Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

KẾT LUẬN CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ CHIẾN LƯỢC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG ĐẾN NĂM 2030


Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 34-KL/TW ngày 18-4-2022 về Chiến lược kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030, trân trọng giới thiệu toàn văn kết luận:
Qua hơn 10 năm thực hiện Kết luận số 72-KL/TW, ngày 17-5-2010 của Bộ Chính trị khóa X về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020 (gọi tắt là Chiến lược), nhận thức của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát được nâng lên; hệ thống văn bản của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát cơ bản được ban hành đồng bộ, thống nhất; nội dung, đối tượng kiểm tra, giám sát được thực hiện toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm.
Ủy ban kiểm tra các cấp được kiện toàn về tổ chức, cán bộ, bổ sung nhiệm vụ, thẩm quyền; tích cực, chủ động tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật. Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát được nâng lên, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.
Tuy nhiên, việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chiến lược ở một số nơi chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt; có nhiệm vụ, giải pháp chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa toàn diện, đồng bộ, hiệu quả thấp. Một số ban cán sự đảng, đảng đoàn, ban tham mưu của cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở chưa thực sự quan tâm lãnh đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát; tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập chưa coi trọng đúng mức công tác kiểm tra, giám sát, chất lượng còn nhiều hạn chế. Chưa xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật từ Trung ương tới địa phương.
Những năm tới đây, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đất nước đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Bốn nguy cơ đối với Đảng, chế độ mà Đảng ta đã chỉ ra có mặt còn gay gắt hơn. Tình trạng tham nhũng, vi phạm pháp luật, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ còn diễn biến phức tạp. Đáng chú ý là có sự cấu kết, bao che, tiếp tay của một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, rất tinh vi, phức tạp, nghiêm trọng, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành...
Nhằm không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, tích cực góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đồng thời với việc tiếp tục thực hiện Kết luận số 72-KL/TW, ngày 17-5-2010 của Bộ Chính trị khóa X, Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030, cần tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:
I- Mục tiêu
- Tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết, thống nhất và giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn, kiên quyết xử lý suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị.
- Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; bổ sung, hoàn thiện phương pháp, nội dung công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong tình hình mới.
- Đánh giá đúng ưu điểm của tổ chức đảng và đảng viên để phát huy, nhân rộng, kịp thời phát hiện thiếu sót, khuyết điểm để uốn nắn, khắc phục và xử lý nghiêm khi có vi phạm.
II- Nhiệm vụ
1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đối với công tác kiểm tra, giám sát
- Cấp ủy các cấp ban hành đầy đủ, kịp thời các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế... về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật; đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng những nhân tố mới, cách làm hay, điển hình tốt, phát huy sự năng động, sáng tạo của tổ chức đảng, đảng viên trong công tác kiểm tra, giám sát.
- Cấp ủy các cấp ban hành quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm toán, viện kiểm sát, tòa án nhân dân cùng cấp; chỉ đạo phối hợp chặt chẽ, không để chồng chéo trong tổ chức thực hiện.
- Cấp ủy, nhất là người đứng đầu thường xuyên làm việc với ủy ban kiểm tra để nắm tình hình, kết quả thực hiện, kịp thời chỉ đạo, định hướng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra.
2. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát
- Thực hiện kiểm tra, giám sát theo phương châm giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng; các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; kê khai tài sản, thu nhập... Tăng cường kiểm tra, giám sát trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật, kịp thời ngăn chặn vi phạm trong ban hành văn bản pháp luật, lồng ghép "lợi ích nhóm", lợi ích cục bộ. Mở rộng giám sát trên tất cả các địa bàn, lĩnh vực; chú trọng vào những nơi nội bộ có biểu hiện mất đoàn kết, dư luận xã hội quan tâm; nâng cao tính chủ động để kịp thời nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm, từ xa.
- Chủ động kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, tập trung vào những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, nhất là kiểm tra dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội. Xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời, triệt để, đồng bộ các tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm.
- Cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, cấp ủy viên và cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý phải thường xuyên tự kiểm tra, kịp thời phát hiện những hạn chế, khuyết điểm để chủ động khắc phục, chấn chỉnh không để dẫn đến vi phạm. Kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên không đủ năng lực, uy tín; việc miễn nhiệm, từ chức, trách nhiệm người đứng đầu khi cấp có thẩm quyền kết luận đã để xảy ra tham nhũng, tiêu cực ở cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách.
- Ủy ban kiểm tra cấp trên thường xuyên, kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra cấp dưới trong công tác kiểm tra, giám sát, nhất là trong xử lý các vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, dễ xảy ra vi phạm, các vụ việc về tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "lợi ích nhóm"; kịp thời xử lý kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ngay tại cơ sở, chi bộ.
3. Chủ động dự báo, kịp thời ban hành các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật
- Đầu tư nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; chủ động dự báo sớm, cung cấp cơ sở khoa học để kịp thời tham mưu cho Đảng về các chủ trương, đường lối, giải pháp có tính chiến lược trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
- Chủ động nghiên cứu, tham mưu, ban hành các văn bản của Đảng bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, đồng thời tăng cường trách nhiệm, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Kịp thời thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để tạo sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức; hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, khuyết điểm; phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực.
- Tập trung xây dựng, hoàn thiện các quy định về cơ chế phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên; cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, việc thực thi quyền lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý; quy định các hành vi vi phạm, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế về kiểm soát tài sản, thu nhập, quyền lực trong công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán...
- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học-công nghệ trong hoạt động của ngành kiểm tra. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật từ Trung ương đến cơ sở phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, dự báo, tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật.
4. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra công minh, liêm chính; tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp đồng bộ, tinh gọn
- Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phân định rõ tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ của cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp; quy định cụ thể cơ cấu, số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra kiêm nhiệm ở các cấp.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra liêm khiết, công minh, chính trực, có bản lĩnh, dũng khí đấu tranh, gương mẫu, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, tận tụy, trách nhiệm. Ban hành tiêu chí, tiêu chuẩn, khung năng lực cán bộ làm công tác kiểm tra theo hướng chuyên nghiệp. Thực hiện luân chuyển cán bộ kiểm tra các cấp để đào tạo, rèn luyện cán bộ. Tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp.
- Xây dựng giáo trình, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật cho cấp ủy viên, cán bộ kiểm tra các cấp. Thường xuyên cập nhật kiến thức, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cấp ủy viên, ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp.
- Nghiên cứu để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định thí điểm cơ chế đại hội đảng bộ bầu ủy ban kiểm tra; ủy ban kiểm tra cấp trên lựa chọn, giới thiệu, chuẩn y... thành viên ủy ban kiểm tra cấp dưới.
III- Tổ chức thực hiện
1. Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện kết luận này.
2. Giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương xây dựng kế hoạch thực hiện; phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện kết luận này, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư./.
VuBao3

GIÁ TRỊ CỦA LỊCH SỬ


"Giá trị lịch sử" là là nguồn gốc hình thành nền văn hóa, là cội nguồn của con người, là những truyền thống quý báu mà ông cha ta đúc kết để lại và được kế thừa phát huy qua từng đời.
Giá trị lịch sử làm nên giá trị dân tộc bởi mỗi quốc gia có một quá trình dựng nước và giữ nước khác nhau.
Giá trị lịch sử của Tổ quốc Việt Nam đã được lớp lớp các thế hệ đi trước đánh đổi bằng máu xương để xây đắp. Do vậy, gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử vừa là trách nhiệm, cũng vừa là niềm tự hào không gì có thể so sánh được của mỗi con người Việt Nam. Gìn giữ “giá trị lịch sử” cũng như gìn giữ “hồn cốt dân tộc”.
Có nhiều bạn hiểu về cơ khí, nhưng cũng k biết được tác dụng của bộ phận gắn ở dưới chân của chiếc máy băy trực thăng ở trong hình. Nhưng 100% những ai tìm hiểu về lịch sử, nắm được lịch sử dân tộc thì sẽ biết được bộ phận ấy dùng để làm gì./.
VuBao2

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG TIẾP ĐẠI SỨ HOA KỲ TẠI VIỆT NAM

 

Chiều 25/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Đại sứ Hoa Kỳ Marc E. Knapper đến chào xã giao nhân dịp bắt đầu nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.
Đại sứ Marc E. Knapper trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dành thời gian tiếp, bày tỏ vui mừng và vinh dự được trở lại công tác ở Việt Nam trên cương vị là Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Đại sứ Marc E. Knapper bày tỏ ấn tượng sâu sắc về những thành tựu phát triển, vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam, những phát triển của quan hệ hai nước trên nhiều lĩnh vực trong thời gian qua. Hai nước còn nhiều tiềm năng phát triển hơn nữa trong thời gian tới, trong đó có những lĩnh vực mới như ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu và dịch bệnh. Đại sứ Marc E. Knapper khẳng định Hoa Kỳ ủng hộ một nước Việt Nam mạnh, độc lập, thịnh vượng và thúc đẩy quan hệ hai nước dựa trên cơ sở tôn trọng các thể chế chính trị của nhau. Đại sứ sẽ nỗ lực để góp phần vào sự phát triển của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
chúc mừng
Đại sứ Marc E. Knapper nhận nhiệm vụ quan trọng mới ở Việt Nam, trao đổi Việt Nam chưa bao giờ có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay, trước hết là nhờ vào đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh sự phát triển tích cực của quan hệ hai nước trong thời gian qua trên tinh thần “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai”; khẳng định Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, trong đó tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích của hai nước, vì hòa bình, hữu nghị và hợp tác ở khu vực và trên thế giới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Đại sứ Marc E. Knapper tiếp tục đóng góp tích cực vào sự phát triển quan hệ hai nước và nhiều thành công trong nhiệm kỳ công tác ở Việt Nam./.
VuBao1

NGƯỜI ĐỌC BẢN TIN CHIẾN THẮNG NGÀY 30/4/1975 TRÊN SÓNG ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM!

     15 phút sau khi xe tăng của Quân đội Nhân dân Việt Nam húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập và Dương Văn Minh chính thức đầu hàng…bản tin chiến thắng Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong ngày 30/4/1975 đã được Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Kim Cúc đọc lên trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam.    

May mắn được lịch sử lựa chọn

“Mời các bạn nghe tin chiến thắng chúng tôi mới nhận được. Đúng 11 giờ 30 phút, quân ta tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm Dinh Độc Lập. Bộ Tổng tham mưu ngụy - Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng”- đây là bản tin chiến thắng ngắn gọn, chỉ chiếm gần 1 phút trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam cách đây 46 năm. Gần 1 phút đọc bản tin trong hàng nghìn phút của nghề phát thanh viên, nhưng với NSƯT Kim Cúc, đó là 1 phút lịch sử của cuộc đời bà.

Giọng bà vẫn rung lên khi đọc lại từng chữ của ban tin chiến thắng ngày ấy và cho đến hôm nay, bà chia sẻ rằng chưa từng quên cảm xúc trong ngày 30/4/1975. NSƯT Kim Cúc kể:

 “Hôm ấy, vào đúng ca trực nhận tin của phóng viên Anh Trang. Cô Trang nhận được tin từ Bộ Tổng tham mưu báo có tin chiến thắng, đề nghị sang nhận ngay, lại được nhắc nhở tin đặc biệt quan trọng. Bình thường các phóng viên sẽ đạp xe sang Lý Nam Đế nhận tin nhưng hôm ấy cô Trang được điều động ô tô.

Vừa đến đầu đường Lý Nam Đế không hiểu vì lý do gì, xe phanh gấp, cô Trang bị đập đầu vào xe, chảy máu đầu. Dù đau nhưng cô Trang vẫn nén đau, ôm đầu chạy đến Bộ Tổng tham mưu nhận tin. Khi về, một tay cô cầm tờ tin chiến thắng, một tay ôm đầu, chạy đến gần cầu thang của Đài Tiếng nói Việt Nam thì cô gục xuống ngất xỉu vì máu chảy nhiều quá”.

Nhận bản tin từ tay phóng viên Anh Trang, phát thanh viên Kim Cúc khi ấy xuống ngay hầm phát trực tiếp, đọc thẳng tin chiến thắng.

 Bà cho biết, đến tận khi cầm tờ bản tin trên tay bà mới biết đó là tin giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. “Lúc đó tôi run người vì hạnh phúc và vui sướng. Nhưng để truyền tin đến hàng triệu đồng bào, tôi phải kìm nén cảm xúc”- NSƯT Kim Cúc kể.

Hôm ấy, cùng ca trực với bà còn có phát thanh viên Kim Túy, người miền Nam. Hai người cùng hồi hộp khi ngồi xuống chiếc ghế đọc, phát trực tiếp lên sóng phát thanh, trước mặt là dòng chữ “hàng triệu người đang nghe ta” thì chỉ biết động viên nhau kìm nén cảm xúc. 

“Khi đó, hai chị em ngồi cạnh nhau, nắm tay nhau để cùng giữ bình tĩnh và cũng là cách để nhắc nhở nhau, mọi cảm xúc, tình cảm đều phải kìm nén để cảm xúc không được dâng lên, có thể ảnh hưởng đến dây thanh đới, tin chiến thắng sẽ không được đọc trọn vẹn. Và điều quan trọng nhất, phải đọc để truyền tải được sự hào hùng của chiến thắng, sự hào sảng và tâm thế của người chiến thắng”- NSƯT Kim Cúc bồi hồi.

“Chị Kim Túy đứng trước micro, bắt đầu cất giọng đọc. Giọng chị thật truyền cảm. Vừa đọc, chị vừa nắm chặt tay tôi không rời. Chưa bao giờ tôi thấy chị đọc truyền cảm đến thế, điều đó xóa tan nỗi lo âu của tôi là chị đang xúc động nên có thể đọc không rõ lời. Khi vừa dứt bản tin, chị chuyển ngay sang để tôi đọc lần thứ hai. Khi đó tôi cũng phải nắm tay chị Túy để giữ bình tĩnh khi đọc”- NSƯT nhớ lại.
NSƯT Kim Cúc chia sẻ: “được đọc tin chiến thắng 30/4/1975 với bà là một may mắn của đời làm nghề phát thanh viên. Lịch sử đã chọn thời điểm ấy 

tôi trực và đọc tin, đó không phải là vinh dự mà tôi tự tạo được cho mình mà là vinh dự được lịch sử lựa chọn”.

Ngay sau khi bản tin chiến thắng phát trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, người dân Hà Nội đã đổ ra đường reo hò, phất cờ, mừng chiến thắng. “Tin chiến thắng được người Hà Nội nghe qua loa lắp đặt trong nhà (thường để nghe báo động máy bay), ngay khi bản tin phát xong, tôi đã thấy bên kia đường mọi người hoan hô, vỗ tay, và hét vang: Chiến thắng rồi! Đại sứ quán Cu-Ba ở ngay gần phòng thu của Đài, họ cũng đổ ra đường nhảy múa, cầm xoong cầm nồi khua tứ tung, và họ cũng hô vang “Viva Việt Nam! Viva Việt Nam (Việt Nam muôn năm)”. 

Rồi suốt những ngày sau đó, cả Hà Nội không ngủ, cả Hà Nội vui như hội. Ai nấy đều mặc quần áo đẹp, đi ra đường, ra Bờ Hồ để ăn mừng chiến thắng… Cả đất nước hân hoan, rộn ràng mừng lịch sử dân tộc sang trang mới”- NSƯT Kim Cúc kể lại.

Vẫn truyền lửa qua giọng đọc

Không chỉ là “người được lịch sử lựa chọn” để đọc bản tin chiến thắng trong ngày giải phóng 30/4/1975, mà trước đó, trong suốt những ngày tháng cao điểm của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các bản tin chiến thắng được phát đi liên tục qua giọng đọc của bà đã trở thành những ký ức không thể nào quên.

Bà kể, mỗi khi có tin bắn rơi máy bay hoặc bắt được một tên địch, Bộ Tổng tham mưu lại thông báo cho các phóng viên đến nhận tin, chuyển đến đài và đọc luôn. Những bản tin ngắn “Xin mời các bạn nghe tin chiến thắng chúng tôi vừa mới nhận được…” được phát liên tục vào mỗi đầu giờ.

Mỗi bản tin được phát đi tuy chỉ chưa đầy 30 giây, nhưng chứa đựng trong đó là biết bao mong mỏi của hàng triệu con tim Việt Nam đang cùng một ý chí hướng về miền Nam ruột thịt. Và rồi sứ mệnh lịch sử đã chọn bà, đó không chỉ là niềm hạnh phúc, tự hào mà với bà cũng như hàng triệu trái tim được nghe tin chiến thắng qua giọng đọc của bà thời điểm đó và bây giờ cũng sẽ mãi không thể nào quên…

NSƯT Kim Cúc chia sẻ, bà đã đọc rất nhiều bản tin. Ngoài bản tin chiến thắng lịch sử đến bây giờ vẫn như mới xảy ra ngày hôm qua, bà cũng rất ấn tượng với những bản tin đọc cho ngụy quyền Sài Gòn.

 Để có thể đọc chạm đến tâm can, tình cảm của “những người bên kia”, bà đã phải nhiều lần tiếp xúc với tù nhân Mỹ để tìm hiểu và để hiểu họ hơn. Bởi mục đích tối thượng là truyền tải thông tin và cảm xúc vào những bản tin của mình, để những bản tin ấy “bắn thẳng vào trái tim” những người lính bên kia. Bà còn nhớ hình ảnh những người lính cầm dao còn lúng túng, chứng tỏ họ là những công tử được chiều chuộng nhưng vì số phận, họ buộc phải cầm súng…

Chính từ những quan sát và suy nghĩ này, mỗi khi đọc bản tin cho ngụy quyền, từng lời bà vang lên như thủ thỉ, tâm tình, khuyên nhủ…

 Nhiều “người lính bên kia” đã từng nói với bà rằng, mỗi khi nghe những gì bà đọc qua đài tiếng nói, họ đều muốn buông súng quay về.

 Sau giải phóng miền Nam, thính giả của Đài Tiếng nói Việt Nam trên cả nước hẳn không thể quên được giọng đọc truyện đêm khuya của NSƯT Kim Cúc vào 22 giờ đêm. “Sau đây mời thính giả nghe chương trình Đọc truyện đêm khuya của Đài Tiếng nói Việt Nam”. Câu nói ấy đã trở thành một phần ký ức của thế hệ 7x trở về trước.

Bây giờ, ở thất thập cổ lai hy, nhưng NSƯT Kim Cúc vẫn bận rộn với nghề phát thanh viên. Không chỉ giảng dạy thêm tại trường Đại học sân khấu Điện ảnh, bà cũng đi lại liên tiếp giữa hai miền Nam, Bắc để hướng dẫn, đào tạo nghề phát thanh. Bà chia sẻ, năng lượng để luôn có thể sáng tạo, hứng khởi mỗi ngày là niềm tin, niềm vui với cuộc sống, với nghề mình đã lựa chọn./.
Yêu nước ST.

PHẢN BIỆN CỦA PGS, TS NGUYỄN ĐỨC BÁCH VỀ CÁCH HIỂU “RẬP KHUÔN” CHỦ TRƯƠNG VỀ “ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO” Ở NƯỚC TA ĐỐI VỚI NGÀNH GIÁO DỤC!

     Bộ Giáo dục và Đào tạo xin hãy tiếp thu!
“Chủ trương về “Đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và đào tạo” ở nước ta, nếu được hiểu một cách “rập khuôn” theo đúng nội hàm các khái niệm như: “CĂN BẢN” là “TẬN GỐC và BẢN CHẤT”; “TOÀN DIỆN” là “MỌI NỘI DUNG, MỌI HÌNH THỨC, MỌI PHƯƠNG PHÁP, MỌI ĐỐI TƯỢNG, MỌI CẤP…” (nghĩa là đổi mới không trừ một vấn đề gì…)… thì đương nhiên sẽ có nhiều SAI LỆCH, hậu quả xấu khôn lường! Nhất là khi mỗi cấp, mỗi địa phương, thậm chí… “mỗi trường phát huy TỰ CHỦ”, (nhất là về tài chính, phương thức dạy và học…)”… thì lại càng đáng lo ngại hơn !

Hiện nay, ở nước ta không ít người, trong đó có tôi (dù tôi đã giảng dạy cấp 3, đại học, sau đại học liên tục, đến nay đã 52 năm, chưa đóng góp gì nhiều cho sự nghiệp này hiện nay)… đang LO NGẠI về Ngành Giáo dục của ta ngày càng xa rời BẢN CHẤT, MỤC ĐÍCH, CHỦ THỂ CỦA NỀN GIÁO DỤC XHCN. Rất cần suy ngẫm-chấn chỉnh mấy biểu hiện sau đây: 

1) Lạm dụng “xã hội hoá” thành “Tư nhân hoá”- biến lĩnh vực gọi là CAO QUÝ, “phi lợi nhuận”… thành “Thị trường hàng hoá đặc biệt”: có tiền mới MUA ĐƯỢC GIÁO DỤC THEO GIÁ LUÔN TĂNG MÀ CÁC TRƯỜNG ĐƯA RA. Thu học phí ở MỌI CẤP ngày càng tăng-gánh nặng ngày càng lớn cho đa số gia đình. Chỉ nêu 1 ví dụ “nóng hổi” hôm qua (19/4/2017): báo chí vừa nêu, Đại học Luật TP HCM, (trớ trêu thay là nó lại ở ngay đường mang tên bác Hồ: Nguyễn Tất Thành - Người có Triết lý GDVN rất gọn, sâu sắc và đậm tính cách mạng XHCN rằng: “…ai cũng có cơm ăn, áo mặc, AI CŨNG ĐƯỢC HỌC HÀNH !…), năm 2017 sẽ TĂNG HỌC PHÍ LÊN 16 triệu đồng/năm… Đến năm 2020 sẽ 18 triệu đồng/năm! Trong khi nhiều nước TBCN đã MIỄN HỌC PHÍ HOÀN TOÀN CHO ĐẠI HỌC và nhiều loại trường khác, như : Na Uy, Áo, Phần Lan, Đức, Thuỵ Điển, Mỹ… Họ KHÔNG “Định hướng XHCN” mà lại như vậy, còn ta có ĐHXHCN sao lại như thế ???.

2) Lạm dụng “đi Tây” nghiên cứu, rất tốn kém ngân sách, nhưng nhiều điều chưa hiểu đúng mà đã…BẮT CHƯỚC áp đặt chắp vá, gây mất ổn định và thất bại quá nhiều… cũng làm khổ bao nhà và sự phát triển XH ta theo mục tiêu XHCN!.

3) Ngày càng chỉ chú ý “KH&CN, Kinh tế-kỹ thuật hiện đại thuần tuý”…, thêm ngày càng nhiều “Môn HOT mới” mà CẮT DẦN GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM (nhất là các môn có liên quan đến Mác-Lênin, Hồ Chí Minh…đang bị chỉ đạo “teo dần” đi); giảm cả giáo dục đạo đức cách mạng , lối sống…theo chế độ XHCN…; giáo viên, học sinh ngày càng “ghét chính trị-vô chính trị”…do vậy mà thành “món mồi” cho “Diến biến hoà bình” của CN đế quốc !...
Phải BỪNG TỈNH ngay, đó là: CHỈNH ĐỐN NGÀNH GIÁO DỤC VỀ CHÍNH TRỊ-TƯ TƯỞNG-ĐẠO ĐỨC-LỐI SỐNG (trước hết từ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN, CÔNG CHỨC, GIÁO VIÊN TRONG NGÀNH GIÁO DỤC CỦA TA…) để từ đó lan toả ra toàn ngành này; (Y tế, văn hoá…cũng như vậy!). Đây là các Ngành RÕ NHẤT TRÊN THỰC TIỄN VỀ BẢN CHẤT-MỤC TIÊU của CHẾ ĐỘ TA, của ĐỊNH HƯỚNG XHCN! Nếu không thì việc nêu “Định hướng XHCN” chỉ là khẩu hiệu suông! (xin đừng ai “lý sự” lại rằng: hiện nay ta đang ở “bước quá độ lên CNXH”; hoặc: ngân sách Nhà nước ta đang “khiêm tốn” so với các nước TBCN”!… và nhất là "lý sự" rằng: ta đã “đã xoá cơ chế “bao cấp, xin-cho”… ). Đó là những nhận thức sai lệch và đang bị lạm dụng phổ biến một cách tệ hại ở nước ta!”./.
Yêu nước ST.

BÁC NÓI VỀ QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG

 


          Đối với quân đội cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” như quân đội nhân dân Việt Nam, yếu tố này lại càng có ý nghĩa cao cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Là quân đội của cách mạng rồi, cán bộ, chiến sĩ phải đoàn kết thương yêu đùm bọc nhau, coi như anh em ruột thịt một nhà”. Người còn đặc biệt nhấn mạnh, người lãnh đạo, chỉ huy quân đội phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Thương yêu cán bộ, chiến sĩ chính là ở thái độ thưởng phạt công minh, có thành tích thì khen, có khuyết điểm phải phạt, “chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ”.

          Trong một lần nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 đoàn Tam Đảo, bộ đội phòng không - không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Bác thấy có nơi còn có hiện tượng cán bộ cáu kỉnh với chiến sĩ, như vậy không tốt. Có gì cứ bình tĩnh bảo nhau, bàn với nhau. Càng cáu càng khó nghe”        Hay trong thư gửi Hội nghị quân y, Người chỉ dẫn các thầy thuốc quân đội rằng: “Vì sự kích thích trong chiến trận, vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ, hoặc vì những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như vậy, chúng ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hoá họ”./.

          Vũ Bão 33

BÁC TRONG ĐÁNH GIÁ CỦA BÁO NƯỚC NGOÀI

 


          Như trong bài báo Jai Hồ (tuần báo Ấn Độ Ánh điện, số ra ngày 13-9-1969) viết: “Cá nhân Cụ có một sức hấp dẫn đặc biệt không gì so sánh được, không những đối với nhân dân nước Cụ, mà còn đối với tất cả những ai không mang nặng đầu óc thù hằn hay thành kiến”.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục mọi người bằng đạo đức và phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương vừa có tính nguyên tắc, khoa học vừa mang chở giá trị nhân văn sâu sắc. Hơn bao giờ hết, càng ôn lại những tư tưởng, những lời căn dặn của Người, chắt lọc lại những câu chuyện về Bác, mỗi câu chuyện có những ý nghĩa khác nhau, mỗi cán bộ chiến sĩ thấy được bao nhiêu điều lớn lao để suy nghĩ, để học theo Bác và làm theo Bác, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới./.

                        Vũ Bão 32

TỔNG THỐNG PUTIN VÀ BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN ĐỘI NGA LÀ BẬC THẦY VỀ BINH PHÁP

 


                        Khoảng 16 giờ hôm nay ngày 13/3 theo giờ Hà Nội (12 giờ, theo giờ Ukraine). CNN dẫn thông tin từ Bộ Quốc phòng Anh xác nhận Nga đang đóng nắp "nồi hầm" khổng lồ, vây chặt quân Ukraine ở miền Đông trong khi tập kích ồ ạt nhiều mục tiêu ở miền Tây. Ngay từ đầu cuộc chiến, Putin và Quân đội Nga đã không chọn lối đánh tốc chiến tốc thắng. Thay vào đó họ chọn lối đánh chắc chắn, dựa trên cơ sở nắm bắt rõ tình hình để tiến công, dần dần khép vòng vây. Cách đánh theo kiểu vây, lấn, tấn, triệt, diệt. Lối đánh này đã được Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ.

          Nga chủ động dùng vũ khí có độ chính xác cao để phá hủy các sân bay, cơ sở quân sự và các công sự, trận địa của Quân đội Ukraine, bộ binh được yểm trợ bởi không quân và tăng thiết giáp, pháo binh để làm chủ mục tiêu. Bao vây tứ phía và dần dần đưa Quân đội Ukraine vào cái nồi hầm ở phía Đông và dùng các mũi thọc sâu để đánh bại mọi nỗ lực kháng cự của Ukraine. Quân đội Nga đang khép chặt vòng vây toàn bộ lực lượng vũ trang Ukraine ở miền Đông nước này khi họ tiến công từ hướng Kharkiv ở phía Bắc và Mariupol ở phía Nam". Vừa khép vòng vây, vừa triệt đường tiếp viện, Quân đội Ukraine đối diện với thiếu thốn về quân lương, sẽ bị hầm chín trong cái nồi hầm phía Đông khi Nga đang đóng nắp nồi và tăng thêm củi lửa.

          Trong khí đó Nga dùng hoả lực và vũ khí công nghệ cao để triệt đường cung cấp khí giới, lương thảo từ phía Tây. Hôm nay Quân đội Nga đã tiến hành cuộc tấn công tên lửa vào các cơ sở quân sự rộng lớn của Ukraine ở khu vực Lviv và khu vực phía Tây, chỉ cách biên giới với Ba Lan chưa đầy 25km. Tất cả hầu như bị phá hủy hoàn toàn. Vũ khí Mỹ và NATO tuồn cho Ukraine qua Ba Lan ở phía Tây Ukraine, trong những ngày qua nó đã đến tay Quân đội Ukraine và Nga thừa biết làm cách nào để đối phó. Những ngày tới, khu vực Ukraine tiếp giáp Ba Lan chắc chắn sẽ nhận những đòn chí tử. Nga muốn kiểm soát phía Đông và làm chủ Kiev thì phải triệt đường tiếp viện và triệt thoái của Quân đội Ukraine.

Không loại trừ khả năng, Nga sẽ lấy lại những gì vốn thuộc về họ thời 1945, miền Đông sẽ nằm trong tầm kiểm soát hoàn toàn của Nga hoặc chí ít là có thêm một vài nước cộng hòa tự trị ở Phía Đông. Quân đội Nga khiến phương Tây bất ngờ khi không sử dụng ưu thế về đường không như sử dụng các loại máy bay ném bom chiến lược hay sử dụng các loại cường kích để tiêu diệt các mục tiêu của Ukraine. Điều này cho thấy ông Putin không muốn gây ra thảm họa nhân đạo, gây ra thiệt hại nhiều cho nhân dân Ukraine. Đánh chắc, tiến chắc, vừa đánh vừa đàm, dùng chiến thắng trên chiến trường để tìm kiếm sự thành công trên bàn đàm phán. Ông Putin cũng muốn thu phục nhân tâm, lập hành lang nhân đạo, tăng cường cung cấp lương thảo, nhu yếu phẩm cho nhân dân Ukraine. Công thành diệt quốc, đánh nhanh thắng nhanh hoàn toàn nằm trong khả năng của Nga nhưng Putin chọn cách vừa kiểm soát được thành trì, vừa thu phục được nhân tâm, có lợi trong việc ổn định tình hình khi kết thúc cuộc chiến. Putin đúng là bậc thầy về chính trị, quân sự./.

Vũ Bão 31

 

Phong cách làm việc tập thể và dân chủ của Bác

 


          Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng trong ứng xử, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ dựa vào quyền lực buộc mọi người phục tùng. Phong cách làm việc tập thể và dân chủ là sự thể hiện nhất quán của tư tưởng đạo đức vì dân, vì nước của Hồ Chí Minh. Và Người yêu cầu những người làm tướng, các cấp chỉ huy quân đội phải thấu triệt nguyên tắc này như trong bức Mật điện số 947/TRT gửi Trung tướng Nguyễn Bình, Người viết: “Riêng tôi gửi lời dặn chú mọi việc phải cẩn thận bàn bạc với anh em Ủy ban kháng chiến hành chính và các đồng chí phụ trách quân sự để giữ đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc tối cao của chính quyền dân chủ ta” ( 11).

          Như trong bài báo Jai Hồ (tuần báo Ấn Độ Ánh điện, số ra ngày 13-9-1969) viết: “Cá nhân Cụ có một sức hấp dẫn đặc biệt không gì so sánh được, không những đối với nhân dân nước Cụ, mà còn đối với tất cả những ai không mang nặng đầu óc thù hằn hay thành kiến”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục mọi người bằng đạo đức và phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương vừa có tính nguyên tắc, khoa học vừa mang chở giá trị nhân văn sâu sắc. Hơn bao giờ hết, càng ôn lại những tư tưởng, những lời căn dặn của Người, chắt lọc lại những câu chuyện về Bác, mỗi câu chuyện có những ý nghĩa khác nhau, mỗi cán bộ chiến sĩ thấy được bao nhiêu điều lớn lao để suy nghĩ, để học theo Bác và làm theo Bác, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới./.

Vũ Bão 30

Chủ tịch Hồ Chí Minh Đề Cao Một Chữ “Tình”

 


          Năm 1948, biết Khu trưởng Chiến khu 4 là Nguyễn Sơn còn suy nghĩ về việc nhận quân hàm Thiếu tướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi cho ông bì thư đề “Thân gửi Sơn đệ - Ký tên: “Người anh họ Nguyễn”. Bên trong thư là tấm thiếp Người thường dùng cùng vẻn vẹn 12 chữ tiếng Hán: “Đảm dục Đại, Tâm dục Tế, Trí dục Viên, Hạnh dục Phương” lấy từ 12 chữ đầu trong câu nói của Tôn Tử Mạo thời Đường, Trung Quốc.

          Có điều, rất hiểu Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay chữ “tiểu” trong nguyên bản bằng chữ “tế” (Tiểu là nhỏ nhưng chữ tế còn nhỏ hơn nhiều (tế nhị). Khi tế đi với đại còn có nghĩa là bao dung, rộng lượng). Nhận được tấm thiếp, Nguyễn Sơn đã hiểu ngay được thâm ý của vị Chủ tịch nước, một người Anh lớn.

          Bốn câu ngắn gọn, vừa là lời chúc, vừa là lời khuyên, không khác châm ngôn hướng tới một nhân cách lớn, không phải riêng với Tướng Nguyễn Sơn, mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với mọi người ở mọi nơi, mọi lúc. Rõ ràng ở đây, trong cách ứng xử, từ lời nói cho tới việc làm, luôn thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao một chữ “tình”. Đó chính là tình giữa lãnh đạo với cán bộ, tình giữa đồng chí với nhau, tình giữa bản thân với công việc./.

Vũ Bão 29

 

Tư Tưởng Của Bác Về Quân Đội Cách Mạng

          Đối với quân đội cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” như quân đội nhân dân Việt Nam, yếu tố này lại càng có ý nghĩa cao cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Là quân đội của cách mạng rồi, cán bộ, chiến sĩ phải đoàn kết thương yêu đùm bọc nhau, coi như anh em ruột thịt một nhà”. Người còn đặc biệt nhấn mạnh, người lãnh đạo, chỉ huy quân đội phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Thương yêu cán bộ, chiến sĩ chính là ở thái độ thưởng phạt công minh, có thành tích thì khen, có khuyết điểm phải phạt, “chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ”.

          Trong một lần nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 đoàn Tam Đảo, bộ đội phòng không - không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Bác thấy có nơi còn có hiện tượng cán bộ cáu kỉnh với chiến sĩ, như vậy không tốt. Có gì cứ bình tĩnh bảo nhau, bàn với nhau. Càng cáu càng khó nghe”. Hay trong thư gửi Hội nghị quân y, Người chỉ dẫn các thầy thuốc quân đội rằng: “Vì sự kích thích trong chiến trận, vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ, hoặc vì những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như vậy, chúng ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hoá họ”./.

Vũ Bão 28

Bác Nói Về Chủ Nghĩa Cá Nhân

 


            Người thường xuyên cảnh báo những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân - thứ giặc nội tâm, giặc trong lòng, trong mỗi con người: Đó không chỉ là “tham ô hủ hóa... chỉ biết mình, không biết đến quần chúng. Là chỉ lo cho mình được sung sướng mà không nghĩ đến đội viên, nhân dân còn khổ sở”, “vô kỷ luật, thiếu kiên quyết chấp hành mệnh lệnh. Do đó mà đáng lẽ thắng to thì chỉ giành được thắng nhỏ và thắng rồi không phát triển được”, “thiếu tin tưởng, không quyết tâm khắc phục khó khăn” (2), đó còn là “tư tưởng công thần,.. sinh ra kiêu ngạo, kèn cựa, địa vị”, “lo lắng tiền đồ bản thân”, “đòi hỏi hưởng thụ, đãi ngộ”(3). Không chỉ dừng ở cảnh báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra những biện pháp để “gột rửa” những thói hư, tật xấu này, để ngăn ngừa chủ nghĩa cá nhân nảy nở, sinh sôi trong mỗi người quân nhân cách mạng. Đó là phải “học tập chính trị quân sự, phê bình và tự phê bình để sửa chữa khuyết điểm, trau dồi đạo đức cho chóng tiến bộ” (4). Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

          Thương yêu con người là mục đích, là lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đó cũng là điểm nổi bật trong văn hóa ứng xử qua các hành vi, hành động cụ thể của Người. Đối với mỗi con người chúng ta, lòng nhân ái là một phẩm chất không thể thiếu được./.

VuBao 27

Văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 


 

          Văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc, phong phú, không chỉ trong các tác phẩm, các bài viết, mà còn toả sáng trong toàn bộ hành động và việc làm của Người, mà mỗi cán bộ, chiến sĩ của đội quân cách mạng do chính Người sáng lập và rèn luyện có thể tự mình suy ngẫm, hướng tới, phấn đấu và làm theo.

Từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ cộng sản, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng: Đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân, không thể hoàn thành được nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó. Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, những quân nhân cách mạng nói riêng. Bởi đây là lực lượng chủ lực trên mặt trận xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân.

Nói chuyện trong buổi lễ bế mạc lớp bổ túc cán bộ quân sự trung cấp của quân đội (10-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Người cán bộ muốn tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có năm điều: Trí - Tín - Nhân - Dũng - Liêm. Ngoài ra, phải biết tự phê bình và phê bình, phải thật thà đoàn kết và biết giữ kỷ luật”./.

VuBao 26

Mối liên hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội


       Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai chặng đường nối tiếp nhau của một tiến trình cách mạng. Hay nói cách khác, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai mục tiêu cụ thể của hai cuộc cách mạng trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, độc lập dân tộc là mục tiêu của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân. Đây là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng dân tộc, dân chủ, làm tiền đề để thực hiện các mục tiêu khác, như quyền lực chính trị, dân chủ, vấn đề ruộng đất, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao trình độ dân trí… xây dựng một thể chế chính trị do dân làm chủ, xây dựng nền dân chủ nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội…. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là giai đoạn tiếp theo của tiến trình cách mạng Việt Nam, sau khi kết thúc giai đoạn trước là cách mạng dân tộc, dân chủ.

      Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ mối liên hệ biện chứng giữa đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng này là cơ sở quá độ từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính cách mạng xã hội chủ nghĩa đã kế thừa, khẳng định và bảo đảm vững chắc thành quả của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sự phát triển này là quy luật tất yếu của lịch sử. Các giai đoạn của tiến trình cách mạng là những bước đi không thể tách rời nhau dù mỗi giai đoạn có những mục tiêu cụ thể riêng.

     Quá trình phát triển nhận thức của Đảng và thực tiễn cách mạng nước ta là minh chứng lịch sử cho mối liên hệ biện chứng trên:

     Giai đoạn 1930 - 1945: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thông qua cương lĩnh vắn tắt, sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Trong đó, Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố sẽ làm cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất, đấu tranh xây dựng một xã hội tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ cập giáo dục. Đảng xác định mục tiêu đánh đổ thực dân Pháp và chế độ phong kiến, lấy ruộng đất chia cho dân nghèo.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 20 triệu nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đỉnh cao là cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, chấm dứt chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp sau gần một thế kỷ. Thắng lợi vĩ đại này của dân tộc Việt Nam đã đưa nước ta bước sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

     Giai đoạn 1945 - 1954: Đảng lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

Mục tiêu của giai đoạn này là tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, cụ thể hóa tư tưởng của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, mục tiêu này mới đạt được ở miền Bắc. Sau hiệp định Giơnevơ (20/7/1954) nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc. Sau khi hòa bình lập lại, miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, trở thành hậu phương lớn cho cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn này là hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam.

     Giai đoạn 1954 - 1975: cả nước dốc lòng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc đã khơi dậy truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha, truyền thống chiến thắng giặc ngoại xâm của dân tộc. Cả nước xuống đường, cả nước hướng về miền Nam ruột thịt theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta "Tất cả cho tiền tuyến". Lịch sử Việt Nam chưa lúc nào được chứng kiến sự kết hợp giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi, quy mô lớn như thời điểm này của cách mạng. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước - kỷ nguyên của độc lập, tự do, thống nhất và chủ nghĩa xã hội.

     Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đất nước gặp muôn vàn khó khăn, thách thức to lớn: đất nước bị chiến tranh tàn phá; Mỹ và phương Tây tiến hành bao vây, cô lập, cấm vận Việt Nam; các thế lực phản động quốc tế phát động kiểu "chiến tranh phá hoại nhiều mặt"chống phá Việt Nam; nền kinh tế nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng kéo dài nhiều năm. Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đã từng bước hồi sinh đất nước về mọi mặt. Trước những bối cảnh mới của tình hình, Đảng ta luôn xác định phải giương cao ngọn cờ "Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trương chiến lược đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; tạo điều kiện, tiền đề cho chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong mối liên hệ gắn kết biện chứng.

XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 


Đây là giải pháp quan trọng trong xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần của nền quốc phòng toàn dân. Vì sức mạnh của cách mạng Việt Nam là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nội lực có ý nghĩa quyết định trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là nhân tố cơ bản hàng đầu trong tạo dựng và phát triển thế và lực của sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

Nội dung xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là xây dựng sự đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữa các dân tộc; phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân hướng vào mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia-dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người dân Việt Nam trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, sẵn sàng đánh thắng mọi âm mưu, thủ đoạn chính trị, quân sự của các thế lực thù địch.

Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả những vấn đề chủ yếu sau:

Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.

khucvu 5

 

Kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để xây dựng đất nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc

 

      Lịch sử thế giới hiện đại đã ghi nhận rằng, Việt Nam là nước đầu tiên tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; đồng thời, cũng là nước đầu tiên đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở cả hai miền Nam - Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó cho thấy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là quy luật phát triển tất yếu, làm nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và đó cũng là sự nhất quán trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, của Đảng ta khi lựa chọn con đường phát triển hợp xu thế phát triển thời đại của cách mạng Việt Nam.

     Kể từ khi nước nhà hòa bình, độc lập, thống nhất, non sông liền một dải đến nay, đặc biệt là sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được Đảng ta, nhân dân ta kiên định thực hiện, bất chấp sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, bất chấp sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa luôn được thấm nhuần trong tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân Việt Nam; trở thành bài học đầu tiên được Đảng rút ra tại Đại hội lần thứ VII (1991), đó là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt trong quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc”[7].

     Tiếp đó, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII nhấn mạnh: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”[8]. Đại hội Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”[9]. Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng khẳng định nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản; đồng thời, nhấn mạnh bài học số một là: Trong quá trình đổi mới, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

      Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,  phát triển năm 2011) tại Đại hội XI của Đảng (2011) đã rút ra 5 bài học cơ bản và tiếp tục nhấn mạnh bài học đầu tiên như đã nêu trong các văn kiện đại hội; đồng thời, khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[10]. Cương lĩnh nêu những nội dung cơ bản của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; bổ sung, phát triển những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng với 8 đặc trưng cơ bản, 8 phương hướng cơ bản và những mối quan hệ lớn cần phải nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều đó cũng khẳng định rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc và là hai mặt không thể tách rời của con đường phát triển đất nước, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

     Như vậy là, trong hơn 9 thập niên lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trong hoàn cảnh khó khăn, thử thách nào, Đảng ta vẫn luôn kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lý luận và thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đều khẳng định: con đường duy nhất đúng để đất nước phát triển bền vững là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; là sự lựa chọn kiên quyết và đúng đắn, là sự kiên định và sáng tạo của Đảng ta dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp quy luật, đúng như Đại hội lần thứ XII (2016) của Đảng khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”[11].

     Kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội càng đòi hỏi mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phải vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm lịch sử, phát huy sức mạnh dân tộc, thời đại và sức mạnh nội sinh của dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

     Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, hơn bao giờ hết, bài học phải “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới”[12], tập trung giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở Việt Nam (giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế) càng phải được thấm nhuần, chủ động và kiên trì thực hiện. Bởi rằng, trước những thời cơ, vận hội và khó khăn, thách thức đan xen, bên cạnh những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…Việt Nam vẫn phải đối mặt với những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; với tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; với các biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa quyền lực trong Đảng và hệ thống chính trị chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách triệt để…

     Trên bình diện quốc tế, xung đột bạo lực khu vực vẫn tiếp diễn, bất hòa giữa một số quốc gia vẫn gia tăng và xung khắc thương mại giữa Mỹ với một số đối tác của Mỹ leo thang căng thẳng; vấn đề tranh chấp Biển Đông đang diễn biến phức tạp… Một bầu không khí “màu xám” bao trùm toàn cầu trước nguy cơ lây lan của virus SARS-CoV-2, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị, an ninh toàn cầu... Trong khi đó, các thế lực phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng mạng xã hội kích động biểu tình, bạo loạn, lật đổ, chống phá quyết liệt công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Không chỉ lợi dụng các chiêu bài bôi nhọ, phủ nhận và đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định cho sự thành công của chủ nghĩa xã hội, các thế lực phản động, cơ hội còn phủ nhận nhwungx thành tựu về mọi mặt của Việt Nam và cho rằng con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sai lầm, dẫn đến nước nhà tụt hậu. Tất cả những yếu tố đó đã và đang đặt ra yêu cầu vừa cấp thiết vừa kiên trì để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

     Đón nhận thời cơ và đối diện thách thức, Đảng ta và nhân dân ta nhất quán thực hiện nguyên tắc đặt lợi quốc gia, dân tộc lên đầu, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi nhất cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để "đưa đất nước vừng bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững"[13]; để đạt được các mục tiêu cụ thể đến năm 2025 "là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức trung bình thấp"; đến 2030 "là  nước đang phát triển, có công nghiệp hiện địa, thu nhập trung bình cao"; đến 2045 "trở thành nước phát triển, thu nhập cao" như Nghị quyết Đại hội XIII đã khẳng định.

      Thế giới có nhiều đổi thay, song Đảng ta, nhân dân ta luôn kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, không chỉ tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho con đường phát triển của cách mạng Việt Nam mà còn là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng chính là sự lựa chọn đúng đắn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhân nguồn sức mạnh nội lực và thống nhất về tư tưởng, ý chí, hành động đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về những thành tựu đã và đang trở thành hiện thực sinh động ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO THEO ĐÚNG PHÁP LUẬT

 


Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá riình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh họat tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật.

Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Không ai được quyền bắt người khác từ bỏ tín ngưỡng, tôn giáo mà họ đang theo. Tín đồ và chức sắc các tôn giáo không được tuyên truyền lôi kéo, công kích tín ngưỡng, tôn giáo của người khác. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân được Nhà nước bảo đảm bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.

khucvu

 

Độc lập dân tộc là tiền đề để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở để bảo vệ độc lập dân tộc

 

      Trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến ng có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[3]. Từ bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Người đã lựa chọn và đứng trên lập trường của giai cấp vô sản để tiến hành giải phóng dân tộc bằng một cuộc cách mạng vô sản và bước phát triển tiếp theo là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam khi nhấn mạnh: một là, cách mạng phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc; hai là, phải thực hiện Dân tộc cách mệnh để tập trung đánh đổ bọn đế quốc thực dân và bọn phong kiến tay sai giành lại độc lập cho xứ sở và Thế giới cách mệnh giống như giai cấp công nông Nga đánh đổ tư bản áp bức…

     Luận cứ để mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có thể trở thành hiện thực sinh động ở Việt Nam chính là cách mạng giải phóng dân tộc được đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản; là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội theo tinh thần của Quốc tế thứ III: “Vô sản giai cấp và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại”! Đồng thời, “muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”[4] và “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”[5].

    Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được khẳng định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa được chỉ rõ là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[6] - tức là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai giai đoạn cách mạng này có quan hệ biện chứng; trong đó: Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải giành được độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội chính là điều kiện tiên quyết để giữ vững được độc lập dân tộc, xây dựng được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

      Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc có hướng đích chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhận thức rõ, độc lập dân tộc, điều kiện đầu tiên để xây dựng và phát triển đất nước chỉ được bảo đảm vững chắc khi gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giành được độc lập dân tộc mà không đi lên chủ nghĩa xã hội thì chẳng những không bảo vệ được độc lập dân tộc mà còn không thể mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, Đảng ta, nhân dân ta đã luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

    Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa) - mục tiêu định hướng tương lai của dân tộc Việt Nam là sự lựa chọn chính xác, đúng đắn của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ thập niên 1930, đã góp phần khơi nguồn sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) khẳng định, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam sẽ tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa và nước Việt Nam sẽ thành một nước xã hội chủ nghĩa. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) đã giành được thắng lợi. Với Hiệp định Giơnevơ (20/7/1954), miền Bắc Việt Nam được giải phóng đã từng bước khôi phục, cải tạo kinh tế, xã hội, văn hóa và đi lên chủ nghĩa xã hội; còn ở miền Nam, đồng bào ta tiếp tục thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng, thực hiện khát vọng thống nhất nước nhà.

     Đại hội Đảng lần thứ III (1960) - Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà đã xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là: Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Hướng đến tương lai tươi sáng đó, cuộc đấu tranh đầy gian khổ sau 21 năm gian nan, thử thách, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh cách mạng ở miền Nam đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Miền Nam được giải phóng, hai miền Nam - Bắc đã sum họp một nhà và cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.