-KL/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với các nội dung như sau:

1. Năm năm qua, các cấp ủy, tổ chức đảng đã nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận 10, tạo bước tiến rõ nét, đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về phòng, chống tham nhũng, lãng phí được nâng lên; từng bước hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng; công tác phát hiện, xử lý tham nhũng được chỉ đạo quyết liệt; tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn. Những thành quả quan trọng đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Tuy nhiên, một số nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong Kết luận 10 thực hiện vẫn còn chậm, hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí chưa được quan tâm đúng mức. Cơ chế, chính sách, pháp luật trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập, chưa ngăn chặn hiệu quả tham nhũng, lãng phí. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn nhiều hạn chế, lãng phí trong cơ quan nhà nước và trong xã hội còn rất nghiêm trọng. Tình trạng cán bộ nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp chưa được ngăn chặn kịp thời. Vẫn còn xảy ra những vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, có tổ chức, rất tinh vi, phức tạp gây bức xúc trong dư luận.

2. Để tiếp tục đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo Kết luận 10; gắn bó chặt chẽ phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực; tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

2.1. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, kiên quyết, kiên trì xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân. Cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chấp hành, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện tốt quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, trọng liêm sỉ, danh dự; phê phán, lên án, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết liệt, đi đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.

2.2. Khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý; thực hiện chế độ thanh toán không dùng tiền mặt. Khẩn trương rà soát, khắc phục những sơ hở, bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công, tài chính, chứng khoán...; sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Thanh tra, Luật Thực hành dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật Tiếp công dân và các dự án luật khác liên quan trực tiếp đến phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

2.3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực. Tập trung kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nơi có nhiều tố cáo, khiếu nại, dư luận xã hội quan tâm, bức xúc. Thực hiện nghiêm cơ chế phối hợp phát hiện, xử lý sai phạm ngay trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, nhất là các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo; thu hồi triệt để tài sản do tham nhũng mà có. Tiếp tục đẩy mạnh, tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở; xử lý nghiêm những trường hợp nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

2.4. Tăng cường quản lý, chống thất thoát, lãng phí trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, vốn, tài sản nhà nước ở các doanh nghiệp; đầu tư công, dịch vụ công,... Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các định mức, đơn giá xây dựng và các lĩnh vực khác phù hợp với thực tiễn; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, cải cách hành chính, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ công, tiết kiệm ngân sách nhà nước. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong việc cổ phần hóa, thoái vốn, tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước; xử lý dứt điểm những tồn tại, yếu kém tại các dự án chậm tiến độ, doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả.

2.5. Phát huy hơn nữa vai trò của cơ quan, đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, báo chí và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Hoàn thiện cơ chế giám sát của cơ quan, đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể và nhân dân đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. 

Từng bước mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng; cụ thể hóa và thực thi Công ước quốc tế về chống tham nhũng theo đúng lộ trình, phù hợp với điều kiện và pháp luật của Việt Nam.

2.6. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện và kinh phí phù hợp với hoạt động đặc thù của các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong chính các cơ quan này. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có bản lĩnh vững vàng, liêm chính, trung thực, có dũng khí bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai, có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Các cấp ủy, tổ chức đảng có trách nhiệm phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc Kết luận này./.

 

NGƯỜI CHA THÂN YÊU CỦA CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm huyết xây dựng và rèn luyện các LLVT nhân dân Việt Nam luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân, "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng", cùng với toàn Đảng, toàn dân đưa cách mạng nước ta tiến lên, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ðúng như Ðiếu văn của Trung ương Ðảng ta đã viết khi Bác qua đời 2-9-1969: "Hồ Chủ tịch là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Ðảng ta, là người xây dựng nền Cộng hòa dân chủ Việt Nam và Mặt trận dân tộc thống nhất, là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam".

Trong di sản lý luận Hồ Chí Minh, tư tưởng xây dựng đội quân vũ trang cách mạng của nhân dân làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một hệ thống quan điểm về quân sự, quốc phòng... và hình thành, phát triển gắn liền với quá trình thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ngay khi tổ chức hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, trong Chính cương vắn tắt, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ghi rõ nhiệm vụ của Ðảng cần phải tổ chức đội quân công nông để đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, thành lập chính phủ công nông.

Tháng 2-1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Tháng 5-1941 Bác chủ tọa Hội nghị Trung ương 8 đã đề nghị tập trung toàn lực giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân trong Mặt trận Việt Minh, thành lập các đội du kích và xây dựng căn cứ địa, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Tiến tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Bác và Trung ương Ðảng chủ trương chuyển từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang và kết hợp cả hai hình thức để chống phát-xít, tổ chức quần chúng rộng rãi và tiến hành huấn luyện quân sự và vũ trang cho quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang của nhân dân, xây dựng căn cứ địa cách mạng, phát động chiến tranh du kích, thực hiện khởi nghĩa từng phần, chớp thời cơ tổng khởi nghĩa khắp thành thị, nông thôn trong cả nước.

Từ yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng phải có LLVT cách mạng, năm 1941 Bác ra chỉ thị tổ chức đội tự vệ vũ trang ở Cao Bằng. Người trực tiếp lựa chọn nòng cốt và biên soạn tài liệu về chiến thuật du kích để huấn luyện cho đội tự vệ các địa phương, huấn luyện cán bộ quân sự... Năm 1943, khi thoát khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch, Bác đã tìm mọi cách đưa một số thanh niên được cử đi học quân sự ở Trung Quốc về tăng cường cho lực lượng vũ trang trong nước. Và khi thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân những người này được chọn làm cán bộ nòng cốt của Ðội. Cuối năm 1944, dự báo cuộc tổng khởi nghĩa đang đến gần, Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ thị thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp thực hiện.

Chỉ thị của Bác thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có ý nghĩa như cương lĩnh quân sự của Ðảng ta, bao gồm những vấn đề cơ bản về đường lối quân sự của Ðảng. Chỉ thị nêu rõ: "Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Ðội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên".

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để có LLVT nhân dân hùng mạnh thì phải chăm lo xây dựng toàn diện cả ba thứ quân, trong đó bộ đội vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác mà công tác dân vận là hàng đầu và thường xuyên. Kỷ niệm một năm ngày thành lập quân giải phóng, Bác nhắc nhở: Phải tăng cường huấn luyện quân sự, kỹ thuật, chiến thuật, nâng cao thể lực và trình độ văn hóa, phải phát triển cái kỷ luật nghiêm như sắt, cái tinh thần vững như đồng. Phải rèn luyện cho bộ đội tác phong chiến đấu dẻo dai, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, mưu trí dũng cảm, thắng không kiêu, bại không nản, tuyệt đối giữ bí mật. Người yêu cầu cán bộ quân đội phải gương mẫu, thương yêu binh sĩ như ruột thịt "từ tiểu đội trưởng trở lên, từ tổng tư lệnh trở xuống phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên".

Hơn 25 năm kể từ khi chỉ thị thành lập LLVT nhân dân, trên cương vị cao nhất lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc, Bác luôn dành muôn vàn tình thương yêu cho toàn thể bộ đội. Dù bận nhiều công việc, Người vẫn dành thời gian chăm sóc và giáo dục, rèn luyện các lực lượng vũ trang nhân dân. Trong các chiến dịch Bác đi thăm các đơn vị bộ đội, đốc thúc công tác hậu cần, dự các đợt chỉnh huấn, chỉnh quân, tổng kết rút kinh nghiệm chỉ đạo, tác chiến... Người viết thư khen, tặng cờ thi đua, biểu dương các đơn vị, cá nhân lập công xuất sắc và phê bình những việc chưa tốt của cán bộ quân đội. Thông qua những việc làm cụ thể và bằng tấm gương của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giáo dục cho lực lượng vũ trang và nhân dân ta phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần tự lực kháng chiến, chống tư tưởng muốn đánh mau thắng mau hoặc bi quan, sợ địch cũng như chủ quan khinh địch...

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu thấu những hy sinh, gian khổ của lực lượng vũ trang phải chiến đấu với quân xâm lược có trang bị vũ khí hiện đại và tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh. Trong những năm kháng chiến gian lao, thiếu thốn trăm thứ, khó khăn mọi bề, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Người động viên toàn dân, kêu gọi toàn dân chăm lo cho bộ đội và giúp đỡ thương binh, bệnh binh và gia đình các thương binh, liệt sĩ. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Ðảng, Chính phủ và nhân dân ta phải làm tốt chính sách đền ơn, đáp nghĩa đối với thương binh, gia đình liệt sĩ; đối với những cán bộ, chiến sĩ LLVT nhân dân đã chiến đấu, công tác tỏ ra dũng cảm còn sức khỏe thì phải chăm lo đào tạo thành đội quân chủ lực trong xây dựng chủ nghĩa xã hội./.

 

Đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn các hành vi tung tin sai sự thật trên không gian mạng hiện nay

 

Thông tin “xấu”, “độc” trên mạng xã hội gây tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc. Do vậy, nhận diện thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, vạch trần và đấu tranh phòng, chống những âm mưu, thủ đoạn của những đối tượng đưa thông tin xấu, độc trên mạng xã hội là việc làm cần thiết của mỗi người dân, quân nhân, công dân lao động.

Có thể thấy, những thông tin sai sự thật, tin đồn thất thiệt xuất hiện rất nhiều thời gian gần đây, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Những thông tin này đều đã bị lực lượng chức năng phát hiện, xử lý kịp thời. Tuy nhiên, các thông tin giả sau khi xuất hiện thường được phát tán nhanh gấp nhiều lần so với khả năng ngăn chặn và xử lý. Mặc dù lực lượng chức năng đã nhanh chóng vào cuộc điều tra, làm rõ và xử lý đối với các đối tượng vi phạm; song, hậu quả của những thông tin xấu, độc đã ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của người dân, thu hút số lượng lớn người quan tâm. Từ các vụ việc đã bị lực lượng chức năng xử lý thời gian qua cho thấy, mục đích của những người tung tin thất thiệt chỉ nhằm câu like, câu view, thể hiện bản thân, gây sự chú ý…

Từ những thông tin đã nêu, cho thấy giải pháp tuyên truyền, giáo dục nhận thức và kỹ năng, để mỗi công dân trở thành một người dùng mạng xã hội thông thái, có “sức đề kháng” và khả năng phân biệt thông tin chính thống với thông tin xấu, độc là giải pháp cơ bản, quan trọng. Mỗi công dân hiện đang giữ một “chìa khóa” an ninh mạng của quốc gia, vì chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc, bởi vậy cần thiết phải kiên trì xây dựng mỗi công dân trở thành một chiến sĩ trên mặt trận bảo đảm an ninh mạng, khi tiếp xúc với tin tức trên mạng xã hội, mỗi người cần kiểm chứng thông tin qua những nguồn khác nhau, bảo đảm thông tin tiếp nhận là đúng sự thật.

Bên cạnh đó, với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác phòng chống tội phạm, các lực lượng cần làm tốt công tác nắm tình hình từ xa, ngay tại cơ sở và trên không gian mạng, tập trung đấu tranh ngăn chặn và hạn chế thấp nhất tác động ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động lợi dụng không gian mạng để đưa thông tin xấu độc, giả mạo. Đồng thời, chủ động tham mưu đề xuất với các cấp, các ngành có nhiều giải pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh hiệu quả với các thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ thông tin, có vai trò quan trọng trong phát triển của quốc gia. Và cũng là cơ hội mà các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị triệt để lợi dụng nhằm chống phá cách mạng nước ta, trong đó chúng lợi dụng không gian mạng để tăng cường chống phá đường lối, quan điểm của Đảng ta về quốc phòng, an ninh.

Lợi dụng khả năng đưa tin nhanh, đa chiều và rộng khắp trên không gian mạng, một số tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cấu kết với nhau, tập trung chống phá nền tảng tư tưởng, thể chế chính trị của ta rất quyết liệt. Chúng lợi dụng ưu thế của mạng xã hội để tập trung công kích lực lượng Quân đội và Công an. Nhất là họ phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội và Công an nhân dân. Đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác quốc phòng, an ninh, xuyên tạc ý nghĩa các cuộc giao lưu quốc phòng trên các tuyến biên giới… nhằm kích động, phá hoại mối quan hệ hữu nghị của Việt Nam với các nước khác.

Vì vậy, chúng ta cần có các giải pháp nhằm tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Một là, chủ động cung cấp thông tin chính thống đến nhân dân kịp thời và tổ chức thực hiện tốt Luật An ninh mạng.

Hai là, chủ động, tích cực trong việc giữ vững trận địa thông tin về Quốc phòng, an ninh.

Ba là,  các cấp, các ngành tuyên truyền sâu rộng về các dự luật, trong đó có Luật An ninh mạng và thực hiện tốt Luật Phòng, chống tham nhũng,

Bốn là, khắc phục tình trạng nhận thức chưa sâu nên bị kẻ xấu lợi dụng dẫn dắt thực hiện hành vi phá hoại an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

 

 

Phê phán quan điểm sai trái về quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay

Sau hơn 35 năm đổi mới và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có sự đóng góp rất lớn của công tác quản lý phát triển xã hội. Tuy nhiên, lợi dụng một số hạn chế trong thực hiện công tác này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc quan điểm và cách thức quản lý phát triển xã hội, hòng hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước. Bởi vậy, chúng ta cần nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.  

Nhận diện một số quan điểm sai trái về quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay

Đã từ lâu, vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” ở nước ta luôn được các thế lực phản động quy chụp rằng, quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam không có dân chủ, chế độ xã hội mà Việt Nam đang xây dựng là chế độ độc đảng toàn trị. Lợi dụng việc một số đối tượng bị xử lý vì tội chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, họ dùng mọi cách can thiệp đòi xóa bỏ bản án cho những người vi phạm pháp luật; khi không đạt mục đích, họ lu loa rằng Nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền, từ đó kêu gọi các cá nhân, “tổ chức quốc tế” lên tiếng, can thiệp. Nguy hiểm hơn, trong một số vụ việc, họ còn sử dụng người già, phụ nữ, trẻ em như một công cụ, phương tiện để xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước vi phạm “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, v.v. Mục đích của họ là đẩy người dân xung đột với chính quyền, phá hoại mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước hòng chia rẽ, kích động tư tưởng đối đầu, bạo loạn, đòi đa nguyên, đa đảng, thực hiện “xã hội dân sự”.

Đối với vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, họ xuyên tạc rằng, cách quản lý của Việt Nam là “cai trị”; phân biệt đối xử, đàn áp người dân tộc thiểu số; đẩy người dân tộc thiểu số vào rừng sâu, lên núi cao. Ở vùng Tây Bắc, họ tập trung vào người Mông, kêu gọi lập “Tổ quốc riêng, vua riêng”, “Xứ Thái tự trị”. Ở Tây Nguyên, họ xuyên tạc rằng: “người Kinh chiếm đất của người Thượng bản địa”, “Cộng sản Việt Nam cấm đạo, diệt đạo, phân biệt đối xử với người Thượng”, kêu gọi thành lập “Nhà nước Đề Ga độc lập”. Ở Tây Nam Bộ, họ cho rằng: “Việt Nam vi phạm quyền con người đối với đồng bào Khmer”, v.v. Mục tiêu của họ là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm xói mòn niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Việt Nam.

Các thế lực phản động còn cho rằng, Việt Nam chưa quan tâm tới Người có công và những người yếu thế trong xã hội. Hằng năm, cứ đến ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7) hay dịp lễ, Tết, như: 30/4, 02/9, những ngày có liên quan đến việc thực hiện chế độ, chính sách đối với Người có công, thương binh, liệt sĩ là họ lại xoáy vào xuyên tạc, công kích, bôi nhọ chế độ. Rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam đã lãng quên, không quan tâm đến thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng; lợi dụng các tổ chức “thiện nguyện”, “từ thiện” để mua chuộc lòng dân. Đặc biệt, trong đại dịch Covid-19, họ lợi dụng hình ảnh về nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội là người già, người neo đơn, người nghèo, người khuyết tật, người vô gia cư,… để xuyên tạc rằng: Chính phủ đã “bỏ rơi” nhóm đối tượng này, để họ chết mòn trong đại dịch; “người nghèo bị bỏ mặc trước đại dịch Covid-19”, v.v. Từ đó, họ không chỉ kích động, gây mâu thuẫn, bất mãn trong xã hội, mà còn làm suy giảm uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái

Thứ nhất, về vấn đề dân chủ và nhân quyền. Chúng ta biết, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ tiến bộ nhất; trong đó, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Điều đó không chỉ được khẳng định trong Cương lĩnh, Hiến pháp, pháp luật, mà còn được thể hiện sinh động trong thực tiễn đời sống xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực,...”1. Trong xây dựng các văn bản luật, nhà nước Việt Nam luôn công khai bản dự thảo, thậm chí gửi đến từng hộ dân để mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội đóng góp ý kiến, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc xây dựng pháp luật. Tiêu biểu, trong đợt lấy ý kiến sửa đổi Hiến pháp 1992, từ tháng 01 đến tháng 5/2013, cả nước đã tổ chức được 28.000 hội thảo, hội nghị, tọa đàm và thu được 26 triệu lượt ý kiến đóng góp về nội dung Hiến pháp. Những con số trên đã minh chứng cho quản lý phát triển xã hội của Việt Nam là rất dân chủ và cách quản lý này không thể là “độc đoán, chuyên quyền”, “bóp nghẹt dân chủ” như lời rêu rao của các thế lực thù địch. Dù nơi này, nơi khác, trường hợp cụ thể này hoặc trường hợp cá biệt khác, công dân Việt Nam ở nơi nào đó còn vi phạm, nhưng không thể lấy những trường hợp cá biệt, cụ thể đó để khẳng định quản lý phát triển xã hội của nhà nước Việt Nam là mất dân chủ, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Thứ hai, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, vùng dân tộc thiểu số luôn là mục tiêu ưu tiên trong chính sách xã hội của Việt Nam, nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện, bền vững của xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, nhất là các chính sách, chương trình an sinh xã hội, lao động việc làm, đã tạo những chuyển biến tích cực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Những năm gần đây, tỷ lệ hộ nghèo vùng dân tộc và miền núi trung bình mỗi năm giảm 03% - 04%, nhanh hơn tỷ lệ giảm nghèo chung của cả nước, là một nỗ lực rất lớn của Đảng và Nhà nước ta. Hằng năm, cả nước có khoảng 1,1 - 1,2 triệu trẻ em được đến trường đúng độ tuổi, 95% dân số có thẻ Bảo hiểm y tế, cung cấp nước sạch, giá viễn thông của Việt Nam thuộc nhóm rẻ nhất trong khu vực, bảo hiểm xã hội bao phủ khoảng 35% lực lượng lao động và hướng tới 45%, là điểm sáng trong đánh giá của Liên hợp quốc.

Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định: “triển khai có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2020 - 2030, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc”2. Nhằm cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội cho đồng bào các dân tộc. Mặc dù trong bối cảnh kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng Chính phủ dành nhiều ngân sách cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Riêng Chương trình 135 (giai đoạn 2016 - 2018, đã đầu tư 9.106 công trình, duy tu, bảo dưỡng 3.295 công trình; hỗ trợ trực tiếp cho 1,512 triệu hộ nghèo, cận nghèo; tập huấn cho 103 nghìn người; dạy nghề cho 720 nghìn người dân tộc thiểu số, góp phần giúp đồng bào tìm kiếm việc làm). Để chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc thiểu số, Chính phủ đã thực hiện các chính sách thông qua các chương trình quốc gia về tiêm chủng mở rộng; chương trình phòng, chống suy dinh dưỡng; chống các bệnh sốt rét, bướu cổ; cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo; xây dựng cơ sở khám, chữa bệnh cho vùng khó khăn, v.v.

Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Bên cạnh đó, “Nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia”3. Vì vậy, trong khi thực hiện nhất quán chính sách “tự do tín ngưỡng”, chúng ta vẫn phải kiên quyết đấu tranh chống mọi sự lợi dụng “dân tộc”, “tôn giáo” phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thứ ba, Việt Nam luôn thực hiện hiệu quả quản lý phát triển xã hội trong lĩnh vực đền ơn đáp nghĩa, nhất là đối với Người có công với cách mạng và nhóm người yếu thế trong xã hội. Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn trân trọng, biết ơn và có trách nhiệm sâu sắc đến các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và Người có công với cách mạng. Các chế độ ưu đãi từng bước được nâng lên, nội dung ưu đãi được luật pháp hóa và trở thành một hệ thống chính sách bao gồm nhiều mặt của đời sống (trợ cấp, phụ cấp, chăm sóc sức khỏe, ưu đãi về giáo dục - đào tạo, việc làm, ruộng đất, tín dụng, thuế,...). Hiện nay, cả nước có trên 9,2 triệu Người có công được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi; trong đó, gần 1,4 triệu người đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng. Nhiều chính sách ưu đãi dành cho Người có công đang được thực hiện; đặc biệt, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” được lan tỏa rộng rãi, huy động được nhiều nguồn lực xã hội tham gia. Riêng trong lực lượng vũ trang, những năm qua, toàn quân đã và đang triển khai nhiều hoạt động đền ơn đáp nghĩa, như: xây tặng hơn 4.300 Nhà Tình nghĩa, Nhà Đồng đội; giải quyết việc làm cho con liệt sĩ, thương binh, bệnh binh nặng; thăm hỏi, tặng quà đối tượng chính sách và Người có công với cách mạng, v.v. Đó là những minh chứng rõ ràng nhất về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với Người có công trong cuộc sống.

Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính,… và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác đã thể hiện quan điểm nhất quán của Việt Nam trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người nói chung, quyền, lợi ích của người nghèo, nhóm yếu thế trong xã hội nói riêng. Ngoài ra, Việt Nam còn tham gia nhiều Điều ước quốc tế, Công ước quốc tế liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em, bình đẳng giới, v.v.

Đại dịch Covid-19 bùng phát đã khiến cho cuộc sống của các đối tượng chính sách, người yếu thế, người lao động trở nên vô cùng khó khăn. Ngay từ ngày đầu, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo tinh thần chống dịch với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau” thì nhóm người già, người nghèo, người vô gia cư,… đã được chú trọng, quan tâm sâu sắc. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về các biện pháp và gói hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Gói hỗ trợ với hơn 62 nghìn tỉ đồng cho khoảng 20 triệu trường hợp thuộc 07 nhóm đối tượng thụ hưởng. Sự quan tâm, hỗ trợ kịp thời của Chính phủ đã tạo niềm tin, phấn khởi và động lực để các tầng lớp nhân dân vượt qua chặng đường khó khăn.

Tất cả quan điểm và hệ thống chính sách xã hội ở nước ta nêu trên cho thấy, quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam đều nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn đang đặt ra và giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội vì hạnh phúc của nhân dân. Thực tiễn sinh động đó đã hoàn toàn bác bỏ các luận điệu vu khống, xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với công tác quản lý phát triển xã hội ở nước ta.

Nguồn TCQP.

1 - ĐCSVN - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb CTQG ST, H. 2013, tr. 743.

2 - ÐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I. Nxb CTQG ST, H. 2021, tr. 65 - 66.

3 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb CTQG, H. 2001, tr. 128.

 

Nhận diện và đấu tranh với âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá Đảng, Nhà nước, hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam Hiện nay, vấn đề “xã hội dân sự” (XHDS) đã và đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Sau thất bại trong hoạt động chống phá Việt Nam ở các giai đoạn trước, hiện nay, các thế lực thù địch xem việc củng cố, thúc đẩy “XHDS” theo mô hình phương Tây là một hướng đi mới, là một trong những phương thức tác động cơ bản của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” là tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, hình thành “XHDS độc lập về chính trị” là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, buộc Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ra sức cổ vũ cho hình thành ở Việt Nam một mô hình “XHDS độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. Hòng thực hiện âm mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị, xã hội phức tạp của “XHDS” để tác động vào hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng, cường điệu hóa vai trò của XHDS, cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động đến gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ đối ngoại. Các đối tượng chống đối nhân danh chiêu bài “XHDS”, “dân chủ”, “nhân quyền”... để tập hợp lực lượng, lập hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích dễ gây “ấn tượng” với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”,... Thủ đoạn mà các đối tượng chống đối sử dụng phổ biến hiện nay là thông qua các trang web, diễn đàn trực tuyến, nhất là mạng xã hội để công khai tổ chức, tuyên truyền, lừa bịp, lôi kéo quần chúng tham gia; sử dụng các phần mềm bảo mật để liên lạc, tổ chức huấn luyện, đào tạo trực tuyến cho thành viên; công khai viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập đảng chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quy định pháp luật, đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự... Ngoài ra, các đối tượng này còn tìm cách chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, lợi dụng các khuyết điểm trong quản lý đất đai, môi trường... để kích động khiếu kiện, tụ tập đông người, biểu tình, xuyên tạc tình hình, hạ uy tín cán bộ; thông qua các hoạt động này để tập hợp lực lượng, gây thanh thế, từng bước nhen nhóm và thành lập tổ chức chính trị đối lập... Tại các địa bàn chiến lược, các đối tượng chống đối đẩy mạnh xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo; kích động tư tưởng ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khơi gợi, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tuyên truyền phát triển các tổ chức tôn giáo phi pháp, tụ tập “xưng vua”... Bản chất và những đặc điểm của “xã hội dân sự” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thường lợi dụng để chống phá Thứ nhất, dù những người cổ vũ cho XHDS tự cho rằng XHDS có tính “độc lập” với Nhà nước và không mang bản chất giai cấp, nhưng thực tế cho thấy, XHDS (bao gồm các tổ chức hội, hiệp hội, đoàn thể, tổ chức phi chính phủ, quỹ, diễn đàn...) đều mang tính chính trị, luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng để tiến hành các hoạt động chống Đảng và Nhà nước. “Xã hội dân sự” chính là môi trường mà trong chính bản thân các thành tố cấu thành cũng diễn ra cuộc đấu tranh giữa các nhóm lợi ích trên mọi phương diện, từ chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa... Do đó, các lực lượng, phe phái, đảng phái chính trị luôn tìm cách chi phối, vận động, lôi kéo lực lượng XHDS hoặc chính các thành tố của XHDS (hội, hiệp hội, đoàn thể, quỹ, diễn đàn...) để đạt được mục tiêu, lợi ích của mình đều bị chi phối bởi các thế lực chính trị hoặc bị chính trị hóa ở các mức độ, hình thức khác nhau. Thực tế cho thấy, thời gian qua, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng, thúc đẩy hình thành XHDS đối lập với Đảng, hoạt động ngoài sự quản lý của Nhà nước, tạo tiền đề cho can thiệp, lật đổ dưới danh nghĩa “chuyển hóa dân chủ”, đưa các lực lượng chống đối lên nắm chính quyền. Thứ hai, vốn mang tính đa dạng về lợi ích, thành phần, do đó XHDS cũng mang tính đa dạng, đa nguyên về tư tưởng. Đặc trưng này phản ánh tính phức tạp về tư tưởng, văn hóa trong đời sống XHDS. Đối với Việt Nam, sự hình thành của XHDS còn chứa đựng nguy cơ xuất hiện, hình thành hoặc du nhập những khuynh hướng tư tưởng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản, tiền đề trực tiếp dẫn đến đa nguyên về chính trị. Thứ ba, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, ý thức công dân, ý thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế; hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, quản lý của chính quyền còn nhiều lỗ hổng; lại có những đặc điểm phức tạp, đa dạng về tôn giáo, dân tộc, di tồn lịch sử của chế độ thực dân... Do đó, sự hình thành và phát triển các yếu tố của XHDS luôn tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng dẫn đến chia rẽ, xung đột, hỗn loạn, vô chính phủ, mất ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Thứ tư, XHDS bao hàm nhiều tổ chức xã hội có tính đa dạng về thành phần, mục đích hoạt động, lợi ích, thiếu tính tổ chức chặt chẽ, do đó nó dễ bị các cá nhân, tổ chức có điều kiện chi phối, lợi dụng để thực hiện các mục đích riêng và tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự, ổn định xã hội. Tính chất đa dạng, phức tạp của XHDS cho thấy đây là khu vực không thuần nhất, tính đồng thuận không cao và thiếu tính nhất quán. Tổ chức XHDS hình thành chủ yếu dựa trên những mối quan hệ và liên kết mềm, tự nguyện, tự quản, tính thống nhất không cao nên dễ xảy ra nguy cơ các tổ chức này chỉ chạy theo lợi ích cục bộ mà không quan tâm đến lợi ích chung, toàn xã hội, tạo ra các “lệ” riêng, có thể gây cản trở đến việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí có trường hợp bị biến tướng phục vụ cho lợi ích của cá nhân, tổ chức có điều kiện chi phối. Thực tế cho thấy, tuyệt đối hóa vai trò các tổ chức của XHDS, xem nhẹ quản lý của Nhà nước, chỉ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tiền đề cho rối loạn, bất ổn. Do tính chất đa dạng và phức tạp này mà XHDS luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các đối tượng, tổ chức thù địch cả trong và ngoài nước mua chuộc, chi phối, lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối. Thứ năm, một số tổ chức xã hội có vai trò, ảnh hưởng xã hội nhất định, số lượng thành viên đông đảo luôn trở thành mục tiêu tác động, chi phối, lợi dụng của các thế lực thù địch nhằm biến các tổ chức này thành các tổ chức chính trị đối lập với Đảng, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước Việt Nam. Một bộ phận các tổ chức xã hội, đặc biệt là các hội, liên hiệp hội, tổng hội có tổ chức mang tính hệ thống cả theo chiều dọc lẫn chiều ngang, với số lượng thành viên đông, có ảnh hưởng nhất định đối với quần chúng. Các tổ chức này trở thành mục tiêu lợi dụng của các thế lực thù địch để tìm cách tác động đến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua các hoạt động “vận động hành lang”, hội thảo, kiến nghị, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, như chế độ sở hữu đất đai, an ninh mạng, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc... Do đó, nếu không có những quy định pháp lý đủ mạnh, thiếu hiệu lực quản lý của các cơ quan chức năng để các hoạt động “vượt rào” thì các tổ chức này rất dễ bị lợi dụng, biến thái và biến tướng thành các lực lượng hỗ trợ tích cực cho thúc đẩy “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, thậm chí chuyển hóa thành tổ chức đối lập về chính trị. Một số vấn đề đặt ra trong đấu tranh với các quan điểm, âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” Một là, cần nhận thức đầy đủ về XHDS và có cách “ứng xử” phù hợp với vấn đề “XHDS”. Phải thẳng thắn bác bỏ và phê phán, đấu tranh kiên quyết với các quan điểm khuyến khích, cổ vũ XHDS với ý đồ thúc đẩy hình thành các tổ chức chính trị đối lập. Hai là, kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách, biện pháp hạn chế đến mức thấp nhất những hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực của XHDS mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam. Ba là, trong điều kiện có sự tồn tại khách quan của một số loại tổ chức có tính chất “XHDS”, cần tham mưu cho Đảng, Nhà nước xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức này, hạn chế những tác động tiêu cực của nó và có các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước, phù hợp với cơ chế vận hành của thể chế chính trị, giữ vững bản chất của chế độ. Bốn là, các lực lượng nòng cốt các cấp căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ cụ thể được giao, vận dụng các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Trong đó, vấn đề cấp bách hiện nay là tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các tổ chức hội và NGO Việt Nam, không để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng tác động, chuyển hóa thành tổ chức XHDS theo tiêu chí phương Tây. Đồng thời phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng khác đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, ngăn chặn hoạt động truyền bá tư tưởng, thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của XHDS theo mô hình, tiêu chí của phương Tây, cổ vũ thành lập các tổ chức chính trị đối lập, các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc của tổ chức “XHDS”; phối hợp tuyên truyền, vận động các nhân sĩ, trí thức, học giả đang sinh hoạt tại các hội, liên hiệp hội, tổng hội nâng cao cảnh giác trước luận điệu của các thế lực thù địch về cái gọi là “hình mẫu lý tưởng” của “XHDS” phương Tây, cũng như tích cực tham gia đấu tranh tư tưởng - lý luận. Đồng thời, vạch rõ những điểm không phù hợp (cả về lý luận và thực tiễn) của “XHDS” theo hình mẫu phương Tây đối với xã hội Việt Nam; vạch rõ mưu đồ chính trị của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thông qua việc lợi dụng vấn đề “XHDS” để tác động, chuyển hóa chế độ chính trị tại Việt Nam. Bên cạnh đó, sử dụng các biện pháp, phương tiện ngăn chặn, vô hiệu hóa các con đường, cách thức truyền bá vấn đề “XHDS” theo hình mẫu phương Tây vào Việt Nam, đặc biệt là thông qua các phương tiện truyền thông xã hội, hợp tác, trao đổi về văn hóa, khoa học, giáo dục - đào tạo... Đấu tranh, ngăn chặn, xử lý kịp thời hoạt động của các thế lực thù địch bên ngoài câu kết, hậu thuẫn cho số đối tượng chống đối trong nước thành lập các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc XHDS./.

Giá trị và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng 30/4/1975

 

          Vào lúc 11h30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc dinh Độc Lập - sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn, đánh dấu thời khắc lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, kết thúc 30 năm trường kỳ gian khổ đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. 

          Chiến thắng 30/4/1975 mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc, khẳng định tầm vóc vĩ đại, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của cả dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

          Đối với thế giới, đó là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ, động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để lại cho dân tộc ta nhiều bài học vô giá, có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau. Thắng lợi đó là thành quả của nhiều nhân tố, trong đó sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là một nhân tố cơ bản, quan trọng. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo. Chính nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta đã đưa ra được những quyết định sáng suốt và chính xác, trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình thế giới, trong nước, tương quan lực lượng giữa ta và địch để xác định đúng thời cơ lịch sử, hạ quyết tâm chiến lược mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đánh bại hoàn toàn đội quân của chính quyền Sài Gòn, giành thắng lợi triệt để trong thời gian ngắn nhất. Việc đưa ra những quyết định mang tính lịch sử thể hiện tài thao lược, thông minh, sáng tạo tuyệt vời của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh. Đường lối, chủ trương của Đảng tạo bước ngoặt mang tính lịch sử để nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng, giải phóng dân tộc, thống nhất non sông.

          Chiến thắng 30/4/1975 vừa mang ý nghĩa lịch sử, vừa mang tầm thời đại, thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ, ý chí “dòng máu Lạc Hồng”, không bao giờ khuất phục trước kẻ thù xâm lược. Đồng thời, khẳng định một chân lý: Trong thời đại ngày nay, khi các lực lượng cách mạng thế giới đang ở thế tiến công, một dân tộc đất không rộng, người không đông, song đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh kiên quyết dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mác - Lênin có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới, thì hoàn toàn có thể đánh bại mọi thế lực đế quốc xâm lược, dù đó là tên đế quốc đầu sỏ.

          Chiến tranh đã lùi xa nhưng mỗi người mang trong mình “dòng máu Lạc Hồng” cần mãi ghi nhớ rằng: Hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới, nhân dân Việt Nam luôn thiết tha với hòa bình, khát vọng tự do và hạnh phúc, không bao giờ muốn chiến tranh. Vì thế, ai đó xuyên tạc lịch sử, phủ nhận ý nghĩa, tầm vóc ngày chiến thắng 30/4/1975 thì đó là những hành vi phản bội, có tội với đất nước, chà đạp lên tương lai dân tộc, nhất quyết phải bị trừng trị thích đáng. Dù khép lại quá khứ nhưng không được quên quá khứ, càng không thể phủ nhận lịch sử. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam cần hết sức tỉnh táo sàng lọc thông tin, không phát tán, bình luận, chia sẻ những thông tin lịch sử không có kiểm chứng. Mặt khác, cần đẩy mạnh tuyên truyền tới mọi người dân và cộng đồng những thủ đoạn, âm mưu của kẻ địch để mọi người cảnh giác.

          Hiện nay, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi, song cũng còn không ít khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động: Biển Đông luôn tiềm ẩn những diễn biến phức tạp, nguy cơ mất ổn định; các nước lớn tiếp tục gia tăng can dự, cạnh tranh ảnh hưởng, với mức độ, quy mô khác nhau ở khu vực; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố vẫn diễn ra, gây mất ổn định ở khu vực và trên thế giới. Các thách thức an ninh phi truyền thống, như: An ninh mạng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, ô nhiễm và suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, buôn lậu ma túy, di cư bất hợp pháp, tội phạm xuyên quốc gia,… đang là những thách thức của các quốc gia trên thế giới.

          Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là vận dụng hiệu quả bài học kinh nghiệm của Chiến thắng 30/4/1975; tận dụng, tranh thủ thời cơ, xây dựng, phát triển đất nước. Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả đường lối đổi mới của Đảng: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại…

          Tiến tới kỷ niệm 47 năm ngày 30/4 làm chúng ta sống lại không khí hào hùng của ngày đại thắng với niềm phấn khởi vô song bởi những thành tựu mà đất nước đạt được từ khi thống nhất đến nay. Ngày 30/4/1975 đã thôi thúc, cổ vũ và nhắc nhở chúng ta luôn nêu cao ý thức bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng hình ảnh nước Việt Nam năng động, hội nhập và uy tín trên trường quốc tế.

 

MẠNG XÃ HỘI TIKTOK VÀ NHỮNG NGUY CƠ VỚI HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ

 

Bước vào kỷ nguyên cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, internet đã và đang ngày càng thể hiện tính ưu việt trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia. Kéo theo đó là sự phát triển của các trang mạng xã hội đã và đang len lỏi vào từng ngõ ngách trong đời sống tinh thần của con người. Ở Việt Nam không khó để kể ra những trang mạng xã hội với số lượng người dùng đông đảo như: Facebook, Zalo, TikTok… và cũng không thể phủ nhận vai trò tích cực mà mạng xã hội mang lại. Tuy nhiên, đối với hoạt động quân sự thì hiện nay việc một số quân nhân tham gia mạng xã hội một cách tùy tiện đã và đang trở thành vấn nạn cần khắc phục triệt để trong thời gian tới.

Trong số các trang mạng xã hội điển hình trên đặc biệt phải kể đến là TikTok. Với đặc điểm dễ sử dụng thông qua điện thoại thông minh việc đăng tải các video, clip ngắn với các hiệu ứng âm thanh, hình ảnh “bắt mắt” đã thu hút đông đảo người dùng ở Việt Nam, trong đó có nhiều quân nhân cũng tham gia vào trào lưu này.

Chỉ cần sử dụng các từ khóa tìm kiếm như: “bộ đội; quân nhân; bộ đội đánh nhau; hình phạt trong quân đội…”, chúng ta sẽ không khó để bắt gặp những clip ngắn miêu tả hoạt động hằng ngày của bộ đội, thậm chí là những clip cắt ghép, xuyên tạc sai sự thật về hoạt động của lực lượng vũ trang, hoạt động huấn luyện, SSCĐ của đơn vị hay những hình ảnh phản cảm của một số quân nhân… được đưa lên trang mạng xã hội này. Hậu quả trước mắt cũng như lâu dài của vấn nạn đó sẽ khó có thể đong đếm hết nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quá trình quản lý, huấn luyện bộ đội.

Trong thực tế thời gian qua, không khó để tìm ra những bài học của các quân nhân sử dụng mạng xã hội dẫn đến ảnh hưởng đến hoạt động huấn luyện, chiến đấu của quân đội ở các quốc gia trên thế giới. Gần đây nhất là xung đột quân sự Nga - Ukraine, rất nhiều mục tiêu quân sự của Ukraine đã bị đối phương phát hiện, tiêu diệt do binh sĩ sử dụng mạng xã hội để “check in” địa điểm.

Đời sống văn hóa tinh thần của xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu hưởng thụ các sản phẩm văn hóa hiện đại là chính đáng của mỗi con người. Tuy nhiên, đối với hoạt động quân sự, để điều đó được thực hiện một cách đúng nhất và hiệu quả nhất cần phải tiến hành tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau song thiết nghĩ yếu tố quan trọng hàng đầu là mỗi quân nhân cần phải ý thức rõ ràng trước mỗi hành vi của bản thân khi tham gia mạng xã hội để vừa giải quyết nhu cầu của bản thân và phù hợp với hoạt động quân sự./. (TQS).

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CON RẬN PHẠM NHẬT BÌNH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

Mới đây trên trang mạng phản động Việt Tân có bài viết “CSVN lại nhắc đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”; với cách lập luận thiếu căn cứ, tự biện, không có cơ sở khoa học và đầy tính mâu thuẫn Phạm Nhật Bình cho rằng: “xây dựng nhà nước pháp quyền là mục tiêu của hầu hết các quốc gia kém phát triển”, “xây dựng nhà nước pháp quyền còn được gắn cái đuôi xã hội chủ nghĩa cho khác với mọi người”, “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa một hình thức không hề tồn tại trên thực tế mà chỉ là ảo tưởng”, hay như: “đẩy mạnh nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không khác nào đem pháp luật vùi xuống bùn nhơ” và “Việt Nam đang cai trị bằng luật rừng hay luật Đảng”…  Phải khẳng định rằng, đây là những luận điểm hết sức sai trái, phản động, xuyên tạc sự thật, phản ánh không đúng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; sâu xa hơn là chúng muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước.

Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền với tính cách là những giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ. Do vậy nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước. Trong ý nghĩa này nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Ý tưởng về một chế độ pháp quyền đã xuất hiện từ xa xưa, thậm chí từ thời cổ đại bởi các nhà tư tưởng phương Tây, hay tư tưởng pháp trị tại Trung Hoa cổ đại, nhưng đến khi nhà nước tư sản ra đời, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản, nhà nước pháp quyền mới từ nhà nước ý tưởng dần trở nên một nhà nước hiện thực. Vì vậy, nhà nước pháp quyền không những có thể xây dựng tại các quốc gia tư bản mà vẫn có thể xây dựng tại các quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền với tính chất là một cách thức tổ chức và vận hành của một chế độ nhà nước và xã hội không những xây dựng trong điều kiện chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Như vậy trong nhận thức lý luận và trong thực tiễn tồn tại nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này thể hiện tính phổ biến trong xây dựng nhà nước pháp quyền.

Nhà nước pháp quyền là một phạm trù vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù. Nhà nước pháp quyền vừa là một giá trị chung của nhân loại, vừa là một giá trị riêng của mỗi một dân tộc, quốc gia. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi hàng loạt yếu tố, các điều kiện như về lịch sử, truyền thống – văn hoá, tâm lý xã hội của mỗi một dân tộc, các chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá và môi trường địa lý. Các yếu tố này không chỉ tạo ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi một dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển của mình mà còn quyết định mức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền. Vì vậy, không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một mô hình cho mọi quốc gia, dân tộc. Mỗi một quốc gia, dân tộc, tuỳ thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quán triệt tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật – phương tiện quan trọng trong quản lý nhà nước. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân; tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp; quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội. Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước; là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Như vậy, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mà chúng ta đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện có đầy đủ cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn, là sự vận dụng sáng tạo, hợp lý tri thức về nhà nước pháp quyền của thế giới vào thực tiễn Việt Nam, vừa mang đầy đủ những giá trị phổ quát, chuẩn mực của một nhà nước pháp quyền, vừa mang những nét đặc thù chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam. Do đó, mỗi người dân cần nhận rõ bản chất sự việc, tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin, nêu cao tinh thần cảnh giác tránh bị kích động bởi những thông tin không đúng của các thế lực thù định./. BN

Saithanh Bedu

CÁI GIÁ THÍCH ĐÁNG CHO KẺ ẢO VỌNG ÂM MƯU CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC ĐỂ ĐƯỢC BẢO TRỢ “XUẤT NGOẠI”

 

          Trước đó, ngày 07/10/2021, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam và Lệnh khám xét chỗ ở đối với Đinh Văn Hải (sinh năm 1974, nơi đăng ký HKTT: thôn Ninh Hoà, xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán và tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ Luật hình sự năm 2015. Với bản chất hám tiền, ảo tưởng danh vọng, Hải tự biến mình thành con rối để đám “dân chủ cuội” giật dây, trở thành kẻ có tội với đất nước, có lỗi với dân tộc Việt Nam.

          Ngày còn làm “con buôn chính trị”, với trình độ “ngáo” thượng thừa cộng thêm sự “bơm đểu” từ đám “rận chủ”, Hải ra sức lu loa “lấy số”, gây tiếng vang, đánh bóng tên tuổi của mình, lại còn tin tưởng rằng nếu có sa cơ lỡ vận thì sẽ được “hội anh em dân chủ” ở tầm quốc tế quan tâm, chăm lo dữ dội lắm. Thậm chí, y còn ủ mộng được bảo trợ sang xứ cờ hoa để sống cuộc sống tự do nơi “miền đất hứa” như Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh... Ai ngờ đâu khi hết giá trị lợi dụng, Hải liền bị đá vào góc xó xỉnh nào đó, chẳng có ma nào thèm ngó ngàng quan tâm. Thế là giấc mộng đổi đời mong ngóng được “anh em” rận chủ bảo trợ, đưa rước sang xứ cờ hoa của Hải nay tan vỡ.

          Lúc hám tiền thì y nghe bọn rận chủ chửi bới chế độ, Nhà nước Việt Nam xấu xa đủ kiểu, bị tiêm nhiễm rằng khi gặp cơ quan Công an sẽ bị đánh đập, đối xử vô nhân đạo. Thế nhưng, khi rơi vào vòng lao lý, Đinh Văn Hải mới thấu tỏ sự thật, tiền thì không có mà “bạn” lại càng không, những lời “bạn bè” xúi bậy toàn là giả dối. Sự thật là vốn chỉ có những bữa cơm, chế độ ăn uống, sinh hoạt đầy đủ do cán bộ trại giam cung cấp cho y; thậm chí, y còn được tạo điều kiện, có chế độ sinh hoạt dành cho người khuyết tật. Thành phần dân chủ dỏm tung hê trên mạng hay lắm, nhưng ngày Hải ra tòa xét xử thì không có kẻ nào xuất hiện; một mình cô độc đến mức Hải đành phải xin trợ giúp pháp lý theo quy định pháp luật Việt Nam.

          Đứng trước vành móng ngựa, Hải lại “ngây thơ” trình bày rằng bản thân vô tình vi phạm pháp luật, đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình. Ngày xưa lấy cớ khuyết tật để kêu khóc số rận chủ thương xót, rồi lu loa, xuyên tạc Việt Nam đàn áp người khuyết tật mà hôm nay lại lật mặt, kiếm cớ nương tựa vào hoàn cảnh khuyết tật để xin giảm nhẹ án, mong sớm trở về cuộc sống bình thường. Thật là tráo trở!

          Từ thời gian trước cho đến tận hôm nay, trong cuộc sống, các cấp chính quyền và lực lượng chức năng địa phương luôn dành cho Hải sự quan tâm với đầy đủ những chế độ, chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước dành cho người khuyết tật; gia đình vốn có truyền thống cách mạng nay lại xuất hiện “đứa con lạc loài”. Ngay khi phát hiện những hành vi lệch lạc của Đinh Văn Hải, chính quyền địa phương và lực lượng chức năng đã nhiều lần phối hợp với gia đình, tổ chức các buổi nói chuyện, phân tích, chỉ rõ hành vi sai trái để khuyên răn Hải “cải tà quy chính”. Thế nhưng, Hải vẫn nghênh ngáo cố tình vi phạm. Tương xứng với “bảng vàng thành tích” chống phá đất nước, hôm nay, ngày 26/4/2022, Đinh Văn Hải đã nhận được kết cục thích đáng với bản án 05 năm tù giam và 03 năm quản chế.

          Một lần nữa chúng ta lại càng thấy bản chất bỉ ổi của đám dân chủ dỏm. Số tổ thức khủng bố, phản động như “Việt Tân”, “BBC Tiếng Việt”, “VOA Tiếng Việt”, “RFA”, “RFI”... dù có cố tình gây ồn ào, xuyên tạc Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền” thì người khác cũng thừa hiểu bọn chúng vốn là lũ kền kền chuyên ăn xác thối, lợi dụng vụ án hòng chống phá đất nước Việt Nam. Đinh Văn Hải là công dân Việt Nam, vi phạm pháp luật Việt Nam. Không chỉ ở Việt Nam mà ở mọi quốc gia trên thế giới, không cho phép bất cứ công dân nào đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật, người nào vi phạm pháp luật phải bị xử lý theo quy định. Bất cứ kẻ nào có ý đồ xuyên tạc, phá hoại đất nước, dân tộc Việt Nam như Đinh Văn Hải sẽ phải trả giá thích đáng!

MỘT KỊCH BẢN GIẢ DỐI

 

Sự tàn bạo, độc ác của Ngô Đình Diệm thì sử sách Đông - Tây mãi mãi ghi. Ông ta lê máy chém khắp miền Nam để giết hại đồng bào trong chủ trương "tố cộng, diệt cộng", giết nhầm hơn bỏ sót, với việc làm ác ôn đó thì hắn ta đã ngồi cùng hàng với Hít Le của Đức, Hideki Tojo của Nhật, Mussolini của Ý và Pôn Pốt của Campuchia...

Diệm theo Mỹ nhưng bị Mỹ bật đèn xanh cho cấp dưới Ngô Đình Diệm sát hại cả dòng họ y. Chính ngụy Sài Gòn đã khai tử tên đầu sỏ của ngụy Sài Gòn. Thế nhưng bây giờ chính đám 3/ que xỏ lá lại tung hô và ca ngợi hắn. Đúng là vở hài kịch xuyên thế kỷ.

Dưới âm tào địa phủ, Ngô Đình Diệm chắc cũng muốn đội mồ sống dậy để kêu rằng: THẾ AI ĐÃ SÁT HẠI ANH EM TA?