Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022
KẾT LUẬN CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ CHIẾN LƯỢC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG ĐẾN NĂM 2030
GIÁ TRỊ CỦA LỊCH SỬ
TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG TIẾP ĐẠI SỨ HOA KỲ TẠI VIỆT NAM
NGƯỜI ĐỌC BẢN TIN CHIẾN THẮNG NGÀY 30/4/1975 TRÊN SÓNG ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM!
PHẢN BIỆN CỦA PGS, TS NGUYỄN ĐỨC BÁCH VỀ CÁCH HIỂU “RẬP KHUÔN” CHỦ TRƯƠNG VỀ “ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO” Ở NƯỚC TA ĐỐI VỚI NGÀNH GIÁO DỤC!
BÁC NÓI VỀ QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG
Đối với quân đội
cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” như quân đội nhân dân
Việt Nam, yếu tố này lại càng có ý nghĩa cao cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Là quân đội của cách mạng rồi, cán bộ, chiến sĩ phải đoàn kết thương yêu đùm
bọc nhau, coi như anh em ruột thịt một nhà”. Người còn đặc biệt nhấn mạnh,
người lãnh đạo, chỉ huy quân đội phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng
khổ với họ. Thương yêu cán bộ, chiến sĩ chính là ở thái độ thưởng phạt công
minh, có thành tích thì khen, có khuyết điểm phải phạt, “chớ vì ưa ai mà
thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì
bỏ”.
Trong một lần nói
chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 đoàn Tam Đảo, bộ đội phòng
không - không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Bác thấy có nơi còn có hiện
tượng cán bộ cáu kỉnh với chiến sĩ, như vậy không tốt. Có gì cứ bình tĩnh bảo
nhau, bàn với nhau. Càng cáu càng khó nghe” Hay
trong thư gửi Hội nghị quân y, Người chỉ dẫn các thầy thuốc quân đội rằng: “Vì
sự kích thích trong chiến trận, vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự
tu dưỡng chưa đầy đủ, hoặc vì những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân
không được trấn tĩnh, đối với thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như
vậy, chúng ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hoá họ”./.
Vũ Bão 33
BÁC TRONG ĐÁNH GIÁ CỦA BÁO NƯỚC NGOÀI
Như trong bài báo
Jai Hồ (tuần báo Ấn Độ Ánh điện, số ra ngày 13-9-1969) viết: “Cá nhân Cụ có một
sức hấp dẫn đặc biệt không gì so sánh được, không những đối với nhân dân nước
Cụ, mà còn đối với tất cả những ai không mang nặng đầu óc thù hằn hay thành
kiến”.
Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã thuyết phục mọi người bằng đạo đức và phong cách quần chúng, dân chủ,
nêu gương vừa có tính nguyên tắc, khoa học vừa mang chở giá trị nhân văn sâu
sắc. Hơn bao giờ hết, càng ôn lại những tư tưởng, những lời căn dặn của Người,
chắt lọc lại những câu chuyện về Bác, mỗi câu chuyện có những ý nghĩa khác
nhau, mỗi cán bộ chiến sĩ thấy được bao nhiêu điều lớn lao để suy nghĩ, để học
theo Bác và làm theo Bác, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình
mới./.
Vũ Bão 32
TỔNG THỐNG PUTIN VÀ BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN ĐỘI NGA LÀ BẬC THẦY VỀ BINH PHÁP
Khoảng 16 giờ
hôm nay ngày 13/3 theo giờ Hà Nội (12 giờ, theo giờ Ukraine). CNN dẫn thông tin
từ Bộ Quốc phòng Anh xác nhận Nga đang đóng nắp "nồi hầm" khổng lồ,
vây chặt quân Ukraine ở miền Đông trong khi tập kích ồ ạt nhiều mục tiêu ở miền
Tây. Ngay từ đầu cuộc chiến, Putin và Quân đội Nga đã không chọn lối đánh tốc
chiến tốc thắng. Thay vào đó họ chọn lối đánh chắc chắn, dựa trên cơ sở nắm bắt
rõ tình hình để tiến công, dần dần khép vòng vây. Cách đánh theo kiểu vây, lấn,
tấn, triệt, diệt. Lối đánh này đã được Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng trong
kháng chiến chống Pháp, Mỹ.
Nga chủ động dùng
vũ khí có độ chính xác cao để phá hủy các sân bay, cơ sở quân sự và các công
sự, trận địa của Quân đội Ukraine, bộ binh được yểm trợ bởi không quân và tăng
thiết giáp, pháo binh để làm chủ mục tiêu. Bao vây tứ phía và dần dần đưa Quân
đội Ukraine vào cái nồi hầm ở phía Đông và dùng các mũi thọc sâu để đánh bại
mọi nỗ lực kháng cự của Ukraine. Quân đội Nga đang khép chặt vòng vây toàn bộ
lực lượng vũ trang Ukraine ở miền Đông nước này khi họ tiến công từ hướng
Kharkiv ở phía Bắc và Mariupol ở phía Nam". Vừa khép vòng vây, vừa triệt
đường tiếp viện, Quân đội Ukraine đối diện với thiếu thốn về quân lương, sẽ bị
hầm chín trong cái nồi hầm phía Đông khi Nga đang đóng nắp nồi và tăng thêm củi
lửa.
Trong khí đó Nga
dùng hoả lực và vũ khí công nghệ cao để triệt đường cung cấp khí giới, lương
thảo từ phía Tây. Hôm nay Quân đội Nga đã tiến hành cuộc tấn công tên lửa vào
các cơ sở quân sự rộng lớn của Ukraine ở khu vực Lviv và khu vực phía Tây, chỉ
cách biên giới với Ba Lan chưa đầy 25km. Tất cả hầu như bị phá hủy hoàn toàn.
Vũ khí Mỹ và NATO tuồn cho Ukraine qua Ba Lan ở phía Tây Ukraine, trong những
ngày qua nó đã đến tay Quân đội Ukraine và Nga thừa biết làm cách nào để đối
phó. Những ngày tới, khu vực Ukraine tiếp giáp Ba Lan chắc chắn sẽ nhận những
đòn chí tử. Nga muốn kiểm soát phía Đông và làm chủ Kiev thì phải triệt đường
tiếp viện và triệt thoái của Quân đội Ukraine.
Không loại trừ khả năng, Nga sẽ lấy lại những gì vốn thuộc về họ
thời 1945, miền Đông sẽ nằm trong tầm kiểm soát hoàn toàn của Nga hoặc chí ít
là có thêm một vài nước cộng hòa tự trị ở Phía Đông. Quân đội Nga khiến phương
Tây bất ngờ khi không sử dụng ưu thế về đường không như sử dụng các loại máy
bay ném bom chiến lược hay sử dụng các loại cường kích để tiêu diệt các mục
tiêu của Ukraine. Điều này cho thấy ông Putin không muốn gây ra thảm họa nhân
đạo, gây ra thiệt hại nhiều cho nhân dân Ukraine. Đánh chắc, tiến chắc, vừa
đánh vừa đàm, dùng chiến thắng trên chiến trường để tìm kiếm sự thành công trên
bàn đàm phán. Ông Putin cũng muốn thu phục nhân tâm, lập hành lang nhân đạo,
tăng cường cung cấp lương thảo, nhu yếu phẩm cho nhân dân Ukraine. Công thành
diệt quốc, đánh nhanh thắng nhanh hoàn toàn nằm trong khả năng của Nga nhưng
Putin chọn cách vừa kiểm soát được thành trì, vừa thu phục được nhân tâm, có
lợi trong việc ổn định tình hình khi kết thúc cuộc chiến. Putin đúng là bậc
thầy về chính trị, quân sự./.
Vũ Bão 31
Phong cách làm việc tập thể và dân chủ của Bác
Là người đứng đầu
Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng trong ứng
xử, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ dựa vào quyền lực buộc mọi người phục
tùng. Phong cách làm việc tập thể và dân chủ là sự thể hiện nhất quán của tư
tưởng đạo đức vì dân, vì nước của Hồ Chí Minh. Và Người yêu cầu những người làm
tướng, các cấp chỉ huy quân đội phải thấu triệt nguyên tắc này như trong bức
Mật điện số 947/TRT gửi Trung tướng Nguyễn Bình, Người viết: “Riêng tôi gửi lời
dặn chú mọi việc phải cẩn thận bàn bạc với anh em Ủy ban kháng chiến hành chính
và các đồng chí phụ trách quân sự để giữ đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách là nguyên tắc tối cao của chính quyền dân chủ ta” ( 11).
Như trong bài báo
Jai Hồ (tuần báo Ấn Độ Ánh điện, số ra ngày 13-9-1969) viết: “Cá nhân Cụ có một
sức hấp dẫn đặc biệt không gì so sánh được, không những đối với nhân dân nước
Cụ, mà còn đối với tất cả những ai không mang nặng đầu óc thù hằn hay thành
kiến”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục mọi người bằng đạo đức và
phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương vừa có tính nguyên tắc, khoa học vừa
mang chở giá trị nhân văn sâu sắc. Hơn bao giờ hết, càng ôn lại những tư tưởng,
những lời căn dặn của Người, chắt lọc lại những câu chuyện về Bác, mỗi câu
chuyện có những ý nghĩa khác nhau, mỗi cán bộ chiến sĩ thấy được bao nhiêu điều
lớn lao để suy nghĩ, để học theo Bác và làm theo Bác, phát huy phẩm chất “Bộ
đội Cụ Hồ” trong tình hình mới./.
Vũ Bão 30
Chủ tịch Hồ Chí Minh Đề Cao Một Chữ “Tình”
Năm 1948, biết
Khu trưởng Chiến khu 4 là Nguyễn Sơn còn suy nghĩ về việc nhận quân hàm Thiếu
tướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi cho ông bì thư đề “Thân gửi Sơn đệ - Ký tên:
“Người anh họ Nguyễn”. Bên trong thư là tấm thiếp Người thường dùng cùng vẻn
vẹn 12 chữ tiếng Hán: “Đảm dục Đại, Tâm dục Tế, Trí dục Viên, Hạnh dục Phương”
lấy từ 12 chữ đầu trong câu nói của Tôn Tử Mạo thời Đường, Trung Quốc.
Có điều, rất hiểu
Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay chữ “tiểu” trong nguyên bản bằng chữ
“tế” (Tiểu là nhỏ nhưng chữ tế còn nhỏ hơn nhiều (tế nhị). Khi tế đi với đại
còn có nghĩa là bao dung, rộng lượng). Nhận được tấm thiếp, Nguyễn Sơn đã hiểu
ngay được thâm ý của vị Chủ tịch nước, một người Anh lớn.
Bốn câu ngắn gọn,
vừa là lời chúc, vừa là lời khuyên, không khác châm ngôn hướng tới một nhân
cách lớn, không phải riêng với Tướng Nguyễn Sơn, mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối
với mọi người ở mọi nơi, mọi lúc. Rõ ràng ở đây, trong cách ứng xử, từ lời nói
cho tới việc làm, luôn thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao một chữ “tình”. Đó
chính là tình giữa lãnh đạo với cán bộ, tình giữa đồng chí với nhau, tình giữa
bản thân với công việc./.
Vũ Bão 29
Tư Tưởng Của Bác Về Quân Đội Cách Mạng
Đối với quân đội
cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” như quân đội nhân dân
Việt Nam, yếu tố này lại càng có ý nghĩa cao cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Là quân đội của cách mạng rồi, cán bộ, chiến sĩ phải đoàn kết thương yêu đùm
bọc nhau, coi như anh em ruột thịt một nhà”. Người còn đặc biệt nhấn mạnh,
người lãnh đạo, chỉ huy quân đội phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng
khổ với họ. Thương yêu cán bộ, chiến sĩ chính là ở thái độ thưởng phạt công
minh, có thành tích thì khen, có khuyết điểm phải phạt, “chớ vì ưa ai mà
thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ”.
Trong một lần nói
chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 đoàn Tam Đảo, bộ đội phòng
không - không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Bác thấy có nơi còn có hiện
tượng cán bộ cáu kỉnh với chiến sĩ, như vậy không tốt. Có gì cứ bình tĩnh bảo
nhau, bàn với nhau. Càng cáu càng khó nghe”. Hay trong thư gửi Hội nghị quân y,
Người chỉ dẫn các thầy thuốc quân đội rằng: “Vì sự kích thích trong chiến trận,
vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ, hoặc vì
những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với
thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như vậy, chúng ta nên lấy lòng
nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hoá họ”./.
Vũ Bão 28
Bác Nói Về Chủ Nghĩa Cá Nhân
Người thường xuyên cảnh báo những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân - thứ giặc nội tâm, giặc trong lòng, trong mỗi con người: Đó không chỉ là “tham ô hủ hóa... chỉ biết mình, không biết đến quần chúng. Là chỉ lo cho mình được sung sướng mà không nghĩ đến đội viên, nhân dân còn khổ sở”, “vô kỷ luật, thiếu kiên quyết chấp hành mệnh lệnh. Do đó mà đáng lẽ thắng to thì chỉ giành được thắng nhỏ và thắng rồi không phát triển được”, “thiếu tin tưởng, không quyết tâm khắc phục khó khăn” (2), đó còn là “tư tưởng công thần,.. sinh ra kiêu ngạo, kèn cựa, địa vị”, “lo lắng tiền đồ bản thân”, “đòi hỏi hưởng thụ, đãi ngộ”(3). Không chỉ dừng ở cảnh báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra những biện pháp để “gột rửa” những thói hư, tật xấu này, để ngăn ngừa chủ nghĩa cá nhân nảy nở, sinh sôi trong mỗi người quân nhân cách mạng. Đó là phải “học tập chính trị quân sự, phê bình và tự phê bình để sửa chữa khuyết điểm, trau dồi đạo đức cho chóng tiến bộ” (4). Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Thương yêu con người là mục đích, là lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đó cũng là điểm nổi bật trong văn hóa ứng xử qua các hành vi, hành động cụ thể của Người. Đối với mỗi con người chúng ta, lòng nhân ái là một phẩm chất không thể thiếu được./.
VuBao 27
Văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Văn hóa ứng xử
của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc, phong phú, không chỉ trong các
tác phẩm, các bài viết, mà còn toả sáng trong toàn bộ hành động và việc làm của
Người, mà mỗi cán bộ, chiến sĩ của đội quân cách mạng do chính Người sáng lập
và rèn luyện có thể tự mình suy ngẫm, hướng tới, phấn đấu và làm theo.
Từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ cộng sản, Hồ Chí
Minh đã nhận thức sâu sắc rằng: Đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Nếu
không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi mấy cũng không thể lãnh đạo được
nhân dân, không thể hoàn thành được nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó.
Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng,
quét sạch chủ nghĩa cá nhân của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, những quân
nhân cách mạng nói riêng. Bởi đây là lực lượng chủ lực trên mặt trận xây dựng,
củng cố quốc phòng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân.
Nói chuyện trong buổi lễ bế mạc lớp bổ túc cán bộ quân sự trung
cấp của quân đội (10-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Người cán bộ muốn
tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng
thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có năm điều: Trí - Tín -
Nhân - Dũng - Liêm. Ngoài ra, phải biết tự phê bình và phê bình, phải thật thà
đoàn kết và biết giữ kỷ luật”./.
VuBao 26
Mối liên hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai chặng đường nối tiếp nhau của một tiến trình
cách mạng. Hay nói cách khác, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai mục
tiêu cụ thể của hai cuộc cách mạng trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Trong đó, độc lập dân tộc là mục tiêu của cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân. Đây
là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng dân tộc, dân chủ, làm tiền đề để thực hiện
các mục tiêu khác, như quyền lực chính trị, dân chủ, vấn đề ruộng đất, bảo đảm
đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao trình độ dân trí… xây dựng một thể chế
chính trị do dân làm chủ, xây dựng nền dân chủ nhân dân trên các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa - xã hội…. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là giai đoạn tiếp theo
của tiến trình cách mạng Việt Nam, sau khi kết thúc giai đoạn trước là cách
mạng dân tộc, dân chủ.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ mối liên hệ biện chứng giữa đấu tranh giải phóng dân
tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng này là cơ sở quá độ từ cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính cách mạng xã hội chủ
nghĩa đã kế thừa, khẳng định và bảo đảm vững chắc thành quả của cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân. Sự phát triển này là quy luật tất yếu của lịch sử.
Các giai đoạn của tiến trình cách mạng là những bước đi không thể tách rời nhau
dù mỗi giai đoạn có những mục tiêu cụ thể riêng.
Quá
trình phát triển nhận thức của Đảng và thực tiễn cách mạng nước ta là minh
chứng lịch sử cho mối liên hệ biện chứng trên:
Giai
đoạn 1930 - 1945: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thông qua cương lĩnh vắn tắt,
sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Trong đó,
Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố sẽ làm cách mạng tư sản dân quyền và cách
mạng ruộng đất, đấu tranh xây dựng một xã hội tự do tổ chức, nam nữ bình quyền,
phổ cập giáo dục. Đảng xác định mục tiêu đánh đổ thực dân Pháp và chế độ phong
kiến, lấy ruộng đất chia cho dân nghèo.
Dưới sự
lãnh đạo của Đảng, 20 triệu nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc, đỉnh cao là cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945 thành
công, chấm dứt chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, chấm dứt sự đô hộ của
thực dân Pháp sau gần một thế kỷ. Thắng lợi vĩ đại này của dân tộc Việt Nam đã
đưa nước ta bước sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội.
Giai
đoạn 1945 - 1954: Đảng lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ chấn
động địa cầu.
Mục
tiêu của giai đoạn này là tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc, giành độc lập, tự do, cụ thể hóa tư tưởng của Hồ Chí Minh về độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, mục tiêu này mới đạt được ở miền
Bắc. Sau hiệp định Giơnevơ (20/7/1954) nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai
miền Nam - Bắc. Sau khi hòa bình lập lại, miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội
chủ nghĩa, trở thành hậu phương lớn cho cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam.
Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn này là
hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng
giải phóng dân tộc ở miền Nam.
Giai
đoạn 1954 - 1975: cả nước dốc lòng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước. Khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc đã khơi dậy truyền thống dựng
nước và giữ nước của ông cha, truyền thống chiến thắng giặc ngoại xâm của dân
tộc. Cả nước xuống đường, cả nước hướng về miền Nam ruột thịt theo lời kêu gọi
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta "Tất cả cho tiền tuyến". Lịch sử
Việt Nam chưa lúc nào được chứng kiến sự kết hợp giữa độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi, quy mô lớn như thời điểm này của cách mạng. Sau
chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, miền
Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước bước vào kỷ nguyên
mới: kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước - kỷ nguyên của
độc lập, tự do, thống nhất và chủ nghĩa xã hội.
Chúng
ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đất nước gặp muôn vàn khó khăn,
thách thức to lớn: đất nước bị chiến tranh tàn phá; Mỹ và phương Tây tiến hành
bao vây, cô lập, cấm vận Việt Nam; các thế lực phản động quốc tế phát động kiểu
"chiến tranh phá hoại nhiều mặt"chống phá Việt Nam; nền kinh tế nước
ta lâm vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng kéo dài nhiều năm. Sự nghiệp đổi mới
đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI của Đảng (1986) đã từng bước hồi sinh đất nước về mọi mặt. Trước những
bối cảnh mới của tình hình, Đảng ta luôn xác định phải giương cao ngọn cờ
"Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Công cuộc đổi mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trương chiến lược đúng đắn, phù hợp với quy
luật khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; tạo điều kiện, tiền
đề cho chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta
vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong mối liên hệ
gắn kết biện chứng.
XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Đây là giải pháp quan trọng trong xây dựng tiềm lực chính
trị-tinh thần của nền quốc phòng toàn dân. Vì sức mạnh của cách mạng Việt Nam
là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; khối
đại đoàn kết toàn dân tộc là nội lực có ý nghĩa quyết định trong kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là nhân tố cơ bản hàng đầu trong tạo dựng
và phát triển thế và lực của sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.
Nội dung xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là xây
dựng sự đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữa các dân tộc; phát huy
mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân hướng vào mục tiêu
xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,
“dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn
trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia-dân tộc;
đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập
hợp, đoàn kết mọi người dân Việt Nam trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ
mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, sẵn sàng đánh thắng mọi âm mưu, thủ
đoạn chính trị, quân sự của các thế lực thù địch.
Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả những
vấn đề chủ yếu sau:
Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện
và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân
trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực
thuộc về nhân dân.
khucvu 5
Kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để xây dựng đất nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc
Lịch sử thế giới hiện đại đã ghi nhận rằng, Việt Nam là nước đầu tiên tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; đồng thời, cũng là nước đầu tiên đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở cả hai miền Nam - Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó cho thấy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là quy luật phát triển tất yếu, làm nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và đó cũng là sự nhất quán trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, của Đảng ta khi lựa chọn con đường phát triển hợp xu thế phát triển thời đại của cách mạng Việt Nam.
Kể từ khi nước nhà hòa bình, độc lập, thống nhất, non sông liền một dải đến nay, đặc biệt là sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được Đảng ta, nhân dân ta kiên định thực hiện, bất chấp sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, bất chấp sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa luôn được thấm nhuần trong tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân Việt Nam; trở thành bài học đầu tiên được Đảng rút ra tại Đại hội lần thứ VII (1991), đó là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt trong quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc”[7].
Tiếp đó, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII nhấn mạnh: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”[8]. Đại hội Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”[9]. Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng khẳng định nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản; đồng thời, nhấn mạnh bài học số một là: Trong quá trình đổi mới, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI của Đảng (2011) đã rút ra 5 bài học cơ bản và tiếp tục nhấn mạnh bài học đầu tiên như đã nêu trong các văn kiện đại hội; đồng thời, khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[10]. Cương lĩnh nêu những nội dung cơ bản của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; bổ sung, phát triển những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng với 8 đặc trưng cơ bản, 8 phương hướng cơ bản và những mối quan hệ lớn cần phải nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều đó cũng khẳng định rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc và là hai mặt không thể tách rời của con đường phát triển đất nước, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Như vậy là, trong hơn 9 thập niên lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trong hoàn cảnh khó khăn, thử thách nào, Đảng ta vẫn luôn kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lý luận và thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đều khẳng định: con đường duy nhất đúng để đất nước phát triển bền vững là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; là sự lựa chọn kiên quyết và đúng đắn, là sự kiên định và sáng tạo của Đảng ta dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp quy luật, đúng như Đại hội lần thứ XII (2016) của Đảng khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”[11].
Kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội càng đòi hỏi mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phải vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm lịch sử, phát huy sức mạnh dân tộc, thời đại và sức mạnh nội sinh của dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, hơn bao giờ hết, bài học phải “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới”[12], tập trung giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở Việt Nam (giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế) càng phải được thấm nhuần, chủ động và kiên trì thực hiện. Bởi rằng, trước những thời cơ, vận hội và khó khăn, thách thức đan xen, bên cạnh những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…Việt Nam vẫn phải đối mặt với những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; với tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; với các biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa quyền lực trong Đảng và hệ thống chính trị chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách triệt để…
Trên bình diện quốc tế, xung đột bạo lực khu vực vẫn tiếp diễn, bất hòa giữa một số quốc gia vẫn gia tăng và xung khắc thương mại giữa Mỹ với một số đối tác của Mỹ leo thang căng thẳng; vấn đề tranh chấp Biển Đông đang diễn biến phức tạp… Một bầu không khí “màu xám” bao trùm toàn cầu trước nguy cơ lây lan của virus SARS-CoV-2, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị, an ninh toàn cầu... Trong khi đó, các thế lực phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng mạng xã hội kích động biểu tình, bạo loạn, lật đổ, chống phá quyết liệt công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Không chỉ lợi dụng các chiêu bài bôi nhọ, phủ nhận và đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định cho sự thành công của chủ nghĩa xã hội, các thế lực phản động, cơ hội còn phủ nhận nhwungx thành tựu về mọi mặt của Việt Nam và cho rằng con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sai lầm, dẫn đến nước nhà tụt hậu. Tất cả những yếu tố đó đã và đang đặt ra yêu cầu vừa cấp thiết vừa kiên trì để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đón nhận thời cơ và đối diện thách thức, Đảng ta và nhân dân ta nhất quán thực hiện nguyên tắc đặt lợi quốc gia, dân tộc lên đầu, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi nhất cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để "đưa đất nước vừng bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững"[13]; để đạt được các mục tiêu cụ thể đến năm 2025 "là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức trung bình thấp"; đến 2030 "là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện địa, thu nhập trung bình cao"; đến 2045 "trở thành nước phát triển, thu nhập cao" như Nghị quyết Đại hội XIII đã khẳng định.
Thế giới có nhiều đổi thay, song Đảng ta, nhân dân ta luôn kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, không chỉ tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho con đường phát triển của cách mạng Việt Nam mà còn là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng chính là sự lựa chọn đúng đắn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhân nguồn sức mạnh nội lực và thống nhất về tư tưởng, ý chí, hành động đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về những thành tựu đã và đang trở thành hiện thực sinh động ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO THEO ĐÚNG PHÁP LUẬT
Tín
ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn
tại cùng dân tộc trong quá riình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện
nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào, quyền sinh họat tôn giáo bình thường theo đúng
pháp luật.
Người
có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng
lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Không ai được quyền bắt người khác từ bỏ tín ngưỡng, tôn giáo mà họ đang theo.
Tín đồ và chức sắc các tôn giáo không được tuyên truyền lôi kéo, công kích tín
ngưỡng, tôn giáo của người khác. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật,
Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn
giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhà
nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân được Nhà nước bảo đảm bằng pháp luật. Vi phạm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử
lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm
mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là
vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.
khucvu
Độc lập dân tộc là tiền đề để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở để bảo vệ độc lập dân tộc
Trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến ng có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[3]. Từ bài
học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Người đã lựa chọn và
đứng trên lập trường của giai cấp vô sản để tiến hành giải phóng dân tộc bằng
một cuộc cách mạng vô sản và bước phát triển tiếp theo là xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam khi nhấn mạnh: một là, cách mạng phải đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc; hai là, phải thực hiện Dân
tộc cách mệnh để tập trung đánh đổ bọn đế quốc thực dân và bọn phong kiến tay
sai giành lại độc lập cho xứ sở và Thế giới cách mệnh giống như giai cấp công
nông Nga đánh đổ tư bản áp bức…
Luận cứ để mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội có thể trở thành hiện thực sinh động ở Việt Nam chính là cách mạng
giải phóng dân tộc được đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản; là một bộ phận
khăng khít của cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội theo tinh thần của Quốc tế thứ III: “Vô sản giai
cấp và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại”! Đồng thời, “muốn cách
mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải
bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã
Khắc Tư và Lênin”[4] và
“An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”[5].
Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930,
tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được khẳng định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng. Con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đi tới xã hội cộng sản
chủ nghĩa được chỉ rõ là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội cộng sản”[6] -
tức là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu độc lập dân
tộc và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Hai giai đoạn cách mạng này có quan hệ biện chứng; trong đó: Để xây
dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải giành được độc lập dân tộc và đi lên
chủ nghĩa xã hội chính là điều kiện tiên quyết để giữ vững được độc lập dân
tộc, xây dựng được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc có hướng đích
chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp và phát huy được sức mạnh
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành
công, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhận thức rõ, độc lập dân
tộc, điều kiện đầu tiên để xây dựng và phát triển đất nước chỉ được bảo đảm
vững chắc khi gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giành được độc lập dân tộc mà
không đi lên chủ nghĩa xã hội thì chẳng những không bảo vệ được độc lập dân tộc
mà còn không thể mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, Đảng ta, nhân dân ta
đã luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội (giai đoạn
đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa) - mục tiêu định hướng tương lai của dân tộc
Việt Nam là sự lựa chọn chính xác, đúng đắn của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản
Việt Nam ngay từ thập niên 1930, đã góp phần khơi nguồn sức mạnh của toàn dân
tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ, phát
triển đất nước. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mục tiêu độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển,
phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) khẳng
định, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam sẽ tiến triển thành cách mạng
xã hội chủ nghĩa và nước Việt Nam sẽ thành một nước xã hội chủ nghĩa. Dưới ánh
sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp (1946-1954) đã giành được thắng lợi. Với Hiệp định Giơnevơ (20/7/1954),
miền Bắc Việt Nam được giải phóng đã từng bước khôi phục, cải tạo kinh tế, xã
hội, văn hóa và đi lên chủ nghĩa xã hội; còn ở miền Nam, đồng bào ta tiếp tục
thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng, thực hiện khát vọng thống nhất nước nhà.
Đại hội Đảng lần thứ III (1960) - Đại hội xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất
nước nhà đã xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là: Đưa miền Bắc tiến
nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, đẩy mạnh cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước, xây
dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Hướng đến tương lai tươi sáng đó, cuộc đấu tranh đầy gian khổ sau 21 năm gian
nan, thử thách, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh cách
mạng ở miền Nam đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân
năm 1975. Miền Nam được giải phóng, hai miền Nam - Bắc đã sum họp một nhà và cả
nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.

