Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

Một số quan điểm sai trái, thù địch về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Có thể điểm lại một số luận điệu xuyên tạc chủ yếu sau của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị: - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiếu chiến, muốn gây chiến tranh thôn tính miền Nam, từ đó, đổ lỗi 21 năm chiến tranh với hàng triệu người của hai miền thiệt mạng là lỗi của bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là “tay sai” của Liên Xô, Trung Quốc. Kháng chiến chống Mỹ là thực hiện mưu đồ của Liên Xô, Trung Quốc “muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một “con bài” trong cuộc “mặc cả” giữa các nước lớn là Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ. - Việt Nam chỉ là chiến trường thử nghiệm vũ khí của Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc. - Nếu Việt Nam Cộng hòa được xem là con rối, là bù nhìn, là ngụy, do Hoa Kỳ giật dây thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng chỉ là “con rối” trong tay Liên Xô, Trung Quốc... - Chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản; trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, người Mỹ không hề muốn cai trị người Việt Nam, người Mỹ can thiệp vào Việt Nam là vì “thế giới tự do”. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, những luận điệu trên đang tràn lan trên internet, được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị rêu rao lặp đi lặp lại, âm mưu lừa bịp, xuyên tạc để phục vụ mưu đồ đen tối của chúng. Thực tế lịch sử khẳng định, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975 không phải là “nội chiến”, mà là cuộc chiến tranh yêu nước, nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ dân tộc Việt Nam. Chiến tranh xâm lược Việt Nam 1954 - 1975 trước hết và căn bản khởi phát từ lợi ích bên trong của đế quốc Mỹ, từ chiến lược toàn cầu của Mỹ mà căn nguyên sâu xa là xuất phát từ bản chất chế độ chính trị cường quyền Với mưu đồ xâm lược, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (tháng 7-1954), đế quốc Mỹ đã thực hiện phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất nước Việt Nam. R.S. Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng Quốc phòng, một trong những kiến trúc sư hàng đầu của Mỹ về chiến tranh Việt Nam, đã nhắc đến quan điểm của Ai-xen-hao được thể hiện qua diễn văn của J.F. Ken-nơ-đi (công bố năm 1956), rằng “Việt Nam là hòn đá tảng của Thế giới tự do ở Đông Nam Á. Đó là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó, không thể phớt lờ những nhu cầu của nó”(1). Trong bối cảnh lịch sử mới, Việt Nam có vị trí quan trọng đối với Mỹ: Nơi thử thách vai trò, sức mạnh to lớn của một đế quốc hàng đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là sự tiếp tục và cao nhất chính sách thực dân mới của Mỹ, thực hiện “Học thuyết Truman” (năm 1947) nhằm bảo đảm “an ninh quốc gia” và “bao vây chủ nghĩa cộng sản”. Một nhà nghiên cứu trong bài viết “Chiến tranh Việt Nam là gì?”, đăng trên báo The New York Times, ngày 26-3-2018, đưa ra nhận xét: “Cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam không phải là một cuộc xung đột cục bộ, cô lập, không liên quan đến an ninh quốc gia của Mỹ, mà là một cuộc chiến không thể tách rời với ưu tiên cao nhất của quốc gia - cuộc chiến chống Cộng sản trên toàn cầu trong chiến tranh lạnh”(2); “các nhà hoạch định chính sách cảnh báo rằng nếu miền Nam Việt Nam rơi vào tay chủ nghĩa Cộng sản, các nước láng giềng chắc chắn sẽ lần lượt gục ngã, lần lượt như một hàng quân cờ domino”(3). Từ năm 1950, Mỹ chính thức can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự Đông Dương (MAAG) của Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Pháp, từ 52 tỷ phrăng lên tới 751 tỷ phrăng năm 1954, chiếm 73,9% chi phí chiến tranh(4). Tiếp đó, Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành tổ chức quân đội, chính quyền mới, tiến hành bầu cử riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam (đầu năm 1955), lập ra cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa”, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ. Chính giới Mỹ đã đặt “vấn đề Việt Nam” vào trong luận thuyết của “chiến tranh lạnh”. Dùng biện pháp chiến tranh để thôn tính miền Nam Việt Nam, Mỹ không chỉ nhằm áp đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân mới, mà còn nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Ngoài ra, Mỹ còn tính toán tới lợi ích kinh tế mà các tập đoàn tư bản công nghiệp, tài chính hùng mạnh của Mỹ thu được qua cuộc chiến này; đồng thời, tính toán tới sự răn đe đối với Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc. Mục tiêu chiến lược toàn cầu và lợi ích của giới tư bản Mỹ, vì vậy, là các nhân tố quyết định hành động chiến tranh và thúc đẩy chiều hướng leo thang chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Đế quốc Mỹ (và cả thực dân Pháp trước đó) tìm cách lôi kéo đồng minh, đẩy mạnh xây dựng quân đội và chính quyền tay sai, vừa mua chuộc, lôi kéo (rêu rao Mỹ chỉ là đồng minh), vừa uy hiếp và khi cần thì cũng không ngần ngại tổ chức đảo chính, thủ tiêu những chính trị gia không vâng lời, nhằm giữ quyền lãnh đạo của mình... Mặt khác, Mỹ coi trọng việc xây dựng cơ sở xã hội, dựa vào các thế lực thù địch, những phần tử phản động đội lốt tôn giáo, vừa tạo chỗ đứng, tạo thế hợp pháp ở bên trong để che giấu bộ mặt thực dân, vừa tích cực tổ chức huấn luyện đội quân viễn chinh, lập các căn cứ, khối liên minh quân sự ở bên ngoài... Khi tất cả các thủ đoạn không đạt được mục tiêu đề ra, hoặc kém hiệu quả, Mỹ đẩy tới hành động quân sự, dùng biện pháp chiến tranh là chủ yếu. Tháng 2-1962, Mỹ thành lập Bộ tư lệnh viện trợ Hoa Kỳ ở Việt Nam, đến tháng 7-1965, đổi thành Bộ tư lệnh lục quân Hoa Kỳ tại Việt Nam, trực tiếp chỉ huy đội quân viễn chinh Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân đồng minh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mỹ đã tiêu tốn vào cuộc chiến 676 tỷ USD(5); cử 6,6 triệu lượt quân tham chiến; huy động 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân(6); trên 72 nghìn quân(7) các nước đồng minh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam(8). Với những vũ khí mới nhất, với khối lượng lớn bom đạn, chất độc hóa học, chất độc da cam, quân đội Mỹ đã tiến hành càn quét, đốt phá, và giết hại nhiều dân thường. Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã tiến hành 19.905 phi vụ, phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học(9). Cùng với việc đưa quân vào miền Nam, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại vô cùng khốc liệt đối với miền Bắc Việt Nam. Đế quốc Mỹ áp đặt phương thức thống trị thực dân kiểu mới, giấu mặt, cai trị trá hình, nuôi dưỡng và dựng lên chính quyền bù nhìn từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu. Từ năm 1955 đến năm 1961, đế quốc Mỹ đã viện trợ cho chính quyền miền Nam Việt Nam 7 tỷ USD(10). Những năm 1955 - 1956, Mỹ chi 414 triệu USD xây dựng các lực lượng thường trực quân đội Việt Nam Cộng hòa gồm 170.000 người và lực lượng cảnh sát với 75.000 người. 80% ngân sách quân sự của chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ viện trợ(11). Trong giai đoạn 1962 - 1974, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa 21.336 triệu USD (bao gồm cả viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự)(12). Một thực tế rõ ràng là, tuy Mỹ coi lực lượng tay sai ở miền Nam Việt Nam là những người “quốc gia chủ nghĩa”, nhưng chưa bao giờ thực sự coi trọng những lực lượng này. Mỹ chỉ xem họ như những quân cờ trên bàn cờ chiến lược của mình. Một khi quân cờ nào không còn hữu dụng nữa thì Mỹ sẵn sàng thay thế, vứt bỏ họ. Một học giả Mỹ đánh giá: “Quan hệ đồng minh Mỹ - Diệm là một sản phẩm của tính toán địa chính trị của Mỹ thời chiến tranh lạnh”, và “việc Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương xuất phát từ các quan ngại về sự bành trướng Xô-viết”(13). Ngay những quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ của mình, và nhận ra cuộc chiến này là cuộc chiến của người Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam: “Ông Mỹ luôn luôn đứng ra làm sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”(14). Giới chóp bu của chế độ Sài Gòn chỉ được tự do trong giới hạn mà Mỹ cho phép. Cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” là chính quyền do người Mỹ dựng lên, nuôi dưỡng và điều khiển để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Ngay cả sau năm 1973, khi quân đội Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì mục tiêu phục vụ cho quyền lợi của người Mỹ của chính quyền và quân đội Sài Gòn ở miền Nam vẫn không hề thay đổi. Tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu - lực lượng tưởng chừng được Mỹ ủng hộ nhất quán nhất, cuối cùng cũng cay đắng thừa nhận trong phát biểu từ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 21-4-1975, rằng: Mỹ là một đồng minh “thất hứa, thiếu công bằng, thiếu chính nghĩa, vô nhân đạo đối với một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường quốc”(15). Một nghiên cứu nước ngoài chỉ rõ: “Nếu không có sự can thiệp của Mỹ, thật khó có thể tưởng tượng rằng miền Nam Việt Nam đã ra đời hoặc nếu có thì sẽ tồn tại được bao lâu”(16). Từ tất cả những điều đã trình bày trên đây, có thể thấy rõ rằng, đế quốc Mỹ đã chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, chống lại tất cả những ai ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và mong muốn độc lập, hòa bình, thống nhất của Việt Nam. Rõ ràng, đế quốc Mỹ đã chà đạp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, và vì thế, trở thành đối tượng đấu tranh trước hết trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam Cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 là cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đồng thời đấu tranh nhằm loại bỏ những thế lực đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc và nguyện vọng nhân dân. Trên bình diện quốc tế, đó là một bộ phận của cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nhằm khẳng định và bảo vệ quyền tự quyết của dân tộc mình. Trong bối cảnh của cuộc “chiến tranh lạnh”, cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đối đầu quyết liệt giữa phe tư bản chủ nghĩa và phe xã hội chủ nghĩa. Nhằm đạt mục tiêu hòa bình, thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân Việt Nam đã nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tháng 6-1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với chính quyền Sài Gòn, nhưng không được đáp ứng. Tháng 7-1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu các đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ tổ chức một cuộc hội nghị mới. Các yêu cầu đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục được phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì nêu lên(17), nhưng đều bị từ chối. Chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man các phong trào hòa bình, bắt bớ, truy bức, giết hại những người yêu nước ở khắp miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1959, 466.000 người cộng sản và người yêu nước bị bắt, 400.000 người bị tù đày và có 68.000 người bị giết hại(18). Một báo cáo của Việt Nam Cộng hòa năm 1960 đưa ra con số những người cộng sản bị bắt giữ từ năm 1954 là 48.200 người; một công bố năm 1961 ghi nhận tổng số người bị bắt giữ và thiệt mạng dưới bàn tay lực lượng an ninh chính quyền Sài Gòn lên tới trên 60.000 người(19). Đối diện với tình hình trong nước, quốc tế vô cùng khó khăn, phức tạp, những năm 1954 - 1959, Đảng Lao động Việt Nam vẫn kiên trì đấu tranh bằng phương pháp hòa bình để thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định hòa bình, thống nhất nước nhà là nguyện vọng tha thiết, phải tranh thủ mọi thời cơ để thống nhất một cách hòa bình. Đấu tranh vũ trang chỉ buộc phải thực hiện khi không còn con đường nào khác. Quyết tâm thực hiện thống nhất đất nước được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960): “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam là một. Nhân dân ta nhất định sẽ vượt tất cả mọi khó khăn và thực hiện kỳ được “thống nhất đất nước, Nam, Bắc một nhà””(20). Trong bối cảnh phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bất đồng, xuất hiện chủ nghĩa xét lại, tâm lý sợ Mỹ, ngại đối đầu với Mỹ, biểu hiện ở xu hướng hòa hoãn, chung sống hòa bình, thủ tiêu đấu tranh vũ trang..., Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân trên cả hai miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự nghiệp chính nghĩa bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là động lực cơ bản có sức cuốn hút mạnh mẽ và tập hợp lực lượng rộng lớn - toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo thành khối đoàn kết thống nhất trong cuộc đấu tranh chung. Ở miền Nam, năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập(21). Đây là cơ quan quyền lực tập trung cao nhất đại diện cho cách mạng miền Nam, là thể hiện ý chí của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện cho ý chí, nguyện vọng thống nhất của toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Chính phủ có nhiệm vụ đoàn kết nhân dân miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền tay sai, đưa miền Nam Việt Nam phát triển theo con đường độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, phồn vinh, tiến tới thống nhất đất nước. Chính phủ cách mạng lâm thời là một đối trọng với chính quyền Sài Gòn tại Hội nghị Pa-ri, làm thất bại âm mưu xưng danh “đại diện hợp pháp duy nhất” cho miền Nam của Mỹ và chính quyền tay sai. Dưới ngọn cờ chính nghĩa của Chính phủ cách mạng lâm thời, các phong trào vận động nhân dân, trí thức đã kết thành một sức mạnh rộng lớn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, vì một mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đến cuối năm 1972, Chính phủ cách mạng lâm thời được 30 nước trên thế giới chính thức công nhận(22), với tư cách là đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam. Dù phải chịu tác động bởi mâu thuẫn, bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khi đó, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; xử lý các mối quan hệ một cách đúng đắn, mềm dẻo; coi trọng, kiên trì vấn đề đoàn kết quốc tế. Quan điểm nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ cao nhất của các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, nhưng không lôi kéo các nước xã hội chủ nghĩa vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Từ khoảng giữa năm 1972, viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam đều bị cắt giảm mạnh. Việt Nam nhận thức được sự chuyển dịch trong quan hệ tam giác giữa ba cường quốc là Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc. Trong khi khai thác mặt tích cực của các nước ủng hộ công cuộc kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn đề cao cảnh giác, hạn chế tối đa mặt tiêu cực trong mối quan hệ đó. Vì thế, khi hai nước lớn giảm dần sự viện trợ, Việt Nam vẫn kiên quyết giữ vững mục tiêu của mình. Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ hơn sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vạch trần tội ác xâm lược của kẻ thù được che giấu dưới mọi hình thức, để thức tỉnh lương tri nhân loại tiến bộ. Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, hình thành từ cuối năm 1964, đã nhanh chóng mở rộng, phát triển mạnh mẽ từ khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam và tiến hành dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Đó là lực lượng chính trị hùng hậu, đã tác động sâu sắc đến chính sách và thái độ hiếu chiến của nhiều chính phủ trên thế giới đối với vấn đề chiến tranh Việt Nam. Chưa bao giờ trên thế giới xuất hiện một phong trào ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của một dân tộc lại có quy mô rộng lớn như phong trào quốc tế ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước. Việc Mỹ áp đặt chế độ thống trị thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, gây chiến tranh tàn phá đất nước Việt Nam, là cuộc chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và trực tiếp là từ hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhận được sự ủng hộ, giúp sức của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhưng đó thực sự là cuộc chiến đấu của chính bản thân nhân dân Việt Nam, không có sự tham gia trực tiếp của nước ngoài. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thắng lợi của tư duy chiến lược độc lập, tự chủ, sáng tạo, của sách lược ứng xử khôn khéo, kiên quyết và hiệu quả của Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lịch sử cuộc chiến tranh đã lùi xa, việc nhận thức đúng bản chất của nó cho phép mỗi người dân Việt Nam, dù trước đây đứng ở phía bên nào của cuộc chiến, cũng có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Những ai cho rằng trong cuộc trường chinh giải phóng, thống nhất, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam có yếu tố “nội chiến” thì thực chất, đó chỉ là sự cố tình đánh tráo khái niệm, ngoảnh mặt làm ngơ trước sự thật lịch sử, sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử, xuyên tạc một trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc./.
KHÔNG THỂ BẺ CONG SỰ THẬT Thời gian vừa qua trên trang Facebook có bài viết “Quốc hội Việt Nam: Cơ quan quyền lực cao nhất, hay là công cụ “luật hóa” của đảng? Mục đích của bài viết là tuyên truyền sai lệch thiết chế chính trị, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và vai trò của Quốc hội. Nội dung thể hiện trong bài viết thiếu khách quan, với mục đích chính trị phản động nên cần bác bỏ, làm rõ sự thật và khẳng định một số vấn đề đúng đắn sau: Về lý luận, đảng chính trị giữ vai trò cầm quyền, lãnh đạo xã hội bao giờ cũng có nguyên tắc, cơ cấu tổ chức, tôn chỉ mục đích, cương lĩnh chính trị, mang bản chất giai cấp sinh ra và đều được hiến định cụ thể trong hiến pháp ở mỗi nước. Đây là quy luật phổ biến, không thể thiếu trong quá trình chính trị và đời sống chính trị của hầu hết các nước. Điều 8, Hiến pháp của Hàn Quốc quy định: “Các chính đảng phải bảo đảm tính dân chủ trong mục tiêu, tổ chức và hoạt động và phải có cách thức tổ chức cần thiết đề người dân có thể tham gia vào quá trình hình thành nên ý chí chính trị”. Điều 5, Hiến pháp của Trung Quốc quy định “Tất cả các cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang, các đảng phái chính trị và đoàn thể xã hội; các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đều phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi của mọi tổ chức hoặc cá nhân đều không được vượt quá quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Điều 3, Hiến pháp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào quy định: “Các quyền của những ngưòi đa sắc tộc là người đứng đầu đất nước được thực hiện và đảm bảo thông qua các chức năng của hệ thống chính trị cùng với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào như là hạt nhân hàng đầu của mình”. Về thực tiễn ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, có Điều 4 quy định về Đảng Cộng sản Việt Nam là phù hợp với xu thế chung của các nước, thể hiện rõ vai trò và tính chất hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Ở mục 3 của Điều 4 khẳng định: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Hiến pháp của Việt Nam, có chương V, với 16 Điều cụ thể quy định về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu và quyền hạn của Quốc hội. Ở Điều 69, chỉ rõ: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò cầm quyền, lãnh đạo toàn diện các thành tố trong hệ thống chính trị, các lĩnh vực của xã hội là đúng quy luật nên đã đạt được thành tựu to lớn. Việt Nam từ nước bị đế quốc đô hộ đã giành được độc lập dân tộc và lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là vì hạnh phúc của nhân dân, với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta lãnh đạo đã đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vậy mà, các phần tử cơ hội chính trị, lực lượng phản động lại hằn học, bẻ cong sự thật, với lời lẽ vô lý, sai sự thật, cho rằng “Quốc hội Việt Nam là công cụ “luật hóa” của đảng”, cần xây dựng “Luật về đảng” là không thể chấp nhận được. Mục đích chính trị của bài viết “Quốc hội Việt Nam: Cơ quan quyền lực cao nhất, hay là công cụ “luật hóa” của đảng?” là nhằm kích động, bài xích thể chế chính trị nhất nguyên ở Việt Nam, phủ nhận thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hơn 35 năm đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; cổ xúy cho chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; từng bước làm đổi màu chế độ chính trị ở Việt Nam; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; hướng lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chúng ta tin tưởng rằng, mỗi người dân Việt Nam luôn cảnh giác, không bị mắc mưu của những luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch./.
KHÔNG ĐỂ "MẮC BỆNH MỚI CHỮA" Câu châm ngôn của người Việt Nam “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, được hiểu không chỉ thuần túy là giữ gìn và chăm sóc, chữa trị đối với sức khỏe; mà rộng ra là trong mọi việc, đều phải nhìn xa, nhìn tổng thể nhằm phát hiện những thiếu sót, sai lầm từ sớm nhằm chấn chỉnh, không để xảy ra hoặc hạn chế thấp nhất hậu quả. Đối với một đảng cầm quyền, điều đó có ý nghĩa sống còn. Văn kiện đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu, nhiệm vụ của công tác kiểm tra là phải chủ động, đi trước một bước: “Ủy ban Kiểm tra các cấp chủ động thực hiện và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu quả chương trình hành động, phương hướng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ và hằng năm. Phải coi trọng khâu nắm tình hình giám sát hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế của Nhà nước để chủ động ngăn ngừa, phát hiện, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm từ khi mới manh nha, chớm phát sinh vi phạm, không để vi phạm từ một người thành nhiều người, từ ít nghiêm trọng trở thành nghiêm trọng”. Mới đây nhất, ngày 27/4/2022, tại cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “công tác kiểm tra phải đi trước một bước”, “có dấu hiệu vi phạm là Ủy ban Kiểm tra có quyền vào kiểm tra”. Với phương châm đó, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, công tác kiểm tra, giám sát ngày càng chủ động, tích cực hơn; qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng. Một ví dụ điển hình là đại án MobiFone mua cổ phần của AVG, công tác kiểm tra, giám sát đã giúp Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, nay là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (viết tắt là Ban chỉ đạo – PV) có những quyết sách kịp thời. Căn cứ kết luận của Ban chỉ đạo, các cơ quan chức năng đã khẩn trương điều tra, truy tố, xét xử; thu hồi được hầu hết số tiền khoảng 7.000 tỷ đồng (tương đương 340 triệu USD) ngân sách nhà nước bị “phù phép”, suýt trở thành tài sản cá nhân. Trong vụ án này, một cựu bộ trưởng và một bộ trưởng đã phải lâm vòng lao lý; đáng chú ý, số tiền 3 triệu USD “nhận hối lộ” cũng được thu hồi vào ngân sách nhà nước… Từ thời điểm đó, không ít quan chức đương nhiệm khi trót “nhúng chàm” thì rất khó thoát tội; khi nghỉ hưu rồi cũng không thể “hạ cánh an toàn”. Điển hình là các ông Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn… Riêng ông Vũ Huy Hoàng, cựu Bộ trưởng Bộ Công Thương, bị Ban Bí thư xử lí nghiêm khắc bằng hình thức xóa tư cách Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Công Thương giai đoạn 2011-2016; đồng thời, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng nghiêm khắc ra Nghị quyết xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương. Cuối tháng 4/2021, tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Vũ Huy Hoàng đã bị tuyên phạt mức án 11 năm tù về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”. Ngày 6/7/2021, tại Hội nghị lần thứ 3 (khóa XIII), Ban chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thi hành kỷ luật ông Vũ Huy Hoàng bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng. Với một số trường hợp khác, tưởng là “việc nhỏ” nhưng sự vào cuộc kịp thời của cơ quan chức năng, của Ủy ban Kiểm tra các cấp, thậm chí là ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đã giúp vụ việc từng bước được sáng tỏ, lộ dần ra những sai phạm lớn; hoặc kịp thời ngăn chặn những sai phạm, hậu quả lớn có thể xảy ra. Điển hình như vụ “chiếc xe Lexus biển xanh” hoặc vụ “Quán cà phê Xin Chào”… Từ sự chỉ đạo sát sao, cụ thể của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đã tạo ra hiệu ứng tích cực trong việc an dân, phát hiện và xử lí những vụ việc nhức nhối có nguy cơ “chìm xuồng” vì muôn vàn lí do như “nhạy cảm”, cần giữ “ổn định”, tránh làm “vỡ bình”. Lần lượt những vụ việc sai phạm, thất thoát trong đầu tư công, những công trình ngàn tỉ đắp chiếu, những trường hợp sai phạm trong bổ nhiệm cán bộ… đã bị Ủy ban Kiểm tra các cấp vào cuộc làm rõ, xử lí triệt để. Trở lại vấn đề triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, một trong những nội dung quan trọng về công tác kiểm tra, giám sát được nghị quyết nhấn mạnh là: “Chú trọng kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của UBKT các cấp, tập trung vào các vấn đề quan trọng và bức thiết như: Quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài chính, ngân sách, thuế, hải quan, các chương trình an sinh xã hội, cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm. Xử lý nghiêm minh tổ chức đảng và đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, nghị quyết, chỉ thị quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những hành vi dung túng, bao che cho khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên…”. Với sự tích cực, chủ động, “đi trước một bước” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã làm rõ những cá nhân, tổ chức liên quan đến các vụ việc tày đình như: Vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; Đưa hối lộ; Nhận hối lộ; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, xảy ra tại Công ty Việt Á; Vụ án “Tham ô tài sản; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ và Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng; Vụ án “Tham ô tài sản; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam… Mới đây, từ những kết quả công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra… Ban Chỉ đạo cũng thống nhất đưa một số vụ việc nghiêm trọng vào diện theo dõi, chỉ đạo: Vụ án “Đưa hối lộ, Nhận hối lộ” xảy ra tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao và một số cơ quan liên quan; Vụ án “Thao túng thị trường chứng khoán” xảy ra tại Công ty cổ phần tập đoàn FLC; Vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh; Vụ việc sai phạm liên quan đến Dự án bất động sản tại số 33 Nguyễn Du, số 34-36-42 Chu Mạnh Trinh, TP Hồ Chí Minh; các vụ án buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới liên quan đến Nguyễn Thị Kim Hạnh và những cán bộ, đảng viên có hành vi tiêu cực liên quan đến vụ án đánh bạc và tổ chức đánh bạc xảy ra tại An Giang… Dĩ nhiên, chúng ta không vui vẻ gì khi có nhiều cán bộ lãnh đạo các cấp bị xử lí kỉ luật, song đúng như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị công tác kiểm tra giám sát của Đảng ngày 24/2/2017: “Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình; không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình; trái lại, rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người!”. Và để ít phải xử lí kỉ luật, công tác kiểm tra cần và phải đi trước một bước!
CHÚNG CÓ LƯƠNG TÂM ĐÂU MÀ GỌI LÀ “TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM” Vừa qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục sử dụng chiêu bài đòi Việt Nam thả “Tù nhân lương tâm” để chống phá cách mạng nước ta. Mới đây, đầu tháng 4-2022, cái gọi là tổ chức Người bảo vệ nhân quyền ra tuyên bố cáo buộc Việt Nam mở rộng chiến dịch đàn áp và nhằm vào các tổ chức xã hội dân sự thông qua việc bắt giữ một loạt người đứng đầu của các tổ chức này. Còn nhớ, năm 2021, chính tổ chức Người bảo vệ nhân quyền này đã xúi giục, kêu gọi thân nhân của một số “tù nhân lương tâm” ký vào bức thư với những nội dung bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo như: “Nhà tù không cung cấp chữa trị y tế khi người tù mắc bệnh nan y. Nhiều tù nhân lương tâm đã chết trong

 CÁC THẾ LỰC SẼ THẤT BẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Trong hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, một trong những mục tiêu mà các thế lực thù địch luôn hướng tới là tìm mọi các nói xấu để hạ thấp các cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, chúng đã triệt để lợi dụng truyền thông, nhất là mạng xã hội để phát tán các bài viết, video, clip xuyên tạc về cuộc đời và sự nghiệp của các lãnh tụ của Đảng, các cán bộ lãnh đạo nhằm tạo ra sự bất mãn trong Nhân dân, kích động “phản biện xã hội”, nhất là vào các dịp trước, trong và sau Đại hội Đảng và các cuộc bầu cử. Gần đây, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, các mâu thuẫn xã hội để kích động nhân dân đứng lên khiếu kiện tập thể, gây rối trật tư công cộng, bêu riếu một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; từ đó, tạo điều kiện để cho các phần tử cơ hội chính trị nước ngoài tham gia gây nên tình trạng mất ổn định chính trị nghiêm trọng tại một số địa phương.  

Có thể nhận thấy rằng, các thế lực thù địch đã dùng những chiêu bài, thủ đoạn rất tinh vi để xuyên tạc, phủ nhận Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích lớn nhất của những chiêu bài này là nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, kêu gọi thực hiện “đa nguyên chính trị”, từ đó, tiến tới xây dựng một chế độ chính trị mới ở Việt Nam do các thế lực thù địch, phản động giật dây, điều khiển. Đây là một âm mưu rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần được tỉnh táo nhận diện và có các giải pháp phù hợp để đấu tranh loại bỏ./.

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THỀ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ NÓI XẤU KHI CHÚNG TA HỌP QUỐC HỘI

 Những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận đường lối cách mạng của Đảng, phủ nhận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bên cạnh việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, trong mấy ngày qua khi Quốc hội đang họp thảo luận nhiều vấn đề về chủ trương phát triển đất nước trong đó có bỏ phiếu mãi nhiệm 1 số cán bộ vi phạm kỷ luật, phẩm chất đạo đức của cán bộ đảng viên làm trong sạch nội bộ Đảng, Nhà nước thì chúng lợi dụng, tuyên truyền chống phá nói xấu Đảng, nói xấu cán bộ đảng viên ta. Những luận điệu này được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều nhằm phá hủy lòng tin của Nhân dân với Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng và Nhà nước với Nhân dân. Chúng tập trung tuyên truyền những luận điệu nói xấu phẩm chất đạo đức cán bộ đảng viên ta này ngày càng nhiều nhằm kêu gọi nhân dân phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ đường lối lãnh đạo của Đảng. Trắng trợn hơn, chúng còn đưa ra luận điệu đòi “đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc để giữ gìn độc lập, chủ quyền của đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”. Đó là những chiều trò cũ rích những luận điệu sai lầm, dù chúng có nói gì đi nữa thì nhân dân ta cũng không tin mà chỉ tin rằng Đảng Công sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi  mới đất nước sẽ đi đến thắng lợi hoàn toàn./.

 

Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng luôn được đảm bảo ở Việt Nam

Những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

Tháng 5/2022 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó có những thông tin sai lệch về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam với các góc nhìn phiến diện, dẫn chứng thiếu khách quan. Với 52 trang, bên cạnh sự ghi nhận những mặt tích cực của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền trong năm qua, báo cáo cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, tra tấn, tước đoạt mạng sống của người dân một cách tùy tiện”; “can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân”; “hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet”... Trong đó, báo cáo nói đến tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, đồng thời đưa ra các chỉ trích chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử người dân theo đạo và không theo đạo.

Sự thật về tình hình sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề.

Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1 triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1 triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo 80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…).

Ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú.

Hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất định trong việc tập hợp và vận động quần chúng theo đạo - một lực lượng quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc - tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức ngày càng trang nghiêm, quy mô hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng. Các lễ hội như lễ Phật đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo Tin Lành, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo…  được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Lễ hội của mọi tôn giáo đều trở thành hội lễ chung vui của toàn dân tộc như Lễ hội Đền Hùng, lễ Noel, lễ hội La Vang.

Đặc biệt lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội mang tính thế tục được dư luận quan tâm đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2005; Đại hội hành hương La Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể” với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức năm 2005…

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, trong 16 năm (2001-2017), số tín đồ của các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 6% trong dân số. Đó là chưa kể các tôn giáo nhóm nhỏ (chủ yếu là các nhóm Tin lành tư gia) chưa được công nhận và các hiện tượng tôn giáo mới rất khó thống kê số lượng người theo. Số lượng tín đồ các tôn giáo đều tăng lên, trong đó tăng nhanh nhất là tín đồ đạo Tin lành, từ 670.000 người năm 2004 đã tăng lên tới trên 1,2 triệu tín đồ năm 2015, tức là tăng gấp gần 2 lần trong 10 năm. Sự phát triển có tính chất đột biến của đạo Tin lành diễn ra chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đây cũng là hai địa bàn có sự chuyển đổi đức tin tôn giáo diễn ra mạnh mẽ nhất trong thời kỳ đổi mới.

Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề dân tộc, tôn giáo không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm chí, báo cáo đưa ra những cái nhìn lệch lạc như “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”. Cho rằng Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng trên thực tế “không thực hiện”… Có thể thấy, đây không phải là lần đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố các báo cáo có nội dung sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều lần, trong các báo cáo đều có nội dung nói rằng, Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ “vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu”.

Với số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét thiếu khách quan về việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đối với các luận điệu cho rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm đoán các tổ chức tôn giáo hoạt động, đây là những vu cáo vô căn cứ.

Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin Lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các đạo lạ mang danh nghĩa Tin Lành truyền vào Việt Nam như Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ... Hoạt động của phần lớn các tổ chức này trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi, nhiều tổ chức vi phạm pháp luật. Đối với các hoạt động vi phạm pháp luật của các tổ chức này, lực lượng chức năng Việt Nam đã nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật.

Cần những đánh giá khách quan

Như vậy, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Một điều dễ nhận thấy, đánh giá sai lệch vì những lý do khác nhau vẫn ẩn sau ngọn cờ tôn giáo. Đối với Việt Nam, các thế lực cực đoan, chống đối luôn tìm mọi thủ đoạn để tách rời tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, cốt để dễ dàng lợi dụng các tôn giáo vào những mục đích chống phá. Thực tế cho thấy, việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây thường xuyên tổ chức các cuộc điều trần về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ nhằm mục đích tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Hơn nữa, cần phải thấy rằng, không thể có tự do tôn giáo tuyệt đối. Bởi xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Các tôn giáo cũng phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật và điều này hoàn toàn phù hợp với khoản 3, Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Do đó, việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới.

Chính vì vậy, những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

Nguồn: CAND


 

Nhận diện và phòng ngừa những tác động tiêu cực của phân hóa giàu - nghèo đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, đất nước ta đang phải đối mặt với sự biến đổi ngày càng phức tạp của tình trạng phân hóa giàu - nghèo cùng những hệ lụy tiêu cực của nó. Phân hóa giàu - nghèo đã và đang trở thành một trong những mối đe dọa lớn nhất, trực tiếp nhất đến sự ổn định, bền vững của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta. Việc nhận diện những tác động tiêu cực của tình trạng phân hóa giàu - nghèo đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc để từ đó đưa ra những biện pháp phòng ngừa, khắc phục đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay. 

 

1. Tác động tiêu cực của phân hóa giàu - nghèo đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc 

Một là, phân hóa giàu - nghèo làm nảy sinh những nhận thức sai lệch, gây suy giảm tình cảm và niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Cơ sở căn bản nhất quy định tính chất của các quan hệ xã hội là từ việc giải quyết vấn đề lợi ích. Ph.Ăngghen khẳng định: “Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích”(1). Theo đó, sự thống nhất, chia sẻ lợi ích là cơ sở của việc liên minh, liên kết các bộ phận khác nhau trong xã hội. Ngược lại, sự mâu thuẫn, đối lập về lợi ích là căn nguyên của mâu thuẫn, đối kháng xã hội. Vì vậy, V.I.Lênin chỉ rõ, cần phải “tìm nguồn gốc của những hiện tượng xã hội ở trong những quan hệ sản xuất, và phải quy những hiện tượng ấy vào lợi ích của những giai cấp nhất định”(2).

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được hình thành, hun đúc một cách tự nhiên do ý thức chung của cộng đồng về tính tất yếu phải liên minh, liên kết nhằm chinh phục tự nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm để sinh tồn và phát triển. Trên tiến trình dựng nước và giữ nước đầy gian nan của dân tộc ta, tinh thần đoàn kết đã trở thành thứ vũ khí lợi hại nhất, thành nguồn sức mạnh to lớn nhất, giúp cho dân tộc vượt qua những thử thách ngặt nghèo trước cả thiên tai và địch họa. Sự gắn kết sinh mệnh trong quá trình phát triển chính là sự thống nhất lợi ích căn bản nhất đưa đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử.

Kể từ khi có Đảng lãnh đạo, con đường phát triển của đất nước ta đã có một bước ngoặt lớn với mục tiêu là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống đoàn kết của dân tộc ta đã được tiếp nối, bồi đắp và không ngừng phát triển. Sự thống nhất lợi ích của dân tộc không chỉ là cùng nhau sinh tồn, cùng nhau vượt qua thử thách, mà còn được mở rộng thành cùng nhau vươn tới những giá trị của CNXH, đó là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người cùng ra sức lao động sản xuất để được ăn no, mặc ấm, và có nhà ở sạch sẽ”(3); xã hội XHCN là “không có người bóc lột người, mọi người sung sướng, vẻ vang, tự do, bình đẳng, xứng đáng là thế giới của loài người”(4).

Chính những giá trị cao đẹp của CNXH đã nâng sự thống nhất nhận thức về lợi ích của toàn dân tộc ta lên một tầm cao mới vững chắc hơn. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, với mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam XHCN, là một khối đại đoàn kết có sự phát triển vượt trội về chất so với chính nó trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ, những giá trị của CNXH vẫn chưa có đủ tiền đề để bộc lộ một cách đầy đủ. Cùng với đó, tính phức tạp và gay gắt của cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ làm cho những giá trị này luôn nằm giữa ranh giới chông chênh giữa còn và mất, giữa dân chủ và phản dân chủ, giữa công bằng và bất công, giữa văn minh, tiến bộ và lạc hậu, phản tiến bộ. Điều đó phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, của công cuộc xây dựng CNXH. Nhận thức của các tầng lớp nhân dân về sự thống nhất lợi ích với các giá trị của CNXH mà dân tộc đang theo đuổi vì thế cũng chưa ở trạng thái ổn định. Sự tin tưởng hay hoài nghi của nhân dân vẫn luôn chịu sự tác động, chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có sự phân hóa giàu - nghèo.

Ở nước ta hiện nay, tình trạng phân hóa giàu - nghèo đang diễn ra khá phức tạp, giữa các nhóm người trong xã hội và giữa các vùng miền, khoảng cách phân hóa lớn và có xu hướng tăng nhanh. Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Chênh lệch giàu - nghèo còn lớn; đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị thiên tai”(5); “khoảng cách phát triển giữa các địa phương, vùng, miền còn khá lớn”(6); “Chênh lệch giàu - nghèo có xu hướng gia tăng”(7). Trên thực tế, từ năm 2015 đến năm 2020, mức độ chênh lệch thu nhập bình quân đầu người một tháng giữa nhóm 20% dân cư có thu nhập cao nhất so với nhóm 20% dân cư có thu nhập thấp nhất theo giá hiện hành luôn ở ngưỡng xấp xỉ 10 lần. Cụ thể: năm 2015 là 9,7 lần; năm 2016 là 9,8 lần; năm 2017 là 9,8 lần; năm 2018 là 10 lần; năm 2019 là 10,2 lần; năm 2020 là 8,7 lần(8). Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (hệ số GINI) ở nước ta từ năm 2015 đến 2020 cũng luôn ở mức trên dưới 0,4 - mức chênh lệch được coi là “nguy hiểm”. Cụ thể: hệ số GINI ở nước ta năm 2015 là 0,424; năm 2016 là 0,430; năm 2017 là 0,431; năm 2018 là 0,425; năm 2019 là 0,423; năm 2020 là 0,375(9).

Phân hóa giàu - nghèo là yếu tố làm trầm trọng hơn những bất bình đẳng xã hội. Sự chênh lệch về tài sản, thu nhập giữa các bộ phận dân cư kéo theo sự phân hóa về vị thế, ảnh hưởng xã hội, về tiếp cận với các cơ hội phát triển, thụ hưởng các điều kiện vật chất và tinh thần. Điều đó đi ngược lại với những giá trị của CNXH; khiến cho một bộ phận người dân, đặc biệt là người nghèo nảy sinh nhận thức sai lầm về mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hoài nghi các giá trị cao đẹp của chế độ CNXH, hoài nghi vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hai là, phân hóa giàu - nghèo làm cho chủ nghĩa cá nhân và lối sống cơ hội, thực dụng ngày càng phát triển, phá vỡ sự gắn kết giữa các tầng lớp nhân dân

Tình trạng chênh lệch, bất bình đẳng về tài sản, thu nhập sẽ dẫn đến sự phân hóa xã hội. Một bộ phận người giàu, do sự dư thừa về điều kiện vật chất, có thể rơi vào lối sống xa hoa, hưởng thụ, thậm chí trụy lạc, thờ ơ, lãnh cảm với xã hội, coi thường, kỳ thị người nghèo, người yếu thế. Trong khi đó, bộ phận người nghèo trong xã hội, do sự thua thiệt về nhiều mặt, dễ nảy sinh tâm lý ấm ức, bất mãn, thiếu thiện cảm, thậm chí căm ghét người giàu. Họ có thể cho rằng sự thua thiệt, bất công mà mình phải chịu là do người giàu trong xã hội gây ra. Những diễn biến tâm lý trái ngược ấy trong các bộ phận xã hội làm cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Phân hóa giàu - nghèo, nhìn từ khía cạnh tích cực, sẽ tạo ra động lực thúc đẩy mỗi người dân nỗ lực phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu. Tuy nhiên, ở khía cạnh ngược lại, nó là “mảnh đất vàng” cho sự nảy sinh của chủ nghĩa cá nhân và lối sống thực dụng. Phân hóa giàu - nghèo dễ đẩy con người vào trạng thái tâm lý muốn làm giàu bằng mọi giá. Dưới tác động của các quy luật kinh tế trong cơ chế thị trường, thang giá trị của con người được đo đếm bằng sự “giàu có vật chất”, lối sống của họ bị dồn vào một khuôn mẫu hàng hoá - tiền tệ. Vật chất chi phối đến các mối quan hệ gia đình, cộng đồng, xã hội; lấy lợi ích cá nhân làm nguyên tắc sống, không cần quan tâm đến lợi ích tập thể, cộng đồng. Xã hội có sự phân hóa giàu - nghèo thường làm mất đi lòng nhân ái; làm cho con người mất đi sự cảm thông, chia sẻ và đồng cảm với những khó khăn, hoạn nạn của đồng loại; đồng thời, không quan tâm đến vận mệnh đất nước, đến sự phát triển và tiến bộ xã hội; không đấu tranh bảo vệ lợi ích chung, phá hoại tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(10). Điều đó khiến cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc mất đi những nền tảng cơ bản để duy trì và phát triển.

Tâm lý muốn làm giàu bằng mọi giá là cơ sở để nảy sinh các hoạt động kinh tế bất hợp pháp. Một bộ phận xã hội, do muốn giàu nhanh mà không phải lao động đã tìm đến các hoạt động kinh tế phi pháp như buôn lậu, gian lận thương mại, lừa đảo… Một bộ phận cán bộ, quan chức tìm cách trục lợi từ ngân sách nhà nước, tham nhũng… Điều đó làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, bất mãn trong xã hội. 

Ba là, phân hóa giàu - nghèo đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Ở nước ta, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy lý tưởng, mục tiêu cách mạng của Đảng làm mục tiêu chung cho khối đại đoàn kết. Đảng duy trì, xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ thông qua việc tuyên truyền, vận động, giáo dục chính trị tư tưởng đến các tầng lớp nhân dân mà còn thông qua việc hình thành và phát triển các tổ chức, thiết chế gắn kết các tầng lớp xã hội, gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trong bối cảnh phân hóa giàu - nghèo gia tăng, hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức này trong tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ không tránh khỏi khó khăn, thách thức.

Đối với Đảng, Nhà nước, phân hóa giàu - nghèo đặt ra hàng loạt vấn đề mới, phức tạp như: vấn đề lòng tin của nhân dân đối với năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước trong điều tiết nền kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội; khả năng hiện thực hóa các mục tiêu công bằng, bình đẳng, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước; nguy cơ bất bình đẳng giữa các tầng lớp… Các vấn đề đó không hoàn toàn chỉ do tình trạng phân hóa giàu -nghèo gây ra, nhưng nó là một trong những tác nhân chủ đạo.

Đối với các tổ chức chính trị - xã hội, phân hóa giàu -nghèo gây chia rẽ về nhận thức, tư tưởngvà tâm lý,khiến cho các tổ chức chính trị - xã hội gặp khó khăn trong tập hợp thành viên và thể hiện vai trò đại diện của mình. Các thành viên trong tổ chức có sự khác biệt, chênh lệch về thu nhập, mức sống và vị thế, sẽ rất khó tìm được tiếng nói chung, thậm chí còn nảy sinh mâu thuẫn, xung đột, gây cản trở đến hiệu quả hoạt động chung của tổ chức. Đây là một vấn đề rất lớn, bởi nếu các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động không hiệu quả, thì nền tảng xã hội của khối đại đoàn kết toàn dân tộc không còn được bảo đảm.

Bốn là, phân hóa giàu - nghèo tạo ra “mảnh đất” để các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động vẫn không ngừng tìm mọi thủ đoạn để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, chia rẽ các giai tầng xã hội; từ đó làm cho địa vị, vai trò lãnh đạo của Đảng bị lung lay. Lợi dụng những biểu hiện lệch lạc về nhận thức, những rạn nứt về tình cảm, niềm tin trong một bộ phận nhân dân, chúng đã tung ra rất nhiều luận điệu phản động, sai trái nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự tác động đó diễn ra một cách vừa chậm rãi, vừa tức thời, song nó là một quá trình liên tục, phức tạp, tác động đến cả nhận thức, tâm lý, hành vi xã hội và đến hoạt động của các tổ chức, lực lượng. Chính vì thế, những tác động này trở nên rất nguy hại, cần phải sớm được khắc phục bằng cả những biện pháp trước mắt và lâu dài.

2. Một số giải pháp phòng ngừa, khắc phục tác động tiêu cực của phân hóa giàu - nghèo đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Một là, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về đại đoàn kết toàn dân tộc

Đây là yếu tố then chốt, quyết định thành bại của nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay. Nếu mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân đều nhận thức đúng, đủ, sâu sắc, thống nhất thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc chắc chắn sẽ luôn được giữ vững và củng cố; mọi thách thức, trở ngại đều có thể được hóa giải. Ngược lại, nếu nhận thức không đúng, không thống nhất thì các yếu tố tiêu cực có kẽ hở để len lỏi, xâm nhập, làm chia rẽ, suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về đại đoàn kết toàn dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. 

Trong đó, trước hết cần phải tập trung vào đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây chính là lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong việc đưa quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân. Để có thể thực hiện thành công chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc mà Đảng ta đã xác định, mỗi cán bộ, đảng viên phải có nhận thức sâu sắc về nội dung quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc; về vai trò, trách nhiệm của bản thân trong hiện thực hóa các chủ trương mà Đảng đã xác định thông qua việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; phải luôn nêu cao tính tiền phong, gương mẫu trong tu dưỡng phẩm chất đạo đức, luôn gần dân, quan tâm đến nhân dân, biết lắng nghe tiếng nói của nhân dân, xứng đáng là những “hạt nhân đoàn kết” nhân dân. 

Trong bối cảnh mới, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhạy bén, sáng suốt trong nắm bắt, nhận định tình hình, kịp thời phát hiện các yếu tố tác động tiêu cực đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đề xuất giải pháp phòng ngừa, khắc phục.

Đối với các tầng lớp nhân dân, cần thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc ta, khơi dậy trong mỗi người niềm tin, lòng tự hào, tình cảm yêu quý đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Công tác tuyên truyền, giáo dục phải làm cho nhân dân thấm nhuần đường lối, quan điểm của Đảng, thực sự tin vào sức mạnh quy tụ của Đảng, sẵn sàng siết chặt khối đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng. Công tác tuyên truyền, giáo dục phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với từng đối tượng; cần hết sức tránh lối tuyên truyền chung chung, giáo điều, sáo rỗng.

Hai là, đẩy mạnh thực hiện hiệu quả các biện pháp xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu chính đáng, ngăn chặn các hoạt động kinh tế phi pháp và tình trạng tham nhũng, lãng phí

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bao trùm, nhất là khu vực đồng bào dân tộc thiểu số… Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, phát triển mạnh tầng lớp trung lưu gắn với nâng cao trách nhiệm xã hội”(11). Việc giải quyết tình trạng phân hóa giàu - nghèo cùng những hệ lụy của nó phải dựa trên việc tạo ra động lực mạnh mẽ để mọi tầng lớp nhân dân tích cực phát triển kinh tế; tránh tư tưởng “cào bằng”, dẫn đến triệt tiêu động lực làm giàu của nhân dân. Khi các chính sách xóa đói, giảm nghèo được thực hiện hiệu quả, tỷ lệ người khá giả trong xã hội gia tăng thì sức mạnh tổng thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng được củng cố; lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước cũng được tăng cường.

Bên cạnh đó, việc ngăn chặn các hiện tượng làm giàu bất hợp pháp và tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí giữ vai trò rất quan trọng. Bởi đây là một nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng xã hội, tạo nên tâm lý bất mãn, tiêu cực trong các tầng lớp nhân dân. Hiện tượng làm giàu bất hợp pháp nếu không được ngăn chặn hiệu quả sẽ trực tiếp xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đa số nhân dân, làm nảy sinh các vấn đề, tệ nạn xã hội khác. Tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ trực tiếp làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Ngăn chặn hiệu quả các hiện tượng này sẽ là cơ sở để Đảng, Nhà nước giữ vững được lòng tin của nhân dân, quy tụ được sức mạnh đoàn kết của nhân dân.

Ba là, tiếp tục cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan điểm gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội

Đảng ta xác định, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội là một trong các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên CNXH, “phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta”(12). Hiện thực hóa quan điểm này của Đảng sẽ vừa hạn chế những vấn đề tiêu cực trên khía cạnh kinh tế, trong đó có hiện tượng phân hóa giàu - nghèo; vừa hạn chế những vấn đề tiêu cực trên khía cạnh chính trị - xã hội, trong đó có những ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để làm được điều đó, Nhà nước phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý, xây dựng hiệu quả hệ thống các chính sách trong các lĩnh vực kinh tế và văn hóa, xã hội. Tăng trưởng kinh tế nhưng không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội, lấy hiệu quả tăng trưởng để cải thiện lĩnh vực văn hóa, xã hội. Bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải đưa ra các chính sách khuyến khích dân cư làm giàu, đồng thời thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng góp, chính sách phân phối lại thu nhập, chính sách trợ cấp xã hội; ưu tiên đầu tư phát triển vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn. Đảng ta xác định: “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nhất là cho những người yếu thế, người nghèo. Đổi mới cách tiếp cận, tăng cường phối hợp, lồng ghép, ưu tiên nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực trợ giúp xã hội”(13).

Bốn là, chăm lo giải quyết các quan hệ lợi ích, phát huy dân chủ XHCN. Thời kỳ quá độ lên CNXH tồn tại nhiều hình thức sở hữu, cùng với một hệ thống các quan hệ lợi ích phức tạp. Muốn có đồng thuận xã hội và đoàn kết toàn dân tộc thì việc giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích, phát huy dân chủ XHCN là vấn đề cơ bản. Đảng ta chủ trương: “Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội. Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”(14). Trong đó, giải quyết hài hòa lợi ích phải được thực hiện thông qua việc đa dạng các hình thức phân phối dựa trên nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”, đồng thời thực hiện tốt chính sách xã hội; bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân; gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ; gắn lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội. Phát huy dân chủ phải dựa trên việc tạo ra cơ chế ổn định, vững chắc và hiệu quả để nhân dân thực hiện quyền làm chủ thực tế của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; nhân dân biết mình cần thể hiện ý chí, nguyện vọng ở đâu, như thế nào, được giải quyết ra sao. Cùng với đó, phải quan tâm giải quyết kịp thời các vấn đề phức tạp nảy sinh, không để kéo dài, lan rộng gây ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Năm là, tăng cường công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Hiện nay, hoạt động nghiên cứu, đấu tranh tư tưởng, lý luận của nước ta đã và đang được tiến hành nghiêm túc, bài bản, song vẫn cần phải được quan tâm hơn nữa để nâng cao chất lượng đội ngũ, củng cố tổ chức. Cần nắm bắt tình hình thực tiễn, kịp thời phát hiện các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, phá hoại của kẻ thù, đồng thời dự báo chính xác diễn biến tình hình để chủ động đấu tranh có hiệu quả. Nội dung đấu tranh tập trung vào vạch trần bản chất phản động, sai trái của các quan điểm chống phá, làm rõ tính đúng đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. 

Trong bối cảnh phân hóa giàu - nghèo vẫn còn có xu hướng tiếp tục gia tăng, cần chủ động tuyên truyền để nhân dân hiểu đó là quy luật của kinh tế thị trường, hiểu rõ quan điểm, chủ trương của Đảng; biến nó thành động lực phát triển kinh tế; kịp thời dập tắt, không cho thế lực thù địch lợi dụng các mâu thuẫn về kinh tế trong nhân dân để biến thành mâu thuẫn chính trị - xã hội, gây chia rẽ các tầng lớp nhân dân và chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước.

_Nguồn:LLCT_

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.18, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.376.

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.670.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.17.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.12, tr.70.

(5), (11), (12), (13), (14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.211-212, 265, 39, 270, 50.

(6), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.86, 86.

(8), (9) Tổng hợp từ Niên giám thống kê quốc gia năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019, 2020.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.15, tr.547.

 

Đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục, rèn luyện cán bộ

 


- Đối với hình thức giáo dục, rèn luyện trong các nhà trường: kết hợp chặt chẽ mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng với mục tiêu giáo dục, rèn luyện cán bộ. Theo đó, mục tiêu của mỗi chuyên đề, bài giảng không chỉ nhằm cung cấp thông tin một chiều về những kiến thức cần trang bị cho người học theo chương trình đào tạo, bồi dưỡng, mà còn phải cung cấp, góp phần gia tăng tình cảnh cách mạng, niềm tin, lý tưởng, củng cố lập trường tư tưởng chính trị, nâng cao ý thức đạo đức cách mạng, tinh thần trách nhiệm vì Đảng, vì nước, vì dân của cán bộ, đảng viên. Cùng với giáo dục, đào tạo về kiến thức, rèn luyện đạo đức, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần coi trọng việc rèn luyện bản lĩnh, ý chí quyết tâm, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần khắc phục khó khăn, khả năng xử lý, giải quyết những tình huống phức tạp và rèn luyện thể chất, sức khỏe cho cán bộ.

- Đối với hình thức giáo dục, rèn luyện tại cơ quan, đơn vị:Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao tính giáo dục, tính lãnh đạo, tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt cơ quan, đơn vị; thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình. Qua sinh hoạt tự phê bình và phê bình hướng vào những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng ở địa phương, đơn vị hiện nay, nhất là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, chỉ ra được ưu điểm của cán bộ, đảng viên để phát huy và nhân rộng. Đồng thời, phải vạch rõ những yếu kém, khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên để kịp thời ngăn chặn, tiến tới khắc phục triệt để sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt việc quản lý, phân công công tác, giáo dục, rèn luyện cán bộ ngay tại cơ quan, đơn vị. Đề cao ý thức tổ chức, chấp hành nghiêm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy định của ngành, cơ quan, đơn vị.

-Coi trọng việc thực hiện tự giáo dục, tự rèn luyện của bản thân cán bộ. Đây là biện pháp không thể thay thế đối với cả chủ thể và đối tượng giáo dục. Vì vậy, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện của tổ chức với việc thường xuyên tự giáo dục, tự rèn luyện của chính đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Trên cơ sở những kiến thức được trang bị trong quá trình học tập, đào tạo, bồi dưỡng tại các nhà trường, thông qua thực tiễn hoạt động mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao ý thức tự giác giáo dục, tự rèn luyện phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác. Tính tự giác, ý thức tự giáo dục, tự rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên là phẩm chất cao đẹp, cơ sở đánh giá tư cách và sự trưởng thành về chính trị của cán bộ, đảng viên. Những tấm gương sáng về tự giáo dục, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư của cán bộ, đảng viên cần được đề cao, tôn vinh xứng đáng. Những trường hợp vi phạm tư cách, kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước cần kiên quyết xử lý nghiêm minh.

TRƯỜNG TỒN

 

 

Đổi mới nội dung giáo dục, rèn luyện cán bộ

 


- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng để cán bộ, đảng viên luôn nắm vững, kiên định mục tiêu, lý tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, hết lòng, hết sức phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trước tình hình khó khăn, phức tạp và các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; thường xuyên nâng cao cảnh giác, phòng chống hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của địch; không phai nhạt lý tưởng, ngả theo các trào lưu tư tưởng sai trái hoặc hoài nghi, bàng quan với quan điểm, đường lối của Đảng; mỗi cán bộ phải thực sự là tấm gương sáng và chỗ dựa tinh thần cho quần chúng. Cùng với đó, các cấp ủy đảng, cơ quan, đơn vị thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược. Tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, kỹ năng lãnh đạo, quản lý theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng.

- Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đây là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, cơ quan, đơn vị và của mỗi cán bộ, đảng viên. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã là tấm gương điển hình, toàn bích, ngời sáng về tinh thần tự giáo dục, tự rèn luyện mà bất cứ cán bộ, đảng viên nào cũng có thể học được. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người không chỉ giúp cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức, tư tưởng, lý luận, hoàn thiện nhân cách, mà còn nâng cao dũng khí đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm. Lấy kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh làm tiêu chí đánh giá kết quả giáo dục, rèn luyện của cán bộ và là cơ sở để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ.

- Tăng cường giáo dục, rèn luyện ý thức chấp hành kỷ luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực tế cho thấy, cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị, kể cả cán bộ quản lý kinh tế, lãnh đạo doanh nghiệp ở nước ta được đào tạo, trưởng thành từ nhiều nguồn và lĩnh vực khác nhau, không phải ai cũng nắm vững kỷ luật đảng, các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và các quy định của pháp luật ngay cả trong lĩnh vực bản thân được giao phụ trách. Từ đó dẫn đến không ít cán bộ vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước phải trả giá trước pháp luật. Bởi vậy, các chủ thể quản lý cán bộ, đảng viên cần đặc biệt quan tâm và tăng cường những nội dung giáo dục quan trọng này. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ý thức chấp hành chủ trương, đường lối, nguyên tắc và kỷ luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải luôn được đặt lên hàng đầu trong tư tưởng và hành động.

TRƯỜNG TỒN