Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022
CÁC THẾ LỰC SẼ THẤT BẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Trong hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, một trong những mục tiêu mà các thế lực thù địch luôn hướng tới là tìm mọi các nói xấu để hạ thấp các cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, chúng đã triệt để lợi dụng truyền thông, nhất là mạng xã hội để phát tán các bài viết, video, clip xuyên tạc về cuộc đời và sự nghiệp của các lãnh tụ của Đảng, các cán bộ lãnh đạo nhằm tạo ra sự bất mãn trong Nhân dân, kích động “phản biện xã hội”, nhất là vào các dịp trước, trong và sau Đại hội Đảng và các cuộc bầu cử. Gần đây, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, các mâu thuẫn xã hội để kích động nhân dân đứng lên khiếu kiện tập thể, gây rối trật tư công cộng, bêu riếu một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; từ đó, tạo điều kiện để cho các phần tử cơ hội chính trị nước ngoài tham gia gây nên tình trạng mất ổn định chính trị nghiêm trọng tại một số địa phương.
Có thể nhận thấy rằng, các thế lực thù địch đã dùng những chiêu bài, thủ đoạn rất tinh vi để xuyên tạc, phủ nhận Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích lớn nhất của những chiêu bài này là nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, kêu gọi thực hiện “đa nguyên chính trị”, từ đó, tiến tới xây dựng một chế độ chính trị mới ở Việt Nam do các thế lực thù địch, phản động giật dây, điều khiển. Đây là một âm mưu rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần được tỉnh táo nhận diện và có các giải pháp phù hợp để đấu tranh loại bỏ./.
CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THỀ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ NÓI XẤU KHI CHÚNG TA HỌP QUỐC HỘI
Những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận đường lối cách mạng của Đảng, phủ nhận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bên cạnh việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, trong mấy ngày qua khi Quốc hội đang họp thảo luận nhiều vấn đề về chủ trương phát triển đất nước trong đó có bỏ phiếu mãi nhiệm 1 số cán bộ vi phạm kỷ luật, phẩm chất đạo đức của cán bộ đảng viên làm trong sạch nội bộ Đảng, Nhà nước thì chúng lợi dụng, tuyên truyền chống phá nói xấu Đảng, nói xấu cán bộ đảng viên ta. Những luận điệu này được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều nhằm phá hủy lòng tin của Nhân dân với Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng và Nhà nước với Nhân dân. Chúng tập trung tuyên truyền những luận điệu nói xấu phẩm chất đạo đức cán bộ đảng viên ta này ngày càng nhiều nhằm kêu gọi nhân dân phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ đường lối lãnh đạo của Đảng. Trắng trợn hơn, chúng còn đưa ra luận điệu đòi “đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc để giữ gìn độc lập, chủ quyền của đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”. Đó là những chiều trò cũ rích những luận điệu sai lầm, dù chúng có nói gì đi nữa thì nhân dân ta cũng không tin mà chỉ tin rằng Đảng Công sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước sẽ đi đến thắng lợi hoàn toàn./.
Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng luôn
được đảm bảo ở Việt Nam
Những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam
không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền
tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được
hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.
Tháng 5/2022 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình
hình nhân quyền thế giới”, trong đó có những thông tin sai lệch về vấn đề dân
chủ, nhân quyền ở Việt Nam với các góc nhìn phiến diện, dẫn chứng thiếu khách
quan. Với 52 trang, bên cạnh sự ghi nhận những mặt tích cực của Việt Nam về vấn
đề dân chủ, nhân quyền trong năm qua, báo cáo cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ,
tra tấn, tước đoạt mạng sống của người dân một cách tùy tiện”; “can thiệp vào
đời sống riêng tư của người dân”; “hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo
chí, tự do Internet”... Trong đó, báo cáo nói đến tình hình tự do tôn giáo, tín
ngưỡng của người dân, đồng thời đưa ra các chỉ trích chính quyền Việt Nam phân
biệt đối xử người dân theo đạo và không theo đạo.
Sự thật về tình hình sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê
chưa đầy đủ cho thấy, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và
tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông
bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở
tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo,
một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có
gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ
hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành
nghề.
Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu
tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận
hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc,
trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các
tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1 triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1
triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo 80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại
là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu
Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…).
Ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các
trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh
Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng
và phong phú.
Hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất
định trong việc tập hợp và vận động quần chúng theo đạo - một lực lượng quan
trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc - tham gia vào công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức
ngày càng trang nghiêm, quy mô hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ
tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được
đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin
tưởng. Các lễ hội như lễ Phật đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo
Tin Lành, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn
chay Ramadan của Hồi giáo… được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm
bảo an ninh trật tự. Lễ hội của mọi tôn giáo đều trở thành hội lễ chung vui của
toàn dân tộc như Lễ hội Đền Hùng, lễ Noel, lễ hội La Vang.
Đặc biệt lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO
công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội
mang tính thế tục được dư luận quan tâm đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho
những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ
chức năm 2005; Đại hội hành hương La Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể”
với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày
thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức
năm 2005…
Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, trong 16 năm (2001-2017), số tín đồ
của các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 6% trong dân số. Đó là chưa
kể các tôn giáo nhóm nhỏ (chủ yếu là các nhóm Tin lành tư gia) chưa được công
nhận và các hiện tượng tôn giáo mới rất khó thống kê số lượng người theo. Số
lượng tín đồ các tôn giáo đều tăng lên, trong đó tăng nhanh nhất là tín đồ đạo
Tin lành, từ 670.000 người năm 2004 đã tăng lên tới trên 1,2 triệu tín đồ năm
2015, tức là tăng gấp gần 2 lần trong 10 năm. Sự phát triển có tính chất đột
biến của đạo Tin lành diễn ra chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây
Nguyên. Đây cũng là hai địa bàn có sự chuyển đổi đức tin tôn giáo diễn ra mạnh
mẽ nhất trong thời kỳ đổi mới.
Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền
thế giới”, trong đó cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề
dân tộc, tôn giáo không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm chí, báo cáo đưa ra những cái nhìn lệch
lạc như “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra
cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”. Cho rằng Việt Nam đề ra chính
sách pháp luật nhưng trên thực tế “không thực hiện”… Có thể thấy, đây không
phải là lần đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố các báo cáo có nội dung sai lệch
về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều lần, trong các báo cáo đều có nội dung nói
rằng, Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ
“vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín
đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu”.
Với số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số
lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời
gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng
được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là
những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền
tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét
thiếu khách quan về việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta.
Đối với các luận điệu cho rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm
đoán các tổ chức tôn giáo hoạt động, đây là những vu cáo vô căn cứ.
Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động
tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin Lành nước ngoài chưa được cấp
phép, điển hình là các đạo lạ mang danh nghĩa Tin Lành truyền vào Việt Nam như
Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ... Hoạt động của phần lớn các tổ
chức này trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan,
có dấu hiệu trục lợi, nhiều tổ chức vi phạm pháp luật. Đối với các hoạt động vi
phạm pháp luật của các tổ chức này, lực lượng chức năng Việt Nam đã nhắc nhở,
chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật.
Cần những đánh giá khách quan
Như vậy, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn
giáo. Một điều dễ nhận thấy, đánh giá sai lệch vì những lý do khác nhau vẫn ẩn
sau ngọn cờ tôn giáo. Đối với Việt Nam, các thế lực cực đoan, chống đối luôn
tìm mọi thủ đoạn để tách rời tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, cốt để
dễ dàng lợi dụng các tôn giáo vào những mục đích chống phá. Thực tế cho thấy, việc
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây thường xuyên tổ chức các
cuộc điều trần về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh
sách các quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ nhằm mục đích tạo cớ can
thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.
Hơn nữa, cần phải thấy rằng, không thể có tự do tôn giáo tuyệt
đối. Bởi xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo
một đối tượng tôn thờ. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải
chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Các
tôn giáo cũng phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của
pháp luật và điều này hoàn toàn phù hợp với khoản 3, Điều 18 của Công ước quốc
tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín
ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi giới hạn đó là cần thiết để
bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ
các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Do đó, việc ban hành các văn bản
pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất
yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới.
Chính vì vậy, những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo
của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn
tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho
các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.
Nguồn: CAND
Nhận
diện và phòng ngừa những tác động tiêu cực của phân hóa giàu - nghèo đến xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy, bên cạnh những thành tựu to lớn đã
đạt được, đất nước ta đang phải đối mặt với sự biến đổi ngày càng phức tạp của
tình trạng phân hóa giàu - nghèo cùng những hệ lụy tiêu cực của nó. Phân hóa
giàu - nghèo đã và đang trở thành một trong những mối đe dọa lớn nhất, trực
tiếp nhất đến sự ổn định, bền vững của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước
ta. Việc nhận diện những tác động tiêu cực của tình trạng phân hóa giàu - nghèo
đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc để từ đó đưa ra những biện pháp
phòng ngừa, khắc phục đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay.
1. Tác động tiêu cực của phân hóa
giàu - nghèo đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Một là, phân hóa
giàu - nghèo làm nảy sinh những nhận thức sai lệch, gây suy giảm tình
cảm và niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với khối đại đoàn kết toàn dân
tộc
Cơ sở căn bản nhất quy định tính chất của các quan hệ xã hội là từ việc
giải quyết vấn đề lợi ích. Ph.Ăngghen khẳng định: “Những quan hệ kinh tế của
một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích”(1).
Theo đó, sự thống nhất, chia sẻ lợi ích là cơ sở của việc liên minh, liên kết
các bộ phận khác nhau trong xã hội. Ngược lại, sự mâu thuẫn, đối lập về lợi ích
là căn nguyên của mâu thuẫn, đối kháng xã hội. Vì vậy, V.I.Lênin chỉ rõ, cần
phải “tìm nguồn gốc của những hiện tượng xã hội ở trong những quan hệ sản xuất,
và phải quy những hiện tượng ấy vào lợi ích của những giai cấp
nhất định”(2).
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được hình
thành, hun đúc một cách tự nhiên do ý thức chung của cộng đồng về tính tất yếu
phải liên minh, liên kết nhằm chinh phục tự nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm
để sinh tồn và phát triển. Trên tiến trình dựng nước và giữ nước đầy gian nan
của dân tộc ta, tinh thần đoàn kết đã trở thành thứ vũ khí lợi hại nhất, thành
nguồn sức mạnh to lớn nhất, giúp cho dân tộc vượt qua những thử thách ngặt
nghèo trước cả thiên tai và địch họa. Sự gắn kết sinh mệnh trong quá trình
phát triển chính là sự thống nhất lợi ích căn bản nhất đưa đến khối đại đoàn
kết toàn dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử.
Kể từ khi có Đảng lãnh đạo, con đường phát triển của đất nước ta đã có một
bước ngoặt lớn với mục tiêu là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Dưới sự lãnh
đạo của Đảng, truyền thống đoàn kết của dân tộc ta đã được tiếp nối, bồi đắp và
không ngừng phát triển. Sự thống nhất lợi ích của dân tộc không chỉ là cùng
nhau sinh tồn, cùng nhau vượt qua thử thách, mà còn được mở rộng thành cùng
nhau vươn tới những giá trị của CNXH, đó là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người cùng ra
sức lao động sản xuất để được ăn no, mặc ấm, và có nhà ở sạch sẽ”(3);
xã hội XHCN là “không có người bóc lột người, mọi người sung sướng, vẻ
vang, tự do, bình đẳng, xứng đáng là thế giới của loài người”(4).
Chính những giá trị cao đẹp của CNXH đã nâng sự thống nhất nhận thức về lợi
ích của toàn dân tộc ta lên một tầm cao mới vững chắc hơn. Khối đại đoàn
kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam,
với mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam XHCN, là
một khối đại đoàn kết có sự phát triển vượt trội về chất so với chính nó trong
suốt chiều dài lịch sử dân tộc.
Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ, những giá trị của CNXH vẫn chưa có đủ tiền
đề để bộc lộ một cách đầy đủ. Cùng với đó, tính phức tạp và gay gắt của cuộc
đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ làm cho những giá trị này luôn nằm giữa
ranh giới chông chênh giữa còn và mất, giữa dân chủ và phản dân chủ, giữa công
bằng và bất công, giữa văn minh, tiến bộ và lạc hậu, phản tiến bộ. Điều đó phụ
thuộc hoàn toàn vào kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, của công cuộc xây
dựng CNXH. Nhận thức của các tầng lớp nhân dân về sự thống nhất lợi ích với các
giá trị của CNXH mà dân tộc đang theo đuổi vì thế cũng chưa ở trạng thái ổn
định. Sự tin tưởng hay hoài nghi của nhân dân vẫn luôn chịu sự tác động, chi phối
bởi rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có sự phân hóa
giàu - nghèo.
Ở nước ta hiện nay, tình trạng phân hóa giàu - nghèo đang diễn ra
khá phức tạp, giữa các nhóm người trong xã hội và giữa các vùng
miền, khoảng cách phân hóa lớn và có xu hướng tăng nhanh. Đại hội XIII của
Đảng nhận định: “Chênh lệch giàu - nghèo còn lớn; đời sống của một bộ phận
người dân còn khó khăn, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị thiên
tai”(5); “khoảng cách phát triển giữa các địa phương, vùng,
miền còn khá lớn”(6); “Chênh lệch giàu - nghèo có xu hướng gia tăng”(7).
Trên thực tế, từ năm 2015 đến năm 2020, mức độ chênh lệch thu nhập bình quân
đầu người một tháng giữa nhóm 20% dân cư có thu nhập cao nhất so với nhóm 20%
dân cư có thu nhập thấp nhất theo giá hiện hành luôn ở ngưỡng xấp xỉ 10 lần. Cụ
thể: năm 2015 là 9,7 lần; năm 2016 là 9,8 lần; năm 2017 là 9,8 lần; năm 2018 là
10 lần; năm 2019 là 10,2 lần; năm 2020 là 8,7 lần(8). Hệ số bất bình
đẳng trong phân phối thu nhập (hệ số GINI) ở nước ta từ năm 2015 đến 2020 cũng
luôn ở mức trên dưới 0,4 - mức chênh lệch được coi là “nguy hiểm”. Cụ
thể: hệ số GINI ở nước ta năm 2015 là 0,424; năm 2016 là 0,430; năm 2017 là
0,431; năm 2018 là 0,425; năm 2019 là 0,423; năm 2020 là 0,375(9).
Phân hóa giàu - nghèo là yếu tố làm trầm trọng hơn những bất bình đẳng xã
hội. Sự chênh lệch về tài sản, thu nhập giữa các bộ phận dân cư kéo theo sự
phân hóa về vị thế, ảnh hưởng xã hội, về tiếp cận với các cơ hội phát triển,
thụ hưởng các điều kiện vật chất và tinh thần. Điều đó đi ngược lại với những
giá trị của CNXH; khiến cho một bộ phận người dân, đặc biệt là người nghèo
nảy sinh nhận thức sai lầm về mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
hoài nghi các giá trị cao đẹp của chế độ CNXH, hoài nghi vai trò lãnh đạo của
Đảng và quản lý của Nhà nước, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, phân hóa giàu - nghèo
làm cho chủ nghĩa cá nhân và lối sống cơ hội, thực dụng ngày càng phát triển,
phá vỡ sự gắn kết giữa các tầng lớp nhân dân
Tình trạng chênh lệch, bất bình đẳng về tài sản, thu nhập sẽ dẫn đến sự
phân hóa xã hội. Một bộ phận người giàu, do sự dư thừa về điều kiện vật chất,
có thể rơi vào lối sống xa hoa, hưởng thụ, thậm chí trụy lạc, thờ ơ, lãnh cảm
với xã hội, coi thường, kỳ thị người nghèo, người yếu thế. Trong khi đó, bộ
phận người nghèo trong xã hội, do sự thua thiệt về nhiều mặt, dễ nảy sinh tâm
lý ấm ức, bất mãn, thiếu thiện cảm, thậm chí căm ghét người giàu. Họ có thể cho
rằng sự thua thiệt, bất công mà mình phải chịu là do người giàu trong xã hội
gây ra. Những diễn biến tâm lý trái ngược ấy trong các bộ phận xã hội làm cho
khối đại đoàn kết toàn dân tộc bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Phân hóa giàu - nghèo, nhìn từ khía cạnh tích cực, sẽ tạo ra động lực
thúc đẩy mỗi người dân nỗ lực phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu. Tuy nhiên,
ở khía cạnh ngược lại, nó là “mảnh đất vàng” cho sự nảy sinh của chủ nghĩa cá
nhân và lối sống thực dụng. Phân hóa giàu - nghèo dễ đẩy con người
vào trạng thái tâm lý muốn làm giàu bằng mọi giá. Dưới tác động của các quy
luật kinh tế trong cơ chế thị trường, thang giá trị của con người được đo đếm
bằng sự “giàu có vật chất”, lối sống của họ bị dồn vào một khuôn mẫu hàng hoá -
tiền tệ. Vật chất chi phối đến các mối quan hệ gia đình, cộng đồng, xã hội; lấy
lợi ích cá nhân làm nguyên tắc sống, không cần quan tâm đến lợi ích tập thể,
cộng đồng. Xã hội có sự phân hóa giàu - nghèo thường làm mất đi lòng
nhân ái; làm cho con người mất đi sự cảm thông, chia sẻ và đồng cảm với những
khó khăn, hoạn nạn của đồng loại; đồng thời, không quan tâm đến vận mệnh đất
nước, đến sự phát triển và tiến bộ xã hội; không đấu tranh bảo vệ lợi ích
chung, phá hoại tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém
tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và
của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(10).
Điều đó khiến cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc mất đi những nền tảng cơ bản
để duy trì và phát triển.
Tâm lý muốn làm giàu bằng mọi giá là cơ sở để nảy sinh các hoạt động kinh
tế bất hợp pháp. Một bộ phận xã hội, do muốn giàu nhanh mà không phải lao động
đã tìm đến các hoạt động kinh tế phi pháp như buôn lậu, gian lận thương mại,
lừa đảo… Một bộ phận cán bộ, quan chức tìm cách trục lợi từ ngân sách nhà nước,
tham nhũng… Điều đó làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, bất mãn trong xã hội.
Ba là, phân hóa giàu - nghèo
đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị - xã hội trong tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc
Ở nước ta, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng, lấy lý tưởng, mục tiêu cách mạng của Đảng làm mục tiêu chung cho khối đại
đoàn kết. Đảng duy trì, xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc
không chỉ thông qua việc tuyên truyền, vận động, giáo dục chính trị tư tưởng
đến các tầng lớp nhân dân mà còn thông qua việc hình thành và phát triển các tổ
chức, thiết chế gắn kết các tầng lớp xã hội, gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội. Trong bối cảnh phân hóa giàu - nghèo gia
tăng, hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức này trong tập hợp, xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ không tránh khỏi khó khăn, thách thức.
Đối với Đảng, Nhà nước, phân hóa giàu - nghèo đặt ra hàng loạt vấn đề mới,
phức tạp như: vấn đề lòng tin của nhân dân đối với năng lực lãnh đạo của Đảng
và hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước trong điều tiết nền kinh
tế, giải quyết các vấn đề xã hội; khả năng hiện thực hóa các mục tiêu công
bằng, bình đẳng, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội;
tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước; nguy cơ bất
bình đẳng giữa các tầng lớp… Các vấn đề đó không hoàn toàn chỉ do tình trạng
phân hóa giàu -nghèo gây ra, nhưng nó là một trong những tác nhân chủ đạo.
Đối với các tổ chức chính trị - xã hội, phân hóa giàu -nghèo gây chia
rẽ về nhận thức, tư tưởngvà tâm lý,khiến cho các tổ chức chính trị - xã
hội gặp khó khăn trong tập hợp thành viên và thể hiện vai trò đại diện của
mình. Các thành viên trong tổ chức có sự khác biệt, chênh lệch về thu nhập, mức
sống và vị thế, sẽ rất khó tìm được tiếng nói chung, thậm chí còn nảy sinh
mâu thuẫn, xung đột, gây cản trở đến hiệu quả hoạt động chung của tổ chức. Đây
là một vấn đề rất lớn, bởi nếu các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động không
hiệu quả, thì nền tảng xã hội của khối đại đoàn kết toàn dân tộc không còn được
bảo đảm.
Bốn là, phân hóa giàu - nghèo
tạo ra “mảnh đất” để các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại khối đại đoàn kết
toàn dân tộc
Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động vẫn không ngừng tìm mọi thủ đoạn
để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà
nước, chia rẽ các giai tầng xã hội; từ đó làm cho địa vị, vai trò lãnh đạo của
Đảng bị lung lay. Lợi dụng những biểu hiện lệch lạc về nhận thức, những rạn nứt
về tình cảm, niềm tin trong một bộ phận nhân dân, chúng đã tung ra rất nhiều
luận điệu phản động, sai trái nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự
tác động đó diễn ra một cách vừa chậm rãi, vừa tức thời, song nó là một quá
trình liên tục, phức tạp, tác động đến cả nhận thức, tâm lý, hành vi xã hội và
đến hoạt động của các tổ chức, lực lượng. Chính vì thế, những tác động này trở
nên rất nguy hại, cần phải sớm được khắc phục bằng cả những biện pháp trước mắt
và lâu dài.
2. Một số giải pháp phòng ngừa,
khắc phục tác động tiêu cực của phân hóa giàu - nghèo đến xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc
Một là, tiếp tục tăng cường
công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp
nhân dân về đại đoàn kết toàn dân tộc
Đây là yếu tố then chốt, quyết định thành bại của nhiệm vụ xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay. Nếu mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân đều
nhận thức đúng, đủ, sâu sắc, thống nhất thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc chắc
chắn sẽ luôn được giữ vững và củng cố; mọi thách thức, trở ngại đều có thể được
hóa giải. Ngược lại, nếu nhận thức không đúng, không thống nhất thì các yếu tố
tiêu cực có kẽ hở để len lỏi, xâm nhập, làm chia rẽ, suy yếu khối đại đoàn kết
toàn dân tộc. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho mọi
cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về đại đoàn kết toàn dân tộc phải
được đặt lên hàng đầu.
Trong đó, trước hết cần phải tập trung vào đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây
chính là lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong việc đưa quan điểm, chủ trương
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân. Để có thể thực
hiện thành công chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc mà Đảng ta đã xác định,
mỗi cán bộ, đảng viên phải có nhận thức sâu sắc về nội dung quan điểm, chủ
trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân
tộc; về vai trò, trách nhiệm của bản thân trong hiện thực hóa các chủ trương mà
Đảng đã xác định thông qua việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; phải
luôn nêu cao tính tiền phong, gương mẫu trong tu dưỡng phẩm chất đạo đức, luôn
gần dân, quan tâm đến nhân dân, biết lắng nghe tiếng nói của nhân dân, xứng
đáng là những “hạt nhân đoàn kết” nhân dân.
Trong bối cảnh mới, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhạy bén, sáng suốt trong
nắm bắt, nhận định tình hình, kịp thời phát hiện các yếu tố tác động tiêu cực
đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đề xuất giải pháp phòng ngừa, khắc phục.
Đối với các tầng lớp nhân dân, cần thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao nhận
thức về truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc ta, khơi dậy trong mỗi người
niềm tin, lòng tự hào, tình cảm yêu quý đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Công tác tuyên truyền, giáo dục phải làm cho nhân dân thấm nhuần đường lối,
quan điểm của Đảng, thực sự tin vào sức mạnh quy tụ của Đảng, sẵn sàng siết
chặt khối đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng. Công tác tuyên truyền, giáo dục phải
hết sức linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với từng đối tượng; cần hết sức tránh lối
tuyên truyền chung chung, giáo điều, sáo rỗng.
Hai là, đẩy mạnh thực hiện
hiệu quả các biện pháp xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu chính đáng,
ngăn chặn các hoạt động kinh tế phi pháp và tình trạng tham nhũng, lãng phí
Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Triển khai đồng bộ các giải
pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bao trùm, nhất là khu vực đồng bào dân
tộc thiểu số… Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, phát triển mạnh tầng lớp
trung lưu gắn với nâng cao trách nhiệm xã hội”(11). Việc giải quyết
tình trạng phân hóa giàu - nghèo cùng những hệ lụy của nó phải dựa trên
việc tạo ra động lực mạnh mẽ để mọi tầng lớp nhân dân tích cực phát triển kinh
tế; tránh tư tưởng “cào bằng”, dẫn đến triệt tiêu động lực làm giàu của nhân
dân. Khi các chính sách xóa đói, giảm nghèo được thực hiện hiệu quả, tỷ lệ
người khá giả trong xã hội gia tăng thì sức mạnh tổng thể của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc càng được củng cố; lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
cũng được tăng cường.
Bên cạnh đó, việc ngăn chặn các hiện tượng làm giàu bất hợp pháp và tình
trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí giữ vai trò rất quan trọng. Bởi đây là
một nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng xã hội, tạo nên tâm lý bất mãn, tiêu
cực trong các tầng lớp nhân dân. Hiện tượng làm giàu bất hợp pháp nếu không
được ngăn chặn hiệu quả sẽ trực tiếp xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đa
số nhân dân, làm nảy sinh các vấn đề, tệ nạn xã hội khác. Tình trạng tham
nhũng, lãng phí sẽ trực tiếp làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước. Ngăn chặn hiệu quả các hiện tượng này sẽ là cơ sở để Đảng, Nhà nước
giữ vững được lòng tin của nhân dân, quy tụ được sức mạnh đoàn kết của
nhân dân.
Ba là, tiếp tục cụ thể hóa và
thực hiện có hiệu quả quan điểm gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn
hóa và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội
Đảng ta xác định, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và
bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội là một trong các mối quan hệ lớn cần giải
quyết trong thời kỳ quá độ lên CNXH, “phản ánh các quy luật mang tính biện
chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta”(12).
Hiện thực hóa quan điểm này của Đảng sẽ vừa hạn chế những vấn đề tiêu cực trên
khía cạnh kinh tế, trong đó có hiện tượng phân hóa giàu - nghèo; vừa hạn
chế những vấn đề tiêu cực trên khía cạnh chính trị - xã hội, trong đó có những
ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Để làm được điều đó, Nhà nước phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý,
xây dựng hiệu quả hệ thống các chính sách trong các lĩnh vực kinh tế và
văn hóa, xã hội. Tăng trưởng kinh tế nhưng không hy sinh tiến bộ, công bằng xã
hội, lấy hiệu quả tăng trưởng để cải thiện lĩnh vực văn hóa, xã hội. Bộ máy Nhà
nước từ Trung ương đến địa phương phải đưa ra các chính sách khuyến khích dân
cư làm giàu, đồng thời thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng
góp, chính sách phân phối lại thu nhập, chính sách trợ cấp xã hội; ưu tiên
đầu tư phát triển vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn. Đảng ta xác
định: “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nhất là cho những
người yếu thế, người nghèo. Đổi mới cách tiếp cận, tăng cường phối hợp, lồng
ghép, ưu tiên nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực trợ giúp xã
hội”(13).
Bốn là, chăm lo giải quyết các
quan hệ lợi ích, phát huy dân chủ XHCN. Thời kỳ quá độ lên CNXH tồn tại nhiều
hình thức sở hữu, cùng với một hệ thống các quan hệ lợi ích phức tạp. Muốn có
đồng thuận xã hội và đoàn kết toàn dân tộc thì việc giải quyết hài hòa các quan
hệ lợi ích, phát huy dân chủ XHCN là vấn đề cơ bản. Đảng ta chủ trương: “Giải
quyết hài hòa các quan hệ lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội. Bảo đảm các
dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”(14).
Trong đó, giải quyết hài hòa lợi ích phải được thực hiện thông qua việc đa dạng
các hình thức phân phối dựa trên nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao
động”, đồng thời thực hiện tốt chính sách xã hội; bảo đảm công bằng, bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ công dân; gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng
thụ; gắn lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội. Phát huy dân
chủ phải dựa trên việc tạo ra cơ chế ổn định, vững chắc và hiệu quả để nhân dân
thực hiện quyền làm chủ thực tế của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội;
nhân dân biết mình cần thể hiện ý chí, nguyện vọng ở đâu, như thế nào, được
giải quyết ra sao. Cùng với đó, phải quan tâm giải quyết kịp thời các vấn đề
phức tạp nảy sinh, không để kéo dài, lan rộng gây ảnh hưởng đến khối đại đoàn
kết toàn dân tộc.
Năm là, tăng cường công tác
đấu tranh tư tưởng, lý luận, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn gây chia rẽ, phá hoại
khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Hiện nay, hoạt động nghiên cứu, đấu tranh tư tưởng, lý luận của nước ta đã
và đang được tiến hành nghiêm túc, bài bản, song vẫn cần phải được quan tâm hơn
nữa để nâng cao chất lượng đội ngũ, củng cố tổ chức. Cần nắm bắt tình hình thực
tiễn, kịp thời phát hiện các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, phá hoại của kẻ
thù, đồng thời dự báo chính xác diễn biến tình hình để chủ động đấu tranh có
hiệu quả. Nội dung đấu tranh tập trung vào vạch trần bản chất phản động, sai
trái của các quan điểm chống phá, làm rõ tính đúng đắn trong đường lối lãnh đạo
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Trong bối cảnh phân hóa giàu - nghèo vẫn còn có xu hướng tiếp tục gia
tăng, cần chủ động tuyên truyền để nhân dân hiểu đó là quy luật của kinh tế thị
trường, hiểu rõ quan điểm, chủ trương của Đảng; biến nó thành động lực phát
triển kinh tế; kịp thời dập tắt, không cho thế lực thù địch lợi dụng các mâu
thuẫn về kinh tế trong nhân dân để biến thành mâu thuẫn chính trị - xã hội, gây
chia rẽ các tầng lớp nhân dân và chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước.
_Nguồn:LLCT_
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.18, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà
Nội, 1995, tr.376.
(2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2005, tr.670.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2011, tr.17.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.12, tr.70.
(5), (11), (12), (13), (14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.211-212, 265,
39, 270, 50.
(6), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.86, 86.
(8), (9) Tổng hợp từ Niên giám thống kê quốc gia năm 2015, 2016, 2017,
2018, 2019, 2020.
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.15, tr.547.
Đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục, rèn luyện cán bộ
- Đối với hình thức
giáo dục, rèn luyện trong các nhà trường: kết hợp chặt chẽ mục tiêu đào tạo,
bồi dưỡng với mục tiêu giáo dục, rèn luyện cán bộ. Theo đó, mục tiêu của mỗi
chuyên đề, bài giảng không chỉ nhằm cung cấp thông tin một chiều về những kiến
thức cần trang bị cho người học theo chương trình đào tạo, bồi dưỡng, mà còn
phải cung cấp, góp phần gia tăng tình cảnh cách mạng, niềm tin, lý tưởng, củng
cố lập trường tư tưởng chính trị, nâng cao ý thức đạo đức cách mạng, tinh thần
trách nhiệm vì Đảng, vì nước, vì dân của cán bộ, đảng viên. Cùng với giáo dục,
đào tạo về kiến thức, rèn luyện đạo đức, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần coi
trọng việc rèn luyện bản lĩnh, ý chí quyết tâm, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh
thần khắc phục khó khăn, khả năng xử lý, giải quyết những tình huống phức tạp
và rèn luyện thể chất, sức khỏe cho cán bộ.
- Đối với hình thức
giáo dục, rèn luyện tại cơ quan, đơn vị:Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao tính giáo
dục, tính lãnh đạo, tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt cơ quan, đơn
vị; thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình. Qua sinh hoạt tự phê bình và
phê bình hướng vào những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng ở địa phương, đơn vị
hiện nay, nhất là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, chỉ
ra được ưu điểm của cán bộ, đảng viên để phát huy và nhân rộng. Đồng thời, phải
vạch rõ những yếu kém, khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng và của cán bộ,
đảng viên để kịp thời ngăn chặn, tiến tới khắc phục triệt để sự suy thoái về tư
tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt việc
quản lý, phân công công tác, giáo dục, rèn luyện cán bộ ngay tại cơ quan, đơn
vị. Đề cao ý thức tổ chức, chấp hành nghiêm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà
nước, nội quy, quy định của ngành, cơ quan, đơn vị.
-Coi trọng việc thực
hiện tự giáo dục, tự rèn luyện của bản thân cán bộ. Đây là biện pháp không thể
thay thế đối với cả chủ thể và đối tượng giáo dục. Vì vậy, kết hợp chặt chẽ
giữa giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện của tổ chức với việc thường xuyên tự giáo
dục, tự rèn luyện của chính đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo,
quản lý. Trên cơ sở những kiến thức được trang bị trong quá trình học tập, đào
tạo, bồi dưỡng tại các nhà trường, thông qua thực tiễn hoạt động mỗi cán bộ,
đảng viên cần nêu cao ý thức tự giác giáo dục, tự rèn luyện phẩm chất, năng
lực, phương pháp, tác phong công tác. Tính tự giác, ý thức tự giáo dục, tự rèn
luyện của mỗi cán bộ, đảng viên là phẩm chất cao đẹp, cơ sở đánh giá tư cách và
sự trưởng thành về chính trị của cán bộ, đảng viên. Những tấm gương sáng về tự
giáo dục, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, cần kiệm,
liêm chính, chí công vô tư của cán bộ, đảng viên cần được đề cao, tôn vinh xứng
đáng. Những trường hợp vi phạm tư cách, kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước
cần kiên quyết xử lý nghiêm minh.
TRƯỜNG TỒN
Đổi mới nội dung giáo dục, rèn luyện cán bộ
- Đẩy mạnh và nâng cao
chất lượng giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng để cán bộ,
đảng viên luôn nắm vững, kiên định mục tiêu, lý tưởng, quan điểm, đường
lối của Đảng, hết lòng, hết sức phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trước tình hình khó khăn, phức
tạp và các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, đảng viên
phải tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; thường xuyên nâng
cao cảnh giác, phòng chống hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của
địch; không phai nhạt lý tưởng, ngả theo các trào lưu tư tưởng sai trái hoặc
hoài nghi, bàng quan với quan điểm, đường lối của Đảng; mỗi cán bộ phải thực sự
là tấm gương sáng và chỗ dựa tinh thần cho quần chúng. Cùng với đó, các cấp ủy
đảng, cơ quan, đơn vị thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới
cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là
cấp chiến lược. Tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý
luận chính trị, kỹ năng lãnh đạo, quản lý theo hướng nâng cao chất lượng, chú
trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng.
- Tiếp tục đẩy mạnh
việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đây là
công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức
chính trị - xã hội, địa phương, cơ quan, đơn vị và của mỗi cán bộ, đảng viên.
Có thể nói, Hồ Chí Minh đã là tấm gương điển hình, toàn bích, ngời sáng về tinh
thần tự giáo dục, tự rèn luyện mà bất cứ cán bộ, đảng viên nào cũng có thể học
được. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người không chỉ
giúp cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức, tư tưởng, lý luận, hoàn thiện nhân
cách, mà còn nâng cao dũng khí đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí,
chống chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”,
nói không đi đôi với làm. Lấy kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh làm tiêu chí đánh giá kết quả giáo dục, rèn luyện của
cán bộ và là cơ sở để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ.
- Tăng cường giáo dục,
rèn luyện ý thức chấp hành kỷ luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước. Thực tế cho thấy, cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị, kể cả
cán bộ quản lý kinh tế, lãnh đạo doanh nghiệp ở nước ta được đào tạo, trưởng
thành từ nhiều nguồn và lĩnh vực khác nhau, không phải ai cũng nắm vững kỷ luật
đảng, các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và các quy định của pháp luật ngay
cả trong lĩnh vực bản thân được giao phụ trách. Từ đó dẫn đến không ít cán bộ
vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước phải
trả giá trước pháp luật. Bởi vậy, các chủ thể quản lý cán bộ, đảng viên cần đặc
biệt quan tâm và tăng cường những nội dung giáo dục quan trọng này. Đối với mỗi
cán bộ, đảng viên, ý thức chấp hành chủ trương, đường lối, nguyên tắc và kỷ
luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải luôn được đặt lên hàng
đầu trong tư tưởng và hành động.
TRƯỜNG TỒN