Thứ Tư, 27 tháng 4, 2022

Ra sức học tập, rèn luyện để tiến bộ, trưởng thành.

 

Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mỗi quân nhân luôn không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt. Đó cũng là đặc trưng cơ bản được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

 Không ngừng lan tỏa hình ảnh cao đẹp, phẩm chất cao quý

 Tuyên truyền tốt để lan tỏa giá trị đẹp

 Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa

    Phải khẳng định, Quân đội ta là một trường học lớn, ở đó quân nhân được học tập toàn diện để nâng cao trình độ mọi mặt. Người xưa dạy rằng “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Trong môi trường quân sự, người chiến sĩ được chỉ dạy những điều nhỏ nhất như: Học sắp đặt nội vụ ngăn nắp, gọn gàng, học xưng hô, chào hỏi, đi đứng cho đúng lễ tiết, tác phong, học giao tiếp, ứng xử để giải quyết các mối quan hệ công tác... Khi vào huấn luyện, bộ đội được học tập chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ...

    Như vậy, có thể thấy rằng, quân nhân được quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện toàn diện cả về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, kỹ năng sống để có thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Bất kể ở đâu, khi nào, việc học tập cũng được coi trọng dù trong sinh hoạt đời thường hay khi huấn luyện, công tác; dù trong chiến đấu hay giữa thời bình. Nhờ có học tập mà bộ đội ngày càng tiến bộ, trưởng thành.

Ra sức học tập, rèn luyện để tiến bộ, trưởng thành
Nói chuyện truyền thống động viên bộ đội trên bãi tập. Ảnh minh họa: Qdnd.vn   

    Nhìn lại lịch sử có thể thấy rằng, Quân đội ta, tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, ngày đầu thành lập đã hô vang 10 lời thề danh dự. Trong đó, lời thề thứ tư khẳng định: “Lúc nào cũng khẩn trương hoạt bát, hết sức học tập để tự rèn luyện thành một quân nhân cách mạng, xứng đáng là một người chiến sĩ tiên phong giết giặc, cứu nước”. Thế nên, dù ngày đầu thành lập vô cùng khó khăn nhưng cán bộ, chiến sĩ đã hết sức coi trọng việc học tập, rèn luyện.

    Bởi là người chiến sĩ tiên phong thì phải có trình độ nhận thức, có kiến thức để tuyên truyền vận động nhân dân đi theo cách mạng, để đấu tranh với kẻ thù gian ác, nguy hiểm. “Giặc dốt” cũng là kẻ thù của cách mạng. Người chiến sĩ phải đi đầu trong diệt “giặc dốt”, xóa nạn mù chữ. Chính vì thế, học tập cũng là một nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi cách mạng.

    Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với nhiệm vụ chiến đấu, bộ đội luôn tích cực học tập. Các lớp bồi dưỡng, tập huấn được mở ra ngay tại chiến khu. Các trường quân sự cũng được thành lập. Bộ đội từ chiến trường được về giảng đường học tập và từ nhà trường lại ra chiến trường chiến đấu. Nhờ vậy, cán bộ, chiến sĩ có điều kiện gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành để tiếp tục chiến đấu và giành chiến thắng.

    Quân đội ta vinh dự được Bác Hồ quan tâm giáo dục, rèn luyện. Người căn dặn: “Toàn thể cán bộ và chiến sĩ phải ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hóa, cần phải nâng cao lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân, cần phải nắm vững đường lối quân sự của Đảng, ra sức rèn luyện kỹ thuật và chiến thuật, cần phải luôn nêu cao cảnh giác, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”.

    Lời căn dặn của Người chỉ rõ đối với bộ đội phải học tập toàn diện về chính trị, quân sự, văn hóa, phải rèn luyện cả về kỹ thuật và chiến thuật. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội học không chỉ để biết mà học để “làm việc, làm người, làm cán bộ” và mục đích cuối cùng đó là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Nhờ học tập, rèn luyện, nhiều thế hệ cán bộ trong quân đội đã trưởng thành, đóng góp trí tuệ vào sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trở về từ khói lửa chiến trường, nhiều người lính cầm súng ngày nào lại miệt mài cầm bút ngồi trên giảng đường. Cũng từ đây, nhiều đồng chí trở thành nhà khoa học, giảng viên, cán bộ, tiếp tục truyền thụ tri thức, đóng góp xây dựng quân đội, xây dựng các tổ chức dân, chính, đảng.

    Hiện nay, cán bộ, chiến sĩ đều được học tập rất cơ bản. Hệ thống các nhà trường trong quân đội được đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hóa, thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Cán bộ các cấp được bổ nhiệm chức vụ đều qua đào tạo các cấp học tương ứng. Quá trình học tập được tổ chức trong hệ thống nhà trường quân đội và ở các đơn vị. Giáo viên là những người thầy đứng trên bục giảng, là đội ngũ cán bộ quản lý ở đơn vị. Bộ đội học trên giảng đường, ngoài thao trường và trong thực tiễn công tác tạo thành phong trào học tập sôi nổi trong toàn quân.

    Các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa học theo hướng toàn diện, đổi mới. Hàng loạt công trình khoa học, sáng kiến được nghiệm thu và triển khai có hiệu quả. Với tinh thần thi đua học tập, nghiên cứu, tuổi trẻ quân đội đẩy mạnh Phong trào “Thanh niên quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”. Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong quân đội với nhiều công trình nghiên cứu đạt chất lượng tốt. Trong các hội thi, hội thao trong nước và quốc tế, quân đội luôn giành được thành tích cao. Mỗi công trình khoa học, giải thưởng là kết tinh trí tuệ, công sức, sự nỗ lực học tập, rèn luyện không ngừng của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, mang lại lợi ích thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và dân sinh, đem vinh quang về cho Tổ quốc.

    Tích cực học tập, rèn luyện vừa là nhu cầu tự thân vừa là đòi hỏi đối với mỗi quân nhân, bởi có học tập mới có tri thức, phương pháp tác phong công tác, không bị tụt hậu lỗi thời. Thế nhưng trong quá trình công tác vẫn còn quân nhân chưa thực sự ham học hỏi, cầu tiến bộ, có biểu hiện thỏa mãn, cầm chừng, ngại học, ngại rèn. Nghị quyết 847 đã thẳng thắn chỉ ra biểu hiện “Coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật”. Vì không tích cực học tập, không cập nhật thông tin dẫn đến thiếu hiểu biết, có nhận thức lệch lạc, nảy sinh tư tưởng tiêu cực, hành động sai trái, vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Lười học tập, ngại rèn luyện là những căn nguyên dẫn đến suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, đánh mất những giá trị phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

    Nhớ lời Bác Hồ căn dặn: “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ càng thấy cần phải học thêm”. Trong các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ mà Nghị quyết 847 đề ra cũng chỉ rõ, bên cạnh xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, cần phải “có kiến thức, năng lực toàn diện”, thực sự là tấm gương mẫu mực trong phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Với bộ đội cần phải học tập toàn diện, học ở trường lớp, học trong sách vở, học từ đồng đội, học ngoài nhân dân.

    Hoạt động quân sự mang tính đặc thù cao. Do vậy nhiệm vụ học tập để trang bị cho bộ đội có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với từng chức trách, nhiệm vụ nhất định, hình thành lý tưởng, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của quân nhân cách mạng, có thế giới quan khoa học, linh hoạt nhạy bén, năng động, sáng tạo thích ứng trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào. Trước yêu cầu hiện đại hóa quân đội, bộ đội càng phải thi đua học tập để có đủ trình độ, tri thức tiên tiến. Hiện nay, quân nhân có điều kiện tiếp thu nhiều kiến thức mới với cách thức tiếp cận hiện đại. Đặc biệt, khi internet phát triển, bộ đội dễ dàng tìm hiểu, nắm bắt được nhiều thông tin phong phú về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Đó là nguồn tri thức hỗ trợ tích cực cho cán bộ, chiến sĩ trong quá trình học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ toàn diện.

    Để việc học trở thành nhu cầu tự thân của mỗi quân nhân, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho mỗi quân nhân về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập, rèn luyện, khơi dậy tinh thần tự học, tự rèn, khả năng sáng tạo để thỏa mãn nhu cầu nhận thức và yêu cầu công tác. Quá trình học tập của bộ đội chịu tác động của cả hệ thống giáo dục-đào tạo từ nhà trường đến đơn vị, từ giảng viên đến cán bộ quản lý. Do đó, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới nội dung, hình thức học tập luôn được đặt ra đối với các học viện, nhà trường và đơn vị. Bên cạnh đó, công tác quản lý giáo dục, cơ sở vật chất bảo đảm cũng phải được cải tiến nhằm tạo ra môi trường giáo dục thuận lợi, giúp cho việc dạy và học đạt hiệu quả cao.

    Tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn vừa là đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, cũng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi quân nhân phải luôn tự học, tự rèn để có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp trí tuệ, sức lực xây dựng quân đội vững mạnh, hiện đại.     

Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội.

 

Từ trước tới nay, nói đến tính thống nhất, bất cứ ai cũng phải thừa nhận đó là đặc trưng, là nét đẹp thuộc về phẩm chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.

 Ra sức học tập, rèn luyện để tiến bộ, trưởng thành

    Việc khẳng định đặc trưng thống nhất trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương là sự kế thừa, phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lên tầm cao mới trên cơ sở lý luận và thực tiễn đúc kết qua hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

    Quân đội đẹp ở sự thống nhất! Để có được sự thống nhất cả về hình thức và nội dung, đòi hỏi phải trải qua quá trình rèn luyện công phu, bền bỉ, bồi đắp cho đặc trưng ấy trở thành vẻ đẹp ngời sáng của Bộ đội Cụ Hồ.

    Sự thống nhất trong quân đội vô cùng rộng lớn, bao trùm, nhưng lại hiện hữu ở từng cán bộ, chiến sĩ và từng đơn vị cụ thể.

Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội
Bộ đội giúp nhân dân gánh lúa về nhà.

    Về mặt hình thức, đặc trưng thống nhất thể hiện trong mang mặc, lễ tiết tác phong; trong xây dựng doanh trại, trang trí khánh tiết đơn vị; trong đội hình huấn luyện, học tập, hành quân, diễu duyệt; trong cách xưng hô, chào hỏi... Đây là những nét bên ngoài ai cũng có thể nhìn thấy, nhận thấy. Nó tạo nên vẻ đẹp của sự thống nhất tổng thể, tác động trực diện vào thị giác mỗi người.

    Nét đẹp của sự thống nhất về hình thức bên ngoài chính là biểu hiện của sự thống nhất về nội dung bên trong. Đây là điều cốt lõi, là phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Đó là sự thống nhất ý chí và hành động, thống nhất về nhận thức, tư tưởng, bảo đảm toàn quân một ý chí.

    Trong một con người, nhận thức chi phối hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng. Từ nhận thức đến hành động, từ suy nghĩ đến việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải bảo đảm thống nhất, nói đi đôi với làm, không mâu thuẫn bất nhất, không nói một đằng làm một nẻo, gió chiều nào xoay chiều ấy... Sự kiên định, nhất quán hình thành đức tính, thói quen tốt, lâu dần trở thành nét đẹp văn hóa của người quân nhân cách mạng. Chính phẩm chất cao quý này tạo nên uy tín của Bộ đội Cụ Hồ đối với nhân dân và với bạn bè quốc tế.

    Trong một tập thể quân nhân, từng chiến sĩ thống nhất để có một tập thể thống nhất. Từ chỉ huy đến chiến sĩ, từ cấp dưới đến cấp trên đều thống nhất ý chí và hành động. Song, để có sự thống nhất này là cả một quá trình, kết hợp nhiều khâu, nhiều bước. Trước hết, trong cơ chế lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất lãnh đạo Quân đội nhân dân “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo ấy được thực hiện thống nhất thông qua hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ. Ở từng đơn vị, sự thống nhất giữa bí thư cấp ủy với người chỉ huy bảo đảm cho đơn vị luôn dân chủ, đoàn kết, không xảy ra độc đoán, chuyên quyền; “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức... Trong giáo dục, tuyên truyền, định hướng tư tưởng thực hiện thống nhất theo hướng dẫn, quy định của Tổng cục Chính trị. Trong chuyên môn, nghiệp vụ quân sự thực hiện thống nhất theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu... Nhờ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ mới có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ quân sự; mỗi đơn vị mới đạt thành tích vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; quân đội mới giữ vững kỷ cương, thống nhất.

     Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, tính thống nhất là đặc trưng hàng đầu và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều này được minh chứng bằng những chiến công vang dội trong suốt chặng đường hơn 77 năm qua. Bắt đầu từ chiến thắng mở màn Phai Khắt, Nà Ngần đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Chiến dịch Điện Biên Phủ và thắng lợi cuối cùng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất non sông... Tất cả đều minh chứng rõ nét cho sức mạnh của sự thống nhất. Gần đây là “cuộc chiến” chống dịch Covid-19, hình ảnh những đoàn quân từ các đơn vị ở mọi miền Tổ quốc chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ chống dịch với tinh thần “tính mạng, sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết” làm sống lại khí thế một thời “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Nếu không có sự thống nhất trên dưới một lòng, toàn quân một ý chí, “nhất hô bá ứng”, muôn người như một... thì “cuộc chiến” chống dịch Covid-19 ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai... sẽ không thể có được kết quả như ngày hôm nay...

    Bởi vậy, chăm lo, củng cố và phát huy đặc trưng thống nhất của quân đội chính là góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Để làm được điều này cần chú trọng tiến hành song song cả nội dung và hình thức. Về hình thức, cần tập trung xây dựng nền nếp chính quy, trang phục, lễ tiết tác phong, xưng hô, chào hỏi... Đây là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, của cấp ủy, người chỉ huy các cấp, tùy theo chức năng, nhiệm vụ để chủ động duy trì, triển khai thực hiện sao cho đúng pháp luật, điều lệnh quân đội.

    Để thống nhất về nội dung, cần đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, đấu tranh bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Đây là cơ sở tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí, từ đó thống nhất về hành động trong đơn vị; phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; duy trì nghiêm kỷ luật của quân đội và các quy định của đơn vị... Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, trau dồi bản lĩnh cho bộ đội; tăng cường xây dựng và củng cố mối quan hệ đồng chí, đồng đội, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phân biệt đối xử giữa cán bộ với chiến sĩ và giữa các chiến sĩ với nhau. Đặc biệt, cần nhận diện rõ 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân theo Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, làm cơ sở giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ biết phòng tránh, khắc phục kịp thời khi có dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong đơn vị...

    Như vậy, xét đến cùng, xây và chống, phát huy và ngăn chặn luôn song hành và là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo đảm sự thống nhất, chính quy trong quân đội, tiếp tục làm ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội.

 

Từ trước tới nay, nói đến tính thống nhất, bất cứ ai cũng phải thừa nhận đó là đặc trưng, là nét đẹp thuộc về phẩm chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.

 Bóng hồng quân hàm xanh trên biên cương Quảng Trị

    Việc khẳng định đặc trưng thống nhất trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương là sự kế thừa, phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lên tầm cao mới trên cơ sở lý luận và thực tiễn đúc kết qua hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam anh hùng.

    Quân đội đẹp ở sự thống nhất! Để có được sự thống nhất cả về hình thức và nội dung, đòi hỏi phải trải qua quá trình rèn luyện công phu, bền bỉ, bồi đắp cho đặc trưng ấy trở thành vẻ đẹp ngời sáng của Bộ đội Cụ Hồ.

    Sự thống nhất trong quân đội vô cùng rộng lớn, bao trùm, nhưng lại hiện hữu ở từng cán bộ, chiến sĩ và từng đơn vị cụ thể.

Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội
 Ảnh minh họa: TTXVN.

    Về mặt hình thức, đặc trưng thống nhất thể hiện trong mang mặc, lễ tiết, tác phong; trong xây dựng doanh trại, trang trí khánh tiết đơn vị; trong đội hình huấn luyện, học tập, hành quân, diễu duyệt; trong cách xưng hô, chào hỏi... Đây là những nét bên ngoài ai cũng có thể nhìn thấy, nhận thấy. Nó tạo nên vẻ đẹp của sự thống nhất tổng thể, tác động trực diện vào thị giác mỗi người.

    Nét đẹp của sự thống nhất về hình thức bên ngoài chính là biểu hiện của sự thống nhất về nội dung bên trong. Đây là điều cốt lõi, là phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Đó là sự thống nhất ý chí và hành động, thống nhất về nhận thức, tư tưởng, bảo đảm toàn quân một ý chí.

    Trong một con người, nhận thức chi phối hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng. Từ nhận thức đến hành động, từ suy nghĩ đến việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải bảo đảm thống nhất, nói đi đôi với làm, không mâu thuẫn bất nhất, không nói một đằng làm một nẻo, gió chiều nào xoay chiều ấy... Sự kiên định, nhất quán hình thành đức tính, thói quen tốt, lâu dần trở thành nét đẹp văn hóa của người quân nhân cách mạng. Chính phẩm chất cao quý này tạo nên uy tín của Bộ đội Cụ Hồ đối với nhân dân và với bạn bè quốc tế.

    Trong một tập thể quân nhân, từng chiến sĩ thống nhất để có một tập thể thống nhất. Từ chỉ huy đến chiến sĩ, từ cấp dưới đến cấp trên đều thống nhất ý chí và hành động. Song, để có sự thống nhất này là cả một quá trình, kết hợp nhiều khâu, nhiều bước. Trước hết, trong cơ chế lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất lãnh đạo QĐND “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo ấy được thực hiện thống nhất thông qua hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ. Ở từng đơn vị, sự thống nhất giữa bí thư cấp ủy với người chỉ huy bảo đảm cho đơn vị luôn dân chủ, đoàn kết, không xảy ra độc đoán, chuyên quyền; “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức... Trong giáo dục, tuyên truyền, định hướng tư tưởng thực hiện thống nhất theo hướng dẫn, quy định của Tổng cục Chính trị. Trong chuyên môn, nghiệp vụ quân sự thực hiện thống nhất theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu... Nhờ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ mới có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ quân sự; mỗi đơn vị mới đạt thành tích vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; quân đội mới giữ vững kỷ cương, thống nhất.

     Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, tính thống nhất là đặc trưng hàng đầu và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của QĐND Việt Nam. Điều này được minh chứng bằng những chiến công vang dội trong suốt chặng đường hơn 77 năm qua. Bắt đầu từ chiến thắng mở màn Phai Khắt, Nà Ngần đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Chiến dịch Điện Biên Phủ và thắng lợi cuối cùng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất non sông... Tất cả đều minh chứng rõ nét cho sức mạnh của sự thống nhất. Gần đây là “cuộc chiến” chống dịch Covid-19, hình ảnh những đoàn quân từ các đơn vị ở mọi miền Tổ quốc chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ chống dịch với tinh thần “tính mạng, sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết” làm sống lại khí thế một thời “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Nếu không có sự thống nhất trên dưới một lòng, toàn quân một ý chí, “nhất hô bá ứng”, muôn người như một... thì “cuộc chiến” chống dịch Covid-19 ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai... sẽ không thể có được kết quả như ngày hôm nay...

    Bởi vậy, chăm lo, củng cố và phát huy đặc trưng thống nhất của quân đội chính là góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Để làm được điều này, cần chú trọng tiến hành song song cả nội dung và hình thức. Về hình thức, cần tập trung xây dựng nền nếp chính quy, trang phục, lễ tiết, tác phong, xưng hô, chào hỏi... Đây là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, của cấp ủy, người chỉ huy các cấp, tùy theo chức năng, nhiệm vụ để chủ động duy trì, triển khai thực hiện sao cho đúng pháp luật, điều lệnh quân đội.

    Để thống nhất về nội dung, cần đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, đấu tranh bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây là cơ sở tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí, từ đó thống nhất về hành động trong đơn vị; phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; duy trì nghiêm kỷ luật của quân đội và các quy định của đơn vị... Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, trau dồi bản lĩnh cho bộ đội; tăng cường xây dựng và củng cố mối quan hệ đồng chí, đồng đội, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phân biệt đối xử giữa cán bộ với chiến sĩ và giữa các chiến sĩ với nhau. Đặc biệt, cần nhận diện rõ 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân theo Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, làm cơ sở giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ biết phòng tránh, khắc phục kịp thời khi có dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong đơn vị...

    Như vậy, xét đến cùng, xây và chống, phát huy và ngăn chặn luôn song hành và là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo đảm sự thống nhất, chính quy trong quân đội, tiếp tục làm ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Văn học phải là vũ khí, là điểm tựa cho con người.

 

Văn học, bất chấp mọi khoảng cách không gian, tự nó tìm đến với người đọc, qua cầu ngôn ngữ... Văn học phải là vũ khí, là nguồn sức mạnh, là điểm tựa cho con người trong mọi khó khăn, gian nguy.

 Những người "mong" thất nghiệp

    Độc lập và tự do-khát vọng thiêng liêng đó của dân tộc Việt Nam được thực hiện chủ yếu và trước hết bởi những người lính-từ anh Vệ quốc quân sau năm 1945 đến anh Giải phóng quân sau năm 1960, trong tên chung là anh Bộ đội Cụ Hồ, và gồm cả những nhà văn mặc áo lính cũng là một lực lượng hùng hậu. Từ Trần Đăng, Thôi Hữu, Hoàng Lộc, Quang Dũng, Chính Hữu, Vũ Cao... đến Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thi, Xuân Thiều, Phan Tứ, Anh Đức, Nguyễn Sáng, Lê Anh Xuân, Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Vương Trọng, Nguyễn Đức Mậu... thiếu họ sẽ không có một nền văn học “xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học-nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”, như sự tôn vinh của Đảng trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IV năm 1976.

30 năm (1945-1975)-hai cuộc chiến, không tính cuộc chiến ở hai đầu biên giới từ năm 1979 đến 1989, đó là một khối thời gian dài, rất dài so với bất cứ cuộc chiến nào trên toàn thế giới trong suốt thế kỷ 20. Thử hỏi có dân tộc nào trên thế giới chịu được một cuộc chiến dài và khốc liệt như thế, ngoài dân tộc Việt Nam? Và, đồng hành với cuộc chiến là sự xuất hiện một nền văn học viết về chiến tranh trong chiến tranh. Khi đại bác gầm thì chim họa mi tắt tiếng, logic đó xem ra không đúng với dân tộc Việt Nam, bởi trong suốt 30 năm, bất cứ lúc nào cũng có sự xuất hiện những tác phẩm văn học-nghệ thuật thấm nhuần chân lý “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận” và “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (Hồ Chí Minh).

    Những tác phẩm của 3 thế hệ người viết-thế hệ đã thành danh trước năm 1945, thế hệ xuất hiện sau năm 1945 và thế hệ sau năm 1960 gần như không trừ ai, đã tự nguyện xếp vào đội ngũ những người cầm súng hoặc người ra trận, để từ đó mà làm nảy nở một nền văn học viết về nhân dân chiến đấu, ngay trong khói lửa của chiến tranh. Và giá trị của nền văn học đó, trước hết chính là ở sự hiện diện kịp thời này, một sự hiện diện quý giá, nếu không có nó, người viết không thể nào có được căn cứ, chất liệu cần thiết cho việc nêu và trả lời các câu hỏi lớn đặt ra cho dân tộc và cũng là của thời đại: Vì sao dân tộc ta phải thắng? Vì sao ta đến được với Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975?

 Đồng đội. Ảnh: HÀ QUỐC THÁI

    Giá trị của nền văn học đó đã được xác định ở sự tập trung ngòi bút và ống kính để soi tỏ, nhận diện gương mặt và tầm vóc con người Việt Nam từ tay không hoặc vũ khí thô sơ đã dám đối mặt với những kẻ thù được trang bị bằng cả một bộ máy chiến tranh khổng lồ, với tất cả phương tiện hiện đại. Để chiến thắng kẻ thù đó, con người Việt Nam trước hết phải tự dựa vào sức mình và biết cách nhân sức mình lên. Bên cạnh sức mạnh tinh thần, sức mạnh chính nghĩa, con người đó phải đồng thời biết tạo nên sức mạnh vật chất, sức mạnh kỹ thuật, sức mạnh tổng hợp của thời đại. Và đó là phần giá trị được kết tinh với mức độ đậm nhạt khác nhau trong hàng loạt chân dung con người trên các trang văn thơ trong suốt 30 năm và sau 30 năm. Từ hình ảnh người ra trận hoặc người hậu phương, miền núi hoặc miền xuôi, những anh hùng có tên hoặc quần chúng bình thường... văn học thực sự đã làm một cuộc đồng hành với dân tộc. Và dẫu còn xa mới đạt được niềm mong mỏi, nền văn học đó chưa bao giờ làm một kẻ thờ ơ đứng cạnh hoặc ngừng lại nửa chừng.

    Không phải là chuyện khó trong việc vạch ra những mặt còn non yếu của một nền văn học sinh ra trên các dấu vết nóng bỏng của thời sự. Một nền văn học lấy việc chạy đuổi, nắm bắt, cắm cho được những cái mốc lớn của hiện thực làm mục tiêu chính. Những cái mốc đó, với văn học mà nói, chính là gương mặt, là tầm vóc, là phẩm chất con người được bộc lộ và định hình lại được trong muôn hoàn cảnh cực kỳ gay go, khốc liệt. Dễ hiểu thành tựu ghi được về phương diện này trong văn học 30 năm có được độ đậm đặc và kết tinh trong nhiều tác phẩm, nhưng thuộc con số những bài, những cuốn xuất sắc lại là không ít các sáng tác vẫn giữ nguyên tên người thật, hoặc dựa vào người thật như Núp trong "Đất nước đứng lên" hoặc chị Út Tịch trong "Người mẹ cầm súng". Ở nơi mà sự thật quá lớn, quá kỳ vĩ, sự tưởng tượng của con người chưa theo kịp, thì tốt nhất hãy cứ tìm đến sự sao chép trung thành với đời thật. Hãy có được những bằng chứng. Rồi còn việc sáng tạo-đó là công việc cần có thời gian. Sự chưng cất, nhào nặn, đó là việc hãy chờ sau. Người viết nào lại không nung nấu một sáng tạo nghệ thuật là sản phẩm của chính tay mình. Nhưng nếu việc ấy mình chưa làm được, người khác sẽ làm, nếu thế hệ này chưa làm được, thế hệ sau sẽ làm tiếp.

    Có phải đó là một sự chấp nhận tự nguyện có hàm nghĩa hy sinh, cũng là điều tâm nguyện của không phải chỉ một, hai, hoặc ba thế hệ người viết chúng ta?

    Hãy thử dừng lại để soi vào cách sống, cách làm việc của số lớn người viết, trên số lớn trang viết chúng ta trong 30 năm đó. Đó không phải chủ yếu là cái bàn với lọ hoa, với những chuyến nghỉ ngơi để tìm sự yên tĩnh, thư giãn trong thiên nhiên, hoặc sự thay đổi không khí ở một vùng đất khác, trong nước hoặc nước ngoài...

    Nếu động tác cơ bản của số đông người viết chúng ta trong 30 năm đó là vừa cầm súng vừa cầm bút, thì hoàn cảnh cơ bản để họ hành nghề là diễn ra trên đường hành quân, bên bếp lửa rừng, giữa hai loạt bom, giữa hai tầm đại bác, phút im lặng giữa hai trận đánh, và lắm lúc cả trong cái đói cồn cào ở chiến trường... Tôi muốn nói sự ra đời của số lớn tác phẩm chúng ta là ở tình huống đó, không ai không trải qua, trong phần lớn hoặc toàn bộ đời viết của mình, từ Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng... đến Nguyễn Thi, Giang Nam, Nguyên Ngọc, Anh Đức, Phan Tứ, Lê Anh Xuân, Thu Bồn... Rồi Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyễn Minh Châu, Hữu Mai, Vũ Cao, Nguyễn Trọng Oánh, Xuân Thiều... Cố nhiên, cuộc sống, ngay cả trong chiến đấu, không phải không có những lúc tĩnh lặng, bình yên. Nhưng có phải ở tất cả người viết, chính những giây phút không bình yên của chiến tranh lại dồn chứa biết bao cảm hứng, rung động và sự thôi thúc cho ra đời những quyển, những bài, những trang thật đáng giá. Phải chăng, đó lại là sự bù đắp, sự cân bằng trở lại cho tất cả thiệt thòi và hy sinh mà những người viết văn trong chiến tranh phải chịu đựng.

    Công chúng trong chiến tranh cũng là điều không được phép quên. Văn học phải là vũ khí, là nguồn sức mạnh, là điểm tựa cho con người trong mọi khó khăn, gian nguy. Văn học trong 30 năm chiến tranh là văn học viết cho những người mẹ dám tiễn nốt đứa con trai cuối cùng lên đường, cho người vợ đã xa chồng trong 9 năm, lại tiếp tục một cuộc chia ly mới, không hẹn được ngày đoàn tụ. Văn học phải viết về hậu phương sao cho người ở tiền tuyến được yên tâm; và viết về tiền tuyến sao cho người ở lại hậu phương luôn luôn được vững dạ. Trong hàng vạn, hàng chục vạn người hy sinh, lời nhắn nhủ gửi về phía sau phải là lời của người sống, và niềm khát khao của họ là nhằm vào một chữ đợi. Một mối liên hệ gắn nối như thế có thể “duy tâm”, nhưng là rất cần thiết, chính vì có chữ đợi của hậu phương nên sẽ có người sống trở về. "Đợi anh, anh sẽ về" (K.Simonov). Tôn trọng sự thật, người viết không được tô vẽ, không được tuyên truyền một chủ nghĩa lạc quan rẻ giá, nhưng người viết nào cũng phải có trách nhiệm không được làm nản chí tất cả những ai đang trên đường ra trận, đang giáp mặt với kẻ thù và cả những ai đang chờ đợi.

    Thật rõ ràng, ở Việt Nam chúng ta, trong 30 năm ấy, số phận cá nhân gắn liền với số phận của dân tộc như hai mặt của một tờ giấy. Người vợ Việt Nam ở lại miền Nam, sau năm 1954, chung thủy với chồng cũng chính là chung thủy với cách mạng. Kẻ thù biết vậy nên trong những chiến dịch tố cộng khốc liệt, chúng đã dồn sức đánh vào sự chung thủy của người vợ chờ chồng. Chỉ cần một chữ “ly khai”! “Hạ” được một phụ nữ trong cuộc chiến này chính là đẩy lùi được lòng tin, là nới lỏng được sự gắn bó giữa nhân dân và cách mạng.

    Cuộc chiến thầm lặng mà thật khốc liệt. Và chiến thắng giành được là một chiến thắng không phải chỉ riêng của cá nhân.

    Hãy đừng nghĩ về chủ nghĩa nhân đạo một cách chung chung như nhiều nơi khác. Ráng yêu cầu một thiếu nữ đang tuổi đôi mươi đã chờ chồng ở một cuộc chiến tranh, lại tiếp tục chờ thêm một cuộc nữa, sao được gọi là nhân đạo? Nhưng nếu không chấp nhận sự chờ đợi này thì cách mạng phải lùi bước. Chính từ sự nhận thức đơn giản đó mà có hình ảnh người phụ nữ trăn trở “trước tờ giấy trắng”, trước hai chữ “ly khai” ở miền Nam trong thơ Giang Nam đến người phụ nữ “một mình một mâm cơm, ngồi bên nào cũng lệch” ở miền Bắc trong thơ Hữu Thỉnh.

    Sự nhận thức ấy đã thành kinh nghiệm, thành bản năng trong mỗi người dân Việt Nam suốt nửa thế kỷ.

    Tôi được đọc ở một tờ báo nước ngoài nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng chủ nghĩa phát xít chuyện một bà mẹ Nga ở Cuban có 9 người con lần lượt hy sinh. Ngày chiến thắng về làng, bà mẹ đã ngã sấp xuống vườn nhà, hai cánh tay già run rẩy vục vào nền đất ẩm và rên lên: “Sao số phận lại đày đọa tôi đến như vậy!”. Và trang bên là hình ảnh ngôi nhà cũ của bà mẹ đã được xây dựng thành nhà bảo tàng của địa phương; trước sân nhà là 3 dãy bia mộ của đủ 9 người con.

40 năm sau Đại thắng mùa Xuân 1975, trên đất Quảng Nam, chúng ta được chiêm ngưỡng bức tượng đài hoành tráng Bà mẹ Việt Nam anh hùng-Mẹ Nguyễn Thị Thứ, người đã hiến dâng cho Tổ quốc 9 người con, cùng với người chồng.

    Nhà bảo tàng, cùng tượng đài và bia mộ cho nhân dân, cho thời gian.

    Có cách biết ơn của người làm bảo tàng và tượng đài. Lại có cách biết ơn của người làm văn, ghi vào chữ nghĩa. Bảo tàng hoặc tượng đài có sức tác động mạnh, nhưng có giới hạn: Mỗi người phải đến với nó. Có độ gần, dễ đến. Nhưng có độ xa, rất nhiều người không ai đến được. Còn văn học, bất chấp mọi khoảng cách không gian, tự nó tìm đến với người đọc, qua cầu ngôn ngữ. Sao cho những mất mát được bù đắp và đừng có sự bạc bẽo hoặc vô ơn nào tìm được nơi ẩn nấp! Để kết thúc cho những trang tản mạn này, tôi thấy vẫn không thể nào tránh được cái ý đã quen thuộc: Sự thật thì lớn lao mà trang giấy thì bé quá. Nhưng lại cũng đến lúc, mỗi người viết hôm nay, không còn đường nào khác, phải có cách sao cho trang giấy-mãi mãi vẫn chỉ nhỏ bé như vậy, nói được, ôm được, chung đúc được mọi sự thật lớn lao của cuộc đời.

    Như tất cả những trang, những quyển, những tên người viết và những nền văn học lớn đã làm được.

Nêu cao y đức, rèn luyện chuyên môn, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.

 

Mỗi cán bộ, chiến sĩ, bác sĩ Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội luôn nêu cao y đức, rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ. Từ đó không ngừng bồi đắp và tô thắm thêm phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ bằng những sáng kiến ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân và điều trị, chăm sóc bệnh nhân ung thư.

 Ngày 24-4-1996: Thành lập Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội

 Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân Đội thành lập Trung tâm y tế ứng phó sự cố bức xạ hạt nhân

Nhân kỷ niệm 26 năm thành lập (24-4-1996/24-4-2022), Đại tá Nguyễn Văn Mùi, Viện trưởng Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội đã chia sẻ với Báo Quân đội nhân dân Điện tử về hành trình vươn lên, làm chủ khoa học học công nghệ để đơn vị được Bộ Quốc phòng xếp hạng chuyên môn Viện hạng I về chuyên ngành hàng đầu trong lĩnh vực y học phóng xạ và điều trị ung bướu.

Nêu cao y đức, rèn luyện chuyên môn, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ
 Các y, bác sĩ của Viện đang thực hiện ca phẫu thuật.

Phóng viên (PV): Xin đồng chí cho biết quá trình hình thành và phát triển của Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội?

Đại tá Nguyễn Văn Mùi: Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội được thành lập ngày 24-4-1996 trực thuộc Cục Quân y. Trải qua 26 năm xây dựng và phát triển, Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội đã trưởng thành, trở thành bệnh viện hạng I của Bộ Quốc phòng.

26 năm thành lập, Viện đã có bước phát triển vượt bậc, từ một Trung tâm y học hạt nhân và bảo vệ phóng xạ, hiện nay đã phát triển thành Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội với 11 đầu mối khoa, ban, trung tâm, bộ phận.

Số lượng cán bộ nhân viên cũng tăng dần theo thời gian. Từ lúc ban đầu chỉ có 34 cán bộ, nhân viên thì hiện nay đã tăng lên gần 60 cán bộ, nhân viên. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng đã được xây dựng khang trang hơn trước rất nhiều.

Hiện nay, Viện đã được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại phục vụ cho nhiệm vụ ứng phó sự cố bức xạ hạt nhân và chẩn đoán, điều trị một số bệnh về ung bướu.

Nêu cao y đức, rèn luyện chuyên môn, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ
Đại tá Nguyễn Văn Mùi, Viện trưởng Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội phát biểu tại một Hội nghị khoa học.  

Cùng với sự phát triển về con người, cơ sở hạ tầng thì các máy móc cũng được đầu tư, nhiều thiết bị hiện đại trong ghi đo, chẩn đoán nhiễm xạ cho nạn nhân ở hiện trường cũng như tại bệnh viện. Ngoài ra còn có những trang thiết bị phục vụ cho nhiệm vụ tẩy xạ tại chỗ hoặc toàn thân cho các nạn nhân nhiễm xạ.

Hiện nay ở Viện còn có các trang thiết bị phục vụ đo liều phóng xạ chuyên sâu như: Hệ thống đo liều phóng xạ sinh học, hệ thống đo phóng xạ trong máu, nước tiểu, các hệ phổ kế để kiểm định phóng xạ trong môi trường.

PV: Xin đồng chí cho biết phương pháp điều trị căn bệnh ung thư hiện nay của Viện ra sao?

Đại tá Nguyễn Văn Mùi: Hiện ở Viện đang có kế hoạch mũi nhọn đó là điều trị cho bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp. Hiện nay vấn đề điều trị ung thư tuyến giáp của Viện đã phát triển hoàn thiện. Từ những khâu khám bệnh, phẫu thuật, sau phẫu thuật là điều trị bằng thuốc phóng xạ. Như vậy, Viện đã làm hoàn thiện hầu như tất cả các khâu liên quan đến bệnh lý tuyến giáp. Qua đó đã tạo được uy tín đối với bệnh nhân của Hà Nội cũng như các tỉnh, thành.

Điểm khác biệt so với phác đồ điều trị ung thư tuyến giáp ở những nơi khác của Viện là ở chỗ, các bệnh viện khác đa số mới dừng lại ở ngưỡng là chẩn đoán và phẫu thuật, còn sau phẫu thuật có một bước quan trọng là điều trị bằng thuốc phóng xạ I-31 thì mới khỏi bệnh được. Hiện nay, có một số bệnh viện có khoa y học hạt nhân thì đã triển khai được còn đa số thì phải gửi lên tuyến trên.

Đối với Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội là một trong những tuyến điều trị rất nhiều cho các bệnh nhân ung thư tuyến giáp và cũng đã tạo được thương hiệu và uy tín cao bởi quy trình từ khám đến điều trị.

PV: Những hoạt động từ thiện của Viện trong thời gian qua được thực hiện như thế nào, thưa đồng chí?

Đại tá Nguyễn Văn Mùi: Những năm qua, Viện đã có nhiều hoạt động để hỗ trợ những trường hợp bệnh nhân nghèo; xây dựng quỹ để hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn đến khám chữa bệnh. Đặc biệt, hàng tuần chúng tôi đều tổ chức nấu cháo từ thiện để giúp bệnh nhân có bữa ăn sáng miễn phí.

Những bệnh nhân nghèo, khó khăn đều được các đoàn thể, hội phụ nữ, cơ quan chính trị của Viện thường xuyên nắm bắt tình hình và báo cáo để chúng tôi có sự hỗ trợ kịp thời, động viên bệnh nhân.

Nhờ nhiều hoạt động như thế thì bệnh nhân có thiện cảm, phản hồi tốt đối với bác sĩ, đặc biệt là những lời cảm ơn được bày tỏ trên các nền tảng xã hội. Đây là sự động viên, khích lệ để các bác sĩ, chiến sĩ quân y hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.

PV: Xin đồng chí cho biết công tác khám bệnh cho đồng bào vùng sâu, vùng xa được thực hiện ra sao?

Đại tá Nguyễn Văn Mùi: Năm nào chúng tôi cũng tổ chức các đợt đi về nguồn để khám, cấp, phát thuốc miễn phí.

Viện trực thuộc Cục Quân y, những năm gần đây Cục Quân y thường xuyên tổ chức các hoạt động về nguồn ở Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên nhân dịp ngày truyền thống của ngành. Chúng tôi đã tổ chức các đoàn cán bộ, y, bác sĩ lên để khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí, tư vấn về vệ sinh phòng bệnh, giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Ngoài ra, theo chương trình chung của Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội. Hằng năm Viện đảm nhận cấp thuốc miễn phí, tư vấn sức khỏe cho một số phường thuộc quận Hoàng Mai là nơi đơn vị đứng chân trên địa bàn. Đây là một hoạt động thường niên mà năm nào Viện cũng tham gia.

Nêu cao y đức, rèn luyện chuyên môn, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ
 Đại tá Nguyễn Văn Mùi (áo trắng) chỉ đạo kíp mổ.

PV: Theo đồng chí, bước phát triển lớn nhất của Viện trong những năm qua là gì?

Đại tá Nguyễn Văn Mùi: Bước phát triển được cấp trên và nhân dân ghi nhận và cũng là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Viện hiện nay đó là công tác ứng phó y tế sự cố bức xạ hạt nhân.

Đây là nhiệm vụ do Quân đội giao nhưng Viện cũng là cơ sở nằm trong mạng lưới ứng phó y tế sự cố bức xạ hạt nhân của quốc gia. Trong những năm vừa qua, đơn vị đã phối hợp với thành phố Hà Nội và một số địa phương khác như tỉnh Thừa Thiên Huế, giúp các địa phương này trong diễn tập ứng phó sự cố bức xạ hạt nhân.

Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội hiện là một đơn vị đầu ngành về ứng phó y tế sự cố bức xạ hạt nhân của Việt Nam nói chung. Đó là một bước phát triển và trưởng thành vì từ những ngày đầu thành lập, Viện chỉ có một đội cấp cứu phóng xạ với quân số hạn chế. Hiện nay, Viện đã phát triển nhiều tổ, đội tham gia hoạt động ứng phó và cũng đã biên soạn tài liệu để tập huấn và đào tạo, hỗ trợ về chuyên môn, kỹ thuật cho các hoạt động ứng phó ở các tỉnh cũng như hoạt động ứng phó sự cố bức xạ hạt nhân của ngành quân y hàng năm.

PV: Xin đồng chí cho biết hướng phát triển của Viện thời gian tới?

Đại tá Nguyễn Văn Mùi: Chúng tôi sẽ tiếp tục tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu đó là ứng phó sự cố bức xạ hạt nhân nhưng sẽ phát triển mạnh về ứng phó tại tuyến bệnh viện. Tức là Viện sẽ hoàn thiện các tổ chuyên khoa và các nhóm chuyên sâu để cứu chữa cho các nạn nhân nhiễm xạ và sẽ xây dựng thành hệ thống ứng phó y tế sự cố hạt nhân trong quân đội cũng như tư vấn cho ngành y nói chung của Việt Nam để đẩy mạnh nhiệm vụ này. Đó là về mặt y học quân sự. Còn về y học lâm sàng thì Viện cũng sẽ hoàn thiện và mở rộng công tác điều trị ung thư để phục vụ bệnh nhân. Thế mạnh của Viện là sử dụng phóng xạ trong đó có thuốc phóng xạ, tia phóng xạ và các kỹ thuật chuyên sâu, góp phần khám, chẩn đoán và điều trị các bệnh nhân mắc u bướu trong quân đội cũng như nhân dân.

PV: Là một bác sĩ, chiến sĩ mang hai màu áo, cảm nhận của đồng chí ra sao về vinh dự này?

Đại tá Nguyễn Văn Mùi: Đối với một bác sĩ quân y luôn mang trên vai nhiều trọng trách, ngoài nhiệm vụ vô cùng cao cả chữa bệnh, cứu người thì đối với người chiến sĩ còn cần phải hoàn thành tốt những chức trách, nhiệm vụ trên cương vị của một quân nhân. Mỗi bác sĩ, chiến sĩ quân y phải luôn luôn trau dồi phẩm chất đạo đức cũng như rèn luyện y thuật để làm sao xứng danh người chiến sĩ áo trắng-Bộ đội Cụ Hồ.