Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

CHIẾN THÁNG 30/4 Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC CHO TƯƠNG LAI

 

Thắng lợi 30/4/1975 mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc, khẳng định tầm vóc vĩ đại, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của cả dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chiến thắng 30/4 với thế giới, đó là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ, động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi vĩ đại, để lại cho dân tộc ta nhiều bài học vô giá, có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau. Thắng lợi đó là thành quả của nhiều nhân tố, trong đó sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là một nhân tố cơ bản, quan trọng. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo. Chính nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta đã đưa ra được những quyết định sáng suốt và chính xác, trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình thế giới, trong nước, tương quan lực lượng giữa ta và địch để xác định đúng thời cơ lịch sử, hạ quyết tâm chiến lược mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đánh bại hoàn toàn đội quân của chính quyền Sài Gòn, giành thắng lợi triệt để trong thời gian ngắn nhất. Việc đưa ra những quyết định mang tính lịch sử thể hiện tài thao lược, thông minh, sáng tạo tuyệt vời của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh. Đường lối, chủ trương của Đảng tạo bước ngoặt mang tính lịch sử để nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng, giải phóng dân tộc, thống nhất non sông.

Thắng lợi ngày 30/4, vừa mang ý nghĩa lịch sử, vừa mang tầm thời đại, thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ, ý chí “dòng máu Lạc Hồng”, không bao giờ khuất phục trước kẻ thù xâm lược. Đồng thời, khẳng định một chân lý: Trong thời đại ngày nay, khi các lực lượng cách mạng thế giới đang ở thế tiến công, một dân tộc đất không rộng, người không đông, song đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh kiên quyết dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mác - Lênin có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới, thì hoàn toàn có thể đánh bại mọi thế lực đế quốc xâm lược, dù đó là tên đế quốc đầu sỏ.

 Chiến tranh đã lùi xa nhưng mỗi người mang trong mình “dòng máu Lạc Hồng” cần mãi ghi nhớ rằng: Hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới, nhân dân Việt Nam luôn thiết tha với hòa bình, khát vọng tự do và hạnh phúc, không bao giờ muốn chiến tranh. Để có được thắng lợi đó phải đổi bằng sự đau thương, mất mát của cả dân tộc suốt 21 năm chiến tranh.

Vì thế, bất kể một ai xuyên tạc lịch sử, phủ nhận ý nghĩa, tầm vóc ngày chiến thắng 30/4/1975 thì đó là những hành vi phản bội, có tội với đất nước, chà đạp lên tương lai dân tộc, nhất quyết phải bị trừng trị thích đáng. Dù khép lại quá khứ nhưng không được quên quá khứ, càng không thể phủ nhận và phỉ báng lịch sử. Sự dối trá, hèn hạ phỉ báng lịch sử của một số thế lực thù địch đã khơi gợi hận thù, kích động mâu thuẫn… không chỉ là hành động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất mà còn là sự phá hoại tương lai của dân tộc. Chúng ta phải kiên quyết lên án, xóa bỏ những tư tưởng ấy để “mở nền thái bình muôn thuở", "dập tắt chiến tranh muôn đời”. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam cần hết sức tỉnh táo sàng lọc thông tin, không phát tán, bình luận, chia sẻ những thông tin lịch sử không có kiểm chứng. Mặt khác, cần đẩy mạnh tuyên truyền tới mọi người dân và cộng đồng những thủ đoạn, âm mưu của kẻ địch để mọi người cảnh giác./.


NHỮNG CHI TIẾT PHI LÝ TRONG CÂU CHUYỆN "LỊCH SỬ"!

         Càng gần ngày 30/4, lại thấy nhiều câu chuyện xạo lồng trên mấy đài hải ngoại như BBC, RFA, xuất phát từ mấy thánh "mõm", đánh nhau thì kém nhưng bịa chuyện thì giỏi. Đơn cử như câu chuyện này.

Không biết BBC lôi đâu ra anh Nguyễn Quang Duy, để rồi từ anh Duy lại kéo theo một binh sĩ VNCH "giấu tên" kể về hành trình bị dẫn giải ra Hà Nội. Nào là "Đoàn tù binh đi diễn hành qua phố Khâm Thiên, những dây xích sắt khua vang trên mặt đường Hà Nội"; rồi nào là câu chuyện người thương phế binh trên chiếc xe lăn chặn đoàn tù binh và một ông trưởng trại giam nào đó giơ súng vào đồng đội mình để dọa bắn.

Tất cả để vẽ lên bức tranh về một "chính quyền cộng sản" máu lạnh, vi phạm công ước về tù binh chiến tranh rồi vẽ lên hình ảnh những người cộng sản sẵn sàng giơ súng vào nhau, thanh toán như kiểu xã hội đen Hồng Kông. Xin lỗi, đó chỉ là tình tiết trên phim của phương Tây, chứ chẳng hề có thật. 

Thử xem, trong tất cả các tài liệu lịch sử, có bao giờ những người cộng sản ở miền Bắc đem tù nhân từ miền Nam ra miền Bắc để diễu hành, chứng minh chiến thắng không. Hoàn toàn không, chúng tôi chỉ có diễu binh bằng những đội quân chiến thắng, chứ không cần thiết phải đem tù nhân chiến tranh ra để diễu hành. Cần gì chứ, khi cả thế giới đã chứng kiến chiến thắng huy hoàng của quân đội giải phóng rồi.

Có bao giờ một trưởng trại giam nào, dám giơ súng với những người đồng đội của mình, nhất là khi họ là thương binh, đã hi sinh phần máu xương cho dân tộc? Không bao giờ có chuyện như vậy!
Lịch sử là lịch sử, không thể có chuyện tô vẽ, bôi nhọ đâu, các anh lưu vong ạ./.
Yêu nước ST.

NHỮNG KẺ XUYÊN TẠC, ĐÁNH TRÁO, XÓA NHÒA LỊCH SỬ

 

Cứ gần đến dịp kỷ niệm 30-4, lại xuất hiện những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm. Gần đây, trên một trang xưng là của cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn nhắc lại những từ ngữ như “tháng Tư là tháng "vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận-tháng tư đen”. Nhiều trang mạng viết coi cuộc kháng chiến thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào.

Một số ít người tự cho mình là cấp tiến, tùy tiện phán xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”. Cù Huy Hà Vũ, kẻ sinh ra trong một gia đình cách mạng, từng bị tòa án tuyên án khi bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, gây chia rẽ, thù hằn dân tộc. Gần đây, khi sang Mỹ, Vũ phát ngôn cho rằng, hòa hợp dân tộc không dừng ở hòa hợp giữa hai bên “thắng cuộc” và "thua cuộc" mà còn là hòa hợp giữa những nhà dân chủ với chính quyền hiện nay. Chỉ khi nào “chế độ cộng sản sụp đổ, người Việt mới có hòa hợp, hòa giải”. Nguyễn Lân Thắng, "kẻ đốt đền" trong một gia đình khoa học thì lại muốn nổi tiếng bằng những lời xảo ngôn: "Mình mong ngày 30-4 sẽ chuyển thành ngày tưởng niệm những mất mát của dân tộc, đừng nói chuyện ai thắng, ai thua". Lý Thái Hùng, kẻ tự xưng là "tổng bí thư" của tổ chức khủng bố Việt Tân gần đây đã hô hào biến ngày 30-4 từ "quốc hận" trở thành “tinh thần quốc kháng” để chống lại chế độ cộng sản.

Năm 2018, tại Washington (Mỹ), cái gọi là “tập hợp vì dân chủ cho Việt Nam” đã tổ chức hội thảo có chủ đề “Nhìn lại chiến tranh Việt Nam” và đưa ra một số luận điểm bịa đặt, biện hộ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa. Họ kêu gọi: “thời gian qua, Việt Nam vẫn chưa có tự do, vẫn chưa có dân chủ. Thành ra sứ mệnh của người trẻ tại hải ngoại sẽ phải tiếp tục đồng hành, tiếp tục tranh đấu cho tự do và dân chủ”. Xung quanh bộ phim tài liệu 10 tập The Vietnam War (Chiến tranh Việt Nam) được Mỹ công chiếu, một số người trong nhóm "Văn đoàn độc lập" đã xét lại lịch sử: “Có nhất thiết phải qua chiến tranh mới giành được độc lập không? Giá chúng ta tìm một con đường khác ít xương máu hơn cho nền độc lập của đất nước thì quý biết nhường nào?”. "Nếu không cần chống Mỹ, miền Nam có giàu như Hàn Quốc không?".

Nhận diện rõ những kẻ xuyên tạc lịch sử, đó là những kẻ ăn bám với những lời lẽ và bình luận thiếu chuẩn mực. Khẳng định rằng chiến thắng 30/4/1975 mãi mãi đi vào lịch sử, khẳng định tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Nó thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, từ cường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã trải qua 21 năm, là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và nhiều thử thách, cam go, ác liệt nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã đương đầu với tên đế quốc giàu mạnh nhất và hung bạo nhất trong phe đế quốc. Kỷ niệm 47 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là dịp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc. Đồng thời phát huy tinh thần và hào khí của Đại thắng mùa Xuân 1975 để đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống, phấn đấu xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, cường thịnh./.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN SỰ THẬT

 

Chiến thắng 30/4/1975 mãi mãi đi vào lịch sử, khẳng định tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Nó thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, từ cường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã trải qua 21 năm, là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và nhiều thử thách, cam go, ác liệt nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã đương đầu với tên đế quốc giàu mạnh nhất và hung bạo nhất trong phe đế quốc. Vậy mà vẫn có những kẻ cố tình hiểu sai, cố tình xuyên tạc giá trị lịch sử hào hùng của của dân tộc.

Để xem xét lịch sử thì cần phải có cái nhìn toàn diện, khách quan, tôn trọng sự thật. Cho dù cuộc kháng chiến đã lùi xa 47 năm hay lâu dài hơn nữa thì lịch sử dân tộc và thế giới đều ghi nhận và chúng ta phải luôn khẳng định, tự hào về thắng lợi của một cuộc kháng chiến chính nghĩa, trường kỳ, vĩ đại vì nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng như Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IV, đại hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất đã ghi rõ: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".

Nhà sử học người Pháp, kiêm chuyên gia nghiên cứu về lịch sử Đông Dương Alain Rusco cho rằng, sự kiện 30-4 “gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế về một dân tộc không chịu khuất phục trước quân thù… để có được chiến thắng này hàng triệu người dân Việt Nam đã ngã xuống trong nhiều thập kỷ đầy cam go, quyết liệt”. Khi trả lời báo chí về bộ phim tài liệu The Vietnam War, bà Lê Thị Thu Hằng lúc đó là người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam mang tính chính nghĩa, phát huy được truyền thống sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, được bạn bè và nhân dân thế giới hết sức ủng hộ. Chính vì thế đã đi đến thắng lợi cuối cùng và thống nhất đất nước".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong cuốn hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, đã đúc kết một trong những đặc điểm nổi bật về cuộc kháng chiến là: “Cả nước đánh Pháp, đánh Mỹ, không phân biệt tiền tuyến, hậu phương. Ý chí thống nhất Tổ quốc là thế và lực mạnh trong chiến tranh. Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Chiến trường Việt Nam là một. Cả dân tộc kết thành một khối trong tình đồng bào cùng chung giống nòi Hồng Lạc, không thể cắt chia. Thù nhà nợ nước là chung của cả dân tộc…”. Những kẻ ngày nay xuyên tạc cho rằng bên này, bên kia mới là thắng cuộc, bên này mới là giải phóng bên kia… chẳng những không hiểu cội nguồn lịch sử mà còn xúc phạm xương máu cha ông.

Trên thực tế, chính những người trong cuộc là Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng đều đã thừa nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam; chỉ một bộ phận chống cộng, mang nặng hận thù và những kẻ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ngày nay mới tin vào những luận điệu như chiến tranh ý thức hệ, nội chiến hay quan điểm lập lờ “bên nào thắng thì nhân dân đều bại”(!).

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara, người được xem là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã rút ra 11 “sai lầm một cách tồi tệ”, đáng chú ý nhất là đã lẫn lộn cuộc đấu tranh ý thức hệ với cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của cả một dân tộc. Ông viết: "Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ đích địa chính trị của các đối thủ là mở rộng làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ”. Và cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger viết: "Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975…”.

Theo các tài liệu mới được giải mật của chính quyền Mỹ, ngày 27-9-1948, trong một văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ xác định mục tiêu lâu dài của Mỹ là “thủ tiêu ở mức tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Dương, Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị thân Mỹ”. Ngày 30-12-1949, Tổng thống Mỹ S.Truman phê chuẩn một văn kiện của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, trong đó nêu rõ: “Mục tiêu lâu dài của Mỹ là thủ tiêu ở mức độ tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương... Mỹ muốn thấy ở Việt Nam và Đông Dương có các nhà nước chống cộng, thân Mỹ”.  Nhân kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại: "Bác Hồ đã sớm nhìn thấy âm mưu đen tối của Mỹ. Từ 1950, Bác đã chỉ ra sự dính líu và can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Ðông Dương. Ðể tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ S.Truman...” nhưng không có phản hồi. Giáo sư Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam cộng hòa từng có nhiều bài viết phân tích sâu sắc về cuộc chiến tranh. Ông viết: “Mỹ không có lý do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Mỹ đã bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực”…

Mỗi người dân Việt Nam cần hiểu đúng và tôn trọng lịch sử hào hùng của dân tộc. Đồng thời phát huy tinh thần và hào khí của Đại thắng mùa Xuân 1975 để đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống, phấn đấu xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, cường thịnh, thực hiện thắng lợi mục tiêu cao cả của Đảng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.


THẮNG LỢI 30/4 MÃI MÃI ĐI VÀO LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC

 

Kỷ niệm 47 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2022). Đây là dịp để chúng ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nhìn lại chặng đường xây dựng và phát triển đất nước từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới và nhận thức sâu sắc hơn những giá trị, những bài học kinh nghiệm được đúc kết từ trong thực tiễn đấu tranh của dân tộc để tiếp thêm sức mạnh, ý chí, quyết tâm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chiến thắng 30/4/1975 mãi mãi đi vào lịch sử, khẳng định tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Nó thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, từ cường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã trải qua 21 năm, là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và nhiều thử thách, cam go, ác liệt nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã đương đầu với tên đế quốc giàu mạnh nhất và hung bạo nhất trong phe đế quốc. Lần lượt chúng ta đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ; chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ nhất ở miền Bắc; phát huy sức mạnh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia, làm thất bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ hai ở miền Bắc, tạo thế mạnh trong đàm phán; kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 thắng lợi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến thắng 30/4 là chiến công oanh liệt của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu của Đại thắng mùa Xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc ta lại vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững theo mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng 30/4, toàn dân, toàn quân tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên tất cả các lĩnh vực, như: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và an ninh chính trị, lao động sản xuất, nghiên cứu, học tập, xả thân cứu dân trong thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc, tiếp tục phát huy tinh thần tương thân, tương ái, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc,…đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Kỷ niệm ngày Chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là dịp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc. Đồng thời phát huy tinh thần và hào khí của Đại thắng mùa Xuân 1975 để đưa Nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, phấn đấu xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, cường thịnh, thực hiện thắng lợi mục tiêu cao cả “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.


 

Để xứng danh Đảng cầm quyền

 Để xứng danh Đảng cầm quyền, trong tình hình hiện nay, Đảng phải “đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn...”(1). Đây là bài học lớn, được đúc rút trong suốt quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng. 

XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG LÀ NHIỆM VỤ THEN CHỐT

Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, bao gồm nhiều nội dung về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo trong điều kiện Đảng cầm quyền. Điều đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, nhất là kể từ Đại hội XI (2011) đến Đại hội XIII của Đảng (2021), liên tiếp ba khóa, Hội nghị Trung ương 4 đã tập trung bàn về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng. Điều này phản ánh quyết tâm chính trị, tầm chiến lược của Đảng, khẳng định ý nghĩa sống còn mang tính toàn diện, trọng tâm và sâu sắc trong xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và phát triển đất nước.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là lý luận khoa học và kinh nghiệm thực tiễn của nhiều đảng, nhiều quốc gia. Trên thế giới, không có nước nào là không có đảng hoặc tổ chức chính trị tương tự lãnh đạo. Dù một đảng hay đa đảng đều rất chú ý về xây dựng tổ chức, củng cố lực lượng và định hướng phát triển. Lịch sử đã để lại bài học thấm thía cho những người cộng sản về sự tan rã của Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1991, khi đó có khoảng 21 triệu đảng viên nhưng “Đảng đông mà không mạnh”, bởi sự suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và một số lãnh đạo cao cấp của Đảng mắc sai lầm về đường lối, sa vào chủ nghĩa cá nhân, rơi vào chủ nghĩa xét lại. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, ở những nước có nhiều đảng, mặc dù đều có những liên minh lỏng lẻo, ý thức hệ linh hoạt, tập trung chủ yếu vào những định hướng thực dụng trong quá trình tranh cử cầm quyền, nhưng mỗi đảng đều chú trọng phát triển cơ cấu lực lượng đảng viên để tạo ảnh hưởng và gia tăng sự ủng hộ của dân chúng.

Trách nhiệm chính trị đặt ra cho Đảng ta và hệ thống chính trị ngày càng to lớn, nặng nề, nhiều thách thức, đòi hỏi Đảng phải nâng tầm lãnh đạo hơn nữa, nâng cao hơn nữa năng lực cầm quyền và sức chiến đấu. Đại hội XIII của Đảng xác định thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, mục tiêu đến năm 2025 kinh tế số đạt khoảng 20% GDP; đến năm 2030 đạt khoảng 30% GDP, đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới về Chính phủ điện tử, kinh tế số, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hoá, con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để thực hiện được khát vọng Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc cần tiếp tục đổi mới toàn diện đất nước ở tầm cao mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức. Các vấn đề về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), xây dựng văn hóa và con người, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia,… và bốn nguy cơ là thách thức đặt ra đòi hỏi Đảng và hệ thống chính trị phải giải đáp và giải quyết về lý luận và thực tiễn hiện nay.

Hiện nay, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, mau lẹ, do có sự tranh chấp giữa các nước lớn, các cuộc chiến tranh và xung đột; những vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, suy thoái tài chính, khủng hoảng nợ công, thế lực cực đoan,… chưa được giải quyết mà ngày càng biểu hiện rõ ràng với nhiều sắc thái mới. Điều đó tác động nghiêm trọng đối với Việt Nam, trong đó có ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm, lý tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong nước có sự gia tăng những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những phần tử “trở cờ”, “ngụy khoa học” bày tỏ ý kiến trái với đường lối và chính sách. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được những thành tựu lớn, song vẫn còn hạn chế trong việc để “lọt” những cán bộ thoái hóa, biến chất; việc khắc phục hậu quả tham nhũng, tiêu cực chưa đạt mong muốn, gây băn khoăn, lo lắng trong xã hội và ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân. Đây là thách thức và cảnh báo thường trực đối với Đảng ta hiện nay.

Sự chống phá ngày càng quyết liệt, điên cuồng, tinh vi của các thế lực thù địch với những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc nhằm xóa bỏ chế độ XHCN, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó, họ không ngừng sử dụng đa dạng các loại hình chiến lược, chiến dịch, quy mô, trong đó tập trung vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, có yếu tố dân tộc và tôn giáo, kích động vấn đề dân chủ và nhân quyền, thâm nhập hoạt động tư tưởng - văn hóa, sử dụng các đối tượng “chống cộng”, tổ chức phi chính phủ, những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và thế hệ trẻ Việt Nam; đầu tư có bài bản, có kế hoạch, có tổ chức lực lượng và chiến lược lâu dài hòng phá ta từ bên ngoài và nội bộ bên trong nhằm phá rã niềm tin của nhân dân và cán bộ, gieo rắc hoài nghi, phủ nhận thành tựu, bôi đen hiện thực... từ đó đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; trên không gian mạng, các phần tử chống phá không ngừng tung ra bài viết, video bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo về một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đưa ra những thông tin kéo bè kết cánh, đấu đá chính trị nhằm chia rẽ nội bộ, gây nhiễu loạn, phân tâm trong nội bộ và nhân dân.... Điều này càng đặt ra công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, có trọng tâm trọng điểm.

CỦNG CỐ, KIỆN TOÀN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN

Đảng ta đặt vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, tiếp tục phát triển nhận thức mới, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là thống nhất trong một chỉnh thể, bởi vì Đảng vừa là thành viên vừa là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị theo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Hệ thống chính trị Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất, gắn bó hữu cơ, bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng để thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng đất nước Việt Nam XHCN. Hệ thống chính trị vận hành theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Trên thực tế, hệ thống chính trị nước ta hội tụ toàn bộ hệ thống các quyền lực: quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước đến các quyền lực khác trong xã hội.

Xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là thống nhất trong một chỉnh thể, bởi vì Đảng vừa là thành viên vừa là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị theo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu cao nhất của việc củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị là nhằm bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống và lợi ích của nhân dân. “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người… Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi”(2). Đại hội XIII khẳng định: “Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng các nhiệm kỳ qua và nhiệm kỳ Đại hội XII đã góp phần rất quan trọng để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay...”(3). Do vậy, cần tiếp tục củng cố vững chắc niềm tin và mối quan hệ bền chặt của nhân dân đối với Đảng và chế độ; khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo, đóng góp thiện chí và tích cực của nhân dân đối với việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Củng cố, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở nhằm xây dựng tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn, có tính ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Từ kết quả tích cực trong việc kiện toàn, sắp xếp lại cơ quan các ban đảng Trung ương, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các đơn vị trực thuộc một số bộ, ngành, tỉnh, thành phố, tiếp tục tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và tinh giản biên chế của hệ thống chính trị.

Thời gian tới, trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân phải đặc biệt coi trọng và phát huy tính chủ động, tích cực trong quản lý, điều hành từ Trung ương đến địa phương; hoàn thiện hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của một nhà nước phục vụ, kiến tạo phát triển; thực hiện tốt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, xây dựng chính phủ số, chính quyền số, hạ tầng số, kinh tế số mang tính liên thông, đồng bộ, hoàn chỉnh và các cơ sở dữ liệu quốc gia nhằm thiết lập các hệ thống ứng dụng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Việc áp dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong phát triển các dịch vụ hành chính, dịch vụ xã hội số phải góp phần đẩy mạnh tinh giản biên chế trong hệ thống chính trị. Xây dựng, đổi mới công tác cán bộ, công chức có số lượng hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và có tiền lương, thu nhập bảo đảm cuộc sống và ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, gắn với việc xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và củng cố các tổ chức chính trị - xã hội; vừa phát huy tính tích cực của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị vừa tạo nên sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị.

Trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh cho phù hợp thực tiễn về mặt thể chế, tổ chức, phương thức hoạt động và kiểm soát quyền lực của các thành viên trong hệ thống chính trị. Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng thành viên trong hệ thống chính trị, đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện về mọi mặt của Đảng. Có cơ chế thí điểm, đột phá sáng tạo, trọng điểm và có lộ trình tổng kết, đánh giá trong đề án xây dựng, hoàn thiện thể chế, chức trách của một số cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị.

Luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm phục vụ chế độ và nhân dân cho đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên trong các tổ chức của hệ thống chính trị. Đội ngũ này có “tài”, “đức” thì tổ chức mới mạnh, các tổ chức trong hệ thống chính trị có trong sạch, vững mạnh thì Đảng mới giữ vững vai trò cầm quyền của mình. Trong các tổ chức, cần phát huy ý thức trách nhiệm “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, luôn luôn trau dồi, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện tốt văn hóa ứng xử và đạo đức công vụ. Trong quá trình đó, “Củng cố và xây dựng tổ chức đảng thật trong sạch, khắc phục những tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự xứng đáng là người lãnh đạo và là người đày tớ trung thành của nhân dân”(4) luôn là một nhiệm vụ then chốt.

THÚC ĐẨY MẠNH MẼ NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XIII TRONG ĐỜI SỐNG

Nhận thức của Đảng mang tính nhất quán, liền mạch, được bổ sung, phát triển, thể hiện quyết tâm cao độ từ các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từ Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đến Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các nghị quyết đã được triển khai sâu rộng, tích cực và hiệu quả trong thực tiễn, trở thành nội dung quan trọng và thường xuyên trong tổ chức hoạt động và sinh hoạt của mỗi tổ chức cơ sở đảng và trong hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, chuyển biến quan trọng đạt được, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII cũng chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm cần tiếp tục quán triệt và khắc phục. Đó là, một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Cơ chế kiểm soát quyền lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực chưa có hoặc có nhưng chưa cụ thể, hiệu quả thực thi thấp. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả; chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...

Bước vào thời kỳ phát triển mới, đòi hỏi tiếp tục coi trọng đặc biệt và nâng tầm cao mới đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Thúc đẩy mạnh mẽ việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII trong thực tiễn từng tổ chức cơ sở Đảng, từng cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị và từng cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên; tạo bước đột phá và chuyển biến tích cực, hiệu quả trong nhận thức và hành động, trong tư tưởng và thực hành hằng ngày. Mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu triển khai, quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo công việc luôn luôn gắn với những giải pháp cụ thể trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng cơ quan, đơn vị.

Nâng cao chất lượng sinh hoạt của các tổ chức cơ sở đảng, coi việc thực hiện các nguyên tắc sinh hoạt đảng là yêu cầu sống còn của tổ chức, góp phần nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; kịp thời phát hiện và ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc, phai nhạt lý tưởng, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của mỗi tổ chức và cán bộ, đảng viên.

Đẩy mạnh công tác tham mưu, nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm để có những chương trình, dự án, đề tài thiết thực nhằm phổ biến, nhân rộng các mô hình, cách làm hiệu quả trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tăng cường hoạt động phối hợp, chia sẻ hợp tác giữa các cơ quan Đảng, các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị với các trung tâm nghiên cứu khoa học chuyên sâu nhằm đánh giá, tổng kết, đưa ra dự báo, đề ra phương hướng và giải pháp toàn diện, thiết thực trong việc hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, trong kiện toàn và sắp xếp bộ máy chính quyền, trong công tác dư luận và phản biện xã hội, trong hoạch định chính sách phát triển xã hội, trong định hướng thông tin và nâng tầm quản lý các cơ quan báo chí truyền thông và mạng xã hội…

Tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ trẻ có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức và phong cách tốt, có năng lực và trình độ vững vàng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay. Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng gắn với việc thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, cấp ủy các cấp trong công tác tự kiểm tra, đánh giá, trong quy trình thực hiện chức trách, trong quản lý chuyên môn, trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, trong việc phát hiện và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong việc chấn chỉnh và xử lý vi phạm của cán bộ, đảng viên./.

Nguồn: TG.

(1) (2) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2022 tr.29, 21-22.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021 t.II, tr.220.

(4) Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt để phát triển đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2017 tr.167.

 

NGÀY 26/4/1975: MỞ MÀN CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

 

          Đến trước ngày 26/4/1975, 5 cánh quân tiến công từ 4 hướng vào thành phố Sài Gòn đã hình thành. Không kể lực lượng vũ trang tại chỗ (của các quân khu, tỉnh, huyện, đặc công biệt động), các binh đoàn chủ lực đã vào vị trí xuất phát tiến công.

          Hướng Tây Bắc do Quân đoàn 3 đảm nhiệm, mục tiêu nội đô: sân bay Tân Sơn Nhất. Hướng Bắc - Đông Bắc do Quân đoàn 1 đảm nhiệm, mục tiêu nội đô: Bộ Tổng Tham mưu. Hướng Đông và Đông Nam do Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2 đảm nhiệm, mục tiêu nội đô: Dinh Độc Lập. Hướng Tây - Tây Nam do Binh đoàn cánh Tây Nam đảm nhiệm, mục tiêu nội đô: Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát. Tổng cộng 270.000 quân chiến đấu và 180.000 quân phục vụ hậu cần được huy động vào chiến dịch.

          17 giờ ngày 26/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu! Các binh đoàn đồng loạt tiến công phá vỡ từng mắt xích phòng thủ vòng ngoài của quân đội Sài Gòn, khống chế các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Trà Nóc, các trận địa pháo, cắt đứt đường số 4 và tất cả hành lang giao thông thủy bộ ra biển, thực hành vây ép Sài Gòn trên tất cả các hướng, tạo điều kiện cho bước phát triển tiến công tiếp theo.

          Cùng ngày 26/4, Tư lệnh Quân đoàn 4 ngụy Nguyễn Khoa Nam họp với các tướng tá thuộc quyền củng cố quyết tâm cố thủ đồng bằng sông Cửu Long một khi Sài Gòn thất thủ. Tại Sài Gòn, “Quốc hội” bỏ phiếu giao cho Trần Văn Hương tùy quyền quyết định trao ghế tổng thống cho nhân vật có thể mở cuộc thương thuyết. Nguyễn Cao Kỳ lên tiếng chửi Thiệu - Khiêm và hô hào “chiến đấu tới cùng”. Đêm 26-4, Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm lên máy bay trốn khỏi Sài Gòn.

                                                                                      St PQ

GIAO LƯU HỮU NGHỊ QUỐC PHÒNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC LẦN THỨ 7

 

Sáng 23-4, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Trung Quốc lần thứ 7 sẽ diễn ra tại hai tỉnh Cao Bằng (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc).
Đoàn Việt Nam do Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng làm Trưởng đoàn. Đoàn Trung Quốc do Thượng tướng Ngụy Phượng Hòa, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng làm trưởng đoàn.
Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Trung Quốc lần thứ 7 bao gồm các hoạt động như: Lễ chào cột mốc chủ quyền, tô sơn cột mốc, trồng cây hữu nghị, hội đàm giữa hai đoàn, thăm và tặng quà Trường tiểu học thị trấn Tà Lùng.
Dưới đây là một số hình ảnh phóng viên Báo Quân đội nhân dân có mặt tại Cửa khẩu quốc tế Tà Lùng (huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng) ghi lại trước khi Giao lưu chính thức bắt đầu./.
Nguồn: QDND
VuBao 20-ST

TÔI LUÔN TRÂN TRỌNG BỘ ĐỘI CỤ HỒ

Chiều 20-4, trên đường đi làm về qua khu vực trước cửa Chùa Nghèo và Trường Mầm non An Đồng 2, xã An Đồng (An Dương, Hải Phòng), Đại úy Phạm Xuân Nha, Trợ lý Ban Tuyên huấn (Phòng Chính trị, Bộ CHQS TP Hải Phòng) nhặt được chiếc ví màu đen, nằm sát mép đường.
Ngay sau khi nhặt lên, anh Nha mời hai bác xe ôm đứng gần đó và một số phụ huynh đi đón con dừng lại cùng chứng kiến, kiểm tra ví. Trong ví, tuy số lượng tiền mặt không lớn nhưng có nhiều giấy tờ quan trọng gồm: Giấy đăng ký xe máy mang biển kiểm soát 17B5-061.89, địa chỉ thôn Bắc Sơn, xã Quỳnh Thọ (Quỳnh Phụ, Thái Bình) và nhiều loại giấy tờ: Căn cước công dân, giấy phép lái xe và thẻ ATM đều mang tên Nguyễn Thanh Tuấn có địa chỉ tại thôn Lam Cầu 2, xã An Hiệp (Quỳnh Phụ, Thái Bình).
Anh Nha cùng mọi người nhận định, đây có thể là tài sản của phụ huynh đi đón con vào giờ tan học, hoặc của người lao động ở Thái Bình ra Hải Phòng làm việc. Ngay lúc đó, anh Nha báo cáo sự việc về cơ quan xin ý kiến chỉ đạo; đồng thời phối hợp cùng Ban giám hiệu Trường Mầm non An Đồng 2 để thông tin đến các phụ huynh. Cùng với đó, các đồng chí cùng công tác với anh Nha nhanh chóng đăng tải thông tin trên các Fanpage mạng xã hội Facebook, như nhóm: An toàn-Văn hóa giao thông Hải Phòng, nhóm Công nhân khu công nghiệp Vship... Chỉ sau gần 10 phút đăng tải, đã có người nhận diện được chủ nhân làm rơi ví. Ngay tối 20-4, anh Nguyễn Thanh Tuấn-chủ nhân của số tài sản đánh rơi đã liên lạc với anh Nha để hẹn nhận lại tài sản.
Sáng 21-4, tại Bộ CHQS TP Hải Phòng, anh Nguyễn Thanh Tuấn đã nhận lại chiếc ví của mình. Nhận lại toàn bộ giấy tờ và tài sản trong ví, anh Nguyễn Thanh Tuấn gửi lời cảm ơn chân thành và xúc động nói: “Tài sản tuy không lớn nhưng có nhiều giấy tờ quan trọng, nếu không tìm thấy thì tôi sẽ phải mất rất nhiều thời gian để làm lại. Tôi thật may mắn vì người nhặt được số tài sản trên là một quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Các anh đã chủ động đăng tin tìm người bị mất, giúp tôi sớm nhận lại được tài sản của mình. Tôi luôn trân trọng và tự hào vì có các anh Bộ đội Cụ Hồ!"
nguồn: Báo QĐND

TĂNG SỨC ĐỀ KHÁNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN.


Hồ Chủ tịch đã dạy: Đảng ta là đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một người, của cá nhân nào....
Qua nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Bác đã chỉ dạy rất rõ việc đầu tiên trong công tác cán bộ phải làm là nâng cao đạo đức cách mạng.
Quả đúng phải là như vậy. Bởi không có đạo đức cách mạng, hay có nhưng không đủ tầm hoặc không đủ sức thì làm sao tiêu diệt bằng được chủ nghĩa cá nhân. Bác yêu cầu chúng ta phải "quét sạch" chủ nghĩa cá nhân, nghĩa là quét đến cùng, diệt triệt để, không để chủ nghĩa cá nhân tồn tại cả trong tư tưởng và hành động.
Do đó, nâng cao đạo đức cách mạng như là động thái tạo ra nguồn năng lượng mạnh mẽ nhằm, hòng chiến đấu không mệt mỏi với những tư tưởng hẹp hòi, ích kỷ, mưu cầu lợi ích riêng của một người; khắc phục bằng được nguyên nhân trì trệ của quá trình tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hướng tới mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" .
Xã hội sẽ trì trệ nếu mỗi người chúng ta, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, không làm tròn trách nhiệm là "đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động" mà chỉ chăm chú vào mưu cầu lợi ích riêng của một người, của cá nhân. Bởi vậy, mỗi người trong chúng ta, dù ở cương vị nào trong xã hội, cũng phải quyết chí rèn luyện, nhằm xứng đáng là những người công dân tốt. Nếu là cán bộ, đảng viên thì phải gương mẫu để xứng đáng là người "đại biểu cho lợi ích chung".
Cách đây hơn nửa thế kỷ, Hồ Chủ tịch viết tác phẩm "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân", đăng trên Báo Nhân Dân ngày 3-2-1969 nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác phẩm có tính giáo dục toàn diện và sâu sắc này của Bác Hồ đã giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp thấy được việc nào nên làm, việc nào nên tránh, để không ngừng phấn đấu tiến bộ, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ chính trị được phân công.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy trong quá trình phát triển của đất nước, số vụ vi phạm pháp luật, số cán bộ, đảng viên tha hóa, "tự chuyển hóa"... vẫn còn nhiều, thậm chí vướng vào vòng lao lý. Các cơ quan chức năng với sự giúp sức phát hiện, tố giác của quần chúng đã phanh phui ra ánh sáng nhiều vụ việc nổi cộm gần đây. Trong số những người dính líu đến các vụ tham ô, tham nhũng có nhiều cán bộ, đảng viên cao cấp ở cả trung ương, địa phương và nhiều ban, bộ, ngành.
Thực trạng đó ít nhiều đã làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước ta. Các cơ sở Đảng cần nhận diện đúng thực trạng này để định hướng đúng trong sinh hoạt tư tưởng. (NĐ)
Mai Lịch
VuBao19ST-Nguồn NLĐ