Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

ĐẨY MẠNH THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ

 

          Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) là một nội dung trong 5 đặc trưng cơ bản được khái quát tại Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

          Cụ thể là: Gương mẫu trong công tác, sinh hoạt; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

          Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, nâng cao ý thức tiết kiệm

          Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến THTK, CLP đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người cho rằng: “Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy 4 đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính. Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”.

          Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người cũng căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”... Vậy là, dù viết những lời căn dặn sau khi mình đã từ trần, Bác vẫn không quên nhắc nhở chúng ta phải nghĩ đến dân, đừng gây ra sự lãng phí không cần thiết.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu rõ: “Có tiết kiệm, không hoang phí, xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí, xa xỉ thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối”.

          Đồng thời, theo Người, lãng phí là tiêu dùng bừa bãi. Lãng phí tập trung vào 3 loại: Lãng phí lao động, lãng phí thời gian, lãng phí tiền của của nhân dân, đất nước. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãng phí không phải chỉ là tiêu tốn tiền của, mồ hôi nước mắt của nhân dân, mà nguy hiểm hơn, từ hoang phí, xa xỉ sẽ dẫn đến tham ô, nhũng nhiễu, đánh mất tư cách, đạo đức của người cán bộ, đảng viên.

          Theo Bác, tiết kiệm là sử dụng có hiệu quả tiền của, thời gian, công sức lao động, tích trữ thêm vốn cho công cuộc phát triển đất nước, nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Nội hàm thực hành tiết kiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng, bao gồm tiết kiệm của cải vật chất, tiết kiệm thì giờ, sức lao động chứ không đơn thuần là tiết kiệm vật chất theo kiểu “ăn dè hà tiện” trong quan niệm truyền thống.

          Từ đó, Người yêu cầu đội ngũ cán bộ phải là lực lượng tiên phong trong cuộc thi đua THTK. Riêng đối với bộ đội, Bác yêu cầu phải tiết kiệm súng đạn, thuốc men, quân trang và lương thực, thực phẩm để chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược.

          Trong những năm qua, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả nội dung THTK, CLP. Lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì đã đẩy mạnh việc THTK.

          Theo đó, ngoài việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về Luật THTK, CLP và chương trình hành động của cấp ủy các cấp về THTK, CLP, các đơn vị đã tiến hành lập dự trù, phân bổ kinh phí huấn luyện, kinh phí các ngành bảo đảm đúng thủ tục, nguyên tắc, tạo điều kiện cho đơn vị sử dụng kinh phí hiệu quả, đúng mục đích, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ được giao, bảo đảm phục vụ đời sống vật chất và tinh thần cho bộ đội, đồng thời THTK đúng quy định của cấp trên. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tự bảo đảm rau xanh, thịt, trứng, cá... nâng cao chất lượng bữa ăn cho bộ đội.

          Ngoài ra, nhiều đơn vị đã lập Quỹ “Vì ngày mai lập nghiệp”, phát động cán bộ, chiến sĩ tiết kiệm lương, phụ cấp để lo tương lai, hạnh phúc gia đình. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị đã phát động cán bộ, chiến sĩ tích cực nghiên cứu sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tạo ra nhiều sáng kiến thiết thực ứng dụng vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả huấn luyện, công tác và giúp tiết kiệm thời gian, công sức lao động cùng các loại nguyên vật liệu tiêu hao.      Nhiều giải pháp thực hành tiết kiệm

          Công tác THTK, CLP ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã được thực hiện tốt. Mặc dù vậy, ở một vài đơn vị cũng còn những bất cập, tồn tại. Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ tình trạng “... cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực...”.

          Trên thực tế, vẫn còn đơn vị quản lý kinh phí chưa chặt chẽ, công tác kiểm soát chi tiêu tuy đã được tăng cường nhưng tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản ở một số hạng mục vẫn xảy ra. Ý thức sử dụng tiết kiệm xăng, dầu, điện, nước của số ít cán bộ, đảng viên chưa cao, dẫn đến lãng phí, thất thoát.

          Vì vậy, để THTK, CLP hiệu quả theo Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, toàn quân cần đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị phải giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền nắm chắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc THTK, CLP bằng những việc làm thiết thực hằng ngày, như: Phân tích và làm sâu sắc những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về ý thức THTK, CLP gắn với nhiệm vụ của đơn vị và từng cá nhân; các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, nhất là cán bộ chủ trì cần gương mẫu, đi đầu trong THTK, CLP; tăng cường trách nhiệm của người chỉ huy, vai trò lãnh đạo, kiểm tra, giám sát của cấp ủy và kiểm soát của cơ quan tài chính cả trước, trong và sau chi tiêu ngân sách, bảo đảm việc sử dụng tiền, tài sản của đơn vị đúng pháp luật, có hiệu quả, chi tiêu đúng nhiệm vụ, nội dung ngân sách được giao...

          Để không có tình trạng lãng phí, các đơn vị cần thực hiện nghiêm việc quy trách nhiệm cá nhân chứ không chỉ “rút kinh nghiệm” đối với những khoản chi không đúng. Chi tiêu phải thực hiện công khai để giám sát trước tập thể, cấp ủy đảng.

          Cùng với đó, các đơn vị chấp hành nghiêm Luật Ngân sách nhà nước; Luật THTK, CLP; Nghị quyết số 915-NQ/QUTW ngày 25-8-2018 của Quân ủy Trung ương và Đề án “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính Quân đội” ban hành theo Quyết định số 3500/QĐ-BQP ngày 26-8-2018 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

          Hiện nay, các cơ quan, đơn vị đều có thể khoán chi đối với một số nội dung nghiệp vụ hành chính nên khá thuận lợi trong THTK đối với nội dung này; cùng với đó, cần phấn đấu tiết kiệm chi phí hội họp, triệt để tiết kiệm điện, nước, xăng dầu, công tác phí.

          Các biện pháp tiết kiệm chi tiêu trong mọi lĩnh vực cần được tăng cường. Kinh phí chi thường xuyên, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nhà công vụ và mua sắm tài sản công cần quản lý chặt chẽ, khoa học. Các cấp quản lý sử dụng hiệu quả tài chính ngân sách và các nguồn kinh phí, tăng khả năng đáp ứng cho các nhiệm vụ; nắm chắc biến động của thị trường, giá cả để chủ động nguồn hàng, mua sắm cho phù hợp.

          Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về THTK, CLP có ý nghĩa rất thiết thực để mỗi chúng ta học tập và noi theo. Việc THTK, CLP ở từng cơ quan, đơn vị là yêu cầu cấp thiết, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, đồng thời giúp tiết kiệm tiền bạc của Nhà nước và nhân dân.

          Muốn THTK, CLP thực sự hiệu quả, trước hết là cần sự gương mẫu đi đầu và kiên quyết chỉ đạo của cấp ủy, người chỉ huy mỗi cơ quan, đơn vị.(HD)                                                                              St PQ

Khi “kim chỉ nam” bị cất trong tủ kính

 

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là:

Đừng nghĩ sai thế!

 

Ông Hùng là công nhân nông trường về hưu. Gần nhà ông, có công ty sản xuất linh kiện điện tử do nước ngoài đầu tư.

PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ” !

         Một vấn đề mang tính thời sự nóng bỏng; là một trong những nguy cơ đặc biệt nguy hiểm, liên quan đến sự tồn vong của Đảng, đó là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” xác định phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng là vấn đề trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chống phá phòng trào Cộng sản và công nhân quốc tế, với mưu đồ làm tan rã chế độ xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới. Hiện nay, kẻ thù đang đang ráo riết sử dụng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó chúng xác định Việt Nam là một trọng điểm.
Chúng ta phải khẳng định rằng, tình hình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên vẫn còn diễn biến phức tạp, nó được biểu hiện trên một số lĩnh vực, đó là:
Về tư tưởng chính trị: Phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Về kinh tế: Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về văn hóa - xã hội, đạo đức - lối sống: Đó là biểu hiện ở việc từ bỏ các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống, xuyên tạc lịch sử, đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng. Về đối ngoại và Quốc phòng - an ninh: Phủ nhận đường lối, chính sách về đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhập nhằng, đảo lộn bạn - thù, đối tác - đối tượng. Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên luôn là vấn đề mà các thế lực thù địch lợi dụng một cách triệt để nhằm đạt được mục đích của chúng. Vì vậy, chúng ta cần phải nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay. Phải luôn xây dựng cho bản thân lập trường, bản lĩnh chính trị, tư tưởng kiên định, vững vàng. Thường xuyên tu dưỡng về phẩm chất đạo đức cách mạng, đặc biệt là tiếp tục thực hiện “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh bộ đội Cụ Hồ”.
Mỗi chúng ta phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, lối sống, tận tâm, tận tụy với công việc; có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, chấp hành tốt quy định những điều đảng viên không được làm. Đồng thời, tích cực đấu tranh, phê phán với những biểu hiện vi phạm kỷ luật, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống; thiếu ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ trong cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, phải chủ động, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay của kẻ thù./.

Yêu nước ST.

HỖ TRỢ VỀ NHÀ Ở CHO CÁN BỘ QUÂN ĐỘI!

     Mong sớm được hưởng phụ cấp nhà ở là nguyện vọng rất chính đáng của đội ngũ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp (SQ, QNCN) cùng với hậu phương, gia đình.

Những năm qua, nhiều cử tri đã gửi tới Quốc hội kiến nghị này, bởi Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, quy định: SQ, QNCN tại ngũ được hưởng phụ cấp nhà ở; được ưu tiên hỗ trợ về nhà ở xã hội, được bảo đảm (hoặc cho thuê) nhà ở công vụ. Chính sách ban hành từ lâu nhưng đến nay hai đối tượng này vẫn chưa được hưởng phụ cấp nhà ở; số được hỗ trợ về nhà ở xã hội và được mượn, thuê nhà công vụ cũng rất ít.

Trả lời kiến nghị của cử tri, Bộ Quốc phòng cho biết: Hiện vẫn chưa có văn bản quy định cụ thể về chế độ phụ cấp nhà ở đối với SQ, QNCN. Tính đến cuối năm 2021, số sĩ quan được tham gia các dự án nhà ở xã hội mới đạt 17,79%, bảo đảm nhà ở công vụ được 36,7%, rất ít so với tổng số sĩ quan có nhu cầu nhà ở.

Với QNCN thì tỷ lệ này còn thấp hơn...

Tại các đơn vị hiện nay, nhiều đồng chí SQ, QNCN cùng gia đình đang thuê nhà ngoài doanh trại với chi phí chiếm từ 10% đến 30% thu nhập (tùy từng địa bàn), nên đời sống càng khó khăn; nhất là khi tiền lương chưa được tăng tương xứng với loại hình lao động đặc biệt và đội ngũ SQ, QNCN thường phải công tác xa quê, không có điều kiện, thời gian để làm thêm như người lao động ở các ngành nghề khác.

Trước thực trạng việc bảo đảm cho tất cả SQ, QNCN được hỗ trợ về nhà ở hoặc nhà công vụ là rất khó do quỹ đất và kinh phí xây dựng hạn chế nên không thể triển khai nhanh, đồng thời để khắc phục hiện tượng “những ai may mắn công tác ở đơn vị có điều kiện thì được hưởng, và ngược lại” dẫn tới sự mất công bằng, đề nghị Nhà nước trước hết cần thực hiện chính sách phụ cấp nhà ở đối với SQ, QNCN theo quy định của hai bộ luật nêu trên. Đây là việc rất cần thiết, nên làm sớm để giúp đời sống, gia đình của đội ngũ SQ, QNCN bớt khó khăn; cử tri cũng hết băn khoăn bởi đã nhiều năm kiến nghị mà một quy định rất đúng đắn, khả thi của luật vẫn bị "treo", chưa đi vào cuộc sống. 

Về lâu dài, cần triển khai quyết liệt việc xây nhà công vụ cho SQ, QNCN thuê, mượn để lực lượng nòng cốt trong toàn quân thật sự “an cư lạc nghiệp”, thêm gắn bó với đơn vị, yên tâm công tác. Đây cũng là một giải pháp căn bản, rất quan trọng nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào quân ngũ, đáp ứng với yêu cầu xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống./.
Yêu nước ST.

 ĐIỆN BIÊN PHỦ - 56 NGÀY ĐÊM CHẤN ĐỘNG ĐỊA CẦU


Chiến thắng Điện Biên Phủ đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ 20 và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc.


Theo đánh giá của tướng H.Navarre và các nhà quân sự Pháp-Mỹ thì “Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường Đông Dương và cả miền Đông Nam Á, nằm trên trục giao thông nối liền các miền biên giới của Lào, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar) và Trung Quốc. Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp có thể bảo vệ được Lào, rồi từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1952-1953 và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của Việt Nam”. Đánh giá Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ở Đông Dương, nên sau khi đánh chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 20/11/1953, quân Pháp không ngừng tăng thêm binh lực, vũ khí, trang thiết bị quân sự, xây thêm nhiều công sự, đồn lũy và các loại vật tư khác. Được sự giúp đỡ của Mỹ về cố vấn, trang bị kỹ thuật, kinh tế, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương.


Tính đến tháng 3/1954, tại Điện Biên Phủ đã có 12 tiểu đoàn và bảy đại đội bộ binh, ba tiểu đoàn pháo binh, một đại đội xe tăng, một phi đội máy bay thường trực (14 chiếc). Sau này trong quá trình chiến dịch, quân Pháp tăng viện thêm bốn tiểu đoàn, hai đại đội lính dù, tổng cộng có 17 tiểu đoàn, phần lớn đều là lính tinh nhuệ. Ngoài ra còn có các quân chủng pháo binh, công binh, thiết giáp, phân đội hỏa pháo. Tổng số quân tăng lên hơn 16.000 người và 300 máy bay vận tải tiếp tế, có sự chi viện của không quân Mỹ.


Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ quân sự và kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 diễn ra cùng thời điểm quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, “địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là để che chở cho Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp. Như vậy là bị động phân tán lực lượng để đối phó với ta. Vô luận rồi đây, địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta."


Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh Trần Đình, nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, Lê Liêm - Chủ nhiệm Chính trị, Đặng Kim Giang - Chủ nhiệm Cung cấp.


Với những nỗ lực cao nhất, Việt Nam đã dồn hết sức người, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiều tầng lớp nhân dân hăng hái lên đường tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ như công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sỹ… Và đã có biết bao tấm gương hy sinh trên đường ra trận, nhiều anh hùng quên mình xả thân cho cuộc kháng chiến. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.


Đầu tháng 3/1954, thời gian chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với phương châm “đánh chắc, tiến chắc” đã hoàn thành. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có tất cả 49 cứ điểm, được chia làm ba phân khu. Trên chiến trường, ta mở ba đợt tiến công vào Điện Biên Phủ.


Đợt một của chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13/3/1954, với trận tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam thuộc vòng ngoài Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Đợt hai diễn ra ngày 30/3/1954, đánh vào phân khu trung tâm. Đợt ba chiến dịch diễn ra ngày 1/5 và kết thúc ngày 7/5/1954, đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.


✍️Sau 56 ngày đêm chiến đấu, hy sinh, gian khổ, quân và dân Việt Nam đã tiêu diệt toàn bộ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.


Chiến thắng Điện Biên Phủ đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn Hội nghị cùng ký Hiệp định Geneva chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược (1945-1954) ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Hiệp định Geneva đã tạo được cục diện mới, tạo tiền đề và cơ sở pháp lý rất quan trọng để dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).


✍️Những cột mốc đáng nhớ trong chiến dịch Điện Biên Phủ


20/11/1953, Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, manh nha ý định xây dựng căn cứ quân sự ở đây và ngăn chặn quân chủ lực Việt Nam chiếm đóng Tây Bắc.


03/12/1953, Navarre chính thức quyết định xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau khi nghiên cứu, xem xét và cân nhắc những điều kiện thuận lợi tại thung lũng lòng chảo phía Tây Bắc Việt Nam. Quyết định này đưa tới sự ra đời của tập đoàn cứ điểm “chưa từng thấy” ở Đông Dương với 49 cứ điểm mạnh mẽ, được đầu tư viện trợ tối đa và binh lực và hỏa lực và sự dẫn dắt, chỉ huy của Đại tá De Castries.

06/12/1953, Bộ Chính trị quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông - Xuân 1953 - 1954 của ta với Thực dân Pháp, đồng thời cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư kiêm Tổng tư lệnh mặt trận.


26/01/1954, Tổng tư lệnh mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”.


31/01/1954, Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ chuyển vị trí đóng quân đến khu rừng Mường Phăng trên đại điểm xã Mường Phăng, huyện Điện Biên cách Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khoảng 40km đường bộ và khoảng hơn 15km đường chim bay.


13/3/1954, Sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt, ta chính thức mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ tại Trung tâm đề kháng Him Lam, một trong những cụm cứ điểm mạnh nhất của Pháp nằm phía Đông Bắc Tập đoàn cứ điểm.


31/3/1954, Đợt tấn công thứ hai vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhiệm vụ tập trung vào dãy cao điểm phía Đông, khu sân bay Mường Thanh, thừa cơ tiến vào khu trung tâm, nơi có Sở chỉ huy của De Castries.


01/5/1954, Đợt tấn công cuối cùng nhằm kết thúc số phận của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được tiến hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất là tiêu diệt nốt A1 và C2, thừa cơ tiến hành tổng công kích.


06/5/1954, vào lúc 20 giờ 30 phút, khối bộc phá 960kg nổ trên Đồi A1 báo hiệu ngày tàn của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.


07/5/1954, sau khi mở được chiếc chìa khóa cuối cùng A1, quân ta từ các hướng tiến thẳng vào hầm chỉ huy của De Castries. Không có sự kháng cự, De Castries cùng Bộ chỉ huy quân Pháp và sau đó là toàn bộ quân đồn trú từ các hầm trú ẩn và các cứ điểm ra hàng.


21/7/1954, Hiệp định Gionever được ký kết, Pháp và các nước tham gia công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, rút quân khỏi Đông Dương

ST


 KỶ NIỆM 204 NĂM NGÀY SINH "CÁC MÁC" (Karl Marx, 5-5-1818 - 5-5-2022)


Cuộc đời và những cống hiến của nhà tư tưởng vĩ đại Các Mác (Karl Marx, 1818 - 1883) là nhà tư tưởng thiên tài, nhà cách mạng vĩ đại, lãnh tụ kiệt xuất của giai cấp công nhân, ...


Các Mác là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại trên thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp của ông có nhiều thăng trầm và cũng đầy gian khổ. Những tư tưởng của ông góp phần làm thay đổi tư duy của một bộ phận những dân tộc chịu áp bức, từ đó giúp họ đứng lên giành lại độc lập và thoát ra cảnh lầm than.

Các Mác sinh ngày 5/5/1818, trong một gia đình trung lưu ở thành phố Rhineland, Trier – Đức. Ở tuổi 17, Mác tiếp thu nền giáo dục cổ điển và ông học tập một năm tại khoa luật thuộc Đại học Bonn. Năm 18 tuổi ông và bà Jenny von Westphalen (1814 - 1881) đính hôn. Ông bắt đầu chịu ảnh hưởng bởi triết lý của G.W.F Hegel mà sau đó chi phối phong trào Chủ nghĩa duy tâm Đức.


Sau khi hoàn thành luận án tiến sỹ, ông chuyển sang báo chí và bắt đầu cộng tác với tờ Rheinische Zeitung. Ông nhanh chóng trở thành chủ bút, nhưng sau đó bị các nhà chức trách cho đóng cửa tờ báo vào tháng 5/1843 và Các Mác chuyển về lại Paris.


Khi ở Paris ông đã phát triển hiệp hội lâu dài với Ph. Ăngghen, và đặt ra những suy luận về chủ nghĩa cộng sản mà ngày nay được biết đến cái được gọi là Các bản thảo ở Paris. Sau khi bị trục xuất khỏi Pháp, ông chuyển đến Brussels và ghi chép lại những tư tưởng triết học phát triển trong Luận cương về Feuerbach.


Vào năm 1846, Các Mác đã cùng Ăngghen viết Hệ tư tưởng Đức, đây là văn bản đặt nền móng cho Tuyên ngôn Đảng Cộng sản. Quay lại Pháp, ông bắt đầu làm việc cho một loạt các tờ rơi về Đấu tranh giai cấp ở Pháp và trong thời điểm này, năm 1848, ông cùng Ăngghen xuất bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản.


Sau khi chuyển đến London năm 1849, Các Mác đã cống hiến nhiều năm nỗ lực cho tác phẩm chính là Tư bản - một tác phẩm về kinh tế chính trị quan trọng của Các Mác được viết bằng tiếng Đức. Cuốn sách là sự phân tích về chủ nghĩa tư bản, về phương thức sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.


Với khẩu hiệu là "Công nhân của thế giới đoàn kết" là lời kêu gọi tập hợp cho phong trào cách mạng Bolshevik của Nga và cuộc cách mạng năm 1949 của Trung Quốc; và vận động của Các Mác “Mỗi người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu” đã trở thành nguồn cổ vũ cho các Đảng cộng sản trên khắp thế giới.


Trước Chiến tranh thế giới thứ I, các tác phẩm của Các Mác làm nổi lên một số phản hồi tích cực từ bên ngoài Đông Âu. Sự hỗ trợ nhiệt tình từ Lênin là nhân tố chủ chốt ảnh hưởng đến những cuộc cách mạng ở Nga, và một phần hệ tư tưởng chính thống của Liên Xô được hướng theo bởi ảnh hưởng thời kỳ hậu chiến. Năm 1920, Tổ chức Frankfurt, một tổ chức của các trí thức đã họp lại nhằm thảo luận và phổ biến chủ nghĩa Mác, sau đó họ được sự tham gia của nhà triết học Mỹ Herbert Marcuse.


Chủ nghĩa Mác đã trở thành một lực lượng chủ chốt trong giới tri thức Tây Âu và những nước nói tiếng Anh trong những năm 1930, ảnh hưởng trí tuệ của chủ nghĩa Mác đạt đỉnh điểm vào những năm 1970, nhưng sau đó bị từ chối. Những di sản trí tuệ còn sót lại của Mác bị giới hạn trong các nguyên lý của triết học.


Di sản Các Mác để lại cho đời rất nhiều. Chủ nghĩa Mác đã trở thành hệ tư tưởng chính thống của các quốc gia, khi đó, là đỉnh điểm của họ, cái được xem như cuộc đua sinh tồn thứ 3. Những lý luận của ông cũng đã ảnh hưởng đến sự xuất hiện của các phong trào dân chủ xã hội chủ nghĩa mà trước đây đã từng không chấp nhận, hoặc cấm đoán không xem chủ nghĩa Mác như là một hệ tư tưởng của họ.


Một số tác phẩm của ông đặc biệt là Tuyên ngôn Cộng sản quen thuộc với hàng triệu nhà hoạt động chính trị trên toàn thế giới, đây cũng chính là nhân tố chính trong việc áp dụng các hình thức của Chủ nghĩa Cộng sản bởi Liên Xô, và tiếp theo là các chính phủ Cuba, Venezuela, Bolivia, Nicaragua, và các quốc gia khác.


Trong suốt những năm sau của cuộc đời cho đến khi ông qua đời vào năm 1883, Các Mác là một người ủng hộ tích cực của Liên đoàn Cộng sản, mà sau này trở thành Quốc tế Cộng sản.

ST



CHỈ CÓ NHỮNG KẺ ĐI NGƯỢC LẠI LỢI ÍCH DÂN TỘC MỚI CHỐNG LẠI NHỮNG GÌ ĐANG TƯƠI ĐẸP CỦA CHÚNG TA!

Gần đây, lợi dụng việc Việt Nam bỏ phiếu chống lại Nghị quyết loại Nga khỏi Hội đồng nhân quyền LHQ (hôm 7/4/2022), trên trang mạng RFA và một số trang mạng chống cộng hải ngoại, phản động trong nước đã đăng bài viết của bút danh Nguyễn Hải Bằng: “Có phải Việt Nam đã chọn phe” với những nhận định suy diễn hết sức cực đoan ,hẫm hực về thành quả đối ngoại của Việt Nam.
Nguyễn Hải Bằng cho rằng, quyết định của Việt Nam là “khá lạ lùng” hay “chính thức chọn phe, nhưng là phe của những kẻ tội đồ”
Đây là những luận điệu xuyên tạc quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga - Ukraine nói chung và quan điểm của Việt Nam khi bỏ phiếu chống LHQ loại Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền LHQ - một chiêu trò "huých chó" chống phá lợi ích dân tộc dưới sự lãnh đạo thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian qua về công tác đối ngoại.
Chúng ta luôn khẳng định lập trường không thay đổi đó là: VIỆT NAM KHÔNG ĐỨNG VỀ BÊN NÀY ĐỂ CHỐNG LẠI BÊN KIA MÀ LUÔN ĐỨNG VỀ LẼ PHẢI VỀ CÔNG LÝ VÀ CHÍNH NGHĨA
Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng từng khẳng định rằng “Tinh thần là chúng ta không ‘chọn bên’ mà chọn lẽ phải lớn của thời đại là hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”.
Phát biểu của Đại sứ Đặng Hoàng Giang tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hợp quốc ngày 7/4/2022 nhấn mạnh “Việt Nam phản đối và lên án mọi hành vi tấn công dân thường, vi phạm luật pháp quốc tế, luật nhân đạo và nhân quyền quốc tế".
Việt Nam là 1 đất nước yêu hòa bình, thận trọng trong xem xét các vấn đề quốc tế để bảo đảm cái gì thuộc về lẽ phải của nhân loại, có lợi cho quốc gia, dân tộc thì Việt Nam quyết định. Điều đó đã được chứng minh trong nhiều vấn đề giải quyết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Việt Nam đóng góp cho hòa bình thế giới không phải bằng súng đạn, hùa phe, chọn phe, lập phe để đe dọa hoặc đánh hội đồng một quốc gia khác. Việt Nam tham gia Liên Hợp Quốc là vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại.
Việt Nam mạng đến cho thế giới, cho bạn bè quốc tế bằng lương thực, thuốc men... những thứ để sống để mưu cầu hạnh phúc như bạn bè quốc tế,nhân dân tiến bộ thế giới đã từng giúp đỡ Việt Nam có được ngày hôm nay.
Việt Nam thậm chí là hạt giống gieo mầm cho cuộc sống của người dân nước bạn. Điều đó Việt Nam đang làm rất tốt ở Nam Phi, Nam Sudan hiện không thể phủ nhận.
Mọi quyết định của Việt Nam với cộng đồng quốc tế phải được xem xét trên cơ sở kiểm chứng khách quan, minh bạch, với sự hợp tác của các bên liên quan. Phải có bằng chứng rõ ràng, không thể làm theo cảm tính gật gù qua chuyện hay đưa tay cho người khác cột dây để dật. Việt Nam là Việt Nam!
Nghị quyết loại bỏ Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền LHQ vì vi phạm nhân quyền của Nga ở Ukraine chưa được điều tra đầy đủ, minh bạch khách quan. Cuộc họp của LHQ hôm 7/4/2022 không đưa ra được bằng chứng cụ thể nào bằng văn bản khẳng định Nga vi phạm nhân quyền nhưng nhiều quốc gia vẫn để tay cho các nước lớn cột vào để dật dây bỏ phiếu loại Nga như sự kiện cái lọ thủy tinh bỏ chất bột màu trắng trong đó để tố cáo Iraq là không thể có cơ sở. Như thế là kiểu chọn phe hoặc hùa bè không đúng với lẽ phải thời đại.
Những luận điệu xuyên tạc của Nguyễn Hải Bằng là hoàn toàn sai sự thật, mang tư tưởng cay cú vì Việt Nam không theo phe, không chạy đua vũ trang, không kích động, lôi kéo quốc gia này chống lại quốc gia khác nên các thế lực đi ngược lại quan điểm đó của Đảng ra sức bịp bợm chống lại lợi ích dân tộc Việt Nam mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo rất thành công.
Chúng ta phải khẳng định rằng, không 1 quốc gia nào có thể cho mình hòa bình bằng chính bản thân mình sống hòa bình trong 1 quốc gia hòa bình. Đảng và Nhà nước ta không phải là một thể chế, nhà nước đưa tay cho "lái súng" cột dây để "dật dây" như 1 số quốc gia khác hiện nay. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đặt lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết trong chính sách đối ngoại của mình, chỉ có những kẻ đi ngược lại lợi ích dân tộc mới chống lại những gì đang tươi đẹp của chúng ta.

SỰ XUYÊN TẠC PHẢN ĐỘNG CỦA NHÓM TẬP HỢP DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN

 Bài viết “Nhìn Lại Chiến Thắng Cộng Sản Ngày 30/4/1975” của Nguyễn Gia Kiểng đăng trên Thông Luận, số 180 (4/2004) và 18 năm sau tiếp tục được đăng lại trên trang của Tập hợp dân chủ đa nguyên ngày 19/4/2022 là minh chứng cho thấy sự mượn danh dân chủ, nhân danh đấu tranh cho dân chủ của nhóm Tập hợp này. Thời gian đã lùi xa gần nửa thế kỷ kể từ sau thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân năm 1975, song nhóm người này vẫn tiếp tục xuyên tạc sự thật lịch sử về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; về Đảng Cộng sản Việt Nam và kêu gào, tập hợp “lực lượng” nhằm chống phá Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trước những luận điệu phản động này, cần khẳng định rằng:
Một là, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; và cuộc chiến đấu chính nghĩa đó không phải/vĩnh viễn không bao giờ “là cuộc nội chiến” như Nguyễn Gia Kiểng xuyên tạc. Lịch sử thế giới cho thấy, mỗi dân tộc trên hành trình phát triển của mình có quyền lựa chọn con đường đi đến tương lai phù hợp điều kiện lịch sử của đất nước, đáp ứng nguyện vọng của người dân. Vì thế, khi việc lựa chọn con đường đi của dân tộc và nguyện vọng của người dân hòa quyện, thống nhất, phù hợp xu thế phát triển tất yếu khách quan của lịch sử thì đương nhiên sẽ được các tầng lớp nhân dân đồng lòng ủng hộ.
Nói thế để Nguyễn Gia Kiểng hiểu rằng, đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không phải chỉ là sự lựa chọn của riêng Đảng Cộng sản Việt Nam mà đó chính là sự lựa chọn, kiên định của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam từ mùa Xuân năm 1930 đến nay. Suốt hành trình hơn 92 năm Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu, con đường đó, những thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) và trong các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc sau này… chính là nhằm để thực hiện chân lý của thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”/nhằm thực hiện khát vọng “Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.
Chiến thắng của nhân dân Việt Nam ngày 30/4/1975 không chỉ khẳng định giá trị lý luận, thực tiễn của chân lý thời đại và khát vọng của nhân dân Việt Nam/dân tộc Việt Nam, mà còn cho thấy sự lựa chọn đúng đắn, chính xác, phù hợp của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã được hiện thực hóa tại đất nước Việt Nam. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Đó là chiến thắng của một cuộc chiến tranh nhân dân, của cuộc chiến đấu vì chính nghĩa (độc lập, hòa bình, thống nhất đất nước), chứ không phải chiến thắng 30/4/1975 của nhân dân Việt Nam giành được là vì “chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã phải đương đầu với một lực lượng khủng bố đông đảo hơn và có kinh nghiệm hơn mình”. Cuộc chiến đấu đầy gian khó và hy sinh vì một nước Việt Nam thống nhất, trong đó có vai trò không thể phủ nhận của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa (chi viện cả tinh thần và lực lượng: sức người, lương thực, vũ khí, đạn dược…) chắc chắn không phải/không bao giờ là chiến thắng của “lực lượng khủng bố” như Nguyễn Gia Kiểng bịa đặt.
Đây là sự thật và sự thật này là một dấu son trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, bất chấp những luận điệu phản động cho rằng, đó là “người Việt tàn sát lẫn nhau và tàn phá đất nước một cách mê muội, một bên nhân danh những khái niệm tự do dân chủ mà họ không hiểu và cũng không muốn, một bên nhân danh một chủ nghĩa mà họ coi là đỉnh cao trí tuệ nhưng thực ra chỉ là sự bịp bợm trí thức lớn nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới” như Nguyễn Gia Kiểng vu khống nhân dân Việt Nam và xuyên tạc lịch sử dân tộc Việt Nam.
Hai là, vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã được minh định; đồng thời cho thấy sự quy chụp “về bản chất thì mọi đảng cộng sản đều là những lực lượng khủng bố” của Nguyễn Gia Kiểng thật hồ đồ, thiếu tri thức khoa học và chính trị cơ bản. Thực tế, sự ra đời của Đảng; việc Đảng luôn thực hiện nghiêm cẩn các nguyên tắc của một Đảng Mácxít Lêninnít; luôn là một khối thống nhất về tư tưởng và hành động; thường xuyên tiến hành công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng cho thấy Đảng thực sự là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc Việt Nam. Với Đảng Cộng sản Việt Nam, phụng sự Tổ quốc và nhân dân với tinh thần cách mạng, liêm chính của người lãnh đạo – người công bộc trung thành của nhân dân luôn được thực hiện theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Việc Đảng ngày càng khẳng định được vị trí cầm quyền, độc quyền lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam suốt 9 thập niên cho thấy Đảng đã nỗ lực hoàn thành trọng trách của mình trước Tổ quốc, trước nhân dân trên tinh thần: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”[1] và “nhiệm vụ của Đảng ta là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”[2]. Việc Đảng luôn phấn đấu vì lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân cho thấy nhận định “sức mạnh của các đảng cộng sản không phải là quần chúng. Bí quyết thành công của mọi đảng cộng sản là dùng một thiểu số có quyết tâm để khống chế và điều khiển quần chúng” của Nguyễn Gia Kiểng không chỉ là sự xuyên tạc vô sỉ mà còn thể hiện rõ thủ đoạn thâm độc để chống phá Đảng.
Nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng. Đảng dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, đưa nhân dân từ vị trí nô lệ thành chủ nhân một nước độc lập, tự do, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chứ Đảng tuyệt nhiên không phải là một tổ chức “khủng bố toàn diện và trắng trợn khi giành chính quyền, khủng bố có phương pháp và có hệ thống khi đã nắm được chính quyền” như vu khống. Đồng thời, những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc sự thật lịch sử của Nguyễn Gia Kiểng về Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò của Người trong những năm 1945-1960; về đồng chí Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và vai trò của các đồng chí lãnh đạo Đảng trong những năm 1960-1975 cũng thêm một lần để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận diện rõ hơn âm mưu, chiêu trò của các phần tử phản động, cơ hội theo đuôi thế lực thù địch, tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” mỗi dịp tháng Tư về, mỗi khi nhân dân Việt Nam kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Bác bỏ mọi sự xuyên tạc thô thiển của Nguyễn Gia Kiểng; đồng thời khẳng định rằng, ở Việt Nam không có cái gọi là “chúng ta đang theo đuổi cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ” mà nhóm Tập hợp dân chủ đa nguyên nêu ra chính là để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam yêu nước chân chính hiểu rõ hơn âm mưu, thủ đoạn của nhóm người nhân danh dân chủ này. Đó là sự bịa đặt, xuyên tạc, vu khống và kêu gọi để kích động lòng nhân, gây mất ổn định trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Đồng thời, qua đó cũng là thêm một lần chúng ta khẳng định ý nghĩa sâu sắc giá trị của những thành tựu mà nhân dân Việt Nam giành được kể từ khi có Đảng lãnh đạo.
Cuối cùng, khẳng định với Nguyễn Gia Kiểng là: Chẳng có một cuộc chiến đấu nào “thực sự xứng đáng để chiến đấu”, nếu đó không phải là sự phấn đấu, hy sinh vì một nước Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất để nhân dân ngày càng được thụ hưởng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được làm chủ đời mình; hằng ngày hằng giờ đóng góp sức mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước đến hùng cường, phồn vinh. Vì thế, mọi ngụy biện, bịa đặt về lịch sử dân tộc: “Từ trước đến nay Việt Nam đã chỉ có các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các thế lực thống trị, hay những cuộc chiến chống ngoại xâm mà mục đích, xét cho cùng, cũng chỉ là để đổi một ách nô lệ của ngoại bang lấy một ách nô lệ của người bản xứ” hay vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng của nhóm Tập hợp dân chủ đa nguyên, của Nguyễn Gia Kiểng đều là những chiêu trò phản động nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa đang xây dựng ở Việt Nam!

Sáng mãi tư tưởng của V.I.Lênin về giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại ngày nay

Tư tưởng của Lênin về giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có nguồn gốc từ quy luật cách mạng XHCN được C.Mác và Ph.Ăngghen đúc kết từ thực tiễn cách mạng vô sản trên thế giới. Tuy nhiên, ở thời hai ông, hiện thực cách mạng chưa sinh động, nên mối quan hệ này chưa được luận giải cụ thể. Đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin vừa trực tiếp lãnh đạo Đảng Bônsêvíc, giai cấp công nhân, nông dân, binh sĩ Nga đấu tranh giành chính quyền, xây dựng nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nga xô-viết trong thế bao vây, phá hoại, tiến công về mọi mặt của chủ nghĩa tư bản (CNTB), đế quốc, các thế lực phản động, cơ hội, xét lại trong nước và quốc tế, vừa xây dựng, hoàn thiện Học thuyết bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong học thuyết này, vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chiếm một vị trí rất quan trọng. Nó làm rõ, khẳng định vai trò của các yếu tố cấu thành Tổ quốc, xác lập các nguyên tắc, phương thức giải quyết mối quan hệ giữa chúng trong tổng thể các nhiệm vụ của cách mạng XNCH ở thời đại mới. Giá trị, ý nghĩa thời đại tư tưởng của Lênin về giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện trên các vấn đề:

Một là, xác lập nhận thức đúng đắn về quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà chế độ XHCN là yếu tố đặc biệt quan trọng. Ở thời kỳ cách mạng sôi động, chuẩn bị đặt nền móng cho nhà nước XHCN ra đời, trong tâm thức của những người XHCN, giai cấp công nhân, nông dân, binh sĩ Nga đã ghi nhớ định nghĩa nổi tiếng của Lênin: “Tổ quốc, nghĩa là hoàn cảnh chính trị, văn hóa và xã hội, là nhân tố mạnh mẽ nhất trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản”[1]. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, ai nấy đều khắc sâu câu nói của Người: “Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ Tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc”[2]

Là khởi nguồn cho nhận thức về Tổ quốc XHCN, giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng tính chất vĩ đại của những tư tưởng trên là chỉ ra tính chỉnh thể, thống nhất không tách rời giữa các yếu tố cấu thành phương diện lịch sử - tự nhiên và chính trị - xã hội hợp thành Tổ quốc nói chung, Tổ quốc XHCN nói riêng; chỉ ra bản chất của Tổ quốc XHCN là chế độ XHCN - cái mà như Lênin đã khẳng định “là nhân tố mạnh mẽ nhất trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản”; đập tan những luận điệu hô hào “bảo vệ Tổ quốc” chung chung của bọn cơ hội chủ nghĩa trong Quốc tế II khi kêu gọi công nhân tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất; hướng giai cấp vô sản Nga và thế giới tập trung vào bảo vệ chế độ XHCN ở nước Nga.

Việc xác lập nên tư tưởng đó đã không chỉ giúp các chủ thể của Nhà nước Nga xô-viết, sau là Liên Xô và các nước XHCN trong thế kỷ XX biết cách giải quyết một cách hợp lý các nhiệm vụ của mình, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng ở những giai đoạn cam go nhất của lịch sử. Họ đã biết đấu tranh giành chính quyền, thiết lập, củng cố, xây dựng chính quyền nhà nước, đi liền với đấu tranh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc… Tuy nhiên, lịch sử của chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên thế giới đã trải qua những bước thăng trầm, quanh co, nhiều nhà nước, Tổ quốc XHCN đã không còn tồn tại. Một trong những nguyên nhân căn bản, sâu sa của nó là xuất phát từ yếu tố chủ quan - chủ thể lãnh đạo, quản lý và làm chủ đó là chưa tuân thủ đúng những điều chỉ dẫn của Lênin về giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thiếu sự chăm lo đối với việc xây dựng đất nước giàu mạnh với gia tăng củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc chế độ XHCN, mà vấn đề trung tâm là bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và xã hội.

Sự đứng vững và phát triển ngày lớn mạnh của các nước XHCN còn lại trong thời gian vừa qua, một phần đều nhờ vào sự tuân thủ những chỉ dẫn của Lênin về giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên con đường giành được những thành tựu ở đầu thế kỷ XXI, các nước này cũng đang luôn khắc sâu những di huấn của Lênin. Bởi chính Tổ quốc XHCN của họ không chỉ là đối tượng, mục tiêu phải tiêu diệt của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch, mà còn có nguyên nhân đến từ những sai lầm, khuyết điểm bên trong về nhận thức và giải quyết giữa nhiệm vụ xây dựng với bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, chỉ đạo nhận thức và hành động đúng quy luật đi lên CNXH là xây dựng CNXH đi đôi với bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đây là giá trị hiện thực xuyên suốt lịch sử từ khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đến nay, được Lênin đúc kết, chỉ dẫn từ ngày đầu cách mạng.

Là người trực tiếp lãnh đạo của cách mạng Nga, với trí tuệ thiên tài của nhà nghiên cứu lý luận, Lênin đã đánh giá những tư tưởng, hành động thù địch đối với Tổ quốc Nga xô-viết và CNXH bởi chủ nghĩa đế quốc, các thế lực phản động rằng, thắng lợi của cách mạng XHCN sẽ làm cho bọn đế quốc, tư sản lo sợ cho quyền lợi, số phận của chúng, nên tất yếu chúng căm ghét và tìm mọi cách, mà phổ biến nhất là tiến công quân sự để bóp chết, xóa bỏ mọi nhà nước XHCN. Từ đó, Ông chỉ ra: “Chúng ta đang sống trong thời kỳ đấu tranh có tính chất lịch sử chống giai cấp tư sản thế giới là giai cấp hiện nay đang mạnh hơn chúng ta gấp nhiều lần. Trong thời kỳ đấu tranh như thế, chúng ta phải bảo vệ công cuộc xây dựng cách mạng, phải đấu tranh chống giai cấp tư sản bằng quân sự và nhất là bằng đấu tranh tư tưởng, bằng giáo dục để cho những tập quán, những thói quen, những niềm tin mà giai cấp công nhân rèn đúc được trong hàng chục năm đấu tranh giành tự do chính trị, để cho toàn bộ những tập quán, thói quen và tư tưởng đó biến thành công cụ giáo dục toàn thể những người lao động”[3]… Từ đây, Lênin đúc kết vấn đề có tính quy luật trong giải quyết các mối liên hệ phổ biến của các nhà nước XHCN là: “Chưa bao giờ mối liên hệ giữa tổ chức quân sự của một nước với toàn bộ chế độ kinh tế và văn hóa của nước ấy lại hết sức chặt chẽ như ngày nay”. Và theo Ông, phương thức chủ đạo trong giải quyết tổng thể các nhiệm vụ trên đây phải là: “Chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc, nên chúng ta đòi hỏi có một thái độ nghiêm túc đối với vấn đề khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chuẩn bị chiến đấu của nước nhà. Cuộc chiến tranh cách mạng này cần phải được chuẩn bị lâu dài, nghiêm túc bắt đầu từ kinh tế”[4].

Như vậy, Lênin đã chỉ ra quy luật phổ biến và những hành động phải tuân theo quy luật của các chủ thể chế độ mới trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Thực tiễn chứng minh, nhờ những nhận thức và hành động tuân thủ đúng quy luật của Đảng Bônsêvíc, Chính quyền xô-viết, công nhân, nhân dân các dân tộc Nga và các nước XHCN sau này đã không chỉ đánh bại chủ nghĩa đế quốc hiếu chiến, xâm lược, mà còn thu được những thành tựu vĩ đại trong công cuộc xây dựng CNXH. Thực tiễn cũng để lại và chỉ ra những bài học đau xót từ sự nhận thức sai lầm và hành động khinh suất hay bỏ qua, bất chấp quy luật này của các nước XHCN ở Liên xô và Đông Âu trước đây đã làm sụp đổ hệ thống XHCN, CNXH hiện thực ở các nước đó bị thủ tiêu.

Sự chỉ đạo nhận thức và hành động đúng quy luật phổ biến trên đây của Lênin đã luôn nhắc nhớ mọi đảng cộng sản, nhà nước, các tổ chức, lực lượng của chế độ XHCN phải luôn tuân thủ đúng quy luật vận động khách quan của xã hội nói chung, xã hội XHCN nói riêng. Chỉ có tuân thủ đúng quy luật đó mới bảo tồn, phát triển được Tổ quốc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, sau mới là bàn đến cách thực hiện lý tưởng XHCN, cộng sản chủ nghĩa trong thế giới ngày nay. Đó cũng là sự tuân thủ quy luật của nhận thức và thực tiễn mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã xác lập.

Ba là, định hướng xử lý phù hợp với thực tế mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ, bảo vệ và xây dựng trong từng nhiệm vụ cách mạng XHCN. Đây là giá trị chính trị - thực tiễn, khoa học - cách mạng, khẳng định sự trường tồn tư tưởng của Lênin về giải quyết mối quan hệ này.  

Từ trong công cuộc xây dựng chế độ XHCN, Lênin đòi hỏi người cách mạng phải vừa học vừa làm, vừa tiếp thu tri thức nhân loại, kinh nghiệm bản thân; vừa phải xây dựng, vừa phải bảo vệ từng thành quả cách mạng. Mọi hoạt động của Chính quyền, Nhà nước xô-viết, các đoàn thể, tổ chức cách mạng, yêu nước đều phải gắn chặt chẽ với nhau, luôn quán triệt quan điểm xây dựng đi đôi với bảo vệ, bảo vệ luôn tiến hành trong mọi hoạt động xây dựng: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”[5]. Trong phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh nhiệm vụ “chủ yếu và căn bản” là phải thắng sự phản kháng của giai cấp tư sản, bọn bóc lột, dẹp tan các âm mưu của chúng, thì “một nhiệm vụ khác nhất thiết cũng phải được đặt ra, và đặt ra ngày càng mạnh mẽ, một nhiệm vụ trọng yếu hơn, tức là tích cực xây dựng chủ nghĩa cộng sản, sáng tạo ra những quan hệ kinh tế mới, sáng tạo ra xã hội mới”[6]. Trong xây dựng Đảng phải: “Đoàn kết trong đảng, không để cho các phái đối lập tồn tại trong đảng”[7]. Trong xây dựng nền văn hóa, phải đấu tranh chống bệnh kiêu ngạo cộng sản, nạn mù chữ, hối lộ và phải làm cho tất cả mọi người đều phải có văn hóa, “nâng cao trình độ văn hóa của quần chúng”[8]. Trong xây dựng nền quốc phòng, “phải có một thái độ nghiêm túc đối với vấn đề khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chuẩn bị chiến đấu của nước nhà”[9]

Trong sự nghiệp cách mạng của Việt Nam, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, nắm vững tinh thần giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà Lênin chỉ ra, phát huy truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc, căn cứ vào thực tiễn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng, cách mạng XHCN ở Miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc; tiến hành đồng thời và giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hòa bình, thống nhất đất nước, cả nước đi lên CNXH.

Sức sống của sự thống nhất biện chứng trong tư tưởng của Lênin về giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc còn được thể hiện rõ trên tất cả các lĩnh vực ở nước ta trong thời kỳ đổi mới. Nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ này đã làm cơ sở cho việc nhận thức và giải quyết trên từng lĩnh vực cụ thể và ngược lại. Điều này được thể hiện nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Báo cáo chính trị các đại hội, nhất là Đại hội XIII của Đảng, đều xác định: “Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn”, trong đó có quan hệ “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[10]; với chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”; đồng thời, “Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể”[11]. Nhờ đó, thế và lực của đất nước ta bước vào thập niên thứ ba thế kỷ XXI đã ngày càng trở nên lớn mạnh hơn bao giờ hết. Sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam đã trở thành tấm gương sáng về việc giải quyết các vấn đề của dân tộc và thời đại.

Bốn là, xác lập giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở cả phạm vi quốc tế. Đây là giá trị vượt thời đại của tư tưởng Lênin về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để lại cho nhân loại.

Ở thời khắc mở ra cánh cổng của thời đại mới, với trí tuệ bác học, Lênin đã thấy rõ, sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước Nga có đi đến thắng lợi hay không đều nhờ cậy một phần rất quan trọng vào sự ủng hộ của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Bởi ngay lúc bấy giờ, giai cấp tư sản, chủ nghĩa đế quốc đã mang tính toàn cầu và quốc tế. Cho nên, nhà nước XHCN non trẻ phải sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh tổng lực mang tính toàn cầu; và phải thực hành chủ trương: “bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa xô-viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”[12].

Hiện nay, CNTB đang tận dụng cơ hội của thời đại để củng cố sự tồn tại của nó. Tuy nhiên, CNXH đã giành thành tựu quan trọng ở một số nước và định hình trở lại dưới nhiều hình thức, phong trào mới. Vì vậy, sự nghiệp xây dựng CNXH có tiếp tục được giữ vững, phát triển hay không tùy thuộc rất lớn vào tư duy, tầm nhìn chiến lược của nước đó trước những vấn đề của thời đại, mà trước hết là quán triệt chỉ dẫn của Lênin về bảo vệ Tổ quốc với tính cách là “một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”, chứ không phải là một quốc gia, dân tộc biệt lập. Nếu không, Tổ quốc XHCN đó sẽ phát triển đầy khó khăn và tất yếu sẽ khó tránh khỏi một cuộc chiến “tổng lực” của CNTB, đế quốc và các thế lực thù địch.

Sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, tư tưởng của Lênin về giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói riêng, chính là ở việc các quốc gia - dân tộc XHCN ngày nay phải thực hiện tốt các nghĩa vụ quốc tế vô sản của mình, biết tạm gác lại những lợi ích nhất thời, bảo vệ chủ nghĩa quốc tế vô sản chân chính, đấu tranh với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, góp phần vì những mục tiêu chung của CNXH, chủ nghĩa cộng sản trên thế giới như Lênin đã vạch ra từ đầu thế kỷ XX./.