Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2022

Xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ nhà giáo quân đội

 

Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong quân đội là lực lượng quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước.

Những năm qua, đội ngũ này luôn đi đầu, lan tỏa phong trào học tập, nghiên cứu khoa học (NCKH), nâng cao trình độ về mọi mặt, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, góp phần quan trọng xây dựng, gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cũng như xây dựng đội ngũ nhà giáo. Người khẳng định: “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế, văn hóa...”.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, ngành giáo dục nói chung, những người làm công tác giáo dục trong quân đội nói riêng luôn xác định rõ vị trí, vai trò của mình, không ngừng nỗ lực phấn đấu, vươn lên trong công tác, thực hiện nhiệm vụ.

Xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ nhà giáo quân đội
Ảnh minh họa: qdnd.vn  

Những năm qua, đội ngũ nhà giáo quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, bồi dưỡng, quy hoạch, từng bước chuẩn hóa. Họ luôn ý thức xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm huyết với sự nghiệp trồng người; được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng, phương pháp sư phạm giỏi, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trên từng cương vị, chức trách được giao.

Nhiều đồng chí cán bộ, giảng viên khẳng định rõ vai trò chuyên gia đầu ngành trong giảng dạy và NCKH. Đây chính là lực lượng quan trọng góp phần đào tạo, bồi dưỡng nhân cách người quân nhân cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cho đội ngũ học viên quân đội-nguồn cán bộ nòng cốt của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Theo tinh thần Nghị quyết số 86-NQ/ĐUQSTƯ ngày 29-3-2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác GD&ĐT trong tình hình mới, các học viện, nhà trường quân đội luôn quan tâm bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo theo hướng đồng bộ, bảo đảm về số lượng, chất lượng, cơ cấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

Tính đến nay, tỷ lệ cán bộ, nhà giáo các trường quân đội có trình độ đại học trở lên đạt trên 94%; trong đó gần 35% có trình độ thạc sĩ, trên 10% nhà giáo quân đội có trình độ tiến sĩ. Nhiều giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục (QLGD) trong quân đội được bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư và con số này không ngừng tăng theo từng năm, đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu về giảng dạy và NCKH trong hệ thống nhà trường quân đội.

Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ QLGD vẫn còn những bất cập, như: Tỷ lệ nhà giáo có học hàm, học vị chưa đủ so với yêu cầu; một số nhà giáo trẻ thiếu kinh nghiệm thực tiễn ở cơ sở; số lượng giảng viên đã qua đơn vị ngày càng ít; vẫn còn giáo viên, giảng viên chậm đổi mới phương pháp dạy học, chưa cập nhật kiến thức, phương pháp mới; việc quy hoạch, phát triển đội ngũ nhà giáo gặp không ít khó khăn...

Bên cạnh đó, những năm gần đây, cơ chế thị trường đã tác động không nhỏ đến đội ngũ nhà giáo nói chung, nhà giáo trong quân đội nói riêng. Một bộ phận giáo viên, giảng viên chưa thực sự say mê với nghề. Vẫn còn giảng viên thiếu tinh thần nghiêm túc, cầu thị trong NCKH, chậm đổi mới phương pháp nghiên cứu, giảng dạy. Từ đó, chất lượng của những “cỗ máy cái” trong một số nhà trường chưa thực sự được nâng cao.

Hiện nay, xu thế đổi mới GD&ĐT ngày càng mạnh mẽ. Cùng với đó, nhiều tri thức mới về khoa học quân sự, vũ khí, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các nhà giáo quân đội trong việc trang bị kiến thức, kỹ năng, truyền thụ kinh nghiệm cho học viên.

Do đó, bản thân mỗi nhà giáo quân đội cần thấy rõ vai trò, trách nhiệm và niềm vinh dự, tự hào khi trực tiếp tham gia đào tạo, xây dựng nhân lực cho quân đội. Từ đó, giảng viên, cán bộ QLGD không ngừng phấn đấu học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; chủ động, tích cực tham gia xây dựng, đẩy mạnh phong trào NCKH, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, khoa học quân sự trong giảng dạy, công tác, phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các cơ quan, đơn vị.

Với phương châm “giáo dục toàn diện”, nhà giáo là người bồi đắp, truyền thụ kiến thức, hình thành nhân cách người quân nhân cách mạng đối với học viên. Những bài học sâu sắc nhất mà đội ngũ cán bộ tương lai có được chính là sự nêu gương của người thầy. Vì thế, hơn ai hết, đội ngũ nhà giáo phải gương mẫu trong giảng dạy, công tác, sinh hoạt, phát huy cao độ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, thực sự là tấm gương sáng để học viên noi theo. 

Nỗ lực của bản thân mỗi giảng viên, cán bộ QLGD khi nhận được sự quan tâm của các học viện, nhà trường, của cấp ủy, chỉ huy các cấp sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước. Vì thế, việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD cần được các học viện, nhà trường và cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm.

Ngoài lựa chọn những học viên giỏi để tạo nguồn, cần có các chính sách thu hút nhân tài từ bên ngoài vào quân đội; lựa chọn cán bộ giỏi ở đơn vị, kinh qua thực tiễn, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, bổ sung cho các cơ sở đào tạo; tổ chức phối hợp, liên kết với các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội để đào tạo, bồi dưỡng...

Ngoài ra, cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang bị, mô hình học cụ phục vụ dạy học sát thực tiễn; tăng cường tổ chức các hội thi, hội thao để cán bộ, giảng viên, giáo viên học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, nâng cao trình độ giảng dạy, quản lý và NCKH; có cơ chế, chính sách thúc đẩy các nhà giáo, cán bộ QLGD không ngừng vươn lên trong công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, bảo đảm "vừa hồng, vừa chuyên" sẽ là nguồn lực quan trọng quyết định hiệu quả công tác GD&ĐT trong quân đội. Thông qua công tác chuyên môn và sự nêu gương của mình, cán bộ, giảng viên các nhà trường trong toàn quân đã khẳng định rõ vai trò "cỗ máy cái" trong đào tạo nhân lực cho quân đội và đất nước, góp phần nuôi dưỡng, phát huy phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ cho cán bộ quân đội ngay từ khi còn là học viên.

Đây là yếu tố then chốt góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Nguồn: QĐND.

Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn hệ thống quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về dân chủ, dân chủ XHCN; kinh nghiệm xây dựng nền dân chủ ở các quốc gia trên thế giới

 


Một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa trong kho tàng Chủ nghĩa mác- Lênin; mặt khác làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chủ khác để kế thừa, học hỏi.

Cho đến nay, việc làm sáng tỏ hai vấn đề nêu trên vẫn còn hạn chế, nhất là việc kế thừa những giá trị, học hỏi kinh nghiệm của nền dân chủ trên thế giới vẫn chưa thoát khỏi lối tư duy cũ: hoặc ca ngợi một chiều; hoặc phủ định sạch trơn, làm cho sự khác biệt của các nền dân chủ càng doãng xa hơn. Do vậy, một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ chủ ngĩa xã hội trong kho tàng Chủ nghĩa Mác- Lênin, chỉ ra những điểm còn nguyên giá trị, những điểm đã bị lịch sử vượt qua do bối cảnh lịch sử đã thay đổi; mặt khác làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chủ khác.

Đánh giá khách quan thành tựu dân chủ tư sản, tính chất trình độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ ngĩa xã hội ở Việt nam là cơ sở khoa học để tiếp thu có chọn lọc các giá trị dân chủ mà nhân loại đã đạt được. Phải làm rõ sự phát triển trình độ dân chủ của văn minh nhân loại được biểu hiện ở chủ nghĩa tư bản chứ không phải là sản phẩm riêng của tư bản chủ nghĩa. Một số giá trị của dân chủ tư sản cần thiết cho thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Ví dụ: Bầu cử Tổng Thống cho toàn thể xã hội; tính công bằng, tính nghiêm túc trong thời gian và các dây truyền lao động… Việt Nam không tiếp thu bản chất giai cấp của dân chủ tư sản, nhưng tiếp thu, học tập các hình thức thực hiện để đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.

Nhận thức rõ thực chất và mục tiêu của đổi mới hệ thống chính trị

 


Nhận thức rõ thực chất và mục tiêu của đổi mới HTCT là thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; cơ chế vận hành của HTCT ở nước ta: Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân lao động làm chủ. Xác định rõ yêu cầu đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị một cách toàn diện: cả về chức năng, cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, đội ngũ cán bộ và phương thức hoạt động của các tổ chức trong HTCT; phải đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế, trọng tâm là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Ví dụ Đại hội XIII của Đảng xác định: Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị. Ở các kỳ đại hội khác tách dời xây dựng chỉnh đống đảng và xây dựng hệ thống chính trị. Đại hội XIII xây dựng Đảng là cơ sở mang yếu tố quyết định đến xây dựng hệ thống chính trị và có sự gắn kết với nhau. Hệ thống chính trị từng bước được đổi mới cho phù hợp với tình hình đất nước, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nghị quốc tế. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong HTCT được phân định ngày càng rõ ràng hơn và được thể chế hóa thành quy định của pháp luật. Tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, cơ chế phối hợp của các tổ chức trong HTCT được đổi mới, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò của từng tổ chức.

 

NHẬN THỨC ĐÚNG BẢN CHẤT CỦA CÁI GỌI LÀ "CÁCH MẠNG SẮC MÀU"!

     Các cuộc biểu tình, bạo động vũ trang, bạo loạn lật đổ hay đảo chính ở một số quốc gia thuộc Liên Xô trước đây cũng như Đông Âu cuối thế kỷ 20 và ở Trung Đông, Bắc Phi những năm đầu thế kỷ 21 được truyền thông phương Tây khoác cho cái tên mĩ miều và đầy tính mị dân là “cách mạng sắc màu”. Nhưng thực chất những cuộc chính biến đó là phản cách mạng. Nhận thức đúng vấn đề là nhiệm vụ vừa có tính cấp bách trước mắt và vừa có tính chiến lược lâu dài.

CÁI GỌI LÀ “CÁCH MẠNG SẮC MÀU” THỰC CHẤT LÀ PHẢN CÁCH MẠNG

Nếu như các nhà lý luận của giai cấp tư sản tự do cho rằng cách mạng xã hội là một hiện tượng ngẫu nhiên, thì trái lại, chủ nghĩa Marx – Lenin chỉ ra rằng các cuộc cách mạng là kết quả tất nhiên của sự phát triển của các xã hội chia thành giai cấp đối kháng. Các cuộc cách mạng hoàn thành quá trình tiến hóa, quá trình chín muồi dần dần của những điều kiện của một chế độ xã hội mới trong lòng chế độ xã hội cũ, hoàn thành quá trình tích lũy dần dần những mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ. Cách mạng giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất cũ, dùng bạo lực phá hủy quan hệ sản xuất quá thời và mở rộng đường phát triền cho lực lượng sản xuất.

Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Phải trải qua đấu tranh giai cấp quyết liệt mới chuyển được chính quyền từ giai cấp phản động thống trị, giai cấp kìm hãm sự phát triển của xã hội sang giai cấp cách mạng. Cách mạng là hình đấu tranh giai cấp cao nhất. Không nên lẫn lộn cách mạng xã hội với cái gọi là “cách mạng trong cung điện” với những cuộc đảo chính, tuần hành, biểu tình trên đường phố. v.v. Những cuộc đảo chính chỉ là dùng bạo lực thay đổi chính phủ, chỉ là những người hay tập đoàn của cùng một giai cấp thay thế nhau nắm chính quyền, còn đặc điềm cơ bản của cách mạng xã hội là hoàn toàn biến đổi chế độ, là chuyển chính quyền từ giai cấp này sang giai cấp khác. Tuy nhiên, không thể gọi tất cả mọi cuộc lật đổ, trong đó một giai cấp này dùng bạo lực lật đổ một giai cấp khác là cách mạng được. Nếu giai cấp phản động gây ra một cuộc nổi dậy chống giai cấp tiến bộ, nếu giai cấp phản động lại chiếm chính quyền, đó không phải là cách mạng nữa, mà là phản cách mạng. Cách mạng là việc giai cấp tiến bộ lên nắm chính quyền, mở đường cho một sự phát triển mới của xã hội.

Đối chiếu với những diễn biến và kết quả các cuộc biểu tình, bạo động vũ trang, bạo loạn lật đổ, đảo chính bất hợp pháp ở một số quốc gia thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu (vào thập niên cuối thế kỷ 20) và ở Trung Đông, Bắc Phi trong (những thập niên đầu thế kỷ 21 với quan điểm chủ nghĩa Marx – Lenin nêu trên cho phép chúng ta khẳng định, đó không phải một cuộc cách mạng xã hội đúng nghĩa, mà thực chất là phản cách mạng. Bởi, tính chất của cách mạng là do những nhiệm vụ xã hội mà nó thực hiện, quyết định. Ví như, nhiệm vụ của Cách mạng Pháp năm 1789 là thủ tiêu chế độ phong kiến đang kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và ngăn cản không cho người ta mở đường cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển trên cơ sở lực lượng sản xuất ấy. Đó là một cuộc cách mạng tư sản cũng như những cuộc cách mạng 1848 – 1849 trong nhiều nước châu Âu. Còn cách mạng vô sản xã hội chủ nghĩa khác về căn bản với tất cả những cuộc cách mạng trước. Đây là cuộc cách mạng vĩ đại nhất chưa từng thấy trong lịch sử vì nó biến đổi đời sống nhân dân một cách sâu sắc nhất. Chỉ có cách mạng vô sản lập nên chuyên chính của giai cấp vô sản, giai cấp cách mạng nhất trong lịch sử nhân loại, mới có thể tiêu diệt mọi hiện tượng người bóc lột người. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại là một kiểu mẫu của cách mạng vô sản.

“Cách mạng là tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt. Chúng ta làm cách mạng để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, để xây dựng dân chủ mới”(1) hay “Mục đích của cách mạng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh. Làm cho nhân dân được hưởng hạnh phúc và xây dựng một xã hội sung sướng, vẻ vang”(2).Hồ Chí Minh

Trong khi đó, cái gọi là “cách mạng sắc màu” (colour revolution) hay còn được biết đến với những tên gọi như “cách mạng cam / nhung /hạt dẻ / hoa hồng / hoa tulip…” (ở Trung Đông, Bắc Phi); hay “cách mạng đường phố” (Maidan ở Ukraina, ô/dù ở Hồng Kông); hoặc “cách mạng nghị trường” ở Gruzia, Venezuela… là thuật ngữ dùng để chỉ các phong trào biểu tình quần chúng (thường là lực lượng thanh niên cấp tiến có tư tưởng của chủ nghĩa phát xít mới). Đó là các cuộc chính biến do phương Tây và các lượng lượng thân phương Tây ở chính các quốc gia đó can dự vào nội bộ của các quốc gia có chủ quyền, đặc biệt là các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, thông qua việc thiết kế lực lượng đối lập, dựa vào sức ép dư luận, lấy con bài dân chủ, nhân quyền với ngòi nổ là vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm đẩy các nước rơi vào khủng hoảng chính trị trầm trọng, tạo điều kiện cho phe đối lập lật đổ chính quyền, thiết lập chế độ mới thân phương Tây, đem lại lợi ích chủ yếu cho giới tài phiệt mà không đem lại sự thay đổi chế độ chính trị một cách triệt để, mà đa phần chỉ thay đổi liên minh chính trị bên trong hệ thống chính trị hiện tại. Trên thực tế, chẳng những đại đa số quần chúng không được hưởng bất cứ thành quả gì từ các cuộc chính biến đó – điều mà những thủ lĩnh của các cuộc chính biến từng hứa hẹn – mà còn phải chịu thêm cảnh thương vong, đói nghèo, bệnh tật và mất quyền tự do, dân chủ nhiều hơn so với trước khi nó xảy ra… Chính vì thế, những cuộc chính biến đó không thể gọi là cách mạng được.

Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa của “cách mạng sắc màu” từ hai cách tiếp cận: Thứ nhất, tiếp cận từ góc độ xung đột lợi ích địa chính trị giữa phương Đông và phương Tây sau chiến tranh lạnh, “cách mạng sắc màu” là công cụ của phương Tây dùng để củng cố, mở rộng gia tăng phạm vi ảnh hưởng toàn cầu bằng việc thúc đẩy mô hình chính trị với các giá trị dân chủ. Thứ hai, nhấn mạnh vào các phong trào đối lập lại khá lạc quan khi cho rằng “cách mạng màu” là quá trình dân chủ hoá. Họ cho rằng “cách mạng sắc màu” phản ánh khuynh hướng của phe đối lập nhằm đạt được sự đột phá về dân chủ trong bầu cử chính trị để phê phán các trường hợp gian lận trong bầu cử, từ đó lên án những hành động phản dân chủ của liên minh cầm quyền. Trong khi đó, một số học giả cho rằng, “cách mạng sắc màu” là mưu kế then chốt nhằm áp đặt trật tự thế giới mới do Mỹ đứng đầu. Đây là một chiến thuật chính trị che giấu sự mở rộng của NATO và ảnh hưởng của Mỹ đến các vùng biên giới của Nga, thậm chí cả Trung Quốc. Mục tiêu cơ bản trong chiến lược của Mỹ là bao vây Nga và Trung Quốc nhằm ngăn chặn sự nổi lên của những thách thức đối với quyền lực của Mỹ trong khu vực và trên toàn cầu(3).

Căn cứ vào lý luận và thực tiễn thì tuyệt nhiên không thể gọi những hoạt động/hành động chính biến nêu trên là “cách mạng” được, mà thực chất đó là phản cách mạng.

NHỮNG CẢNH BÁO ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Trong tác phẩm Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Marx, đăng trên tạp chí Giáo dục số 3/1913, V. I. Lenin từng cảnh báo đối với những người cộng sản: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”(4). Theo đó, nếu chúng ta mất tinh thần cảnh giác cách mạng, mơ hồ giai cấp khi thừa nhận nó là “cách mạng” với cái tên và tuyên bố của các chính trị gia cùng giới truyền thông phương Tây về cái gọi là “cách mạng sắc màu” thì vô hình chung chính chúng ta thừa nhận tính phản động, phản cách mạng của các cuộc chính biến trên; là cổ xúy và tạo một tiền lệ vô cùng nguy hiểm đối với sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, là một trong những nguy cơ kéo lùi sự phát triển của đất nước ta.

Trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng tấn công vào các nước xã hội chủ nghĩa hoặc các nước không chịu theo “chiếc gậy chỉ huy” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì Việt Nam là trọng điểm chống phá thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ kết hợp bạo loạn lật đổ với mục tiêu không thay đổi là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chính vì vậy, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994), Đảng đã chỉ ra những thách thức, những nguy cơ lớn đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. “Những thách thức là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa…; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau”(5); Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh: “Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí…”(6).

Không phải ngẫu nhiên chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lựa chọn các nước xã hội chủ nghĩa, định hướng xã hội chủ nghĩa, các nước trong “không gian hậu Xô-viết” để tiến hành cách chính biến bất hợp pháp trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Hậu quả nặng nề và kéo dài ở các nước bị cái gọi là “cách mạng sắc màu” “càn quét và tàn phá” qua là lời cảnh báo đối với Việt Nam.
Trên thực tế, mặc dù cái gọi là “cách mạng sắc màu” chưa được các thế lực thù địch thực hiện thành công ở nước ta, nhưng đã có manh nha với những biểu hiện cụ thể của âm mưu, thủ đoạn này ở Việt Nam và gây ra những hậu quả nhất định. Những năm vừa qua đã xuất hiện nhiều vụ việc cho thấy rằng, thế lực thù địch và phản động không ngừng nuôi âm mưu và sử dụng “chiêu thức” phản cách mạng để
 để tấn công vào sự nghiệp cách mạng của nước ta. Chúng lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng mạng xã hội, Internet cùng những hạn chế trong nhận thức, hiểu biết của một bộ phận không nhỏ quần chúng để xúi giục nhân dân biểu tình. Điển hình như: lấy danh nghĩa “Hướng về biển, đảo quê hương” để kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại, bài xích quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc (như vụ phản đối giàn khoan HD-981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam năm 2014 để tiến hành cái gọi là “cách mạng hoa sen”; vụ Formosa gây ra ô nhiễm môi trường biển khiến cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền Trung để thực hiện cái gọi là “cách mạng cá” năm 2016); lấy danh nghĩa bảo vệ môi trường để thực hiện cái gọi là “cách mạng cây”; kêu gọi “xuống đường tổng biểu tình” năm 2018 tại 23 tỉnh, thành phố liên quan đến việc Quốc hội nước ta chuẩn bị thông qua và ban hành Luật An ninh mạng và Dự thảo Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt…

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG HỮU HIỆU

Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”(7). Theo đó, để ngăn chặn và triệt tiêu những nguy cơ của của cái gọi là “cách mạng sắc màu”, chúng ta cần phải “bắt đầu” từ những yếu tố chủ quan, bao gồm tình hình kinh tế – chính trị – xã hội nội tại. Trong đó, tập trung vào các giải pháp cơ bản sau:

Một là, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực xã hội; chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội… để củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Muốn ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả – làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta thì phải giữ vững được sự ổn định xã hội và làm cho đất nước ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Do đó, việc đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực xã hội; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực; chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế là giải pháp hữu hiệu để đảm bảo và thúc đẩy yếu tố bên trong của đất nước luôn luôn ổn định.

Để giữ được sự ổn định xã hội thì vấn đề mấu chốt phải giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực. Thực chất làm cho các nhân tố xã hội chủ nghĩa ngày càng củng cố, phát triển trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế đồng nghĩa với tránh nguy cơ đời sống nhân dân lao động suy giảm, dẫn đến lòng dân hoang mang, mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước.

Hai là, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nắm chắc mọi diễn biến không để bị động và bất ngờ.

Chủ động nắm bắt, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Yêu cầu đặt ra là phải giáo dục rộng rãi trong toàn xã hội để mọi người dân, mọi tổ chức chính trị – xã hội đều nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hoà bình” thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” của các thế lực phản động. Đảng, Nhà nước tăng cường chỉ đạo cơ quan tham mưu chuyên trách phối hợp các ngành, các cấp trong xã hội chú trọng giáo dục kiến thức quốc phòng – an ninh; thông qua các kênh thông tin đại chúng để nâng cao cảnh giác cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân. Nghiêm khắc đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác trong một bộ phận nhân dân, học sinh, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm trong chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá nước ta của kẻ thù.

Không ai khác và hơn ai hết, mỗi cá nhân phải có ý thức tự giác chấp hành pháp luật của Nhà nước về thông tin, tham gia tích cực đấu tranh chống phao tin đồn nhảm, lưu truyền thông tin xấu và thất thiệt.
Ba là, xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho toàn dân.

Bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không ngừng từ bỏ âm mưu thôn tính chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, mỗi công dân Việt Nam phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng. Ý thức bảo vệ Tổ quốc cần được thấm nhuần sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân mà trọng tâm là thanh niên.

Yêu cầu nội dung giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho các tầng lớp nhân dân phải mang tính toàn diện: tình yêu quê hương, đất nước; cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; thấm nhuần quan điểm, đường lối của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới; tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Vận dụng các hình thức biện pháp giáo dục đa dạng nhưng phù hợp với từng đối tượng.

Bốn là, xây dựng cơ sở chính trị – xã hội vững mạnh về mọi mặt.
Xây dựng cơ sở chính trị – xã hội vững mạnh là “thành trì” bảo đảm cho chế độ xã hội luôn ổn định, phát triển. Trước hết, phải luôn luôn chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam là đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng mọi miền đất nước; đoàn kết trong Đảng và ngoài Đảng… Để đạt được sự đoàn kết rộng rãi đó, Đảng và Nhà nước phải nâng cao chất lượng các chính sách xã hội nhằm bảo đảm lợi ích chính đáng cho từng giai tầng; củng cố vững chắc khối liên minh công – nông – trí; phát huy tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường, lòng tự hào của toàn dân. Đồng thời, Đảng và Nhà nước phải luôn luôn chú trọng xây dựng, củng cố hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương ngày càng vững mạnh về mọi mặt; nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống của đảng viên, năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng ở các cấp, nhất là ở cơ sở; thực hiện tốt quy chế và pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, củng cố nâng cao chất lượng, hiệu quả, nề nếp hoạt động của các tổ chức quần chúng.
Năm là, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh.

Không ngừng chú trọng xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (có lực lượng tiến thẳng lên hiện đại), xây dựng vững mạnh lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng an ninh nhân dân ở cơ sở… Đây vừa là lực lượng trực tiếp vừa là một bộ phận của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, do Đảng lãnh đạo, là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Cùng với lực lượng chính quy có sức chiến đấu cao, phải bảo đảm vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, phòng thủ ở các địa phương, cơ sở. Chú trọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, lấy chất lượng là chính.

Mỗi địa phương phải chú trọng kết hợp phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang ở cơ sở. Thực tiễn cho thấy, quần chúng nhân dân là nền tảng của đất nước, là gốc rễ của dân tộc, là động lực chính để thúc đẩy sự phát triển của xã hội, nhưng cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch, phản động thường hướng tới để lợi dụng, lôi kéo nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng./.
Chú thích:
(1) (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.7, tr.361, 265.
(3) Nguyễn Hữu Cát, Đoàn Thị Mai Liên: “Cách mạng sắc màu” và giải pháp phòng, chống, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4/2017.
(4) V. I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự Thật, H, 2005, t.23, tr.57.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII.
(6) (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr.19, 148.
Yêu nước ST.

SỰ CẦN THIẾT, QUAN TRỌNG

 Năm 2006, Ban chỉ đạo (BCĐ) Trung ương về Phòng chống tham nhũng (PCTN) được thành lập và được xác định là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu. Năm 2007, các BCĐ PCTN cấp tỉnh được thành lập theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCTN (năm 2007) và Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12, ngày 27/9/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, hoạt động của BCĐ Trung ương về PCTN trong giai đoạn này còn một số hạn chế, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Do vậy, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (năm 2012), đã quyết định tổ chức lại BCĐ về PCTN, chuyển đổi mô hình BCĐ trực thuộc Chính phủ sang mô hình BCĐ trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư đứng đầu và không tổ chức BCĐ tỉnh, thành phố về PCTN.

Tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp lãnh đạo công tác PCTN và có trách nhiệm phối hợp với BCĐ Trung ương về PCTN khi có vụ việc tham nhũng nghiêm trọng xảy ra ở địa phương. Mục đích của sự thay đổi này nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN, tăng cường tính độc lập tương đối của BCĐ với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong công tác đấu tranh PCTN.

Mô hình BCĐ Trung ương trực tiếp do Tổng Bí thư làm Trưởng ban đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong công tác PCTN. Điều đó thể hiện rất rõ ở nhiệm kỳ khóa XII, XIII khi số lượng vụ, việc tham nhũng, kinh tế được phát hiện, xử lý tăng lên rất nhiều. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác trong chỉ đạo PCTN được cọ xát qua thực tiễn. Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo đi vào nền nếp, bài bản, khoa học. Các thành viên, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ…

Tuy nhiên, tham nhũng hiện vẫn diễn biến rất phức tạp; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn có hiệu quả... Công tác lãnh đạo, chỉ đạo PCTN, tiêu cực tại địa phương đã bộc lộ bất cập, nhất là trong chỉ đạo phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực. Những tồn tại, hạn chế này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ tổ chức bộ máy các cơ quan chức năng PCTN, tiêu cực chưa thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; cơ chế chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan chức năng PCTN, tiêu cực ở địa phương chưa được tập trung, thống nhất. Do đó nhiều tỉnh ủy, thành ủy đã đề xuất, kiến nghị thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực.

Như vậy, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là chủ trương quan trọng, cần thiết, thể hiện rõ tinh thần triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt!”. BCĐ cấp tỉnh đủ mạnh, có thực quyền, sẽ trở thành “cánh tay nối dài” của BCĐ Trung ương, phục vụ đắc lực cho hoạt động PCTN, tiêu cực ở địa phương.

"VIỆT NAM - NGỌN CỜ ĐẦU CỦA ASEAN"

 Việt Nam không chỉ là một trong những ngọn cờ đầu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mà còn thực sự chứng tỏ vai trò lãnh đạo của mình, trở thành người chơi trung tâm trong các vấn đề khu vực và là “chìa khoá” cho các vấn đề đó.

Trong bài viết mang tựa đề “Việt Nam – Ngọn cờ đầu của ASEAN”, tác giả Grigory Trofimchuk, chuyên gia trong lĩnh vực chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh Nga, đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò lãnh đạo của Việt Nam trong khu vực. Bài viết khẳng định kể từ sau năm 2014, khi quan hệ Nga-phương Tây leo thang căng thẳng, Moskva đã tuyên bố về “chính sách hướng Đông” nhằm mở rộng cánh cửa vào châu Á. Theo chính sách này, ASEAN là một đối tác quan trọng, thể hiện rõ qua việc Nga mới đây đã thông qua “Kế hoạch hành động toàn diện thực hiện đối tác chiến lược giữa Liên bang Nga và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2021-2025”.

Tác giả bài viết nhận định, Việt Nam không chỉ là một trong những ngọn cờ đầu của ASEAN mà còn thực sự chứng tỏ vai trò lãnh đạo của mình, trở thành người chơi trung tâm trong các vấn đề khu vực và là “chìa khoá” cho các vấn đề đó. Sức mạnh của Việt Nam chính là Việt Nam có uy tín và vị thế ngày càng tăng trên trường quốc tế, có môi trường kinh doanh hấp dẫn, ổn định chính trị và chính sách đối ngoại có thể đoán định được. Chuyên gia Nga cho rằng lập trường nhất quán và mang tính xây dựng của Việt Nam trong việc thiết lập môi trường hòa bình và ổn định trong toàn bộ khu vực, bao gồm cả tranh chấp trên Biển Đông, là yếu tố quan trọng giúp Hà Nội thích nghi với tình hình địa chính trị hiện đại.

Chuyên gia này cũng đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong quá trình tìm kiếm đồng thuận với Trung Quốc trong các vấn đề liên quan tới Biển Đông, đặc biệt là thông qua sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản hai nước để tạo ra các kết quả cụ thể. Theo tác giả, điều này không chỉ giúp loại bỏ nguy cơ xảy ra một cuộc chiến lớn ở châu Á mà còn mở ra giai đoạn mới cho sự phát triển của tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Cũng theo tác giả bài viết, kể cả trong các vấn đề nhạy cảm như nhân quyền, Việt Nam cũng có những đóng góp đáng kể, được Liên hợp quốc (LHQ) đánh giá tích cực. Kết thúc bài viết, tác giả khẳng định phương Đông sẽ là cơ hội lịch sử thực sự, là lối thoát cho Nga trong bối cảnh phương Tây gia tăng sức ép chưa từng có đối với Moscow trên mọi lĩnh vực.

Trước đó, tại Hội thảo quốc tế với chủ đề: “ASEAN trên đường hội nhập: Thành tựu, khó khăn, thách thức” do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN, thuộc Viện Viễn Đông, Viện Hàn lâm Khoa học Nga phối hợp với Trung tâm ASEAN thuộc trường đại học quan hệ quốc tế Moscow (MGIMO), Bộ Ngoại giao Nga tổ chức, các học giả đánh giá cao vai trò và vị thế của ASEAN trong khu vực và trên thế giới, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, đầy biến động. Các học giả cho rằng, ASEAN có vai trò ngày càng tăng trong khu vực và thế giới. Trong đó, Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ASEAN. Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Vladimir Mazyrin, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện Viễn Đông, Viện Hàn lâm khoa học Nga khẳng định vai trò, vị thế ngày càng tăng của ASEAN trong khu vực và trên trường quốc tế. Trong ASEAN, Việt Nam có vai trò rất quan trọng, là quốc gia đi đầu, tích cực đóng góp có trách nhiệm cho sự phát triển của cả khối.

Trong khi đó, chuyên gia Valeria Vershinina đến từ MGIMO khẳng định, với số lượng lớn các Hiệp định kinh tế khu vực và quốc tế được ký kết, Việt Nam có vai trò quan trọng trong khu vực thương mại tự do ASEAN. Trong vấn đề an ninh khu vực, chuyên gia Valeria Vershinina đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy chương trình nghị sự để tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp ở Biển Đông và đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Chuyên gia Nadezhda Kolotova đến từ Đại học Tổng hợp Quốc gia Saint Petersburg cho rằng, ASEAN ngày càng có tiếng nói quan trọng trong khu vực và thế giới, trong đó nổi bật lên vai trò của Việt Nam với nhiều sáng kiến nhằm củng cố, phát triển sức mạnh của cả khối. Chuyên gia Nadezhda Kolotova cũng đánh giá cao chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá của Việt Nam. Cho rằng chính sách này là đúng đắn, phù hợp trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp như hiện nay.

Còn trong bài viết “Biển Đông - Thực trạng và cách tiếp cận của Nga”, Tiến sỹ Lịch sử Anton Viktorovich Bredikhin, thành viên Hội đồng khoa học Trung tâm Khoa học xã hội "Các vấn đề chính trị-xã hội hình thành EAEU," Viện Hàn lâm khoa học Nga đã đánh giá cao chính sách nhất quán của Việt Nam trong nỗ lực tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế-xã hội, bao gồm kinh tế biển. Đặc biệt là ở Biển Đông với phương châm “Hòa bình-Hữu nghị, Hợp tác-Phát triển”. Nhấn mạnh Việt Nam ủng hộ việc tăng cường đối thoại toàn cầu trong giải quyết các xung đột quốc tế, đặc biệt trong thời gian đảm đương cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021. Trong bài viết, đánh giá về thành tựu của Việt Nam trong những năm gần đây, chuyên gia Nga bày tỏ ấn tượng về đà tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Việt Nam. Ông dẫn các chỉ số Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm 2018 là hơn 245 tỷ USD, năm 2019 là gần 263 tỷ USD và năm 2020 là trên 271 tỷ USD. Đồng thời cho biết năm 2021, tăng trưởng GDP đạt 2,58%. Theo ông, những con số này minh chứng cho sự ổn định và triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Chuyên gia Nga nêu rõ Việt Nam đang theo đuổi chính sách hợp tác kinh tế đa phương, ký các thỏa thuận thương mại tự do với nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN và Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU). Trong số các quốc gia thành viên EAEU, Nga có kim ngạch thương mại lớn nhất. Từ những tiềm năng nêu trên, chuyên gia Bredikhin khẳng định, Nga nên thúc đẩy hơn nữa hợp tác kinh tế-thương mại với Việt Nam. Theo Tiến sỹ Anton Viktorovich Bredikhin, Việt Nam hiện là đối tác kinh tế thương mại triển vọng nhất, có nền tảng chiến lược cần thiết để mở rộng nhiều lĩnh vực hợp tác.


BAO GIỜ BÁC LẤY VỢ?

 "Các chú hỏi bao giờ Bác lấy vợ, phải không? Có hỏi thì có trả lời nhé: Không lâu nữa đâu! Bao giờ dân ta toàn thắng, Bắc – Nam sum họp một nhà!"

Và khi luật sư Phan Anh đề nghị Hồ Chí Minh lập gia đình để có người săn sóc, Cụ trả lời: "Ông bảo thế tôi không phải là con người à? Tôi sống như mọi người mà. Có phải thần, thánh gì đâu. Nhưng ông thấy đấy: việc nước bề bộn như vậy!"

Ông Cả Khiêm có hỏi Bác Hồ: “Tôi muốn hỏi riêng chú, việc gia đình riêng của chú ra sao?”. Bác thong thả trả lời: “Cảm ơn anh, em chưa bao giờ dám nghĩ đến việc này. Đến nay thì “đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi”. Bác cười vui nói tiếp: “Mình không phải người tu hành, nhưng vì việc nước phải quên việc nhà”.

Bác và cụ Huỳnh thật sự như hai người bạn tri kỷ, cùng tâm sự và thường xuyên thăm nom nhau. Mỗi khi có món gì ngon, Bác cũng mời cụ Huỳnh cùng thưởng thức: khi lọ tương Nam Đàn, lúc chai mắm tép Thái Bình. Trong một buổi tâm tình, cụ Huỳnh nhắc khéo chuyện riêng của Bác bằng hai câu thơ:

Năm mươi sáu tuổi vẫn chưa già

Cụ ông thấy, cụ bà không?

Trong mấy tháng ở Pháp, Bác thường gửi điện thăm hỏi tình hình ở nhà và sức khỏe cụ Huỳnh. Trong một bức điện riêng, Bác đã trả lời câu hỏi mà cụ đưa ra bằng bài thơ sau:

"Nghĩ chẳng ra thơ để trả lời

Nhớ ơn cụ lắm cụ Huỳnh ơi

Non sông một mối chung nhau gánh

Độc lập xong rồi cưới vợ thôi"!


NHỮNG CON NGƯỜI VIẾT NÊN LỊCH SỬ

 Tướng Marcel Bigeard - Cựu bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Pháp viết về những người lính Cụ Hồ trong chiến tranh vệ quốc:

“Tôi đã thấy họ khởi đầu từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta”

Họ đã trở nên vĩ đại và bất diệt, bởi những người lính xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước sẽ không ai nghĩ rằng họ sẽ chiến đấu chỉ để sau này, mỗi tháng họ được nhận vài ba trăm nghìn tiền trợ cấp và vài cái giấy khen ố vàng, thậm chí, có những thương binh, liệt sĩ, đến nay cũng chẳng có trợ cấp và ghi công gì, nhưng trên hết họ chiến đấu vì đất nước, vì gia đình và vì dân tộc, chỉ vậy thôi.

Những con người đã viết lên lịch sử và giá trị của những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, mọi thế hệ hôm nay và mai sau phải biết ơn và trân trọng. "Đừng chết" vì thay đổi giá trị của nó!

VIỆT NAM ĐƯỢC BẦU LÀM PHÓ CHỦ TỊCH ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC

 Ngày 7/6/2022, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã bầu các chức danh Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp quốc Khoá 77. Theo đó, Việt Nam được bầu trở thành một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77 đại diện cho khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Việt Nam sẽ đảm nhiệm vị trí này trong 1 năm kể từ ngày 13/9.

Các nước khác cùng trúng cử làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77 gồm Benin, Burundi, Kenya, Mauritania, Niger, Zimbabwe (khu vực châu Phi), Malaysia, Nepal, Tajikistan, Turkmenistan (khu vực Châu Á-Thái Bình Dương), Chile, El Salvador, Jamaica (Mỹ Latinh), Estonia (Đông Âu), Israel, Australia (khu vực Tây Âu và các nước khác).

Đại hội đồng Liên Hợp quốc là một trong 6 cơ quan chính của Liên Hợp quốc và là cơ quan duy nhất của Liên Hợp quốc có đại diện của tất cả 193 nước thành viên. Đại hội đồng Liên Hợp quốc có thẩm quyền rộng trong các lĩnh vực hợp tác chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, có quyền thảo luận và đưa ra kiến nghị về các vấn đề thuộc phạm vi Hiến chương hoặc bất kỳ vấn đề nào thuộc thẩm quyền của các cơ quan của Liên Hợp quốc, nhằm mục đích thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trên phạm vi toàn cầu.

Có thể thấy rằng, trong 45 năm là thành viên của Liên Hợp quốc, Việt Nam đã gánh vác nhiều trọng trách lớn, có nhiều đóng góp thực chất và hiệu quả cho tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh. Với đường lối đối ngoại đa phương đúng đắn, lấy Liên Hợp quốc là trọng tâm, Việt Nam - trên cương vị mới, sẽ tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho những mục tiêu cao cả của Liên Hợp quốc, đó là giải quyết xung đột, duy trì hòa bình, ổn định cho tất cả người dân trên thế giới.

Với sự tín nhiệm này một lần nữa cho thấy uy tín của Việt Nam luôn được quốc tế tin tưởng và đánh giá rất cao. Việt Nam luôn đưa ra các chính kiến rất công bằng và chuẩn mực. Những lá phiếu mà Việt Nam bỏ tại tất cả các vấn đề của quốc tế luôn luôn thể hiện được chính kiến và bản lĩnh của mình, không bao giờ bị chi phối bởi bất cứ 1 quốc gia hoặc tổ chức nào.

Đoàn kết, bản lĩnh, công bằng, dân chủ đó là quan điểm nhất quán của Việt Nam. Việt Nam không chọn phe mà chọn lẽ phải. Việt Nam cam kết làm tất cả những gì trong khả năng của mình để đóng góp cho hoà bình thế giới, chống đói nghèo./.

ANH HÙNG VÀ TỘI ĐỒ

 Phép nước được coi là nghiêm ngắn, chuẩn mực khi ai có công thì thưởng, ai có tội thì phạt. Thưởng, phạt đúng công, đúng tội, đúng người, đúng việc. Không được lấy công để xóa tội dù cũng vẫn một con người ấy.

Con người, trong sự vận động liên tục với những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau sẽ bộc lộ phẩm chất, bản lĩnh, khả năng của mình. Ngay thẳng hay lươn lẹo, trung thực hay giả dối, trong sạch hay dơ bẩn... trước sau cũng sẽ “phơi bày” ra trước thiên hạ.

Trong mấy năm gần đây, khi cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ và quyết liệt thì số cán bộ, đảng viên có vị trí lãnh đạo, chủ trì vi phạm kỷ luật bị đưa ra xử lý, xét xử không ít. Điều đó chứng tỏ quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực rất cao của Đảng ta, “không có vùng cấm” trong cuộc đấu tranh gian khổ, phức tạp này. Dù ai đó từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, tướng lĩnh... đều phải đối mặt với sự trừng phạt của pháp luật một cách đích đáng nếu phạm tội. Vậy nên, chúng ta không khỏi xa xót khi thấy rằng ranh giới giữa anh hùng và tội đồ thời nay thật quá mong manh.

Có cán bộ từng nhiều lần hùng hồn diễn thuyết về lý tưởng cách mạng, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, đạo đức trong sáng của người cán bộ, đảng viên... lại trở thành tội phạm. Họ đã lấy tấm thẻ đảng viên hay những danh hiệu, chức vụ mà Đảng và Nhà nước trao để che đậy những mưu mô tính toán đen tối, thực thi những việc làm khuất tất để được giàu có hơn, sung sướng hơn, không chỉ một mà nhiều đời. Phải nói thẳng rằng, lòng tham vô đáy đã che mắt những con người ấy. Họ đã bị đánh gục bởi sức quyến rũ không hề nhỏ của đồng tiền. Với những kẻ thoái hóa, biến chất thì tiền là số 1, tiền là trên hết, có nhiều tiền sẽ có tất cả.

Chưa bao giờ câu “cái gì không mua được bằng tiền sẽ mua được bằng rất nhiều tiền” lại mang ý nghĩa thời sự nóng bỏng như vậy. Không nghi ngờ gì nữa, câu nói ấy khi ướm đặt vào nhiều trường hợp “anh hùng” biến thành “tội đồ”, cán bộ đổi vai phạm nhân thật trùng khít. Khi đã coi thường, chà đạp lên danh dự thì những cán bộ, đảng viên có chức quyền bị biến chất sẽ dám làm tất cả để thu lợi cho mình mà không hề nghĩ tới tác hại, hậu quả vô cùng ghê gớm đối với Tổ quốc và nhân dân.

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ NHÂN VỤ VIỆT Á

 Một số trang mạng xã hội của các tổ chức, hội nhóm ngoài nước, hãng thông tấn như Việt Tân, RFA, VOA… lợi dụng vụ việc này tung ra những luận điệu bôi xấu chế độ, xuyên tạc bản chất vụ việc. Nhiều bài viết vu cáo Việt Nam chống tham nhũng bằng cách hô hào khẩu hiệu, hướng lái dư luận, đổ lỗi việc để xảy ra những vụ án như vậy là do chế độ, lỗi do Đảng, Nhà nước.

RFA viết rằng: “Vụ Việt Á, mọi việc trở nên tồi tệ”, rồi rêu rao, hạ thấp vai trò của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, các cơ quan tiến hành tố tụng.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn phỏng vấn, phát tán các video, hình ảnh, bài viết với nội dung sai trái, cực đoan của những đối tượng gắn mác “chuyên gia”, “học giả”, những cá nhân tự cho mình là những “nhà phản biện” để ra sức bóp méo, đả phá xung quanh vụ việc trên. Tung ra nhiều bài viết cho rằng “Ban Chỉ đạo vào cuộc chỉ để giải quyết hậu quả”; đưa ra luận điệu quy kết vấn nạn tham nhũng “thủng từ gốc”. Từ vụ việc tại Việt Á, các đối tượng xâu chuỗi những vụ án tham nhũng lớn gần đây rồi quy kết, công cuộc chống tham nhũng “chỉ trên khẩu hiệu”, không đạt kết quả đáng kể nào do “chế độ độc đảng”!

Với những thông tin mà các hội, nhóm, cá nhân trên đưa ra cho thấy sự suy diễn, thổi phồng, nhiều bài viết bịa đặt, xuyên tạc tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Về vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, qua các chiêu trò của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại được nhào nặn, chế biến thành công cụ, phương tiện rất nguy hại nhằm đánh lận hiện tượng để quy kết bản chất. Các đối tượng nhào nặn vụ án rồi suy diễn thành “lỗi hệ thống”, bóp méo chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta.

Từ vụ việc, mục đích các đối tượng tung ra thông tin sai lệch nhằm vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo hoài nghi về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội.

Chúng ta thấy rằng, tham nhũng là một hiện tượng xã hội, hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt quốc gia đó theo chế độ chính trị nào, dù cho đó là nước nghèo hay giàu, quốc gia phát triển, đang phát triển hay kém phát triển; không phân biệt do một đảng hay do đa đảng lãnh đạo. Do vậy, không thể lấy vụ án tham nhũng tại Công ty Việt Á cũng như các vụ án tham nhũng, tiêu cực khác để gán ghép, suy diễn là do “độc đảng” như cái cách mà các thế lực thù địch đang tìm cách đổ lỗi, quy trách nhiệm, cố tình quy kết tình trạng tham nhũng, tiêu cực là do chế độ.

Thực tế, quan điểm trong phòng, chống tham nhũng của Đảng ta được thể hiện rất rõ trong các văn kiện của Đảng, trong đó Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Để phòng, chống, đẩy lùi tham nhũng, suy thoái, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, đi cùng với đó là sửa đổi, bổ sung, từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp gắn với việc điều tra, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, tạo sức răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Ngày 20/1/2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã họp phiên thứ 21 dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo. Phát biểu kết luận phiên họp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả rõ rệt, có mặt cao hơn năm trước, khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, không ngừng, không nghỉ, không vì chống dịch mà chùng xuống, không xử lý. Đối với vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đã gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với công tác phòng, chống dịch và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước.

Để xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân sai phạm, cảnh báo, răn đe mạnh mẽ hơn nữa, ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân, Thường trực Ban Chỉ đạo thống nhất đưa vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á vào diện được Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Theo đó, Ban Chỉ đạo yêu cầu Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan, chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung lực lượng, khẩn trương, quyết liệt, mở rộng điều tra làm rõ bản chất của vụ án, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định của pháp luật; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu bất kỳ sự can thiệp trái pháp luật của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.

Hiện, các cơ quan chức năng đang khẩn trương điều tra, làm rõ vụ án để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; đồng thời rà soát, thu hồi triệt để tài sản cho Nhà nước. Cùng với đó, Ban Chỉ đạo giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên có liên quan để kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khẩn trương kiểm tra, thanh tra, điều tra xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng công tác phòng, chống dịch bệnh để tham nhũng, tiêu cực. Giao Ban Nội chính Trung ương - Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng đôn đốc, kiểm tra, tham mưu Thường trực Ban Chỉ đạo để chỉ đạo xử lý kịp thời, nghiêm minh. Trước đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Công an chủ trì, mở rộng vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt và thất thoát, sớm đưa các đối tượng ra xét xử.

Như vậy, từ khi vụ việc tại Công ty Việt Á được phát giác đến nay, các cơ quan chức năng đã khẩn trương đẩy nhanh tốc độ, mở rộng điều tra vụ án; ban đầu điều tra các đối tượng của một địa phương, sau đó mở rộng sang các đối tượng của địa phương khác. Điều đó thể hiện những nỗ lực, quyết tâm cao, hành động xuyên suốt, nhất quán. Thực tế trong công cuộc phòng, chống tham nhũng những năm qua theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) đã chứng minh, pháp luật Việt Nam nghiêm minh “không thiên tư, thiên vị”, các cá nhân, tổ chức sai phạm đều được làm rõ để xử lý nghiêm. Thời gian qua, đối với những tổ chức, cá nhân có các hành vi tham nhũng chính sách, lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID -19 để trục lợi đều bị xử lý nghiêm minh, không có việc Đảng, Nhà nước “tránh trách nhiệm” như những gì mà các thế lực thù địch rêu rao, vu cáo.

Qua vụ Việt Á cho thấy, chống tham nhũng, tiêu cực phải đi liền với chống lợi ích nhóm, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vụ án cũng chứng minh chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của Đảng, Nhà nước ta được thực thi trên thực tế chứ không phải “khẩu hiệu suông, mị dân” như luận điệu kẻ xấu. Chúng ta đã thấy rõ những tác hại của vấn nạn tham nhũng gây ra, thấy rõ sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết tâm cao trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cả hệ thống chính trị.

Đồng thời, với tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh chống “đạn bọc đường” và âm mưu của kẻ địch lợi dụng cuộc đấu tranh đó để chống phá Đảng, Nhà nước, đòi hỏi mỗi người phải luôn nâng cao cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc phá hoại công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không để bị lôi kéo, kích động, biến thành những con rối.

LẠC PHONG

Thêm niềm tin vào công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta từ vụ Việt Á

 Nhiều câu hỏi được dư luận xã hội đặt ra: Bằng cách nào Việt Á len lỏi vào thị thường kit xét nghiệm của 62 tỉnh, thành để thu về gần 4000 tỷ đồng? Có hay không sự chống lưng? Cơ sở nào Bộ Y tế ban hành công văn cho 1 kit test có giá 470.000 đồng, tại sao không nhập kit test của nước ngoài với giá thành thấp hơn nhiều trong khi WHO chưa công nhận kit test Việt Á? CDC Hải Dương là trường hợp duy nhất được nhận tiền “lại quả” hay còn nhiều CDC khác chưa lộ diện trong thương vụ nghìn tỷ này…?Và câu hỏi được nhiều người quan tâm nhất, là trách nhiệm của các cơ quan quản lý ở đâu khi để Việt Á hình thành thế độc quyền và lũng đoạn thị trường giá bộ kit xét nghiệm Covid-19 một thời gian dài liên tỉnh, thành như vậy? Và câu hỏi đó đã được dần dần làm sáng tỏ, thông qua quyết tâm chống tiêu cực, tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta. 

LẠC PHONG

bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam tham dự Đối thoại Shangri-La 2022 thể hiện rõ quan điểm xây dựng nền quốc phòng của Việt Nam

......Trong khi xu thế hòa bình, hợp tác phát triển luôn là mong muốn chung của nhân loại, thì cạnh tranh chiến lược, mâu thuẫn, xung đột lợi ích, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa các quốc gia vẫn tiếp tục xảy ra. Do vậy, việc nâng cao năng lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình thực sự là đòi hỏi tất yếu khách quan của mỗi quốc gia, dân tộc.

Xưa nay, sinh tồn luôn là bản năng của tự nhiên và của con người. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là sự nghiệp sống còn của mỗi quốc gia. Việt Nam đã trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh tự vệ nên thấu hiểu sự tàn phá và hậu quả của xung đột, bạo lực.

Vì vậy, chúng tôi chủ trương xây dựng quân đội, xây dựng tiềm lực quốc phòng đủ mạnh để tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc; đồng thời thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Quân đội Nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra và là đội quân của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Kế thừa và phát huy tinh thần yêu nước, tinh hoa nghệ thuật quân sự, được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, trải qua gần 80 năm xây dựng và trưởng thành, Quân đội Việt Nam cùng Nhân dân Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xung kích trong ứng phó với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống, đặc biệt là công tác cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, ứng phó với đại dịch COVID-19; cử lực lượng tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, bước đầu đạt nhiều thành tựu nổi bật, được cộng đồng quốc tế tôn vinh, ghi nhận.

Quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, mang tính chất hòa bình, tự vệ; tích cực, chủ động, kiên quyết, kiên trì ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh.

Mục tiêu xuyên suốt của quốc phòng Việt Nam là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước. Cam kết thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ quốc tế cao cả, mong muốn đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng, hợp tác phát triển chung của khu vực và thế giới.

Quan điểm của Việt Nam, tăng cường tiềm lực quốc phòng là nâng cao sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân và toàn thể hệ thống chính trị; nâng cao sức mạnh tổng hợp toàn diện, cả tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ; chứ không đơn thuần là nâng cao sức mạnh quân sự.

Việt Nam chủ trương tăng cường khả năng quốc phòng không đơn thuần là mua sắm, sản xuất, hiện đại hóa vũ khí trang bị, mà là nâng cao sức mạnh quốc phòng trên nhiều phương diện; xây dựng tiềm lực quốc phòng, quân sự theo chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khả năng tác chiến và trình độ, năng lực của lực lượng vũ trang

Tăng cường khả năng quốc phòng thể hiện cả ở xây dựng tổ chức, biên chế, trang bị, nghệ thuật quân sự, khoa học kỹ thuật, cơ sở bảo đảm hậu cần thường xuyên được duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, trước tiên và then chốt là xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tinh thần, với quan điểm “người trước, súng sau;” có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống quân sự, quốc phòng.

Hai là, xây dựng Quân đội hiện đại về tổ chức, biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh, có cơ cấu hợp lý giữa các thành phần lực lượng, phù hợp với vũ khí, trang bị, nghệ thuật tác chiến. Tập trung xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, cả lực lượng chính quy, lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên và lực lượng dân quân, tự vệ, là nhân tố quyết định để phát huy sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân.

Ba là, nghiên cứu phát triển khoa học, lý luận, nghệ thuật quân sự Việt Nam tiên tiến, hiện đại, phù hợp với chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự với các hình thức tác chiến trong thời đại công nghệ phát triển như ngày nay.

Bốn là, phát triển nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng, tự cường và mở rộng hợp tác quốc tế với các đối tác tiềm năng.

Bộ Quốc phòng Việt Nam chủ trương phát triển nền công nghiệp quốc phòng không chỉ phục vụ mục đích quân sự, mà còn phục vụ nhu cầu dân sinh, với các công nghệ, sản phẩm lưỡng dụng; như thế, vừa đáp ứng yêu cầu tăng cường khả năng quốc phòng, để làm tròn nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần phát triển kinh tế, xã hội, phục vụ đời sống nhân dân, theo đúng quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất.”

Bộ Quốc phòng Việt Nam đang chuẩn bị tổ chức Triển lãm công nghiệp quốc phòng vào cuối năm nay, với mong muốn đối tác các nước có thể gặp gỡ, giao lưu và mở ra các cơ hội hợp tác cùng phát triển.

Năm là, để tăng cường khả năng quốc phòng, đương nhiên không thể thiếu hiện đại hóa vũ khí, trang thiết bị quân sự. Tuy nhiên, Việt Nam luôn chủ trương chỉ tập trung hiện đại hóa vũ khí, trang bị quân sự để phục vụ mục đích bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình.

Tôi xin nhấn mạnh lại rằng, nền quốc phòng của Việt Nam là nền quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ. Tăng cường tiềm lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam chủ trương tăng cường khả năng quốc phòng bằng nội lực và điều kiện, khả năng của mình, không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống lại nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Việt Nam chủ trương tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, tăng cường xây dựng lòng tin chiến lược với các nước; luôn mong muốn mở rộng hợp tác quốc phòng, để nâng cao khả năng bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau giải quyết các thách thức an ninh chung, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của thế giới, khu vực và cộng đồng quốc tế.

Kính thưa các Quý vị!

Suốt dọc chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tự vệ, chịu nhiều đau thương, mất mát. Cho đến tận ngày nay, khi chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, những hậu quả và di chứng chiến tranh để lại vẫn còn là một gánh nặng đối với đất nước chúng tôi.

Việt Nam thấu hiểu giá trị của hòa bình, mong muốn duy trì và quyết tâm gìn giữ hòa bình đất nước, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Chúng tôi cũng khao khát thế giới, khu vực, mọi quốc gia, dân tộc đều được hưởng hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Quý vị đều biết, Việt Nam luôn kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bình đẳng, cùng có lợi; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ; mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Đối với tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông, chúng tôi kiên trì, kiên quyết nguyên tắc giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia; tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982, cam kết thực thi nghiêm túc DOC và mong muốn hướng tới xây dựng một COC hiệu quả, thực chất và có tính pháp lý rõ ràng hơn.

Tăng cường năng lực quốc phòng, nếu không minh bạch, sẽ rất dễ dẫn đến nghi kỵ, hiểu lầm; nếu không vì mục đích chính nghĩa, rất dễ kéo theo chạy đua vũ trang. Hệ lụy là, lòng tin chiến lược giữa các quốc gia suy giảm, cạnh tranh chiến lược gia tăng, nguy cơ đối đầu hiện hữu, an ninh truyền thống phức tạp, chiến tranh, xung đột tiềm ẩn, khó lường.

Mặt khác, chạy đua vũ trang tất yếu sẽ tiêu tốn nguồn lực quốc gia, mà lẽ ra, có thể sẽ tốt hơn nếu những nguồn lực quốc gia ấy được dành cho phát triển kinh tế, xã hội, giải quyết các mối đe dọa an ninh phi truyền thống để chăm lo đời sống và hạnh phúc của người dân....

LẠC PHONG


‘Xây’ lập trường, ‘chống’ xuyên tạc

 
Trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chúng ta không chỉ phải đối phó với “thù trong”, mà còn phải hành động quyết liệt chống “giặc ngoài”.
“Giặc ngoài” ở đây chính là những thế lực phản động, thù địch luôn rêu rao luận điệu xuyên tạc, suy diễn, bóp méo, bôi xấu các đường lối, quyết sách của Đảng ta, đặc biệt là các vấn đề liên quan tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gần đây.
Trong thời đại công nghệ thông tin, mạng xã hội bùng nổ mạnh mẽ, các thế lực phản động cả trong và ngoài nước liên tục tìm mọi cơ hội, lợi dụng mọi vụ việc dù lớn dù bé để bài xích, kích động tâm lý bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ, mất niềm tin vào Đảng.
Các trang web, tài khoản Facebook, blog… giả mạo cơ quan, cá nhân có uy tín; các trang thông tin đậm đặc nội dung chống phá mọc lên như nấm, kiểu như “Dân luận”, “Việt Nam thời báo”, “Dân làm báo”… Các trang này thường cài cắm cả thông tin thật lẫn giả nhằm tung hỏa mù, gây nhầm lẫn cho độc giả, từ đó hướng người đọc vào những luận điệu lệch lạc, chống phá Đảng.
Bài bản hơn, các thế lực còn thành lập các kênh truyền hình, đài phát thanh trên mạng để tuyên truyền nội dung chống phá công tác xây dựng Đảng. Những cái tên quen thuộc có thể kể tới như “Việt Tân”, “Radio Chân trời mới”… Thậm chí, các thế lực còn vung tiền mua quảng cáo, tài trợ nhằm núp bóng để dẫn dắt truyền thông theo ý đồ của mình.
Nhận diện được những động thái, thủ đoạn chống phá công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng như trên, Đảng ta cũng đẩy mạnh công tác chống các luận điệu xuyên tạc này, coi đây là nhiệm vụ không kém phần quan trọng so với trọng tâm là chỉnh đốn Đảng.
Cụ thể, Ban Tổ chức Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 58-KH/BTCTW thông tin, tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị năm 2022. Trong số 5 nội dung tuyên truyền trọng điểm, có một nội dung tập trung vào vấn đề tích cực đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Trong kế hoạch nói trên, báo chí cách mạng đóng một vai trò quan trọng, là vũ khí sắc bén để bảo vệ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chỉ cần tìm kiếm nhanh trên Google với các từ khóa như “chống xuyên tạc”, “phản bác luận điệu sai trái”… là có thể tiếp cận hàng trăm, hàng nghìn bài viết sắc sảo trong cuộc “bút chiến” với các thế lực thù địch. Trong vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hai nội dung mà thế lực phản động và báo chí cách mạng “bút chiến” nhiều nhất trong thời gian gần đây là chiến dịch “đốt lò” tham nhũng và Quy định số 37-QĐ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Những điều đảng viên không được làm”. Nhờ có những bài viết đầy sức nặng mà báo chí cách mạng đã kịp thời đập tan những luận điệu phá rối, bịa đặt.
Mặc dù lực lượng báo chí luôn hành động nhanh nhẹn, sắc bén trong bảo vệ công tác xây dựng Đảng, nhưng đó mới chỉ là giải quyết phần ngọn, là đi sau để phản bác, “chống” lại các luận điệu xuyên tạc. Điều gốc rễ và phải thực hiện song song chính là “xây”: xây lập trường, xây tư tưởng, xây bản lĩnh, xây niềm tin cho cả quần chúng và Đảng viên. Vì lập trường, tư tưởng, bản lĩnh, niềm tin chính là thứ vũ khí mạnh nhất, thứ vaccine hiệu quả nhất để bảo vệ bản thân và Đảng trước các luận điệu xuyên tạc, thù địch.
Để thực hiện công tác “xây” vô cùng quan trọng này, Đảng ta đã có nhiều hành động thiết thực, cả về thực tiễn lẫn lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”.
Thấm nhuần điều đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII mới đây đã thông qua Nghị quyết về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới”. Nghị quyết ra đời trong bối cảnh mà như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra trong bài phát biểu khai mạc: “…năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức cơ sở đảng còn yếu, thậm chí mất sức chiến đấu… Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, thậm chí một số nơi còn xem nhẹ”.
Do đó, ban hành Nghị quyết nói trên là hành động cần thiết để xây dựng Đảng, góp phần tăng cường nền tảng tư tưởng đối phó với các luận điệu thù địch. Sau Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, Nghị quyết này chắc chắn sẽ sớm được triển khai, đi vào cuộc sống, từ đó tạo ra thay đổi, biến chuyển trong từng Đảng viên, từng chi bộ.
Có thể nói, Nghị quyết này của Đảng ta sẽ trang bị cho các Đảng viên cả tấm khiên bảo vệ, cả cây kiếm sắc bén để có thể tự tin trong môi trường có nhiều cạm bẫy mà thế lực thù địch giăng ra, đặc biệt là trên không gian mạng. Với những vũ khí đó, Đảng viên có thể dễ dàng nhận diện các quan điểm sai trái, trở nên tỉnh táo, thận trọng mỗi khi bình luận, đánh giá vấn đề trên mạng xã hội, không để mình rơi vào những cái bẫy ngôn từ của thế lực chống phá.
Vẫn biết giọng điệu xuyên tạc chỉ là “ném đá ao bèo”, nhưng trong quá trình xây dựng Đảng, nếu không “xây” lập trường sao cho vững, thì những hòn đá dù nhỏ cũng có thể khiến những Đảng viên sẵn tâm lý bất mãn bị dao động.
-------
PV-TG.st

"ĐẢNG TA LÀ MỘT ĐẢNG CÁCH MẠNG, NGOÀI LỢI ÍCH CỦA CÔNG NHÂN VÀ NÔNG DÂN, ĐẢNG TA KHÔNG CÓ LỢI ÍCH NÀO KHÁC"

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội), ngày 7-6-1960.
Đây là thời kỳ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã đạt được những thành tựu quan trọng; cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam gặp nhiều khó khăn, thử thách và rất khốc liệt. Trước tình hình đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tập hợp được đông đảo lực lượng cách mạng phục vụ cho sự nghiệp kiến thiết nước nhà và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai lợi ích của Đảng ta trước quốc dân đồng bào, thể hiện sâu sắc giá trị lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng; vừa thể hiện một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng. Đây cũng là tư tưởng chỉ đạo để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên hành động đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng, làm cho Đảng ta thực sự là đội tiên phong, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.
Thấm nhuần lời dạy của Bác, lớp lớp cán bộ, đảng viên đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu ngày càng cao, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này, đến thắng lợi khác.
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lời khẳng định trên của Bác đã trở thành một trong những nội dung cơ bản về công tác xây dựng Đảng, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để Đảng ta tự đổi mới, tự chỉnh đốn làm trong sạch chính mình, có đủ năng lực đảm đương vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng bộ Quân đội và toàn quân luôn mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ đoàn kết thống nhất cao, có chuyển biến quan trọng về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Bên cạnh đó, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.
--------
PT-TG.st

TOÀN VĂN BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG TẠI ĐỐI THOẠI SHANGRI -LA LẦN THỨ 19!

         Ngày 11-6, Đối thoại Shangri-La lần thứ 19 tại Singapore bắt đầu ngày họp chính thức đầu tiên với các nội dung tập trung vào chủ đề an ninh, ổn định ở khu vực. Tại phiên toàn thể thứ 4 với chủ đề “Hiện đại hóa quân đội và những năng lực quốc phòng mới”, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã có bài phát biểu quan trọng.

🇻🇳Thưa Ngài Chủ tịch!
Thưa các Quý vị!
Trước hết, tôi chân thành cảm ơn Bộ Quốc phòng Singapore và Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế đã cho tôi cơ hội dự và phát biểu tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 19. Chủ đề mà tôi phát biểu hôm nay là: “Tăng cường khả năng quốc phòng bảo vệ Tổ quốc”.

Kính thưa các Quý vị!
Chúng ta đã và đang chứng kiến một thế giới, với nhiều diễn biến, biến động khó lường. Trong khi các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng xảy ra nhiều hơn, hậu quả nặng nề hơn, đòi hỏi cộng đồng quốc tế cần chung tay góp sức để ứng phó thì các vấn đề an ninh truyền thống còn nhiều phức tạp, có nguy cơ xảy ra ở một số nơi, một số khu vực.
Trong khi xu thế hòa bình, hợp tác phát triển luôn là mong muốn chung của nhân loại, thì cạnh tranh chiến lược, mâu thuẫn, xung đột lợi ích, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa các quốc gia vẫn tiếp tục xảy ra. Do vậy, việc nâng cao năng lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình thực sự là đòi hỏi tất yếu khách quan của mỗi quốc gia, dân tộc.
Suốt dọc chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tự vệ, chịu nhiều đau thương, mất mát. Cho đến tận ngày nay, khi chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, những hậu quả và di chứng chiến tranh để lại vẫn còn là một gánh nặng đối với đất nước chúng tôi. Việt Nam thấu hiểu giá trị của hòa bình, mong muốn duy trì và quyết tâm gìn giữ hòa bình đất nước, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Chúng tôi cũng khao khát thế giới, khu vực, mọi quốc gia, dân tộc đều được hưởng hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Quý vị đều biết, Việt Nam luôn kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bình đẳng, cùng có lợi; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ; mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Đối với tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông, chúng tôi kiên trì, kiên quyết nguyên tắc giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia; tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, cam kết thực thi nghiêm túc Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và mong muốn hướng tới xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất và có tính pháp lý rõ ràng hơn.

Tăng cường năng lực quốc phòng, nếu không minh bạch, sẽ rất dễ dẫn đến nghi kỵ, hiểu lầm; nếu không vì mục đích chính nghĩa, rất dễ kéo theo chạy đua vũ trang. Hệ lụy là, lòng tin chiến lược giữa các quốc gia suy giảm, cạnh tranh chiến lược gia tăng, nguy cơ đối đầu hiện hữu, an ninh truyền thống phức tạp, chiến tranh, xung đột tiềm ẩn, khó lường. Mặt khác, chạy đua vũ trang tất yếu sẽ tiêu tốn nguồn lực quốc gia, mà lẽ ra, có thể sẽ tốt hơn nếu những nguồn lực quốc gia ấy được dành cho phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết các mối đe dọa an ninh phi truyền thống để chăm lo đời sống và hạnh phúc của người dân.

Trên tất cả là hòa bình, hợp tác và phát triển, đây luôn là lợi ích, là nguyện vọng chính đáng, là mong ước tương lai chung của các quốc gia, dân tộc. Tôi chắc chắn rằng, ai trong chúng ta cũng luôn mong chờ một thế giới không tiếng bom, đạn; mong gương mặt vui cười trên mỗi trẻ thơ, mong tất cả mọi người trên thế giới cùng chung sống trong hạnh phúc và hòa bình.

Với Việt Nam chúng tôi, xây dựng và tăng cường khả năng quốc phòng không gì khác mục đích này - Để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, bảo vệ cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân.

Chúng ta mong muốn thế giới, khu vực hòa bình, chúng ta sẽ cần đến sự tin cậy chính trị và lòng tin chiến lược, cần đến sự hợp tác phát triển, trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng nguyên tắc, chuẩn mực, luật pháp, các cam kết và cơ chế hợp tác, quốc tế.

Tôi cho rằng, các diễn đàn quốc tế như Đối thoại Shangri-La luôn là cơ hội để chúng ta gặp nhau, để cùng nhau chia sẻ, hiểu nhau, và tin tưởng nhau hơn; để mở ra các cơ hội thiết lập quan hệ, hợp tác cùng phát triển; vì một thế giới hòa bình, vì thịnh vượng của mỗi quốc gia, dân tộc.

Trân trọng cảm ơn các Quý vị đã quan tâm lắng nghe! 
Xưa nay, sinh tồn luôn là bản năng của tự nhiên và của con người. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là sự nghiệp sống còn của mỗi quốc gia. Việt Nam đã trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh tự vệ nên thấu hiểu sự tàn phá và hậu quả của xung đột, bạo lực. Vì vậy, chúng tôi chủ trương xây dựng quân đội, xây dựng tiềm lực quốc phòng đủ mạnh để tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc; đồng thời thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ quốc tế cao cả.
Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra và là đội quân của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Kế thừa và phát huy tinh thần yêu nước, tinh hoa nghệ thuật quân sự, được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, trải qua gần 80 năm xây dựng và trưởng thành, quân đội Việt Nam cùng nhân dân Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xung kích trong ứng phó với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống, đặc biệt là công tác cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, ứng phó với đại dịch Covid-19; cử lực lượng tham gia các hoạt động Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, bước đầu đạt nhiều thành tựu nổi bật, được cộng đồng quốc tế tôn vinh, ghi nhận.

Quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, mang tính chất hòa bình, tự vệ; tích cực, chủ động, kiên quyết, kiên trì ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh. Mục tiêu xuyên suốt của quốc phòng Việt Nam là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước. Cam kết thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ quốc tế cao cả, mong muốn đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng, hợp tác phát triển chung của khu vực và thế giới.
Quan điểm của Việt Nam, tăng cường tiềm lực quốc phòng là nâng cao sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân và toàn thể hệ thống chính trị; nâng cao sức mạnh tổng hợp toàn diện, cả tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ; chứ không đơn thuần là nâng cao sức mạnh quân sự.

Việt Nam chủ trương tăng cường khả năng quốc phòng không đơn thuần là mua sắm, sản xuất, hiện đại hóa vũ khí trang bị, mà là nâng cao sức mạnh quốc phòng trên nhiều phương diện; xây dựng tiềm lực quốc phòng, quân sự theo chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khả năng tác chiến và trình độ, năng lực của lực lượng vũ trang. Tăng cường khả năng quốc phòng thể hiện cả ở xây dựng tổ chức, biên chế, trang bị, nghệ thuật quân sự, khoa học kỹ thuật, cơ sở bảo đảm hậu cần thường xuyên được duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

🇻🇳 Trong đó, trước tiên và then chốt là xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tinh thần, với quan điểm “người trước, súng sau”; có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống quân sự, quốc phòng.

🇻🇳 Hai là, xây dựng Quân đội hiện đại về tổ chức, biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh, có cơ cấu hợp lý giữa các thành phần lực lượng, phù hợp với vũ khí, trang bị, nghệ thuật tác chiến. Tập trung xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, cả lực lượng chính quy, lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên và lực lượng dân quân, tự vệ, là nhân tố quyết định để phát huy sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân.
 
🇻🇳 Ba là, nghiên cứu phát triển khoa học, lý luận, nghệ thuật quân sự Việt Nam tiên tiến, hiện đại, phù hợp với chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự với các hình thức tác chiến trong thời đại công nghệ phát triển như ngày nay.

🇻🇳 Bốn là, phát triển nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng, tự cường và mở rộng hợp tác quốc tế với các đối tác tiềm năng. Bộ Quốc phòng Việt Nam chủ trương phát triển nền công nghiệp quốc phòng không chỉ phục vụ mục đích quân sự, mà còn phục vụ nhu cầu dân sinh, với các công nghệ, sản phẩm lưỡng dụng; như thế, vừa đáp ứng yêu cầu tăng cường khả năng quốc phòng để làm tròn nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần phát triển kinh tế-xã hội, phục vụ đời sống nhân dân, theo đúng quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”. Bộ Quốc phòng Việt Nam đang chuẩn bị tổ chức Triển lãm công nghiệp quốc phòng vào cuối năm nay, với mong muốn đối tác các nước có thể gặp gỡ, giao lưu và mở ra các cơ hội hợp tác cùng phát triển.

🇻🇳 Năm là, để tăng cường khả năng quốc phòng, đương nhiên không thể thiếu hiện đại hóa vũ khí, trang thiết bị quân sự. Tuy nhiên, Việt Nam luôn chủ trương chỉ tập trung hiện đại hóa vũ khí, trang bị quân sự để phục vụ mục đích bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình.
Tôi xin nhấn mạnh lại rằng, nền quốc phòng của Việt Nam là nền quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ. Tăng cường tiềm lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam chủ trương tăng cường khả năng quốc phòng bằng nội lực và điều kiện, khả năng của mình, không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống lại nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Việt Nam chủ trương tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, tăng cường xây dựng lòng tin chiến lược với các nước; luôn mong muốn mở rộng hợp tác quốc phòng, để nâng cao khả năng bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau giải quyết các thách thức an ninh chung, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của thế giới, khu vực và cộng đồng quốc tế.
Kính thưa các Quý vị!

Suốt dọc chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tự vệ, chịu nhiều đau thương, mất mát. Cho đến tận ngày nay, khi chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, những hậu quả và di chứng chiến tranh để lại vẫn còn là một gánh nặng đối với đất nước chúng tôi. Việt Nam thấu hiểu giá trị của hòa bình, mong muốn duy trì và quyết tâm gìn giữ hòa bình đất nước, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Chúng tôi cũng khao khát thế giới, khu vực, mọi quốc gia, dân tộc đều được hưởng hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc.
Quý vị đều biết, Việt Nam luôn kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bình đẳng, cùng có lợi; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ; mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Đối với tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông, chúng tôi kiên trì, kiên quyết nguyên tắc giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia; tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, cam kết thực thi nghiêm túc Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và mong muốn hướng tới xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất và có tính pháp lý rõ ràng hơn.
Tăng cường năng lực quốc phòng, nếu không minh bạch, sẽ rất dễ dẫn đến nghi kỵ, hiểu lầm; nếu không vì mục đích chính nghĩa, rất dễ kéo theo chạy đua vũ trang. Hệ lụy là, lòng tin chiến lược giữa các quốc gia suy giảm, cạnh tranh chiến lược gia tăng, nguy cơ đối đầu hiện hữu, an ninh truyền thống phức tạp, chiến tranh, xung đột tiềm ẩn, khó lường. Mặt khác, chạy đua vũ trang tất yếu sẽ tiêu tốn nguồn lực quốc gia, mà lẽ ra, có thể sẽ tốt hơn nếu những nguồn lực quốc gia ấy được dành cho phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết các mối đe dọa an ninh phi truyền thống để chăm lo đời sống và hạnh phúc của người dân.
 
Kính thưa các Quý vị!
Trên tất cả là hòa bình, hợp tác và phát triển, đây luôn là lợi ích, là nguyện vọng chính đáng, là mong ước tương lai chung của các quốc gia, dân tộc. Tôi chắc chắn rằng, ai trong chúng ta cũng luôn mong chờ một thế giới không tiếng bom, đạn; mong gương mặt vui cười trên mỗi trẻ thơ, mong tất cả mọi người trên thế giới cùng chung sống trong hạnh phúc và hòa bình.
Với Việt Nam chúng tôi, xây dựng và tăng cường khả năng quốc phòng không gì khác mục đích này - Để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, bảo vệ cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân.
Chúng ta mong muốn thế giới, khu vực hòa bình, chúng ta sẽ cần đến sự tin cậy chính trị và lòng tin chiến lược, cần đến sự hợp tác phát triển, trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng nguyên tắc, chuẩn mực, luật pháp, các cam kết và cơ chế hợp tác, quốc tế.
Tôi cho rằng, các diễn đàn quốc tế như Đối thoại Shangri-La luôn là cơ hội để chúng ta gặp nhau, để cùng nhau chia sẻ, hiểu nhau, và tin tưởng nhau hơn; để mở ra các cơ hội thiết lập quan hệ, hợp tác cùng phát triển; vì một thế giới hòa bình, vì thịnh vượng của mỗi quốc gia, dân tộc.
Trân trọng cảm ơn các Quý vị đã quan tâm lắng nghe!

Yêu nước ST.

Quan điểm của Việt Nam về vấn đề xung đột giữa Nga - Ukraine

 

     Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm nhất quán đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine. Ngày 01/3/2022, phát biểu tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI của Đại hội đồng Liên hợp quốc thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”. Chính vì thế, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh và cũng không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Việt Nam liên tục phát đi “thông điệp” thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với cuộc xung đột tại Ukraine. Đồng thời, tích cực kêu gọi các bên liên quan hết sức kiềm chế, tránh những động thái gây bất ổn cho tình hình chính trị thế giới, ảnh hưởng xấu đến hòa bình, ổn định toàn cầu; đe dọa nghiêm trọng đến sinh mệnh của binh lính và người dân vô tội ở các nơi xảy ra xung đột. Như vậy, quan điểm của Việt Nam là rất rõ ràng, thẳng thắn, mong muốn hai bên hướng về hòa bình và cuộc sống an toàn của người dân để nối lại đàm phán, chấm dứt leo thang căng thẳng.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến, đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Là một đất nước đã phải chịu quá nhiều khổ đau, mất mát do chiến tranh, dân tộc Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, phản đối chiến tranh, bạo lực. Như một lẽ tự nhiên, Việt Nam được quốc tế coi là biểu tượng của đất nước vì hòa bình, một đối tác vì hòa bình bền vững. Việt Nam không chỉ gửi đi thông điệp đó mà còn có rất nhiều hành động, nhiều đóng góp cụ thể, thiết thực cho việc ngăn chặn xung đột, ngăn chặn chiến tranh, vì hòa bình bền vững trên thế giới. Đó là sự thực không thể bác bỏ!

LẠC PHONG