Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

TÔI THẤY TỰ HÀO MÌNH LÀ NGƯỜI VIỆT NAM VÌ NHỮNG ĐIỀU NÀY !.


🇻🇳❤🇻🇳❤🇻🇳❤🇻🇳❤🇻🇳❤🇻🇳❤
❤1) Tôi tự hào mỗi sớm mai tôi có thể thức dậy và yên tâm là đầu mình còn trên cổ và tự do đi lại bất cứ nơi nào mà tôi thích giữa hai miền.
❤2) Tôi tự hào vì mỗi tên đất, tên đường ở xứ tôi đều viết bằng tên của những người anh hùng chứ không phải đánh số.
❤3) Tôi tự hào vì 1000 năm Bắc thuộc, vì hôm nay vẫn là công dân Việt Nam chứ không phải người tỉnh Việt Nam của Trung Quốc.
❤4) Tôi tự hào vì nước tôi là quốc gia đầu tiên trong số các thuộc địa giành được độc lập thực sự.
❤5) Tôi tự hào vì Trần Đại Nghĩa đã nói: “Một ngày ở Việt Nam bằng ba mươi năm tôi ở Pháp.”
❤6) Tôi tự hào vì Quang Dũng hát: “Đất nước tôi, thong thả giọt đàn bầu… Từ lúc còn nằm nôi sáng chắn bão giông chiều ngăn nắng lửa… lao xao trưa hè một giọng ca dao… lao xao trưa hè một giọng ca dao…”.
❤7) Tôi tự hào vì không một ai trong số những người đi kháng chiến có mặt trong các tấm hình mà tôi biết lại đang khóc. Tất cả họ đều cười rất tươi để đi vào cuộc chiến mặc dù họ biết có thể sẽ không trở về.
❤9)Tôi tự hào Thanh niên quê tôi đã từng viết đơn bằng máu để xin ra chiến trường cứu nước❤
❤10) Tôi tự hào vì Mỹ không thể san phẳng Hà Nội như đã từng làm với Bình Nhưỡng trong 20 ngày đêm năm 1972.
❤11) Tôi tự hào vì những gì mà Thế giới gọi là pháo đài bất khả xâm phạm và bất khả chiến bại thì đều bị Việt Nam đánh bại.
❤12) Tôi tự hào vì những tấm bia “chưa biết tên anh nhưng chiến công anh bất diệt” trên nghĩa trang quốc gia Trường Sơn.
❤13) Tôi tự hào vì sau chiến tranh Việt Trung 1979, người Trung Quốc đã làm một bức tượng Mao Trạch Đông ngay gần biên giới chỉ tay về Hà Nội còn người Việt Nam thì dựng lên một tấm bảng: Không có gì quý hơn độc lập tự do.
❤14) Tôi tự hào vì Mỹ phải bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.
❤15) Tôi tự hào vì nước tôi là một trong 20 nước từng làm Ủy viên Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc và nhiều hơn thế nữa.
❤16) Tôi tự hào vì nước tôi không có đánh b.o.m l.i.ề.u c.h.ế.t, không có xung đột sắc tộc, không có biểu tình phong tỏa sân bay, bến cảng.
❤17) Tôi tự hào vì đất nước tôi không có thủ tướng thuộc đảng Cam còn Quốc hội thuộc đảng Vàng để mà tổ chức bầu cử nửa năm một lần hoặc choảng nhau như cuộc tỷ thí quyền anh…
❤18) Tôi tự hào vì thủ tướng Úc có thể chạy bộ một mình trên bờ hồ Hoàn Kiếm còn tổng thống Mỹ thì phải được bảo vệ nghiêm ngặt ở ngay tại thủ đô Washington.
❤19) Tôi tự hào vì nước tôi không sản xuất v.ũ k.h.í h.ạ.t n.h.â.n, không sản xuất những thứ có thể g.i.ế.t n.g.ư.ờ.i hàng loạt mà chỉ sản suất những thứ để phục vụ con người.
❤20) Tôi tự hào vì nước tôi không bao giờ quên ơn những người đã giúp đỡ mình và sẵn sàng giúp đỡ bạn bè với lòng vô tư, trong sáng.
Các bạn thử đặt câu hỏi: Thế giới có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng được mấy đất nước yên bình, không giao tranh đổ máu, không p.h.i.ế.n q.u.â.n n.ổ.i l.o.ạ.n, không k.h.ủ.n.g b.ố như Việt Nam?
Cuộc sống yên bình của Việt Nam có được bây giờ là sự đánh đổi xương máu của bao anh hùng liệt sỹ đã hi sinh. Vậy nên, không có lý do gì để tôi đánh đổi sự yên bình hiện tại để đi theo cái bánh vẽ “dân chủ”, “nhân quyền” của mấy tên rận chủ cả!
Hãy luôn tự hào vì mình là người Việt Nam Bạn nhé !.
VuBao18

CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH (26/4 – 30/4/1975) GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC


Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch cuối cùng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, là chiến dịch quân sự có thời gian ngắn nhất trong chiến tranh Việt Nam. Chỉ diễn ra trong 6 ngày (từ 26/4 đến 30/4/1975) song chiến dịch đã đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử Việt Nam.
17 giờ ngày 26/4/1975, cuộc tổng công kích đánh chiếm Sài Gòn bắt đầu, mở màn cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Đến trước ngày 26/4/1975, 5 cánh quân tiến công từ 4 hướng vào thành phố Sài Gòn đã hình thành. Không kể lực lượng vũ trang tại chỗ (của các quân khu, tỉnh, huyện, đặc công biệt động), các binh đoàn chủ lực đã vào vị trí xuất phát tiến công.
Hướng Tây Bắc do Quân đoàn 3 đảm nhiệm, mục tiêu nội đô: sân bay Tân Sơn Nhất. Hướng Bắc - Đông Bắc do Quân đoàn 1 đảm nhiệm, mục tiêu nội đô: Bộ Tổng Tham mưu. Hướng Đông và Đông Nam do Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2 đảm nhiệm, mục tiêu nội đô: Dinh Độc Lập. Hướng Tây - Tây Nam do Binh đoàn cánh Tây Nam đảm nhiệm, mục tiêu nội đô: Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát. Tổng cộng 270.000 quân chiến đấu và 180.000 quân phục vụ hậu cần được huy động vào chiến dịch.
Đến ngày 28/4/1975, Sài Gòn đã hoàn toàn bị 5 cánh quân của ta vây chặt. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố dành cho đối phương một ngày để di tản. Vậy mà họ vẫn có ảo tưởng phái "sứ giả" đi đàm phán về giải pháp ngừng bắn.
Ngày 29/4, các cánh quân của ta đã chặn đánh và tiêu diệt các sư đoàn 22, 25, 5, 18, thủy quân lục chiến, các lữ 1 dù, lữ 3 kỵ binh ở tuyến ngoài của địch Trong khi đó, các lực lượng đặc công, biệt động, bộ đội địa phương đã phá hủy các trận địa pháo, đánh chiếm các đồn bốt, chiếm giữ các cầu vùng ven.
Ngày 30/4/1975, các binh đoàn của ta đã thọc sâu hùng mạnh, tiến chiếm ngay các mục tiêu chiến lược của địch, bắt toàn bộ nội các bù nhìn của địch, buộc Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng chủ lực, địa phương, cảnh sát thuộc quân khu 3 địch, lực lượng tổng trù bị còn lại và tàn quân của quân đoàn 1, quân đoàn 2. Đập tan hệ thống ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn/Gia Định và các tỉnh Tân An, Gò Công, Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu… Tạo điều kiện cho Quân khu 8 và 9 cùng với nhân dân địa phương tiến công nổi dậy tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân khu 4 địch và giải phóng đồng bằng sông Cửu Long trong hai ngày 30/4 và 1/5/1975.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại trong cuốn hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng: “Hội nghị Bộ Chính trị 31/3/1975 đã nhất trí nhận định ta hơn hẳn địch cả về thế chiến lược lẫn lực lượng quân sự, chính trị. Dù Mỹ có tăng viện cũng không thể cứu vãn nguỵ sụp đổ và đánh giá từ cuộc họp ngày 31/3/1975, số phận của chế độ Sài Gòn đã được định đoạt”.
Chiến dịch Hồ Chí Minh trong Đại thắng mùa Xuân 1975 đã làm được điều hiếm có trong lịch sử chiến tranh là giải phóng thành phố Sài Gòn hầu như nguyên vẹn, hạn chế đổ máu, đồng thời hoàn thành trọn vẹn mục tiêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”…Những những giá trị truyền thống và bài học lịch sử của nó thì còn lại mãi mãi với các thế hệ người Việt Nam./.
VuBao16
2

VỊ ĐẠI TƯỚNG CHỈ HUY CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG 4/1975.

 

Kết thúc thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, mọi n g ười mới hiểu hết được trí tuệ tập thể của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, trong đó có vai trò nổi bật của người chỉ huy Văn Tiến Dũng, người chịu trách nhiệm cao nhất với tư cách Tư lệnh Chiến dịch…
Sau những thắng lợi tạo tiền đề vững chắc của chiến dịch Tây Nguyên, Trị Thiên-Huế và chiến dịch giải phóng Đà Nẵng (tháng 3/1975), thời cơ để ta mở Tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn-Gia Định đã chín muồi.
Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị đã họp và nhận định: “Cuộc Tổng tiến công chiến lược đã giành được thắng lợi vô cùng to lớn, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 2 quân đoàn, giải phóng 16 tỉnh, đưa số nhân dân vùng giải phóng lên 8 triệu; thời cơ chiến lược tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi. Cần có sự quyết tâm lớn hoàn thành trận quyết định chiến lược cuối cùng tốt nhất trong tháng 4/1975”.
Trong bối cảnh ấy, đầu tháng 4/1975, Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định.
Về sau, thể theo nguyện vọng tha thiết của nhân dân và các lực lượng vũ trang trên chiến trường, trong đó có quân và dân thành phố Sài Gòn-Gia Định, Bộ Chính trị đã phê chuẩn đề nghị của Bộ Chỉ huy Chiến dịch đổi tên “Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định” thành “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.
Cũng thời điểm này, Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, được Nhà nước thăng cấp Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đồng thời, ông được cử vào làm đại diện Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, và là Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Đại tướng Văn Tiến Dũng là người trong kháng chiến chống Pháp giữ vai trò chỉ huy Đại đoàn 320 hoạt động trên chiến trường Bắc Bộ và trong kháng chiến chống Mỹ, người trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch có tính quyết định đối với thắng lợi cuối cùng như chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), chiến dịch Trị - Thiên (1972), chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3/1975).
Trong cuộc tấn công sào huyệt cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa - khu Sài Gòn-Gia Định, Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Chiến dịch như Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Đinh Đức Thiện, Lê Ngọc Hiền… quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị: “Thần tốc, táo bạo, chắc thắng, đánh chiếm Sài Gòn nhanh gọn, nhưng phải đảm bảo cho thành phố ít bị tàn phá, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và của”.
Trước khi ra quyết định, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã trăn trở rất nhiều: Đánh vào Sài Gòn như thế nào cho nhanh, chắc thắng, làm sụp đổ cả chế độ ngụy quân, ngụy quyền, đập tan cả hệ thống tổ chức quân đội và chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến cơ sở, phá tan bộ máy chiến tranh..., nhưng lại phải đánh như thế nào để thành phố ít bị tàn phá nhất, giải phóng được mấy triệu đồng bào mà hạn chế đổ máu và bảo đảm cuộc sống nhanh trở lại bình thường.
Để giải quyết vấn đề này, Đại tướng cùng tập thể Bộ Chỉ huy chiến dịch đã phân tích vấn đề một cách thấu đáo, toàn diện, cụ thể, tìm ra phương án tối ưu, bảo đảm thắng lợi.
Sau nhiều đêm thức trắng trao đổi, bàn bạc, Đại tướng Văn Tiến Dũng và Bộ Chỉ huy Chiến dịch đi tới nhất trí về cách đánh: Dùng một bộ phận lực lượng thích hợp trên từng hướng, đủ sức hình thành bao vây, chia cắt, chặn giữ quân địch lại, không cho chúng rút chạy về Sài Gòn…
Dùng đại bộ phận lực lượng các đơn vị nhanh chóng thọc sâu, đánh chiếm các địa bàn then chốt ở vùng ven, mở đường cho các binh đoàn đột kích cơ giới hóa mạnh, đã được tổ chức chặt chẽ, tiến theo các trục đường lớn, đánh thẳng vào 5 mục tiêu được lựa chọn trong nội thành. Năm mục tiêu đó là: Bộ Tổng Tham mưu ngụy, Dinh Độc Lập, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát ngụy quyền và sân bay Tân Sơn Nhất.
Dưới sự chỉ đạo của ông, chỉ sau 5 ngày (từ 26-30/4/1975), Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi, miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Điện của Bộ Chính trị từ Hà Nội gửi vào cho Bộ Chỉ huy Chiến dịch: “Đã nhận được tin ta cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Gửi các anh lời chúc mừng đại thắng. Bộ Chính trị rất vui”…
Theo phân tích của các tướng lĩnh, việc điều khiển 5 cánh quân từ 5 hướng cùng tiến vào bao vây cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn - Gia Định là đợt tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn.
Những binh đoàn từ Bắc Trị Thiên, Tây Nguyên, Khu 5 xuất phát vào những thời điểm khác nhau, đi trên nhiều trục đường, xử lý tình huống tấn công mở đường khác nhau nhưng Đại tướng Văn Tiến Dũng đã tính toán, chỉ đạo thống nhất để tất cả hành quân tiến kịp về Sài Gòn và phối hợp ăn ý.
Kết thúc thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, mọi người mới hiểu hết được trí tuệ tập thể của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, trong đó có vai trò nổi bật của người chỉ huy Văn Tiến Dũng, một người rất quyết đoán và chịu trách nhiệm cao nhất…
Đại tướng Văn Tiến Dũng đã kể lại cảnh các đồng chí trong Sở Chỉ huy Chiến dịch vào trưa ngày 30/4/1975: "Mọi người ngồi quanh chiếc máy thu thanh và khi nghe giọng nói của Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh nói lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện, tất cả chúng tôi đều nhảy lên, reo lên, ôm hôn nhau, công kênh nhau. Tiếng vỗ tay, tiếng cười, tiếng nói ríu rít, vui náo nhiệt. Các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng ôm chầm lấy tôi. Tất cả đều nghẹn ngào, xúc động... Anh Đinh Đức Thiện mắt đỏ hoe, nói bây giờ nếu có nhắm mắt cũng yên lòng”...
Sau đó, vào một ngày giáp Tết Bính Thìn năm 1976, Đại tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng ta lên đường sang Paris dự Đại hội lần thứ 22 Đảng Cộng sản Pháp.
Trong một hội trường lớn ở thủ đô Paris, gần 2.000 đại biểu dự Đại hội 22 Đảng Cộng sản Pháp, đã đứng dậy vỗ tay hoan hô rất lâu khi Đại tướng Văn Tiến Dũng, trong bộ quân phục bước vào, trước ánh đèn rực sáng của máy ảnh, máy quay phim. Đến giờ giải lao, nhiều người tới quây lấy Đại tướng bắt tay, chúc mừng thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh; xin chữ kí, chụp ảnh chung và xin phỏng vấn: “Vì sao Việt Nam thắng, Mỹ thua?”.
Lúc này, Đại tướng Văn Tiến Dũng xúc động nghĩ tới công lao vĩ đại của Bác Hồ; sự chỉ đạo sáng suốt, tài thao lược, tính kiên quyết, tư tưởng cách mạng tiến công của tập thể Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương; những hy sinh cao quý, những cố gắng phi thường của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Khi chiến tranh đã lùi xa, nhân dân ta thấy lịch sử có sự trùng hợp thú vị: Sự kiện kết thúc hai cuộc kháng chiến chống giặc, cứu nước (chống Pháp, chống Mỹ) đều bằng hai chiến dịch lịch sử do hai vị Đại tướng chỉ huy là Võ Nguyên Giáp và Văn Tiến Dũng. Hai chiến dịch này đều mang tính quyết định cuối cùng với thắng lợi về tay nhân dân Việt Nam.
Những chiến công vĩ đại ấy mãi lưu danh sử sách!
VuBao15

TÌNH ĐOÀN KẾT ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO LÀ DI SẢN VÔ GIÁ


Trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới thay đổi nhanh chóng, Lào và Việt Nam xây dựng cơ chế hợp tác chặt chẽ, bảo đảm cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CHO HÀNH VI TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC


Ngày 26/4/2022, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Đinh Văn Hải về tội “Làm, tàng trữ, phát tán và tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại khoản 1, Điều 117 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trên cơ sở tài liệu, hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa và kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Đinh Văn Hải 5 NĂM TÙ GIAM VÀ 3 NĂM QUẢN CHẾ.
Đinh Văn Hải sinh ngày 16/8/1974 tại Bình Định, đăng ký hộ khẩu thường trú tại: thôn Ninh Hoà, xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng. Từ năm 2011, Đinh Văn Hải thường xuyên lên các trang mạng xã hội như “Facebook”, “Safe Chat” để livestream, viết và đăng tải các bài viết có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước”. Tuy đã được chính quyền địa phương, người thân trong gia đình giáo dục, cảm hóa nhưng Đinh Văn Hải vẫn ngoan cố thực hiện hành vi vi phạm pháp luật với tính chất, mức độ ngày càng manh động.
Ngày 07/10/2021, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đinh Văn Hải về tội “Làm, tàng trữ, phát tán và tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Quá trình điều tra, lực lượng chức năng đã thu thập được chứng cứ là 13 video clip và nhiều bài viết được đăng trên trang Facebook cá nhân của Đinh Văn Hải, tất cả các tài liệu này đã được Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Lâm Đồng kết luận giám định nội dung “…sai sự thật, bịa đặt nhằm xuyên tạc lịch sử, tình hình kinh tế, xã hội, chính trị, công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta…”, quá trình làm việc cơ quan điều tra, Đinh Văn Hải đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Như vậy, bản án mà Toà sơ thẩm tuyên là hết sức nghiêm minh, đúng người, đúng tội và là điều hết sức cần thiết đối với những kẻ luôn tìm cách chống phá Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam như Đinh Văn Hải; và hơn hết, đây cũng chính là bài học, lời cảnh tỉnh cho những đối tượng đã, đang có ý đồ, hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lợi ích của dân tộc./.
VuBao14

MỘT KỊCH BẢN GIẢ DỐI

 

SVuBao13ự tàn bạo, độc ác của Ngô Đình Diệm thì sử sách Đông - Tây mãi mãi ghi. Ông ta lê máy chém khắp miền Nam để giết hại đồng bào trong chủ trương "tố cộng, diệt cộng", giết nhầm hơn bỏ sót, với việc làm ác ôn đó thì hắn ta đã ngồi cùng hàng với Hít Le của Đức, Hideki Tojo của Nhật, Mussolini của Ý và Pôn Pốt của Campuchia...
Diệm theo Mỹ nhưng bị Mỹ bật đèn xanh cho cấp dưới Ngô Đình Diệm sát hại cả dòng họ y. Chính ngụy Sài Gòn đã khai tử tên đầu sỏ của ngụy Sài Gòn. Thế nhưng bây giờ chính đám 3/ xỏ lá lại tung hô và ca ngợi hắn. Đúng là vở hài kịch xuyên thế kỷ. Dưới âm tào địa phủ, Ngô Đình Diệm chắc cũng muốn đội mồ sống dậy để kêu rằng: THẾ AI ĐÃ SÁT HẠI ANH EM TA?
VuBao13

 VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG TÁC PHẨM CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Gắn liền với quyền lực được trao, kiểm soát quyền lực là vấn đề cực kỳ quan trọng để bảo đảm quyền lực được thực hiện đầy đủ, không bị lạm dụng, sử dụng sai mục đích, dẫn đến hậu quả tiêu cực, thậm chí liên quan đến lợi ích sống còn của quốc gia, dân tộc, sự tồn vong của một chế độ. Chính vì vậy, trong tác phẩm 'Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam' nội dung kiểm soát quyền lực được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt chú trọng, đề cập nhiều lần.
Vấn đề kiểm soát quyền lực được Ðảng ta chú trọng gắn liền với công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, đặc biệt là nhiệm kỳ Ðại hội XI, XII, XIII. Ðại hội XIII của Ðảng đã đặt ra yêu cầu: “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”. Ðiều này thể hiện quyết tâm chính trị của Ðảng nhằm xây dựng, phát triển một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực.
Kế thừa những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Ðảng, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần đề cập, có tư tưởng, quan điểm mới về công tác kiểm soát quyền lực, có thể khái quát ở những phương diện sau đây:
Về tha hóa quyền lực, trong tác phẩm, tác giả đã chỉ ra những biểu hiện của tha hóa quyền lực. Theo đó, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, lợi ích nhóm, lãng phí, tiêu cực còn có những diễn biến phức tạp, khó lường; những khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên có nguy cơ gia tăng về số lượng và nghiêm trọng hơn về mức độ, tính chất, quy mô và tinh vi trong cách vi phạm.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, ở đâu có quyền lực, ở đó có tha hóa quyền lực. Tha hóa quyền lực là hiện tượng sử dụng quyền lực không đúng với chức năng, thẩm quyền được giao và diễn ra theo cả hai hướng:
Tình trạng “lạm quyền”, “lộng quyền”: là hành vi lợi dụng quyền lực được trao, làm và quyết định những việc vượt quá thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ được giao. Ðó là tình trạng “vi phạm nguyên tắc và quy chế làm việc, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm... lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, luật pháp, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát lớn vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng. Hay như “Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình... Ðể nội bộ mất đoàn kết... lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính”, “cua cậy càng, cá cậy vây”...
Tình trạng không làm hết, không “tròn vai” quyền lực được trao: đó là hiện tượng không làm hết chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được trao. Cụ thể là bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định vào đường lối quan điểm của Ðảng, cơ hội chính trị, xu nịnh, chạy chọt, thiếu chính kiến, “mũ ni che tai”, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; thiếu tu dưỡng, rèn luyện; không chịu nghiên cứu học hỏi, bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, ý thức kỷ luật kém, không chấp hành kỷ luật tổ chức, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “quyền anh, quyền tôi”...
Cả “lộng quyền”, “lạm quyền”, làm không hết, không “tròn vai” quyền lực được trao đều có thể để lại những hậu quả là làm sai, làm trái, làm không hết chức trách nhiệm vụ, gây hậu quả với tính chất, mức độ khác nhau. Bằng những biểu hiện cụ thể, Tổng Bí thư đã chỉ rõ sự tha hóa quyền lực về “lạm quyền”, “lộng quyền”, tình trạng làm không hết quyền lực được trao một cách chi tiết, dễ hiểu, dễ nhớ. Cán bộ, đảng viên, người đọc có dễ dàng nhận diện, hệ thống, trên cơ sở đó phê bình, tự phê bình, “tự soi, tự sửa”, tự tu dưỡng, rèn luyện; đồng thời cơ quan chức năng có thể phát hiện, xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm.
Về sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực. Xã hội muốn tồn tại, phát triển đều phải được quản lý bằng hệ thống luật pháp, chuẩn mực đạo đức xã hội, nhất là trong điều kiện nước ta xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tác phẩm chỉ rõ: “Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hòa thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp (nếp nhà): “Trên kính dưới nhường”, tôn ti trật tự, không thể vô lễ, vô phép, “cá mè một lứa”, “thượng hạ bằng đẳng”... Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có “nội quy”; một tổ chức, đoàn thể phải có “quy chế”, có “điều lệ”... Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước.
Quyền lực không được kiểm soát, tình trạng tha hóa quyền lực rất dễ dẫn đến quyết định, việc làm không đúng nguyên tắc, quy định, để lại hậu quả tai hại. Tổ chức càng lớn, chức vụ càng cao nếu xảy ra tha hóa quyền lực thì hậu quả, tác động càng rộng, tính chất càng nghiêm trọng, thậm chí là liên quan đến lợi ích sống còn của quốc gia, dân tộc, sự tồn vong của một chế độ.
Mặt khác, tình trạng “lộng quyền”, “lạm quyền”, làm không đúng quy định, thực hiện không hết chức năng của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, xảy ra hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí... làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Ðảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, niềm tin của nhân dân đối với hệ thống chính trị, chế độ xã hội.
Như vậy, quyền lực là vấn đề không thể thiếu để duy trì trật tự xã hội, bảo đảm lợi ích chung. Quyền lực cũng có xu hướng bị lạm dụng để vun vén lợi ích cá nhân, có quyền rất dễ bị cám dỗ, tha hóa, lạm quyền, lộng quyền; vì thế cần phải kiểm soát, cơ chế bảo đảm, chế tài xử lý để xã hội thực sự công bằng, thể hiện thượng tôn pháp luật. Kiểm soát quyền lực chính trị là cần thiết, tất yếu khách quan đối với bất cứ thể chế chính trị nào.
- Về cơ chế, giải pháp kiểm soát quyền lực. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới giá trị tiến bộ, nhân văn dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, hài hòa với lợi ích chính đáng của con người. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Phải chăng cơ chế kiểm soát quyền lực được vận hành theo cơ chế, mô hình chung đó. Kiểm soát quyền lực để loại bỏ những nguy cơ, những hành vi, những việc làm sai trái của các chủ thể, bảo đảm quyền lực được sử dụng và thực hiện đúng theo quy định, Hiến pháp và pháp luật.
Ðảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Ðối với kiểm soát quyền lực, Ðảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối, quy định để kiểm soát quyền lực trong Ðảng; đồng thời để trên cơ sở đó, Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành pháp luật. Ðảng thực hiện chức năng lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước để ngăn chặn, xử lý hiện tượng tổ chức, cán bộ, đảng viên vi phạm.
Nhà nước được tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị-xã hội thực hiện giám sát và phản biện mang tính xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Nhân dân thực hiện vai trò làm chủ, thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; người đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, chính quyền tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Cơ chế kiểm soát quyền lực luôn bảo đảm sự phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Ðảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả, hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý, đề xuất bổ sung, sửa đổi các văn bản có liên quan cho phù hợp. Sự phối hợp đó góp phần thực hiện có hiệu quả cơ chế kiểm soát quyền lực.
Ðể kiểm soát quyền lực, trong tác phẩm, Tổng Bí thư xác định nhiều giải pháp cụ thể để kiểm soát quyền lực. Ðáng chú ý là: (1) Xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh; cán bộ, đảng viên nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương, “người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu”. Tăng cường xây dựng Ðảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức để Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. (2) Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiệu lực, hiệu quả, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, khoa học; xây dựng được thể chế đầy đủ, chặt chẽ, làm căn cứ để thực hiện ngăn chặn tha hóa quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Người có chức, có quyền không thể tham nhũng được nếu có các quy định pháp lý chặt chẽ, đầy đủ, công khai, minh bạch và được kiểm tra, giám sát thường xuyên; phòng, chống tham nhũng; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng”. (3) Thường xuyên thực hiện kiểm tra, giám sát theo phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. (4) Xử lý, kỷ luật nghiêm minh những sai phạm, công tác phát hiện và xử lý phải được chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực./. (42)
Nguồn: Báo Nhân dân
Cuốn sách "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam".
ST-VuBao12
Không có mô tả ảnh.

Các thế lực thù địch thường viện dẫn quyền con người

             Ngày nay, các thế lực thù địch và tay sai của chúng đang tích cực thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" nhằm chuyển hóa xã hội hiện hữu sang con đường tư bản chủ nghĩa. Thế nên họ thường lợi dụng QCN-một giá trị được cộng đồng quốc tế thừa nhận, Việt Nam tôn trọng và ghi nhận… với suy nghĩ rằng điều này sẽ được người dân hoan nghênh và cộng đồng quốc tế ủng hộ họ. Mặt khác, họ xuyên tạc khái niệm QCN nhằm khuyến khích và trấn an người dân khi lợi dụng internet, mạng xã hội một cách thiếu thận trọng, nhất là với tuổi trẻ. Họ tuyên truyền rằng QCN là quyền không có bất cứ hạn chế nào; mọi hành vi chống chế độ một cách “ôn hòa”, “bất bạo động” là hợp pháp; cơ quan chức năng trấn áp tội phạm là “vi phạm QCN”… Với giọng điệu của các thế lực thù địch như trên dẫn đến một số người dân ngộ nhận về QCN, vi phạm pháp luật, rơi vào vòng lao lý.

Như thông tin đại chúng đã đưa, các cơ quan chức năng ở các tỉnh, thành phố: Bình Thuận, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh… đã truy tố, xét xử một số người tham gia biểu tình gây rối trật tự công cộng ngày 10-6-2018. Khi đối diện với pháp luật và các cơ quan chức năng… họ đều khai rằng: Chỉ làm theo, nghe theo lời kêu gọi biểu tình phản đối dự án Luật Đặc khu, Luật An ninh mạng… của một số kẻ khác vì nghĩ rằng đi biểu tình là “yêu nước”, là “bảo vệ QCN”… Đáng tiếc, họ quên rằng: Tất cả các quyền đều đi kèm với nghĩa vụ, trước hết là nghĩa vụ tôn trọng pháp luật.

Việc Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh vừa đưa ra xét xử Will Nguyễn (20-7-2018) là một bằng chứng thể hiện rõ quan điểm của Việt Nam về QCN. Còn nhớ trước phiên tòa, trên internet, mạng xã hội đã có nhiều thông tin dự báo về mức án dành cho Will Nguyễn, có kẻ nói: “Hà Nội phải trả tự do không có điều kiện cho Will Nguyễn (vì Hoa Kỳ đang gây sức ép)”; có người cho rằng mức án tối thiểu của Will Nguyễn nằm trong khung hình phạt từ 2 đến 7 năm tù giam… Nhưng rút cuộc, tòa đã tuyên phạt Will Nguyễn trục xuất (có hiệu lực ngay khi tòa tuyên án).

Như vậy là tất cả những dự đoán đều sai, Will Nguyễn không được “trả tự do vô điều kiện”, hoặc bị tù “từ 2 đến 7 năm” mà đã nhận được một bản án thấp nhất trong khung hình phạt về hành vi gây rối trật tự công cộng. Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ ngày nay đã có những thay đổi lớn. Hai nhà nước đã trở thành đối tác toàn diện (bao gồm cả an ninh, quốc phòng) trên cơ sở nguyên tắc hai bên tôn trọng thể chế, pháp luật của nhau. Bởi vậy có thể nói, bản án dành cho Will Nguyễn không chịu bất cứ một sức ép nào. Đồng thời bản án đã thể hiện rõ quan điểm QCN và tinh thần nhân đạo, khoan dung của Nhà nước Việt Nam. Cũng phải nói thêm rằng, Will Nguyễn được nhận bản án đó còn vì trước tòa, Will Nguyễn đã thật thà thừa nhận tội lỗi của mình và còn bày tỏ vẫn muốn được trở về Việt Nam, đóng góp sức lực cho việc xây dựng đất nước./.

TRƯỜNG TỒN    

 

Kết hợp giữa “xây” và “chống” làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù

         Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới toàn diện gắn xây dựng với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Do vậy, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trong cả nước và trong quân đội. Trước hết, cần nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, lịch sử truyền thống yêu nước và cách mạng, tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao niềm tin vững chắc của nhân dân vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước; nắm vững âm mưu, thủ đoạn hoạt động phá hoại của kẻ địch với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để chủ động phòng ngừa không để cho nó phát sinh, phát triển gây tác động xấu trong xã hội, quân đội.

Trang bị kiến thức, rèn luyện bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ, đảng viên và người dân khả năng “tự bảo vệ” chống sự xâm nhập phá hoại của các tư tưởng xấu độc làm cho nội bộ ta “'tự diễn biến “tự chuyển hóa” về lập trường quan điểm tư tưởng theo hướng tư bản chủ nghĩa. Phải phát huy cao nhất sức mạnh toàn dân để bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng -văn hóa. Trong giáo dục, tuyên truyền phải kịp thời cung cấp thông tin, lý lẽ để mỗi cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân có thể chủ động đấu tranh phản bác các thông tin xuyên tạc và quan điểm sai trái, của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị. Thông qua đấu tranh để khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng, của đường lối đổi mới là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định những giá trị tốt đẹp trong truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; vạch trần bản chất phản động phản văn hóa của các nội dung tuyên truyền xuyên tạc của địch. Thường xuyên làm tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác văn hóa - tư tưởng ở cơ sở, có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ tư tưởng - văn hóa làm nòng cốt trong công tác tuyên truyền, giáo dục trong nhân dân.

Kết hợp chặt chẽ giữa xây” và “chống”, xây dựng thế trận phòng, chống các hoạt động phá hoại của địch trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, hình thành mạng lưới tiến công các tư tưởng thù địch đang lan truyền trong xã hội, bảo đảm định hướng tư tưởng chính trị trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng góp phần xây dựng con người mới, nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

TRƯỜNG TỒN

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ khác hẳn về bản chất và đối lập về nguyên tắc với dân chủ tư sản.

         Đó là chế độ dân chủ “gấp triệu lần” hơn bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử như V.I.Lê nin từng khẳng định. Thực thi dân chủ sai nguyên tắc, vô nguyên tắc đều là trái với lí tưởng của cách mạng, với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Xa rời những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, thì việc dân chủ hóa sẽ trượt sang dân chủ phi xã hội chủ nghĩa và đồng nghĩa với việc thủ tiêu chủ nghĩa xã hội. Cần nhớ lại một bài học đau xót và thấm thía về sự vi phạm dân chủ và thực thi dân chủ sai nguyên tắc ở  Liên Xô trong thời gian cải tổ. Những đơn thuốc “công khai hóa”, “dân chú hóa”, “đa nguyên chính trị” đưa ra nhằm cải tổ chủ nghĩa xã hội lại tạo thời cơ, điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch ráo riết hơn, quyết liệt hơn trong mưu đồ chống phá và dẫn đến thủ tiêu chế độ  Xô viết.

Thực tiễn cho thấy, bản chất tốt đẹp và tính ưu việt cửa nền dân chủ nước ta ngày càng thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày của quần chúng nhân dân. Kể từ khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đứng lên làm chủ, tự mình tổ chức, cai quản và xây dựng xã hội mới. Đó là thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Chế do dân chủ ở nước ta, xét về bản chất, là một thể chế chính trị mà trong đó quyền lực chính trị - xã hội thuộc về nhân dân, là chế độ bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tinh thần phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các văn bản hiến pháp, pháp luật mà ngày càng được thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày.

Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong xã hội ta, mọi công dân Việt Nam đều có quyền tham gia quản lí xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn. Trong các cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, tỉ lệ cử tri đi bầu rất cao. Tỉ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội ngày càng cao, nhất là tỉ lệ nữ là đại biểu Quốc hội đứng thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ 9/135 nước trên thế giới. Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn của Quốc hội; việc thực hiện đối thoại trực tuyến của Chủ tịch nước, của Thủ tướng Chính phủ. . . với nhân dân, những cuộc tiếp xúc của các đại biểu với cử tri chuẩn bị cho các kì bầu cử Quốc hội đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm chủ, thực thi quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động của Nhà nước và đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình. Điều đó thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ dân chủ ở nước ta.

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch triệt dễ sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại trong đó có mạng Internet vào việc truyền bá các quan điểm thù địch, sai trái, xuyên tạc, công kích chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong rất nhiều tài liệu tán phát trên mạng chúng vu cáo Đảng và Nhà nước ta vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mà biểu hiện lộ liễu nhất là mới đây, một số tổ chức và cá nhân đã dựng đứng lên tình hình vi phạm quyền tự do ngôn luận nghiêm trọng ở Việt Nam rồi kêu gọi Việt Nam “thả các blogger bị cầm tù và tôn trọng tự do Internet”. Những ai xuyên tạc tình hình Việt Nam cần phải thấy rằng, hiện nay báo chí Việt Nam có sự phát triển nhanh về số lượng, loại hình, ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số lượng người đọc; cơ sở vật chất kĩ thuật, công nghệ, năng lực tài chính, sự tác động và ảnh hưởng xã hội. Báo chí thực sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, là diễn đàn của nhân dân; quyền tự do báo chí được bảo đảm bằng pháp luật và thể hiện cụ thể trong thực tiễn.

Ở Việt Nam quyền tự do báo chí tự do hội họp theo quy định của pháp luật. Hiện nay cả nước có 18.259 cơ sở của tổ chức xã hội, 1.681 cơ sở thuộc tổ chức xã hội - nghề nghiệp, có hơn 500 cơ quan báo chí, với hơn 700 ấn phẩm báo chí, hơn 2.500 trang thông tin điện tử đang hoạt động. Những con số này vẫn tiếp tục gia tăng. Hệ thống phát thanh truyền hình phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hầu hết các xã được phủ sóng truyền hình. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới về Internet. Đó là kết quả biểu hiện rõ ràng và sinh động về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở nước ta. Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam có quyền ngăn chặn việc lưu hành trên mạng các thông tin và hình ảnh vi phạm thuần phong mĩ tục, kích động bạo lực, khiêu dâm, truyền bá các tài liệu chống phá đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước vi phạm an ninh quốc gia. Đó hoàn toàn không phải là “hạn chế dân chủ”, ngăn chặn sự “bày tỏ quan điểm ôn hòa trên Internet” như có người cố tình gán ghép. Những luận điệu vu cáo Đảng và Nhà nước ta “vi phạm” tự do ngôn luận, tự do báo chí là những luận điệu vô căn cứ, nhằm dụng ý xấu.

Cần phải thấy rằng, dân chủ bao giờ cũng gắn liền với pháp luật và kỉ luật, kỉ cương. Bất cứ một nền dân chủ nào cũng vậy dù là dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa đều tồn tại trong khuôn khổ pháp luật. Dân chủ không có nghĩa là dân chủ vô nguyên tăc, càng không thể là vô chính phủ. Tự do ngôn luận, tự do báo chí không có nghĩa là tự do đảo lộn “chính”, “tà” Báo chí phải thực sự là “vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”. Lợi dụng dân chủ, lợi dụng tự do báo chí, tự do Internet để gây mất ổn định chính trị - xã hội, chống lại Tổ quốc và dân tộc là hành động không thể chấp nhận được, là trái với dân chủ.

Dù còn có những hạn chế nhất định trên con đường hoàn thiện, nhưng bản chất chế độ dân chủ ở nước ta là tốt đẹp và ưu việt. Bản chất tốt đẹp và tính ưu việt đó không phải tự nhiên mà có, mà đó là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam. Chúng ta phải kiên quyết bảo vệ, giữ gìn, nâng cao và phát huy trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa./.

TRƯỜNG TỒN