Để xứng danh Đảng cầm quyền
Để xứng
danh Đảng cầm quyền, trong tình hình hiện nay, Đảng phải “đặc biệt chú trọng
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa
sống còn...”(1). Đây là bài học lớn, được đúc rút trong suốt quá trình ra đời,
tồn tại và phát triển của Đảng.
XÂY
DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG LÀ NHIỆM VỤ THEN CHỐT
Xây
dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, bao gồm nhiều nội dung về chính trị, tư tưởng,
đạo đức, tổ chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo trong điều kiện Đảng cầm quyền.
Điều đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, nhất là kể từ Đại hội XI (2011) đến Đại
hội XIII của Đảng (2021), liên tiếp ba khóa, Hội nghị Trung ương 4 đã tập trung
bàn về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng. Điều này phản ánh quyết tâm
chính trị, tầm chiến lược của Đảng, khẳng định ý nghĩa sống còn mang tính toàn
diện, trọng tâm và sâu sắc trong xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo,
năng lực cầm quyền và phát triển đất nước.
Công
tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là lý luận khoa học và kinh nghiệm thực tiễn của
nhiều đảng, nhiều quốc gia. Trên thế giới, không có nước nào là không có đảng
hoặc tổ chức chính trị tương tự lãnh đạo. Dù một đảng hay đa đảng đều rất chú ý
về xây dựng tổ chức, củng cố lực lượng và định hướng phát triển. Lịch sử đã để
lại bài học thấm thía cho những người cộng sản về sự tan rã của Đảng Cộng sản
Liên Xô năm 1991, khi đó có khoảng 21 triệu đảng viên nhưng “Đảng đông mà không
mạnh”, bởi sự suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và một số
lãnh đạo cao cấp của Đảng mắc sai lầm về đường lối, sa vào chủ nghĩa cá nhân,
rơi vào chủ nghĩa xét lại. Thực tiễn thời
gian qua cho thấy, ở những nước có nhiều đảng, mặc dù đều có những liên minh
lỏng lẻo, ý thức hệ linh hoạt, tập trung chủ yếu vào những định hướng thực dụng
trong quá trình tranh cử cầm quyền, nhưng mỗi đảng đều chú trọng phát triển cơ
cấu lực lượng đảng viên để tạo ảnh hưởng và gia tăng sự ủng hộ của dân chúng.
Trách nhiệm chính trị đặt ra cho Đảng ta và hệ thống chính trị ngày càng to
lớn, nặng nề, nhiều thách thức, đòi hỏi Đảng phải nâng tầm lãnh đạo hơn nữa,
nâng cao hơn nữa năng lực cầm quyền và sức chiến đấu. Đại hội XIII của Đảng xác
định thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, mục tiêu đến năm 2025 kinh tế
số đạt khoảng 20% GDP; đến năm 2030 đạt khoảng 30% GDP, đứng trong nhóm 50 quốc
gia hàng đầu thế giới về Chính phủ điện tử, kinh tế số, là nước
đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát
triển, thu nhập cao; khơi dậy
khát vọng phát triển đất nước, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hoá, con người Việt
Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững
trên cơ sở khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để thực hiện được khát
vọng Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc cần tiếp tục đổi mới toàn diện
đất nước ở tầm cao mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với
phát triển kinh tế tri thức. Các vấn đề về phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), xây dựng văn hóa và con người, nâng cao đời sống
nhân dân, bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia,… và bốn nguy cơ là thách thức
đặt ra đòi hỏi Đảng và hệ thống chính trị phải giải đáp và giải quyết về lý
luận và thực tiễn hiện nay.
Hiện
nay, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, mau
lẹ, do có sự tranh chấp giữa các nước lớn, các
cuộc chiến tranh và xung đột; những vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch
bệnh, khủng hoảng kinh tế, suy thoái tài chính, khủng hoảng nợ công, thế lực
cực đoan,… chưa được giải quyết mà ngày càng biểu hiện rõ ràng với nhiều sắc
thái mới. Điều đó tác động nghiêm trọng đối với Việt Nam, trong đó có ảnh hưởng
đến tư tưởng, tình cảm, lý tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong nước
có sự gia tăng những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống; những phần tử “trở cờ”, “ngụy khoa học” bày tỏ ý
kiến trái với đường lối và chính sách. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã
đạt được những thành tựu lớn, song vẫn còn hạn chế trong việc để “lọt” những
cán bộ thoái hóa, biến chất; việc khắc phục hậu quả tham nhũng, tiêu cực chưa
đạt mong muốn, gây băn khoăn, lo lắng trong xã hội và ảnh hưởng đến niềm tin
của nhân dân. Đây là thách thức và cảnh báo thường trực đối với Đảng ta hiện
nay.
Sự chống phá ngày càng quyết liệt, điên cuồng, tinh vi của các thế lực thù
địch với những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc nhằm xóa bỏ chế độ XHCN,
xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó, họ không ngừng sử dụng đa dạng các loại
hình chiến lược, chiến dịch, quy mô, trong đó tập trung vào những vấn đề nhạy
cảm, phức tạp, có yếu tố dân tộc và tôn giáo, kích động vấn đề dân chủ và nhân
quyền, thâm nhập hoạt động tư tưởng - văn hóa, sử dụng các đối tượng “chống
cộng”, tổ chức phi chính phủ, những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và
thế hệ trẻ Việt Nam; đầu tư có bài bản, có kế hoạch, có tổ chức lực lượng và
chiến lược lâu dài hòng phá ta từ bên ngoài và nội bộ bên trong nhằm phá rã
niềm tin của nhân dân và cán bộ, gieo rắc hoài nghi, phủ nhận thành tựu, bôi
đen hiện thực... từ đó đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; trên không gian
mạng, các phần tử chống phá không ngừng tung ra bài viết, video bịa đặt, xuyên
tạc, vu cáo về một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đưa ra những thông tin kéo bè
kết cánh, đấu đá chính trị nhằm chia rẽ nội bộ, gây nhiễu loạn, phân tâm trong
nội bộ và nhân dân.... Điều này càng đặt ra công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng
trong sạch, vững mạnh toàn diện phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, có
trọng tâm trọng điểm.
CỦNG CỐ,
KIỆN TOÀN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN
Đảng ta
đặt vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong
sạch, vững mạnh toàn diện, tiếp tục phát triển nhận thức mới, cụ thể hóa Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng. Xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là
thống nhất trong một chỉnh thể, bởi vì Đảng vừa là thành viên vừa là lực lượng
lãnh đạo hệ thống chính trị theo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Hệ thống chính trị Việt Nam
là một chỉnh thể thống nhất, gắn bó hữu cơ, bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
chính trị - xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng để thực hiện đầy đủ quyền làm chủ
của nhân dân và xây dựng đất nước Việt Nam XHCN. Hệ thống chính trị vận hành
theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Trên thực tế,
hệ thống chính trị nước ta hội tụ toàn bộ hệ thống các quyền lực: quyền lực
chính trị, quyền lực nhà nước đến các quyền lực khác trong xã hội.
|
Xây
dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là thống nhất trong một chỉnh thể,
bởi vì Đảng vừa là thành viên vừa là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị
theo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
|
Mục
tiêu cao nhất của việc củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị là nhằm bảo đảm
tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống và
lợi ích của nhân dân. “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là
thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên
phẩm giá con người… Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự
thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải
chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là
những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con
đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên
định, kiên trì theo đuổi”(2). Đại hội XIII khẳng định: “Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh
đốn Đảng các nhiệm kỳ qua và nhiệm kỳ Đại hội XII đã góp phần rất quan trọng để
đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay...”(3). Do vậy, cần tiếp tục củng cố vững
chắc niềm tin và mối quan hệ bền chặt của nhân dân đối với Đảng và chế độ; khơi
dậy mọi tiềm năng sáng tạo, đóng góp thiện chí và tích cực của nhân dân đối với
việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Củng
cố, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở nhằm xây dựng tổ chức
bộ máy đồng bộ, tinh gọn, có tính ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ,
hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Từ
kết quả tích cực trong việc kiện toàn, sắp xếp lại cơ quan
các ban đảng Trung ương, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các
đơn vị trực thuộc một số bộ, ngành, tỉnh, thành phố, tiếp tục tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về
cải cách hành chính, sắp xếp
tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và tinh giản biên
chế của hệ thống chính trị.
Thời
gian tới, trong xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân và vì dân phải đặc biệt coi trọng và phát
huy tính chủ động, tích cực trong quản lý, điều hành từ Trung ương đến địa
phương; hoàn thiện hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của một nhà nước phục vụ,
kiến tạo phát triển; thực hiện tốt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến
năm 2025, định hướng đến năm 2030, xây dựng chính phủ số, chính quyền số, hạ
tầng số, kinh tế số mang tính liên thông, đồng bộ, hoàn chỉnh và các cơ sở dữ
liệu quốc gia nhằm thiết lập các hệ thống ứng dụng phục vụ người dân và doanh
nghiệp. Việc áp dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong phát triển các dịch vụ
hành chính, dịch vụ xã hội số phải góp phần đẩy mạnh tinh giản biên
chế trong hệ thống chính trị. Xây dựng,
đổi mới công tác cán bộ, công
chức có số lượng hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực
chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ
chính trị và có tiền lương, thu nhập bảo đảm cuộc sống và ngăn chặn tình trạng chạy
chức, chạy quyền. Nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, gắn với việc xây dựng Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và củng cố các tổ chức chính trị - xã hội; vừa phát huy tính tích
cực của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị vừa tạo nên sức mạnh
tổng hợp của hệ thống chính trị.
Trong
quá trình xây dựng hệ thống chính trị cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh cho phù
hợp thực tiễn về mặt thể chế, tổ chức,
phương thức hoạt động và kiểm soát quyền lực của các thành viên trong hệ thống
chính trị. Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng
thành chính sách, pháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng thành viên
trong hệ thống chính trị, đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện về mọi mặt
của Đảng. Có cơ chế thí điểm, đột phá sáng tạo, trọng điểm và có lộ trình tổng
kết, đánh giá trong đề án xây dựng, hoàn thiện thể chế, chức trách của một số
cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị.
Luôn
nêu cao tinh thần trách nhiệm phục vụ chế độ và nhân dân cho đội ngũ đảng
viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên trong
các tổ chức của hệ thống chính trị. Đội ngũ này có “tài”, “đức” thì
tổ chức mới mạnh, các tổ chức trong hệ thống chính trị có trong sạch, vững mạnh
thì Đảng mới giữ vững vai trò cầm quyền của mình. Trong các tổ
chức, cần phát huy ý thức trách nhiệm “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân
dân”, luôn luôn trau dồi, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện
tốt văn hóa ứng xử và đạo đức công vụ. Trong quá trình đó, “Củng cố
và xây dựng tổ chức đảng thật trong sạch, khắc phục những tiêu cực trong cán
bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự xứng đáng là người lãnh đạo và là người đày
tớ trung thành của nhân dân”(4) luôn là một nhiệm vụ then chốt.
THÚC ĐẨY
MẠNH MẼ NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XIII TRONG ĐỜI SỐNG
Nhận thức của Đảng mang tính nhất quán, liền mạch, được bổ sung, phát
triển, thể hiện quyết tâm cao độ từ các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
từ Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI Một số
vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng
cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ đến Nghị quyết
Trung ương 4 khóa XIII về đẩy
mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy
lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các nghị quyết đã được
triển khai sâu rộng, tích cực và hiệu quả trong thực tiễn, trở thành nội dung
quan trọng và thường xuyên trong tổ chức hoạt động và sinh hoạt của mỗi tổ chức
cơ sở đảng và trong hệ thống chính trị.
Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả, chuyển biến quan trọng đạt được, Nghị quyết Trung ương 4
khóa XIII cũng chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm cần tiếp tục
quán triệt và khắc phục. Đó là, một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong
đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính
chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa
nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý
tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi
với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm
tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Cơ chế kiểm soát quyền
lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực chưa có hoặc có nhưng chưa cụ
thể, hiệu quả thực thi thấp. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân
đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên
chưa hiệu quả; chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ
thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...
Bước vào thời kỳ phát triển mới, đòi hỏi tiếp tục coi trọng đặc biệt và
nâng tầm cao mới đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính
trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Thúc đẩy mạnh mẽ việc triển khai thực hiện
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII trong thực tiễn từng tổ chức cơ sở Đảng, từng
cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị và từng cán bộ, đảng viên, đoàn viên,
hội viên; tạo bước đột phá và chuyển biến tích cực, hiệu quả trong nhận thức và
hành động, trong tư tưởng và thực hành hằng ngày. Mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng
viên, nhất là người đứng đầu triển khai, quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo công
việc luôn luôn gắn với những giải pháp cụ thể trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và
xây dựng cơ quan, đơn vị.
|
Nâng
cao chất lượng sinh hoạt của các tổ chức cơ sở đảng, coi việc thực hiện các
nguyên tắc sinh hoạt đảng là yêu cầu sống còn của tổ chức, góp phần nâng cao
chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; kịp thời phát
hiện và ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc, phai nhạt lý tưởng, biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” của mỗi tổ chức và cán bộ, đảng viên.
|
Đẩy mạnh công tác tham mưu, nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm để có
những chương trình, dự án, đề tài thiết thực nhằm phổ biến, nhân rộng các mô
hình, cách làm hiệu quả trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống
chính trị trong sạch, vững mạnh. Tăng cường hoạt động phối hợp, chia sẻ hợp tác
giữa các cơ quan Đảng, các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị với các
trung tâm nghiên cứu khoa học chuyên sâu nhằm đánh giá, tổng kết, đưa ra dự
báo, đề ra phương hướng và giải pháp toàn diện, thiết thực trong việc hoàn
thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, trong kiện toàn và sắp xếp bộ máy chính
quyền, trong công tác dư luận và phản biện xã hội, trong hoạch định chính sách
phát triển xã hội, trong định hướng thông tin và nâng tầm quản lý các cơ quan
báo chí truyền thông và mạng xã hội…
Tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ
trẻ có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức và phong
cách tốt, có năng lực và trình độ vững vàng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay.
Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng
tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá đổi mới sáng tạo vì lợi ích
chung.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng gắn với việc thực hiện
tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng
viên. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, cấp ủy các cấp trong công tác tự
kiểm tra, đánh giá, trong quy trình thực hiện chức trách, trong quản lý chuyên
môn, trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, trong việc phát hiện và
đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội
bộ, trong việc chấn chỉnh và xử lý vi phạm của cán bộ, đảng viên./.
Nguồn: TG.
(1) (2)
Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị
quốc gia Sự thật, H, 2022 tr.29, 21-22.
(3) Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021
t.II, tr.220.
(4)
Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng
chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt để phát triển đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2017
tr.167.