Thứ Hai, 13 tháng 6, 2022

TĂNG CƯỜNG ĐOÀN KẾT ĐỒNG BÀO TÔN GIÁO VÀ KHÔNG TÔN GIÁO

 

          Đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau là nguyên tắc trọng tâm, xuyên suốt và nhất quán trong quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Đây là chủ trương mang nhiều ý nghĩa nhằm không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

          Đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau là một bộ phận không thể tách rời của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc tăng cường đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau phải được quan tâm thường xuyên và phải dựa trên những yêu cầu, nguyên tắc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau phải trên cơ sở lợi ích của quốc gia, dân tộc và vì mục tiêu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn lịch sử khẳng định, chính sự đoàn kết ấy tạo nên sức mạnh để dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù, xóa bỏ mọi áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

          Trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước ta xác định khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung và sự đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau nói riêng là động lực chủ yếu của sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo và cả hệ thống chính trị đều phải có trách nhiệm xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau, tin cậy ở nhau để chung sức, chung lòng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở các địa phương nhất là vùng đồng bào tôn giáo, theo chức năng nhiệm vụ của mình phải ra sức củng cố, tăng cường mối đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau cùng nhau phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.

          Đi đôi với thực hiện đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau chúng ta phải kiên quyết đấu tranh vạch trần và làm thất bại mọi hành động lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” gây chia rẽ mất đoàn kết, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân nói chung và đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo nói riêng. Trong mọi trường hợp, chúng ta cần phân biệt rõ ràng đâu là vấn đề thuộc về tín ngưỡng, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chia rẽ, chống phá để có thái độ và hành động đúng đắn.

          Thực tế đã chứng minh, những thành tựu mà đất nước ta đạt được trên tất cả các lĩnh vực trong thời gian qua là hết sức to lớn, không những chỉ dư luận trong nước mà bạn bè quốc tế cũng thừa nhận. Những thành quả ấy được tạo bởi nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, cũng như đồng bào theo các tôn giáo khác nhau luôn gắn bó trên nền tảng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.

          Tuy nhiên, trên thực tế còn có nơi này, nơi kia, người này, người khác chưa hiểu rõ và thực hiện chưa tốt chính sách tôn giáo, trước hết là chính sách đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết người có tôn giáo với nhau, đoàn kết người khác tôn giáo với nhau, đoàn kết người có tôn giáo với người không tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Không ít người, trong đó có cả chức sắc tôn giáo chưa gương mẫu trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Một số đối tượng đã lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động âm mưu lợi dụng tôn giáo để kích động, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ đồng bào tôn giáo với đồng bào không tôn giáo và giữa đồng bào các tôn giáo với nhau nhằm chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

          Để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo theo quan điểm, chủ trương mà Đảng ta đã xác định, chúng ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Nhưng vấn đề đặc biệt quan trọng, có tính chiến lược lâu dài là phải thường xuyên đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn Đảng, toàn dân ta nói chung, các tín đồ, chức sắc tôn giáo nói riêng hiểu rõ và thực hiện đúng quan điểm, tư tưởng, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước hiện nay. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của công dân; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo hoặc tín ngưỡng. Mọi công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục phải làm cho mọi người dân, các chức sắc và tín đồ tôn giáo nhận thức rõ về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Giải quyết được hai việc ấy, sức đề kháng của quần chúng nhân dân nói chung và đồng bào tôn giáo nói riêng sẽ được nâng lên. Khi quần chúng nhân dân nhận thức đúng vấn đề họ sẽ đề cao cảnh giác, xác định rõ trách nhiệm trong chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động./.

                                                                                                St.Đa

Bản lĩnh chính trị- yếu tố quyết định tạo lên sức mạnh chiến đấu của Quân đội

 


          Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và từng đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của bộ đội, V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Do đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta đều bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Quân đội và Nhân dân ta, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.

          Hiện nay các thế lực thù địch ngày đêm thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” với các âm mưu ngày càng tinh vi và nguy hiểm nhằm thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh” đối với cách mạng nước ta, một trong những đối tượng mà chúng tấn công mạnh nhất đó là mọi cán bộ chiến sỹ trong lực lượng vũ trang. Chúng đã tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của Quân đội ta làm cho quân đội “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Do đó, phải nâng cao bản lĩnh chính trị củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Yêu cầu bản lĩnh chính trị của bộ đội hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, có niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Phải luôn nhạy bén về chính trị, ứng xử kịp thời và đúng đắn các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân đội và từng đơn vị. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

          Để nâng cao bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Xây dựng bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho bộ đội phải triệt để quán triệt vào trong quá trình giáo dục huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác. Trong đó, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị là vấn đề rất quan trọng. Giải quyết tốt giữa toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các khu trọng điểm. Đồng thời phải luôn coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho bộ đội. Đồng thời, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng và các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ trong từng đơn vị và giải quyết kịp thời đúng đắn, dứt điểm những diễn biến chính trị, tư tưởng phức tạp, những vấn đề mới nảy sinh, tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.

MẠNG XÃ HỘI KHÔNG PHẢI LÀ CÔNG CỤ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ, CHIA RẼ ĐOÀN KẾT

 

          Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, Internet và mạng xã hội đang tác động, ảnh hưởng ngày càng lớn đến mọi mặt đời sống xã hội. Chúng ta không phủ nhận những tiện ích to lớn mà mạng xã hội đem lại cho cộng đồng. Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại triệt để lợi dụng những ưu thế mà mạng xã hội đem lại để tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Hàng nghìn trang mạng xã hội được các thế lực thù địch, phản động lập ra để sử dụng như một công cụ chủ yếu tuyên truyền xuyên tạc, bịa đặt nhằm kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và thế giới.

          Từ những trang mạng xã hội có địa chỉ ở nước ngoài, rất nhiều thông tin, tài liệu bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt, xấu độc được lan truyền gây ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng cư dân mạng. Những sự kiện “nóng”, những vấn đề nhạy cảm, phức tạp các thế lực thù địch, phản động tập trung thời gian gần đây là: mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn, đặc biệt phản ứng của Việt Nam trước các sự kiện quốc tế, trong đó có cuộc xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraine; tình hình ở Biển Đông; những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nội dung các kỳ họp của Ban chấp hành Trung ương, Chính phủ, Quốc hội và những vấn đề nổi cộm xã hội quan tâm.

          Cần khẳng định rằng, những hành động đó không chỉ trái pháp luật Việt Nam mà còn vi phạm công ước quốc tế. “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” năm 1966 quy định rất rõ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Khoản 2, Điều 19 của Công ước quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”.

          Tuy nhiên, cần nhớ rằng, những quyền ấy không phải là quyền tuyệt đối. Khoản 3, Điều 19 “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” năm 1966 ghi rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc hưởng thụ quyền này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định (những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật) để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”.

          Năm 1982, Việt Nam tham gia “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn tôn trọng và quan tâm nội luật hóa các quy định của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia. Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, báo chí của người dân được quy định rất rõ. Tại Điều 25 của Hiến pháp năm 2013 nêu: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 9, Luật Báo chí Việt Nam 2016 nghiêm cấm: “1. Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý. 2. Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế”. Những quy định ấy đều tương thích với “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”.

          Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, không một quốc gia nào dung túng, bao che cho những hành động sử dụng Internet, mạng xã hội làm công cụ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tạo mọi điều kiện để người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet trên cơ sở tuân thủ Công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam. Chính phủ Việt Nam luôn chủ động phối hợp, tích cực hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế để đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, phát triển Internet và các phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng Việt Nam cũng làm hết sức mình để ngăn chặn thông tin xấu, độc, thông tin vi phạm pháp luật Việt Nam và Công ước quốc tế. Việt Nam luôn mong muốn chung tay với các nước, các tổ chức quốc tế xây dựng môi trường Internet lành mạnh, an toàn, hữu ích ở Việt Nam và toàn cầu. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam lên án mạnh mẽ, đấu tranh kiên quyết, không cho phép bất kỳ ai được lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet để tán phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, những luận điệu thù hận, phỉ báng, kích động có thể gây căng thẳng, gây chia rẽ đoàn kết và đưa đến xung đột. Mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực sử dụng Internet, mạng xã hội và phương tiện truyền thông đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật./.

                                                                                                st

 

Không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng hiện nay

 


Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng Internet, các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin xấu độc, bịa đặt, sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch; bôi nhọ, vu khống lãnh tụ, kích động bạo lực...Song do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như tác hại của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch với nước ta. Thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng 2 trang mạng xã hội là Facebook và Youtube để đăng, chia sẻ những thông tin sai trái, cơ hội chính trị lên không gian mạng Internet. Thủ đoạn thường được chúng sử dụng đó là dùng những tin, bài, những hình ảnh trên các báo chí chính thống của ta ở trong nước, sau đó viết lại, chỉnh sửa thành những nội dung bịa đặt hoặc định hướng sai lệch để đăng tải. Điều này thu hút sự quan tâm của người xem, người đọc trước những thông tin có nội dung giống với các thông tin chính thống, tạo cảm giác nửa tin, nửa ngờ và nếu không tìm hiểu, nghiên cứu kỹ sẽ bị tác động xấu bởi những thông tin xuyên tạc này. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng trang Blog để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước, khi nó kết hợp với mạng xã hội, các bài viết trên Blog được chia sẻ lên mạng xã hội tạo sức lan tỏa lớn.

Để  đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin chính thống, đảm bảo phong phú, đa dạng, nhiều cấp độ, tùy theo đối tượng để cung cấp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời luôn xây dựng bản lĩnh vững vàng, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp cận những thông tin nhạy cảm, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách tạo môi trường trong sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động thù địch, từng bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học tập, công tác, lao động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày... “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, cũng là góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng hiện nay.

Quân đội đẩy mạnh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng

 


Chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” (DBHB) của các thế lực thù địch trên không gian mạng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên và lâu dài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cần phải phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội là lực lượng xung kích, nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh đó.

Hiện nay, công nghệ thông tin, không gian mạng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Chúng thiết lập các trang website, blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”, phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc để chống phá. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết Quân đội với nhân dân,... Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và Quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại đạo đức xã hội. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm. Quân đội là một trong những đối tượng chúng chống phá quyết liệt, vì đây là lực lượng chủ yếu, nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của chúng là “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất công cụ bạo lực sắc bén, không còn giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

Nhận thức đúng tình hình đó, công tác đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng luôn được Quân ủy Trung ương, BQP, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy đảng các cấp trong toàn quân đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, BQP, Tổng cục Chính trị về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu, tham gia đấu tranh và bảo đảm các điều kiện vật chất thực hiện công tác này ở từng cấp. Đồng thời, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Cùng với đó, toàn quân đã làm tốt công tác giáo dục, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng; huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng và thường xuyên đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Nhờ đó, ANCT, trật tự, ATXH, an ninh mạng được bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Những kết quả quan trọng đó đã khẳng định Quân đội ta luôn xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn DBHB của các thế lực thù địch.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng thời gian qua còn có những hạn chế sau: lực lượng chuyên trách của một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; một số sự việc đã bị kẻ xấu lợi dụng, lan truyền nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; hình thức tiến hành chủ yếu vẫn là chia sẻ các bài viết có sẵn trên mạng; tần suất những bài viết, thông tin có chiều sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch chưa nhiều, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một làtăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong công tác quan trọng này. Trước hết, cần xác định: đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, diễn biến phức tạp, quyết liệt, thường xuyên và lâu dài. Do vậy, để thống nhất nhận thức và hành động, cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm và sự cần thiết phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh không khoan nhượng này. Thực hiện tốt Đề án “Quân đội phòng, chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; đưa nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ hoặc chuyên đề của cấp ủy đảng và nội dung sinh hoạt của tổ chức đảng, sát với thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Cấp ủy các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá phù hợp với nhận thức từng đối tượng cụ thể cần tuyên truyền, đấu tranh. Đồng thời, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm để vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình hình trong từng thời kỳ; không giáo điều, rập khuôn máy móc. Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đề cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quy định phát ngôn,... nắm chắc tình hình trên mạng xã hội qua blog, facebook,… của những quân nhân có biểu hiện dao động, suy thoái về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để có biện pháp giáo dục; trường hợp cố tình vi phạm những quy định phải cương quyết xử lý theo quy định của pháp luật.

Hai làđẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn đấu tranh có hiệu quả, cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ trì các cấp phải có bản lĩnh chính trị vững vàng và hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để làm được điều này, các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các học viện, nhà trường nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, nghiên cứu lý luận chính trị, cốt lõi là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn trong quan điểm của Đảng về quân sự quốc phòng; luận giải thuyết phục, thấu đáo những vấn đề mới nảy sinh. Đồng thời, kết hợp đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.

Ba làchủ động cung cấp thông tin, định hướng nhận thức tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Hiện nay, Việt Nam có khoảng hơn 58 triệu người đã sử dụng tài khoản facebook và tiếp nhận rất nhiều thông tin qua mạng xã hội này. Thế nhưng, những nguồn thông tin chính thống và có thẩm quyền từ các cơ quan chức năng trên các trang mạng xã hội lại rất ít. Khi có sự việc nhạy cảm xảy ra thường phản ứng chậm, hình thức thông tin chưa phù hợp,... khiến cho tin giả, tin bịa đặt, tin suy diễn xuất hiện tràn lan, không có nguồn để xác thực, kiểm chứng tính đúng sai, thật giả lẫn lộn, gây xáo trộn, hoang mang dư luận công chúng. Vì vậy, các cơ quan chức năng phải nhạy bén, kịp thời, chủ động cung cấp thông tin theo Luật An ninh mạng và Quy chế phát ngôn, nhất là các vấn đề có liên quan đến Quân đội. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần chỉ đạo cơ quan chức năng bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn đơn vị đóng quân. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 các cấp tập trung biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo,… làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng cho lực lượng đấu tranh trên không gian mạng.

Bốn làtích cực ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng. Các cơ quan, đơn vị kỹ thuật thuộc BQP, đặc biệt là Bộ Tư lệnh 86, theo chức năng, nhiệm vụ đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng. Hoàn thiện, đưa vào khai thác, sử dụng các phần mềm quản lý kết quả đấu tranh và hỗ trợ các hoạt động đấu tranh trên không gian mạng, thực hiện các chiến dịch truyền thông chủ động. Phòng, chống DBHB trên không gian mạng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, gay gắt, lâu dài và vô cùng phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, các đơn vị trong toàn quân cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược DBHB của các thế lực thù địch bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nâng cao hiệu quả trong nhận diện, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng hiện nay

 


Để tiếp tục nâng cao hiệu quả trong nhận diện, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, trước hết, LLVT cần tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội cho cán bộ, đảng viên, chiến sỹ trong cơ quan, đơn vị. Tạo nhận thức đúng đắn, toàn diện và đầy đủ về tính hai mặt của internet, mạng xã hội cũng như âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch cho cán bộ, chiến sỹ.

Thứ hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội.

Đưa nhiệm vụ đấu tranh vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ của cấp ủy đảng và nội dung sinh hoạt của tổ chức đảng, kế hoạch công tác của người chỉ huy để thực hiện, bảo đảm sát với thực tiễn nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị minh. Xây dựng các chương trình, kế hoạch, nội dung đấu tranh toàn diện, song phải có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp và có tính khả thi cao.

Thứ ba, các cơ quan, đơn vị đặc biệt là lực lượng 47 luôn chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để đấu tranh ngăn chặn. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, diễn đàn thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội trên không gian mạng.

Thứ tư, thường xuyên đổi mới phương thức hoạt động, đa dạng hóa hình thức đấu tranh. Xây dựng và mở rộng đội ngũ cộng tác viên đưa tin, viết bài, bình luận; nâng cao chất lượng các bài viết đấu tranh phản bác với luận cứ khoa học, tính thuyết phục cao. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh, cả trực tiếp và gián tiếp, giữa xây và chống, trong đó lấy xây là chính.

Có thể thấy, nhận diện và đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên internet, mạng xã hội là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức đối với quân đội ta nói chung, LLVT địa phương nói riêng. Để thực hiện hiệu quả hơn hoạt động này, cơ quan chính trị (Phòng Chính trị) phải chủ động đề xuất với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tham mưu thành lập lực lượng chuyên trách đấu tranh trên không gian mạng có sự tham gia của LLVT địa phương, dưới sự quản lý, điều hành chung của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, thành ủy.

Có như vậy, công tác đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam trên internet, mạng xã hội trong thời gian tới sẽ đạt hiệu quả tốt hơn, góp phần quan trọng xây dựng bản lĩnh chính trị, lập trường, tư tưởng vững vàng cho cán bộ, chiến sỹ nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH, THÀNH PHỐ HIỆN NAY

 


Thời gian gần đây, các thế lực thù địch phản động tiếp tục lợi dụng âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” (DBHB) đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta. Trong đó chúng triệt để lợi dụng không gian mạng, coi không gian mạng là nơi thuận lợi nhất, nhanh nhất, rộng rãi nhất để thực hiện các mưu đồ thâm hiểm của mình. Vì vậy đấu tranh phòng, chống DBHB nói chung và đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng nói riêng là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta hiện nay.

Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng chống DBHB trên không gian mạng của cán bộ, đảng viên trong lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh, thành phố đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong LLVT tỉnh, TP đã quán triệt và thực hiện nghiêm các quy định về sử dụng công nghệ thông tin, bảo đảm an toàn thông tin trong cơ quan, đơn vị. Cán bộ, đảng viên đã nhận thức rõ được những âm mưu, thủ đoạn DBHB trên không gian mạng của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đã tổ chức lực lượng, tiến hành đa dạng bằng nhiều nội dung, hình thức đấu tranh đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc đấu tranh chống DBHB trên không gian mạng của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, còn mang tính thời vụ; ở một số cơ quan, đơn vị cơ sở việc tham gia các hoạt động nhằm phản bác các thông tin xấu độc chưa thường xuyên, còn phải để đôn đốc nhắc nhở, nhất là việc chấp hành thời gian quy định viết bài chưa đảm bảo, hoạt động đấu tranh ở một số đồng chí cán bộ, đảng viên thiếu tính tự giác. Trong sử dụng mạng Internet, nhất là quá trình truy cập vào các trang mạng xã hội như: Facebook, Zalo, Youtube…vẫn có không ít đồng chí còn thờ ơ trước các thông tin sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, chưa thể hiện được quan điểm, thái độ đấu tranh của mình trước các luận điệu của các thế lực thù địch. Số lượng tham gia hoạt động đấu tranh chống DBHB trên không gian mạng còn ít so với số lượng người khai thác sử dụng không gian mạng.

Từ thực trạng nêu trên, việc nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống chiến lược DBHB trên không gian mạng cho cán bộ, đảng viên trong LLVT tỉnh. TP hiện nay là một yêu cầu cấp thiết. Hoạt động này phải được xem là tổng thể những biện pháp nhằm đưa chất lượng đấu tranh phòng, chống DBHB của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng của cán bộ, đảng viên lên một trình độ mới và cao hơn, có chất lượng và hiệu quả tốt hơn, góp phần đánh bại chiến lược DBHB của các thế lực thù địch, phản động đối với cách mạng nước ta.

Một số nội dung biện pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống chiến lược DBHB trên không gian mạng của cán bộ, đảng viên LLVT tỉnh, thành phố hiện nay

 


 

Để nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống chiến lược DBHB trên không gian mạng của cán bộ, đảng viên nói chung và của LLVT tỉnh, TP nói riêng, cần tiến hành tổng hợp nhiều giải pháp, trong đó tập trung vào một số nội dung biện pháp chủ yếu sau đây:

Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phòng chống DBHB trên không gian mạng; giáo dục, phổ biến cho mọi cán bộ, đảng viên hiểu biết đầy đủ những thủ đoạn hoạt động và nội dung chống phá của các thế lực thù địch.

Để chất lượng hoạt động đấu tranh ngày càng đi lên, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh phòng chống DBHB trên không gian mạng, nâng cao trình độ đấu tranh phản bác lại các luận điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn vị. Thường xuyên quán triệt vị trí, ý nghĩa nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về công tác đấu tranh phòng chống DBHB trên không gian mạng. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên toàn đơn vị trong cuộc đấu tranh chống DBHB nói chung, trên không gian mạng nói riêng. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện khắc phục những hạn chế trong quá trình thực hiện và tích cực tuyên truyền, giáo dục nâng cao cảnh giác cho mọi cán bộ, đảng viên về các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng; tạo sức đề kháng cho mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình khai thác, sử dụng mạng Internet.

Chúng ta có thể nói rằng chiến lược DBHB trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động có đạt được mục đích hay không hoàn toàn phụ thuộc vào bản lĩnh chính trị, khả năng, hiểu biết và sức đề kháng của mỗi cán bộ, đảng viên, trước những thông tin thật giả, đúng sai lẫn lộn. Do đó, giải pháp quan trọng hàng đầu là cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải tạo được sức đề kháng cho mỗi cán bộ, đảng  viên; đồng thời phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, mọi lực lượng trong cơ quan, đơn vị. Để làm được điều này cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần cảnh giác, ý chí, quyết tâm cho cán bộ, đảng viên. Công tác giáo dục chính trị cần tập trung giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cơ sở để cán bộ, đảng viên quán triệt đường lối của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin và nâng cao khả năng đấu tranh chống lại các quan điểm, tư tưởng thù địch.

Chúng ta phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, môi trường Internet trong sạch là chính. Để tạo nên sức đề kháng cho mọi cán bộ, đảng viên trước các âm mưu thủ đoạn DBHB trên không gian mạng, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Ngoài việc tập trung phản bác, chống lại các quan điểm sai trái, phải vừa xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên, đồng thời vừa phải quan tâm đến việc xây dựng môi trường văn hóa, môi trường Internet trong cơ quan, đơn vị một cách trong sạch, lành mạnh.

Cùng với đó, phải huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng, của mọi cán bộ, đảng viên; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng, ý thức tự giác, hành động tích cực trong phê phán, đấu tranh chống quan điểm sai trái. Tổ chức lực lượng trong cơ quan, đơn vị, thực hiện thường xuyên nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng Internet. Kiện toàn và phát huy vai trò của các lực lượng chuyên trách trong đấu tranh với những thông tin xấu độc của các thế lực thù địch.

Ba là, thường xuyên đổi mới phương thức, đa dạng hóa hình thức đấu tranh chống DBHB trên không gian mạng.

Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược DBHB rất đa dạng, tinh vi và thường xuyên thay đổi, để hoạt động đấu tranh trên không gian mạng thực sự đem lại chất lượng, hiệu quả đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp phải thường xuyên có sự đổi mới, đa dạng hóa các hình thức, biện pháp đấu tranh. Trong tình hình hiện nay, cần chủ động viết và đăng tải các bài viết đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái trên mạng Internet. Quá trình tham gia mạng Internet, truy cập các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Twitter, Youtube, Instagram… mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần thể hiện quan điểm, thái độ đúng đắn, có những bình luận, chia sẻ, phân tích, tuyên truyền những thông tin chính thống, phản bác những thông tin, hình ảnh, video sai lệch, phản động. Tiến hành truy cập, tìm kiếm các trang thông tin chính thống, các trang, blog cá nhân có nội dung bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, chống DBHB …từ đó tiến hành các nội dung bình luận thể hiện quan điểm đúng đắn của bản thân và chia sẽ rộng rãi trên không gian mạng, tạo thành diễn đàn cho nhiều người cùng cơ quan, đơn vị tham gia chống các quan điểm sai trái thù địch… Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình tham gia vào mạng Internet, khi phát hiện các trang web, blog mang tính chất phản động, cần kêu gọi mọi người tẩy chay, cảnh giác, tuyệt đối không truy cập, không chia sẽ, không bình luận, không tải về máy tính, ... đồng thời báo cáo chỉ huy đơn vị, các cơ quan chức năng có biện pháp tháo gỡ, vô hiệu hóa các trang mạng này.

Bốn là, đảm bảo tốt các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật trong quá trình đấu tranh chống DBHB trên không gian mạng.

Đây là giải pháp nâng cao tính bảo mật và an toàn thông tin khi truy cập Internet. Cần trang bị đầy đủ các phần mềm, chương trình chống mã độc, quản lý việc truy cập sử dụng Internet trong nội bộ đơn vị, sử dụng phần mềm chuyên dụng, tự động cập nhật, phát hiện và ngăn chặn những trang mạng độc hại không để các chương trình, trang mạng độc hại xâm nhập vào các hệ thống máy tính trong cơ quan, đơn vị, quản lý nghiêm ngặt không để các máy tính quân sự kết nối mạng Internet. Quản lý, theo dõi chặt chẽ cán bộ, đảng viên sử dụng các trang thiết bị lưu trữ thông tin như USB, ổ cứng di động,... trong quá trình khai thác, sử dụng mạng Internet. Nâng cao chất lượng quản lí, khai thác tốt cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị, nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình khai thác sử dụng, bảo quản máy tính và hệ thống mạng Internet. Đồng thời, tiến hành bồi dưỡng nâng cao trình độ công nghệ thông tin cho cán bộ, đảng viên về kỹ năng sử dụng mạng Internet trong đấu tranh chống DBHB trên không gian mạng, trong đó tập trung bồi dưỡng khả năng sử dụng và bảo mật trên mạng Internet, cách phát hiện và xử lý khi phát hiện những trang web, blog độc hại, cách dùng các chương trình, phần mềm chuyên dụng trong quản lý sử dụng Internet, các phần mềm diệt virút, chống gián điệp trên hệ thống máy tính...

 Nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng trong cán bộ, đảng viên nói chung và LLVT tỉnh, TP nói riêng là nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống DBHB trên không gian mạng, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong cơ quan, đơn vị, nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng cho mọi cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.

Việt Nam - Ấn Độ ký thỏa thuận hỗ trợ hậu cần quân sự đầu tiên

 MISTEN - Theo đài RFI, nhận lời mời của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, từ ngày 7-10/6, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Rajnath Singh thăm Việt Nam.

Sau cuộc hội đàm ngày 8/6, ông Rajnath Singh và Đại tướng Phan Văn Giang đã ký kết Tuyên bố Tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng song phương cho đến năm 2030 và nhất là một bản Thoả thuận Ghi nhớ (MoU) về hỗ trợ hậu cần quân sự. Đây được cho là bước quan trọng trong việc đơn giản hóa quy trình hỗ trợ hậu cần chung có lợi và là thỏa thuận đầu tiên về lĩnh vực này mà Việt Nam ký với một quốc gia khác.

Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Rjnath Singh đã tặng Việt Nam 2 thiết bị mô hình hóa và một khoản trợ cấp để thành lập phòng Lab học tiếng và công nghệ thông tin tại Trường huấn luyện sĩ quan Không quân Việt Nam.

Theo hãng tin PTI (Ấn Độ), việc Hà Nội và New Delhi ký kết hai văn kiện hợp tác nói trên là một bước tiến lớn trong quan hệ chiến lược giữa hai nước, trong bối cảnh cả Việt Nam và Ấn Độ đều quan ngại trước việc Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng tại vùng Biển Đông nói riêng và Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương nói chung.

Tuyên bố Tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ mở rộng hơn nữa “phạm vi và quy mô” của quan hệ quốc phòng vốn đã tốt đẹp giữa hai nước, trong lúc thỏa thuận về hỗ trợ hậu cần quân sự cho phép quân đội hai bên sử dụng căn cứ của nhau để sửa chữa và bổ sung nguồn tiếp liệu.

Báo chí Ấn Độ nhấn mạnh: Bản ghi nhớ về hỗ trợ hậu cần là thỏa thuận lớn đầu tiên mà Việt Nam ký với một nước khác trong lĩnh vực này. Theo Bộ Quốc phòng Ấn Độ: “Trong thời điểm hợp tác ngày càng gia tăng giữa các lực lượng quốc phòng hai nước, đây là một bước tiến quan trọng nhằm đơn giản hoá các thủ tục hỗ trợ hậu cần có lợi cho cả hai bên…”.

Trong chính sách quốc phòng của Ấn Độ, các thỏa thuận hỗ trợ hậu cần quân sự được cho là một nhân tố quan trọng. Sau khi ký kết một thoả thuận tương tự với Mỹ vào năm 2016, Ấn Độ đã lần lượt ký các hiệp ước tương tự với Australia, Nhật Bản, hai quốc gia khác trong nhóm Bộ Tứ, cũng như với Pháp, Singapore…

Phát biểu trên mạng Twitter, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ cho rằng hợp tác quốc phòng và an ninh chặt chẽ giữa Việt Nam và Ấn Độ “là một yếu tố quan trọng của sự ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”.

Riêng về Biển Đông, theo báo chí Việt Nam, hai Bộ trưởng Quốc phòng Việt - Ấn Độ đều “chia sẻ quan điểm về tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông; giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982…”.

Bộ Quốc phòng Ấn Độ đã nhắc lại mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà hai bên đã thiết lập từ năm 2016 và hợp tác quốc phòng là trụ cột chính trong quan hệ giữa hai nước.

TTXVN

Lý do để các công ty châu Âu chọn Việt Nam là điểm đến mới

 

MISTEN - Theo trang DW ngày 8/6, những yếu tố như căng thẳng địa chính trị và chi phí cao hơn đang đẩy các công ty lớn tìm kiếm các địa điểm sản xuất thay thế. Hoạt động kinh tế sôi động của Việt Nam trong những năm gần đây là yếu tố thu hút sự chú ý của các công ty châu Âu.

Việt Nam là một trong số ít các quốc gia châu Á không rơi vào tình trạng suy giảm kinh tế mạnh trong đại dịch COVID-19 trong năm 2020 và 2021. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), năm nay, GDP của Việt Nam dự kiến sẽ tăng khoảng 5,5%.

Kết quả hoạt động kinh tế của Việt Nam trong và sau đại dịch đã thu hút sự chú ý của một số công ty lớn của châu Âu. Nhà cung cấp động cơ tự động hóa Brose của Đức, có 11 nhà máy ở Trung Quốc, hiện đang quyết định một địa điểm sản xuất mới giữa Thái Lan và Việt Nam.

Trước đó, tháng 12/2021, hãng sản xuất đồ chơi Lego của Đan Mạch đã thông báo sẽ xây dựng nhà máy trị giá 1 tỷ USD ở gần Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), một trong những dự án đầu tư lớn nhất của châu Âu tại Việt Nam cho đến nay.

Ông Daniel Müller, Giám đốc Hiệp hội Doanh nghiệp châu Á - Thái Bình Dương của Đức cho biết: “Hiện có vẻ như các công ty quy mô vừa đang ngày càng nỗ lực để xâm nhập vào thị trường Việt Nam hoặc đang ngày càng muốn đưa các hoạt động của họ ra khỏi Trung Quốc nhiều hơn”.

Tại sao các công ty châu Âu muốn rời khỏi Trung Quốc?

Các công ty châu Âu đang tìm kiếm các giải pháp thay thế cho Trung Quốc vì một số lý do:

Trong những năm gần đây, lương của người Trung Quốc tăng cao khiến Trung Quốc trở nên kém hấp dẫn hơn đối với các nhà sản xuất giá rẻ.

Theo Moody's Analytics, mức lương trung bình hàng năm ở Trung Quốc đã tăng từ khoảng 5.120 euro (5.400 USD) năm 2010 lên 13.670 euro vào năm 2020.

Về mặt địa chính trị, mối quan hệ của Trung Quốc với các chính phủ châu Âu xấu đi vào năm 2021 khi Liên minh châu Âu (EU) áp đặt các biện pháp trừng phạt với Trung Quốc vì các hành vi ngược đãi liên quan quyền con người ở Tân Cương.

Bắc Kinh sau đó đã ban hành các lệnh trừng phạt riêng đối với các quan chức EU và đóng băng một hiệp ước đầu tư đã đạt được trước đó.

Năm 2022, chính sách “Không COVID” của Bắc Kinh đã khiến chuỗi cung ứng toàn cầu rơi vào tình trạng hỗn loạn khi hoạt động sản xuất “gần như đình trệ” trong các thành phố bị phong tỏa. Chính điều này đã làm lung lay niềm tin của các công ty EU tại Trung Quốc như một địa điểm sản xuất đáng tin cậy.

Thành phố Thượng Hải chỉ mới được mở cửa trở lại gần đây sau nhiều tháng bị phong tỏa, trong khi nhiều khu vực ở thủ đô Bắc Kinh cũng bị đóng cửa trong nhiều tháng.

Tất cả những điều này đã làm suy yếu nền kinh tế và những cảnh báo đã được đưa ra rằng GDP của Trung Quốc có thể giảm xuống mức thấp hơn nhiều so với mục tiêu tăng trưởng trong năm nay. Theo WB, trong 3 tháng đầu năm 2022, GDP của Trung Quốc tăng 4,8%, thấp hơn mục tiêu chính thức là 5,5%.

Phát biểu với tập đoàn truyền thông DW, ông Raphael Mok, đứng đầu khu vực châu Á tại Fitch Solutions, cho biết: “Ngay cả trước khi xảy ra đại dịch, chúng tôi đã thấy các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp trong phân khúc sản xuất sử dụng nhiều lao động, bắt đầu chuyển ra khỏi Trung Quốc  đến các quốc gia khác có chi phí thấp hơn trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam”. Đồng thời, Việt Nam đã trở thành một điểm đến hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.

Cùng với mức lương thấp hơn ở Trung Quốc, Việt Nam có tầng lớp trung lưu tăng nhanh và cũng đang đầu tư nhiều vào cơ sở hạ tầng.

EU và Việt Nam đã phê chuẩn hiệp định thương mại tự do vào năm 2020, trong đó có hiệp định đầu tư, Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA). Thương mại song phương đã tăng lên 49 tỷ euro vào năm 2021, tăng mạnh so với mức 20,8 tỷ euro vào năm 2012, năm bắt đầu các cuộc đàm phán về Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA).

Một báo cáo của Germany Trade & Invest, một nền tảng nghiên cứu và tư vấn, chỉ ra rằng các hiệp định này cũng giúp các doanh nghiệp châu Âu tiếp cận dễ dàng hơn với các hoạt động mua sắm công tại Việt Nam. Theo EVIPA, tỷ lệ sở hữu tối đa của nước ngoài trong các ngân hàng thương mại đã tăng từ 30% lên 49%.

Trung Quốc vẫn là cần thiết

Matthijs van den Broek, thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp Hà Lan-Việt Nam (DBAV), nêu ý kiến: “Liệu Việt Nam có thể 'thay thế' Trung Quốc như một lựa chọn sản xuất hay không vẫn còn phải xem xét”. Phát biểu với DW, ông Broek cho rằng: “Với tư cách là một địa điểm đầu tư mở rộng hoặc bổ sung, ngoài Trung Quốc, hoặc là một phần của chiến lược rộng hơn Trung Quốc+1, chắc chắn Việt Nam đang có được chỗ đứng”. Tuy nhiên, ông van den Broek nói thêm: “Trung Quốc quá lớn và quá tiến bộ để không thực hiện bất kỳ phần nào trong chiến lược châu Á. Việt Nam vẫn chưa ngang bằng với Trung Quốc về trình độ học vấn, lao động có tay nghề cao và cơ sở hạ tầng, hậu cần là đáng lo ngại”.

Ông Muller, thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp châu Á - Thái Bình Dương của Đức, cho rằng việc châu Âu tách rời khỏi Trung Quốc phần lớn phụ thuộc vào nơi đặt trụ sở của doanh nghiệp. Ví dụ, các công ty Đức phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường Trung Quốc so với hầu hết các nước châu Âu khác. Theo dữ liệu của OEC, xuất khẩu của Đức sang Trung Quốc đạt 99 tỷ euro vào năm 2020, trong khi với Pháp chỉ đạt 19 tỷ euro.

Muller cho biết: “Vẫn chưa rõ liệu các công ty Đức, đặc biệt là các tập đoàn lớn, có giảm đáng kể hoạt động của họ tại Trung Quốc hay không. Đây sẽ là điều kiện tiên quyết để các quốc gia như Việt Nam có thể tin tưởng vào các khoản đầu tư mới quy mô lớn”.

Theo ông Muller, về dài hạn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn, chẳng hạn như kỹ thuật tiên tiến và thiết bị thông minh, vẫn sẽ coi Trung Quốc đại lục là một trung tâm sản xuất nhờ chuỗi cung ứng.

Tuy nhiên, ngành sản xuất có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn, đòi hỏi một hệ sinh thái chi phí thấp và ít phức tạp hơn, có thể sẽ tiếp tục chuyển ra khỏi đất nước để giữ cho chi phí sản xuất ở mức thấp.

Nếu căng thẳng địa chính trị gia tăng hơn nữa trong tương lai, các công ty sẽ không thể tránh khỏi việc tìm kiếm các lựa chọn thay thế Trung Quốc. Việt Nam sẽ đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình này.

TTXVN

Nâng tầm của đại biểu Quốc hội qua các phiên chất vấn

 

MISTEN - Theo đài RFA, ngày 7/6, tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội Khoá XV, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho rằng, các đại biểu Quốc hội luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm để có một phiên chất vấn, trả lời chất vấn thực chất, hiệu quả. Theo ông Vương Đình Huệ, phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, hoạt động giám sát của Quốc hội và hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn… để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và cử tri.

Sử gia Dương Trung Quốc, nguyên đại biểu Quốc hội, giải thích về công việc chất vấn tại Quốc hội Việt Nam:

“Đối với Việt Nam, chất vấn là một hình thức giám sát tối cao nhất. Từ lâu, Việt Nam đã cho phép truyền hình trực tiếp nên hiệu ứng rất mạnh trong xã hội. Chất vấn bao giờ cũng có người hỏi, người đáp, đó là cơ hội để cho người dân đánh giá không chỉ các vị bộ trưởng hay các vị quan chức… mà họ đánh giá luôn cả đại biểu nêu vấn đề… Sinh hoạt này bây giờ đã đi vào đời sống để người dân theo dõi. Qua những ý kiến trao đổi trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng thì các phiên chất vấn cũng tạo nên sự giám sát rất chặt chẽ hay nói cách khác là tạo áp lực cho sinh hoạt này”.

Ông Dương Trung Quốc cho biết thêm, hoạt động chất vấn diễn ra khi cuộc đấu tranh chống tham nhũng tại Việt Nam đang quyết liệt, như việc Bộ trưởng Y tế và Chủ tịch Hà Nội liên quan đến Việt Á… Có thể nói các phiên chất vấn đã thoả mãn lòng dân. Nhưng mặt khác, theo ông Dương Trung Quốc, việc này cũng đặt ra hàng loạt vấn đề về đội ngũ quan chức của Việt Nam. Cũng có thể nói rằng một điểm yếu của Quốc hội Việt Nam là tính chuyên nghiệp không cao. Do cơ chế tổ chức, có người có năng lực, nhưng chưa phát huy hết thì đã hết nhiệm kỳ. Việc đó ai cũng nhìn thấy, nhưng chưa được khắc phục một cách căn bản.

Dư luận trên mạng xã hội cũng cho rằng, các cuộc chất vấn gần đây đã hơn hẳn những lần trước bởi tính chất thời sự. Người trả lời chất vấn cũng tỏ ra có thiện chí và không tránh né. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng:

“Tôi thấy Đảng và nhà nước có một công thức là chất vấn để làm rõ hơn sự điều hành của chính phủ, để rút kinh nghiệm cùng nhau bắt tay xây dựng chứ không phải chất vấn để tìm ra khuyết điểm của từng Bộ trưởng hoặc thành viên Chính phủ để cách chức. Điều này hoàn toàn khác với các nước phương Tây. Nếu cử tri theo dõi những buổi chất vấn thì thấy có những vấn đề ‘nóng’ của đất nước được nêu trên diễn đàn Quốc hội”.

Theo ông Đinh Kim Phúc, đó là một tín hiệu rất tốt so với 20 - 30 năm trước. Khi trả lời chất vấn có những vấn đề được rõ hơn, nhưng cũng có những vấn đề không làm rõ được. Ông Đinh Kim Phúc giải thích:

“Những vấn đề nóng đã được đặt trên diễn đàn Quốc hội, dù bộ trưởng có trả lời được hay không cũng là một tín hiệu tốt để cho thấy sự bức xúc của cử tri đối với các vấn đề chính phủ làm chưa được, hay những quyết định của từng bộ trưởng, để cho người dân đánh giá… Đó là một ưu điểm, không thể đòi hỏi hơn được nữa”.

Quốc hội là nơi hoạt động lập pháp, giám sát các hoạt động hành pháp và tư pháp... trong việc thực hiện các nghị quyết do Quốc hội đề ra. Ngoài ra, Quốc hội còn là nơi đề xuất, thảo luận các vấn đề mang tầm vĩ mô về kinh tế - xã hội, quốc kế dân sinh... Nói như thế để thấy rằng, các đại biểu khi họp Quốc hội không được sa vào bàn luận những tiểu tiết hay quá cụ thể vì những công việc này sẽ do chính phủ quy định cụ thể theo đặc thù từng ngành. Nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc nhận định:

“Chúng ta cũng thấy rõ rằng, gần 500 đại biểu Quốc hội có trình độ khác nhau, nhận thức khác nhau, tiếp cận một vấn đề cũng khác nhau. Do đó, có những câu hỏi rất chất lượng đi vào việc quốc gia đại sự, quốc kế dân sinh… Rõ ràng trong thời gian qua có đại biểu Trương Trọng Nghĩa, hay sử gia Dương Trung Quốc, trước đây là Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết… Họ có những câu hỏi đi vào trọng tâm của vấn đề, chứ không phải những câu hỏi minh họa cho các bộ trưởng trả lời. Có những câu hỏi hết sức nhỏ, không đi vào đúng lĩnh vực Quốc hội mà chỉ ở cấp phường, xã hoặc quận, huyện…”.

Theo ông Đinh Kim Phúc, hạn chế đó là do cơ cấu đại biểu Quốc hội phải có đủ thành phần đại diện như công nhân, nông dân, trí thức… Trong khi Mặt trận Tổ quốc đã có đại diện của tất cả thành phần rồi, Quốc hội cần nâng cao chất lượng của đại biểu. Ông nhấn mạnh:

“Đại biểu Quốc hội hiện nay phải là những thành phần tinh túy nhất, đại diện cho tiếng nói của cử tri, bàn những vấn đề quốc gia đại sự… chứ không phải những vấn đề ở quận mình, ở tỉnh mình cũng đem lên diễn đàn quốc hội thì rất mất thời gian và cũng không giải quyết được”.

                                                                                                                                              TTXVN