Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

NHỮNG GIÁ TRỊ TO LỚN ĐỐI VỚI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VỀ PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH “NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM”

 Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng ngời về phong cách “nói đi đôi với làm”. Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước…”tự mình phải chính trước mới giúp người khác chính, mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý. Người còn nói: “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được…”. Phong cách “nói đi đôi với làm của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ lòng dạ trong sáng, chính tâm, thật sự nêu gương của Người. Vì vậy, tấm gương mẫu mực về phong cách “nói đi đôi với làm” đã làm cho Hồ Chí Minh trở thành một hình ảnh mẫu mực về một con người cộng sản chân chính. Chính vì vậy đã làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành bất tử trong lòng dân tộc, mãi mãi là tấm gương sáng ngời để mọi thế hệ người Việt Nam nói chung, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên của Đảng học tập và làm theo. Để học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm”, mỗi cán bộ, đảng viên cần tập trung thực hiện một số nội dung, chủ yếu như sau:

Tích cực học tập nâng cao nhận thức cho bản thân và nói đúng cương lĩnhquan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai sự thật; Cán bộ, đảng viên phải nắm vững, nhận thức đúng, nói đúng cương lĩnhđường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảngchính sách và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, cán bộ, đảng viên luôn phải tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng nhận thức và nói đúng cương lĩnhquan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai. Qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàngcó niềm tin vào mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, dù trải qua những tình huống khó khăn phức tạp đến đâuđều tuyệt đối trung thành với Đảng, sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới đất nước.

Để học tập và làm theo phong cách Người về “nói đi đôi với làm”, tức là, lời nói đi đôi với việc làm, nói được làm được sẽ mang lại những hiệu quả lớn, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêcứu, học tập, tu dưỡng, rèn luyện, ghép mình vào khuôn khổ kỷ luật Đảng, nâng cao nhận thức về mục tiêu lý tưởng, đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Đồng thời, khi nói phải gắn với công việc, nhiệm vụ cụ thể, không được nói chung chung, đại khái, nghe thì hay nhưng không biết thực hiện thế nào. Nói đi đôi với làm yêu cầu phải đi sâu, đi sát, kiểm tra, đôn đốc, gắn với kết quả thực hiện công việc được giao. Đẩy mạnh việc thực hiện “nói đi đôi với làm” đối với cán bộ, đảng viên chính là cái gốc tạo nên hiệu quả công việc, niềm tin, uy tín trước tập thểTừ đó, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ tạo ra sự lan tỏa tích cực về “nói đi đôi với làm” cụ thể, thiết thực đi vào thực tiễn và đi vào cuộc sống.

Phải kiên quyết đấu tranh chống lại việc không đồng nhất giữa nói và làm; Cán bộ, đảng viên cần đấu tranh chống lại tình trạng “nói không đi đôi với làm”, “nói một đàng làm một nẻo”, “nói mà không làm”, “nói với cấp trên khác, nói với cấp dưới khác”gây bức xúc trong dư luận quần chúng, làm mất niềm tin trước tập thể. Từng cán bộ, đảng viên cần kiên quyết đấu tranh chống lại cách nói chung chung, đại khái và nói khó hiểunói không cụ thể, thiết thựcphải nói đi đôi với làm, không được nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm.

Để học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm” hiệu quả, thiết thực chúng ta luôn phải gắn với thực hiện Kết luận số 01 ngày 18/3/2021 của Bộ Chính trị (Khóa XIII) về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05, gắn với cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận số 21-KH/TW ngày 25/10/2021 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XIII) tại Hội nghị lần thứ Tư về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ đó, góp phần tích cực vào việc xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu bảo về vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

TĂNG CƯỜNG NGĂN NGỪA “CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN” ĐỐI VỚI MỖI CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI

 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân, Người còn nói, đó là “giặc nội xâm”, kẻ thù ở trong lòng mỗi con người, muốn chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, một trong những biện pháp rất quan trọng là phải tự phê bình và phê bình, Người coi “thang thuốc tốt nhất là thiết thực tự phê bình và phê bình”. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa một cách thường xuyên như chúng ta “rửa mặt hàng ngày” và phải gắn liền với quá trình tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống suốt đời. Điều đặc biệt hơn, Người luôn căn dặn rất kỹ về mục đích, phương pháp tự phê bình và phê bình. Người còn nhấn mạnh, muốn chưa khỏi bệnh cá nhân chủ nghĩa, tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải lấy lòng nhân ái, thành thật để phê bình đồng chí mình. Phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm; không “bới bèo ra bọ, vạch lá tìm sâu”. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người; hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và phải sửa chữa cho bằng được… làm được như thế thì sẽ sớm chữa được bệnh “cá nhân chủ nghĩa” trong cán bộ, đảng viên.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, thực hiện tự phê bình và phê bình nhằm khắc phục những biểu hiện “chủ nghĩa cá nhân”. Đặc biệt, thời gian vừa qua trong Đảng bộ quân đội, các cấp ủy và từng đảng viên đã thực hiện tự kiểm điểm, đánh giá về “tự soi, tự sửa”, đây cũng là nội dung rất quan trọng và thiết thực để ngăn ngừa “chủ nghĩa cá nhân”, để mỗi cán bộ đảng làm tốt hơn nữa nội dung này, chúng ta cần thực hiện tốt một số biện pháp chủ yếu sau đây:

Một là, để nâng cao nhận thức sâu sắc về những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân đến việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Nhận diện rõ những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong bản thân mình; đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ tính chất nguy hiểm và tác hại khi vướng vào chủ nghĩa cá nhân. Muốn nhận thức nhận thức sâu sắc về những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”…Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Trong đó, nghiên cứu kỹ, nắm chắc 5 phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới và 10 biểu hiện nhận diện chủ nghĩa cá nhân mà Quân ủy Trung ương đã xác định. Có như vậy, mới nâng cao nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa cá nhân và sự cần thiết, cấp bách phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng đạo đức cách mạng đối với mỗi cán bộ đảng viên trong thời kỳ mới.

Hai là, Thường xuyên tự phê bình và phê bình kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch trong lòng mỗi người, nó gặm nhấm, làm “hư hỏng” chính bản thân mỗi người, nó cản trở quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự vấn, thật thà tự kiểm điểm, tự phê bình hàng ngày, trước, trong và sau mỗi khi thực hiện nhiệm vụ hoặc ra quyết định nào đó. Phải thiết thực, chân thành lắng nghe ý kiến phê bình của đồng chí đồng đội, từ đó nhận ra những thiếu sót, khuyết điểm và biểu hiện chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại trong chính bản thân mình. Trên cơ sở đó, “tự soi”, “tự sửa” thường xuyên, liên tục suốt cuộc đời, phấn đấu thực sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Ba là, Nhận thức đầy đủ, mỗi cán bộ, đảng viên là một tế bào của Đảng, đều sinh hoạt trong một tổ chức đảng nhất định. Với vai trò, chức năng của các tổ chức đảng là quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên thông qua các chế độ sinh hoạt, trong đó tự phê bình và phê bình là một chế độ, đồng thời là vấn đề quy luật trong xây dựng và phát triển Đảng. Do đó, thực hiện một cách có hiệu quả, thường xuyên, liên tục chế độ tự phê bình và phê bình sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên tự nhận ra những khuyết điểm, những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, giao nhiệm vụ, xác định thời gian sửa chữa cho cán bộ, đảng viên, giúp họ tiến bộ và trưởng thành. Các tổ chức đảng, nhất là chi ủy, chi bộ phải phát huy tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình thông qua các chế độ sinh hoạt như: sinh hoạt học tập, ra nghị quyết lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, đảng viên hàng năm. Trong đó, nêu cao vai trò, trách nhiệm, kỹ năng, phương pháp công tác của bí thư cấp ủy, nhất là trong khơi dậy tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng của mỗi cán bộ, đảng viên.

Thời gian qua một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, tổ chức đảng do buông lỏng quản lý, cá nhân đảng viên thiếu tu dưỡng rèn luyện, không vì lợi ích của tập thể mà chỉ vì lợi ích cá nhân, tham lam vun vén cho gia đình; nên đã vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước đến mức phải xử lý kỷ luật, trong đó có những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý. Đây là bài học vô cùng đau xót cho mỗi cấp ủy Đảng và những đảng viên vi phạm. Chính vì vậy, đấu tranh chống “chủ nghĩa cá nhân” đối với mỗi cán bộ, đảng viên là việc làm cấp bách, lâu dài, thường xuyên, liên tục trong giai đoạn hiện nay./.

CHIÊU TRÒ GÂY NHIỄU LOẠN THÔNG TIN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CẦN NHẬN DIỆN, KỊP THỜI NGĂN CHẶN VÀ ĐẨY LÙI

 Thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta với tính chất ngày càng thâm độc, xảo quyệt. Trong đó, xác định “mũi đột phá” là tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa.  Chúng triệt để lợi dụng sự phát triển của mạng Internet, mạng xã hội nhằm tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc, bịa đặt, đưa thông tin thật giả lẫn lộn, hòng gây nhiễu loạn thông tin; gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, v.v.      

Nhằm xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng cố tình lớn tiếng cho rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời, lạc hậu”, nên cần phải thay đổi bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản cho “phù hợp với xu thế phát triển của thời đại”. Đồng thời, ra sức tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, tự ngộ nhận rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là xã hội áp bức, bóc lột, v.v. Thông qua đó, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, thành tựu công cuộc đổi mới đất nước cũng như mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Nhất là thời điểm gần đây, chúng ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, nhất là khi Đảng, Nhà nước ta đẩy mạnh xử lý các vụ án tham nhũng về kinh tế, chúng bóp méo cho rằng đó là “thanh trừng phe phái”, “đấu đá nội bộ”, “trả thù cá nhân”, vì “lợi ích nhóm”, v.vNgoài ra, chúng còn bới móc, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót trong quản lý nhà nước để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng, cấp ủy, chính quyền các cấp. Lợi dụng việc các cơ quan thực thi pháp luật bắt giữ, điều tra, xét xử những người có hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn chính trị đã vu cáo, lu loa rằng, Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc, tôn giáo. Nguy hiểm hơn, chúng còn cắt ghép, dàn dựng, lấy những thông tin ở nước ngoài gán ghép cho sự kiện trong nước. Hoặc, trước những sự việc, hiện tượng diễn ra mặc dù chưa có kết luận rõ ràng của cơ quan chức năng, nhưng các đối tượng đã quy chụp, kết luận, hướng lái theo ý chủ quan của chúng.

Đáng chú ý trong thời gian qua khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị, các ban, ngành, đoàn thể trong cả nước đang dồn sức, đồng lòng phòng, chống đại dịch Covid-19 thì chúng tạo nên một “đại dịch” khác trên mạng xã hội, đó là “đại dịch tin giả”, nhằm làm lẫn lộn đúng, sai, thật, giả. Chúng chỉ trích, rêu rao rằng: “Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam là do cấp ủy, chính quyền thiếu quan tâm đến tính mạng, sức khỏe người dân; năng lực quản lý, điều hành của chính quyền yếu kém nên không có các chủ trương, biện pháp quyết liệt trong phòng, chống dịch bệnh,…”; hay “Việt Nam quá lạc quan với kết quả phòng, chống dịch bằng biện pháp hành chính nên “thiếu chủ động” trong tiêm vaccine,…” khiến cho thế giới hiểu không đúng về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và những nỗ lực trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 của Đảng, Nhà nước, Nhân dân; gây khó khăn cho việc lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Bộ Y tế, các ban, bộ, ngành, địa phương trong phòng, chống dịch Covid-19 thời gian qua.

Âm mưu của chúng có tổ chức, lợi dụng các đài phát thanh, truyền hình ở nước ngoài có chương trình phát bằng tiếng Việt, như: BBC, VOA, RFA, RFI,… lập ra hàng trăm tờ báo, tạp chí cùng hàng nghìn trang web phản động để đăng tải tin, bài, video clip; xuất bản các ấn phẩm có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam. Sử dụng Internet, mạng xã hội, nhất là tính năng livestream để phát, truyền hình trực tiếp âm thanh, hình ảnh nhằm lôi kéo, thu hút người theo dõi, tin theo. Thậm chí, các thế lực thù địch còn lợi dụng những người nhẹ dạ, cả tin hoặc vì lợi ích kinh tế đứng ra “làm chim mồi”, đóng vai “nhân chứng” chứng minh “độ tin cậy” của thông tin xuyên tạc. Chúng sử dụng công nghệ sửa chữa, chèn đường dẫn đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xuyên tạc; chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên website của các cơ quan nhà nước, đưa hình ảnh, nội dung xấu độc hoặc thay đổi nội dung thông tin chính thống hòng tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Chủ thể tiến hành, chủ đạo vẫn là Việt Tân cùng một số tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài và một số phần tử bất mãn, cơ hội chính trị. Ngoài ra, một số người dân do nhận thức lệch lạc, không hiểu đúng bản chất vấn đề hoặc vì động cơ vụ lợi, mục đích cá nhân, tham gia câu like, câu view, thu hút số lượng lớn người theo dõi để bán hàng online, v.v.

Chiêu trò này tuy không phải là mới; tuy nhiên, nếu chúng ta không nâng cao tinh thần cảnh giác, không chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời thì sẽ có những tác hại không nhỏ đối với dư luận xã hội. Bởi vì, người dân không phải ai cũng có đủ tỉnh táo để nhìn nhận và phân tích mọi vấn đề một cách thấu đáo. Cùng với đó, chúng ta cần có các biện pháp kỹ thuật để bóc gỡ kịp thời các trang mạng, blog đăng tải các tin bài phản động. Ngăn chặn kịp thời có hiệu quả, những thông tin xấu độc nhằm gây nhiễu loạn thông tin, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng và của nhân dân ta./.

VẪN LÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM

 Thời gian qua các thế lực phản động lợi dụng việc xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”, đó là chiến lược đúng đắn, có tính khả thi cao. Vậy mà, trên mạng xã hội đã xuất hiện một số thông tin cho rằng, việc thực hiện Đề án đó là không thực tế; cần phải bác bỏ. Phải chăng vẫn là luận điệu, những chiêu trò của các thế lực phản động, xuyên tạc hòng bóp méo sự thật.

Họ rêu rao rằng: Nhà nước pháp quyền là sản phẩm, thành tựu của chủ nghĩa tư bản, do đó không thể lấy thành tựu đó “gán ghép” vào chủ nghĩa xã hội; mà chủ nghĩa xã hội thì phải gắn liền với “chuyên chính vô sản”, “Đảng trị”, v.v. Do vậy, việc xây dựng và thực hiện Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” tất yếu sẽ thất bại, hao tổn tài sản và nguồn lực của đất nước. Từ đó, họ lặp lại “điệp khúc”: chỉ khi nào “xóa bỏ” chế độ xã hội chủ nghĩa thì mới có thể xây dựng thành công nhà nước pháp quyền. Những luận điệu trên là phi lý, hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền nói chung, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng.

Nội dung bài viết chỉ đưa ra một vài dẫn chứng để họ hiểu rằng; Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã hình thành và thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng từ thời cổ đại. Ở phương Đông, đó được xem là tư tưởng pháp trị của các nhà pháp gia, như: Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi, v.v. Quản Trọng chủ trương đề cao “Luật, lệnh, hình, chính”, vua phải giữ pháp, “không vì vua muốn mà thay đổi lệnh, lệnh đáng tôn hơn vua... Ở phương Tây, điển hình là: Xô-crát (469 - 399 Tr.CN), Arixtốt (384 - 322 Tr.CN), Xixêrôn (l06 - 43 Tr.CN). Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như: John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), J.J.Rút-xô (1712 - 1778), I.Kant (1724 - 1804), Hêghen (1770 - 1831),… phát triển như một thế giới quan pháp lý mới. Cùng với các nhà lý luận nổi tiếng nói trên, nhiều nhà luật học, nhà tư tưởng vĩ đại khác cũng đã góp phần phát triển các tư tưởng về nhà nước pháp quyền như Tômát Jepphecxơn (1743 - 1826 - tác giả của Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776), Tômát Pên (1737 - 1809), Jôn A đam (1735 - 1826), v.v. Như vậy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền có từ rất sớm, có trước chủ nghĩa tư bản. Vậy nó là sản phẩm của nhân loại, đâu phải của chủ nghĩa tư bản mà các người cứ nhận nhầm? Do đó, nhà nước ấy phải có tính từ: nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền không chỉ có đóng góp của các triết gia trước tư sản, mà còn có sự đóng góp của những nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội. C.Mác, Ph.Ăgghen và VI.Lênin dù các ông không chính thức nói đến nhà nước pháp quyền như là một trong những nội dung chính yếu trong học thuyết của mình, nhưng các ông luôn quan tâm đến Nhà nước và cách mạng, Nhà nước và pháp luật.

Do vậy, mỗi quốc gia, dân tộc, tùy thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển của đất nước mình mà xây dựng cho đất nước một mô hình nhà nước pháp quyền phù hợp. Vì vậy, nói nhà nước pháp quyền là sản phẩm, là thành tựu của chủ nghĩa tư bản là một quan điểm hoàn toàn sai lầm. Phải chăng, đó là những luận điệu của những kẻ cố tình xuyên tạc, bôi nhọ; hoặc chưa hiểu biết đầy đủ về Nhà nước pháp quyền thì hãy xem lại chính mình rồi hãy phán xét./.

“TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” NHỮNG NGUY CƠ, THÁCH THỨC CẦN NHẬN DIỆN, NGĂN CHẶN VÀ ĐẨY LÙY TRONG NỘI BỘ CHÚNG TA

 Như chúng ta đã biết, “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chính là quá trình thay đổi tư duy, nhận thức về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên. Họ hoài nghi, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dần đánh mất các chuẩn mực đạo đức của người cộng sản mà bản thân đã nỗ lực phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện nhiều năm mới có được; dễ dàng chấp nhận tư tưởng tư bản chủ nghĩa, tin vào các luận điểm sai trái, phản động. Tiếp đến, họ không những không chấp hành mà còn thực hiện sai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí trở thành phần tử chống đối, sẵn sàng ngả theo các thế lực thù địch khi được chúng ve vãn, tung hô. Chính vì vậy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, trong đó chủ quan mang tính quyết định. Những biểu hiện này có thể xảy ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với mọi cá nhân, tổ chức và trong lực lượng vũ trang nhân dân cũng không phải là ngoại lệ.

 Thực tiễn đã cho thấy, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã xảy ra một vài hiện tượng đơn lẻ, như: có quân nhân sử dụng mạng xã hội bôi nhọ, làm giảm uy tín của các lãnh đạo, các cơ quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang; một vài cán bộ trong lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu có bài viết, phát ngôn xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, nói xấu cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quân đội, Công an. Đó còn là một số sĩ quan cao cấp bị xử lý kỷ luật cả về Đảng và chính quyền, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự do “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, “vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội”, “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc”, hoặc “buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra một số vi phạm, khuyết điểm trong thực hiện nhiệm vụ chính trị”, v.v.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”; “Chỉ vì cá nhân chủ nghĩa mà sinh ra vô kỷ luật, thiếu kiên quyết chấp hành mệnh lệnh” và “Do chủ nghĩa cá nhân mà đẻ ra các tư tưởng sai lệch khác. Trước hết là tư tưởng công thần. Do công thần sinh ra kiêu ngạo, kèn cựa, địa vị.”, “Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra đòi hỏi hưởng thụ, đãi ngộ”, v.v. Người coi chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch thứ ba (sau chủ nghĩa đế quốc và truyền thống lạc hậu) và nhận định: “vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh”, “Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ. Nếu không thỏa mãn yêu cầu của họ thì họ oán trách Đảng” và “Rồi dần dần họ xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”. Nhằm ngăn chặn kịp thời và đẩy lùi các biểu hiện trên, các cấp các ngành cần làm tốt một số giải pháp sau đây:

Một là; Tích cực hơn nữa giáo dục chính trị, tư tưởng, lý luận cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu chống chủ nghĩa cá nhân, bởi “Muốn tẩy sạch bệnh ấy, thì cần phải nâng cao trình độ giác ngộ”, khi lập trường vững vàng, tư tưởng thông suốt thì chủ nghĩa cá nhân sẽ không thể ngóc đầu lên được. Đối với bộ đội, Bác dạy: “Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”, Người yêu cầu: “Học tập chính cương, chính sách của Đảng cho hiểu mà làm cho đúng tức là thực hành chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Luôn đổi mới chương trình, nội dung gắn với đổi mới toàn diện hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, lý luận để cán bộ, chiến sĩ dễ hiểu, dễ tiếp thu, không những không ngại học mà còn mong muốn được cập nhật kiến thức. Qua đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường luôn vững vàng, tư tưởng hoàn toàn thông suốt, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là; Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đây là giải pháp toàn diện, góp phần xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, từ đó ngăn chặn tận gốc biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lực lượng vũ trang. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn tẩy sạch chủ nghĩa cá nhân phải “Thực hành tự phê bình và phê bình đồng sự mình. Phê bình một cách thiết thực mà thân ái. Phê bình từ cấp trên xuống và từ cấp dưới lên. Phê bình nhau và giúp nhau sửa chữa” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu này. Hơn nữa, nếu coi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) như là bài thuốc đặc trị căn bệnh suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì thực hiện tốt Chỉ thị số 05 và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới sẽ như một liều thuốc bổ, làm cho “cơ thể” của chúng ta thêm cường tráng, ngời sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, từ đó vô hiệu hóa mọi loại “virus” độc hại nguy hiểm, chẳng khác gì “virus” Corona hiện nay.

Ba là; Đề cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, lực lượng chuyên trách trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hiện nay, trong thời kỳ chuyển đổi số hóa internet, mạng xã hội ngày càng phát triển và trở nên phổ cập, việc cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang tiếp nhận những thông tin đa chiều, phải, trái, trắng, đen, đúng, sai lẫn lộn là điều không thể tránh khỏi. Do vậy, hơn lúc nào hết, các cơ quan báo chí và lực lượng nòng cốt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trong lực lượng vũ trang cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, kịp thời đăng tải những bài viết có cơ sở khoa học phản bác; phê phán những quan niệm lệch lạc, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội… không để các loại “virus” này lây lan ngoài cộng đồng, khoanh vùng dập dịch được ngay.

Tăng cường nắm bắt thông tin, định hướng dư luận trước những vấn đề nóng bỏng mà xã hội cũng như cán bộ, chiến sĩ đang quan tâm, chú ý. Trong một số trường hợp, cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành chức năng để xác định, ngăn chặn, xử lý đối tượng vi phạm ẩn danh trên mạng xã hội; thậm chí, yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (Google, YouTube, Facebook,...) ngăn chặn không cho xuất hiện hoặc gỡ bỏ những thông tin vi phạm pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Đồng thời, tích cực tuyên truyền những điển hình tiên tiến trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, gương “người tốt, việc tốt” trong thực hiện Chỉ thị số 05 và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị chú trọng thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhằm ngăn chặn không cho các hiện tượng tiêu cực từ bên ngoài có điều kiện tiếp xúc và xâm nhập vào nội bộ đơn vị.

Đây là các giải pháp vừa có tác dụng tăng cường “sức đề kháng”, vừa ngăn chặn tiếp xúc với “dịch bệnh”, nếu tổ chức thực hiện tốt sẽ không còn chỗ cho virus “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tồn tại và các quan điểm sai trái cũng không có môi trường để xuất hiện; bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh nào, lực lượng vũ trang nhân dân ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có ý chí quyết tâm cao, vượt qua gian khổ, hy sinh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó./.

TIẾN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐÚNG CỦA ĐẢNG VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết gần đây đã khẳng định: “lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”. Đó là một quá trình không ngừng đổi mới nhận thức và tư duy về chủ nghĩa xã hội của Đảng ta. Với nhận thức tổng quát về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đó là quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Chúng ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nền sản xuất nhỏ là chủ yếu, mà theo cách nói của V.I.Lênin là “quá độ gián tiếp”. Đây là sự phát triển và đóng góp quan trọng của Đảng ta vào quá trình đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội.

Quan điểm này được Đại hội lần thứ VI của Đảng nêu ra và các kỳ Đại hội tiếp theo của Đảng tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và khẳng định. Đồng thời, thực tiễn cách mạng trong suốt hơn 35 đổi mới vừa qua đã chứng minh tính đúng đắn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã lựa chọn, điều này được khẳng định trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đó là: “tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”. Tổng Bí thư luận chứng một cách sáng rõ khi chỉ ra: Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp. Việc đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại, cho nên lại càng khó khăn, phức tạp; vì thế nhất thiết phải trải qua một thời kỳ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Những nhận định này là khoa học đứng trên lập trường của người mácxít, hoàn toàn không có sự mơ hồ, ảo tưởng như các thế lực thù địch từng rêu rao.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, văn hóa tinh thần luôn là động lực quan trọng, về điều này V.I.Lênin đã chỉ ra vấn đề văn hóa, trình độ văn hóa của quần chúng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội như là một trong những nhiệm vụ khó khăn, nhưng cơ bản và quyết định nhất, đồng thời là một động lực tinh thần to lớn nhất. Người đặc biệt nhấn mạnh việc cần phải làm giàu trí tuệ của mình bằng tổng số tri thức của nhân loại cộng lại, với tính cách là nội dung cơ bản, vừa là động lực mạnh mẽ về mặt văn hóa tinh thần trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vận dụng trung thành và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phát triển văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, để văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta đã nhận thức và từng bước hoàn thiện quan niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là sự đổi mới căn bản nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cùng với quá trình đó là sự hình thành quan niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là hình thức tối ưu để thực hiện quyền lực của nhân dân.

Với quan điểm phát triển kinh tế là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách, trong suốt quá trình phát triển. Theo đó, quan điểm Tổng Bí thư nêu ra trong bài viết: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm”. Những nhận định này là hoàn toàn có căn cứ khoa học, bác bỏ hoàn toàn các quan điểm sai trái thù địch xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Cùng với việc chỉ ra những hạn chế không thể khắc phục được của chủ nghĩa tư bản, trong bài viết, Tổng Bí thư cũng đã khẳng định những thành tựu của chủ nghĩa tư bản đạt được đó là: “Chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ”. Với quan điểm phủ định biện chứng chúng ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ chúng ta không bỏ qua những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản; tuy nhiên sự kế thừa này có sự chọn lọc.

Trong bài viết, Tổng Bí thư cũng đã chỉ ra những hạn chế cần phải khắc phục trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Và đi đến kết luận: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”; đồng thời, khẳng định Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng luôn kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân là cội nguồn của mọi sức mạnh, mọi thắng lợi, là hoàn toàn có căn cứ khoa học không phải là “sự hoang tưởng”, lại càng không phải là “cái bánh vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam” như những luận điệu xuyên tác, phủ nhận thành quả cách mạng chúng ta của các thế lực thù địch.

Sau khi được đọc bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta càng thấy rõ giá trị sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn, đó là lý luận về chủ nghĩa xã hôi, về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và tính tất yếu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Bài viết thể hiện tư duy và tầm nhìn chiến lược sắc sảo, chưa đựng tính khoa học, tính chính trị và tính chiến đấu cao; đồng thời, mang giá trị chỉ đạo hoạt động thực tiễn sâu sắc đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn lịch sử hiện nay./.

PHẤN ĐẤU THỰC HIỆN TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI LÀ KHÁT VỌNG CỦA TOÀN DÂN TỘC KHÔNG AI CÓ THỂ PHỦ NHẬN

 Phấn đấu tiến bộ và công bằng xã hội là ước mơ, khát vọng ngàn đời của loài người trong tiến trình phát triển của lịch sử. Đây cũng là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới, là nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở Việt Nam, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là một chủ trương lớn của Đảng, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, không những là mục tiêu, nhiệm vụ cần giải quyết, mà còn là động lực của sự phát triển của đất nước.

Thật đáng buồn, các thế lực thù địch, phản động, bọn trở cờ, cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ lại luôn tìm mọi cách để phủ nhận điều đó. Bằng việc tạo dựng, thu nhập những hình ảnh, chứng cứ rời rạc về những hạn chế, tiêu cực trong xã hội, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật ở từng bộ phận, địa phương, tổ chức, cá nhân, nhất là cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn của một bộ phận nhân dân, những người nghèo, vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo, những án oan, phân hóa, chênh lệch giàu nghèo…, các thế lực phản động, thù địch đã tự vẽ ra viễn cảnh của một Việt Nam “kém phát triển”, không có “dân chủ”, “nhân quyền”.

Chúng gào thét rồi cho rằng, Đảng, Nhà nước ta không hề quan tâm, chăm lo đến cuộc sống của người dân, thậm chí “bỏ mặc”, “tàn ác” với nhân dân, “tàn phá” đất nước để mưu lợi cá nhân. Trên cơ sở “tưởng tượng” ra những thứ “tự do” không có cả trên thiên đàng và hiện thực, cuộc sống “không làm mà vẫn có ăn”, sống sung sướng ở phía chân trời mới, xứ sở văn minh ở các nước tư bản chủ nghĩa, các thế lực phản động, thù địch không ngừng kêu gọi, tuyên truyền, kích động mọi người đấu tranh, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Và thực tế đã có không ít người tin, thực hiện theo những luận điệu sai trái đó, làm những việc của một kẻ “Việt gian phản động”, làm tổn hại đến thanh danh, lợi ích của quốc gia, dân tộc, để lại nỗi ô nhục, xấu hổ cho chính quê hương, gia đình, người thân, bè bạn của mình. Cũng có người đã “tỉnh ngộ”, dù là sớm hay muộn song cũng đều khẳng định rằng, chẳng ở nơi đâu bình yên, sống tự do, hạnh phúc như nơi chôn rau cắt rốn trên quê hương mình. Thực tế cho thấy, trong Đại dịch Covid - 19 vừa qua nhiều kiều bào ta đã tìm về Tổ quốc với mong muốn được hưởng những ưu đãi của Đảng và Nhà nước. Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó cũng chính là đường lối, chủ trương xuyên suốt của Đảng, hiện thực sinh động về tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam chúng ta.

Trong các văn kiện, nghị quyết, Đảng ta luôn khẳng định phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định phải nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ lớn “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Những thành tựu về tiến bộ và công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam đã chứng minh tính đúng đắn của chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước tất cả vì con người, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện con người, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong nhiều năm, quy mô nền kinh tế đã lớn hơn rất nhiều so với trước. Mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm (trừ 2 năm Đại dịch vừa qua). Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp…

Về xã hội: Thực hiện mục tiêu giảm bất bình đẳng, Việt Nam đã thực hiện một loạt các biện pháp, điển hình là Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020; Các chính sách khác như miễn giảm học phí cho trẻ em theo học ở các cơ sở giáo dục công lập; Chính sách hỗ trợ tiền ăn cho trẻ em từ 3 - 5 tuổi đi học mẫu giáo. Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, được Liên Hiệp Quốc đánh giá là một trong các nước có thành tích giảm nghèo ấn tượng nhất, trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ…

Về giáo dục: Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Điều này cho thấy sự chuyển biến tích cực trong việc thực hiện các chương trình về xóa mù chữ. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết, ước tính tỷ lệ nam giới biết chữ là 96,6% trong khi tỷ lệ này ở nữ giới đã lên tới 93,5% và dự kiến đến năm 2030, khoảng cách này sẽ càng thu hẹp. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo cũng có xu hướng tăng đều qua các năm, nguồn nhân lực chất lượng cao cũng được các cấp, các ngành chú trọng đào tạo…

Về y tế: Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ. Tỉ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 81% năm 1990 xuống còn khoảng 21,5% năm 2017; tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đã giảm tương ứng từ 50% xuống còn khoảng 13,4%; tỉ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ các loại vắc xin chiếm 96,4%. Tuổi thọ trung bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 73,5 tuổi năm 2017.

Tóm lại, từ quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta đến kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới, nhất là bằng những con số biết nói kia, chúng ta có thể khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội mà chúng ta đã và đang xây dựng, chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng là xã hội tương lai mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Mọi âm mưu, hành động xuyên tạc, phủ nhận hiện thực sinh động đó đều là vô nghĩa. Mọi người dân Việt Nam tiếp tục đoàn kết một lòng, thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, kế hoạch mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã đề ra trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay./.

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI KHÔNG MỘT THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG THÙ ĐỊCH NÀO CÓ THỂ XUYÊN TẠC BÔI NHỌ

 Cứ gần đến dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh mùng 2 tháng 9 hằng năm, các thế lực thù địch, phản động lại tăng cường các hoạt động chống phá cách mạng nước ta. Đặc biệt, lợi dụng các trang mạng xã hội, chúng xuyên tạc, phủ nhận, bóp méo sự thật về giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này. Một trong những luận điệu mà chúng đưa ra đó là, thành công Cách mạng tháng Tám năm 1945 không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là kết tinh sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, mà thành công đó là một sự “may mắn” do điều kiện lịch sử tạo ra. Thực chất, đây chính những luận điệu phản khoa học, phi thực tế, sai sự thật. Ẩn náu đằng sau những luận điệu đó chính là mưu đồ nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; hạ thấp, phủ nhận sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa to lớn thời đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945 của các thế lực thù địch, phản động.

Suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta những năm 1930 của thế kỷ trước, chắc chắn một điều rằng, tất cả những người có lương tri, có tư duy đều dễ dàng nhận thấy thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhãn quang Cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả của sự đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh của toàn dân tộc. Điều đó được thể hiện ở việc chuẩn bị công phu về mọi mặt, từ việc chuẩn bị về chủ trương, đường lối, về xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, về xây dựng căn cứ địa cách mạng… trong suốt 15 năm kể từ khi Đảng ta ra đời. Đặc biệt, thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là nhờ có tư duy sắc sảo, nhạy bén, sáng tạo, quyết đoán của Đảng ta trong xác định, lựa chọn thời cơ tiến hành tổng khởi nghĩa.

Ngay từ ngày đầu mới thành lập, trong chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng ngày 03 tháng 02 năm 1930, Đảng ta đã chủ trương kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Từ chủ trương, đường lối đó, Đảng ta đã cụ thể hóa vào thực tiễn, đề ra các giải pháp cụ thể, phù hợp trong mỗi thời điểm và đã tổ chức lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh rộng khắp, điển hình là các phong trào cách mạng: cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931; phong trào dân chủ 1936 - 1939; phong trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945, mà đỉnh cao là cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng 8 năm 1945.

Đảng ta xác định lực lượng chính trị quần chúng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng lực lượng chính trị quần chúng là vấn đề có tính nguyên tắc, là yêu cầu khách quan của cách mạng. Từ nhận thức đó, ngay từ những ngày đầu thành lập, Đảng ta đã chủ trương phải xây dựng được lực lượng chính trị quần chúng đông đảo, mạnh mẽ. Để thực hiện được điều đó, Đảng xác định phải có một đội ngũ cán bộ nắm giữ các vị trí chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo để liên kết các phong trào đấu tranh. Chính vì vậy, Đảng đã cử nhiều thanh niên ưu tú đi học tập, đào tạo tại các trường của Quốc tế Cộng sản, nhằm chuẩn bị lực lượng ưu tú, sau này về nước nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong Đảng, trong các tổ chức cách mạng, làm lực lượng nòng cốt trong truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước nâng cao nhận thức chính trị, trang bị lý luận cách mạng cho các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, Đảng cũng đã thành lập một số tổ chức để tập hợp quần chúng, tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tiến hành sự nghiệp cách mạng.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định,cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi nhất thiết phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng của giai cấp thống trị. Chính vì lẽ đó, phải xây dựng lực lượng vũ trang và coi đây là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tham gia chiến đấu, có vị trí vô cùng quan trọng và quyết định sự thành công của phong trào cách mạng. Vì vậy, Đảng ta đã từng bước thành lập các tự vệ, đội du kích, rồi tiến tới thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, lực lượng nòng cốt cho các tổ chức vũ trang cùng nhân dân đánh giặc. Đảng đã lãnh đạo các lực lượng vũ trang cùng toàn dân tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Đảng ta đã chủ trương tổ chức xây dựng các căn cứ địa cách mạng để tập hợp, xây dựng các tổ chức, các lực lượng cách mạng và huấn luyện lực lượng này để chuẩn bị cho khởi nghĩa. Thực tế chiến tranh đã cho thấy, chủ trương đó là hoàn toàn đúng đắn, các căn cứ địa cách mạng của ta đã được xây dựng vững chắc và phát huy tốt vai trò là nơi đóng quân của lực lượng cách mạng, là nơi có thế tiến công địch, đồng thời cũng là phòng thủ vững chắc để bảo vệ lực lượng và có thể dễ dàng liên lạc và nhận sự ủng hộ của cách mạng thế giới, đồng thời cũng là nơi cung cấp sức người, sức của cho cách mạng.

Bằng nhãn quang Cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm đúng thời cơ chẳng những khoa học mà còn là nghệ thuật giành chính quyền, tránh sai lầm, tránh gây tổn thất cho cách mạng. Điều này đã được kiểm nghiệm từ thực tế các cuộc chiến tranh trên thế giới cũng như từ các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của ông cha ta trong lịch sử, đặc biệt là từ kinh nghiệm về chọn thời cơ của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Khi nhận thấy tình hình thế giới có sự biến đổi nhanh chóng và mau lẹ, Nhật đã đầu hàng đồng minh, Đảng ta nhận định, thời cơ đã chín muồi để tiến hành tổng khởi nghĩa. Với sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ mọi yếu tố và biết lựa chọn đúng thời cơ tiến hành khởi nghĩa mà cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta giành được thắng lợi to lớn, triệt để, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa- Nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông - Nam Á.

Thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thành quả của sự đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, kể cả sự hy sinh, mất mát của toàn dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt 15 năm kể từ khi Đảng ta ra đời. Từ những luận cứ có tính khoa học, từ những vấn đề thực tiễn về lãnh đạo cách mạng; Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh là chuẩn bị về chủ trương, đường lối; về xây dựng lực lượng chính trị; về xây dựng lực lượng vũ trang; về xây dựng căn cứ địa cách mạng; về xác định, lựa chọn thời cơ khởi nghĩaĐó là kết tinh sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, đầy hy sinh, gian khổ của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, chứ không phải là một cuộc cách mạng vội vàng, ngẫu nhiên, “may mắn” như những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao, kích động. Đây cũng là minh chứng sống để những kẻ nào chưa hiểu biết, hoặc cố tình không hiểu biết về giá trị lịch sử của Cách mạng tháng Tám năm 1945, thì hãy học lại lịch sử để không phải hổ thẹn với con cháu sau này./.

KẾT QUẢ TRONG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG LÀ MINH CHỨNG ĐỂ PHẢN BÁC QUAN SAI TRÁI CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định; Chống tham nhũng “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, kỷ luật cán bộ sai phạm là điều không ai mong muốn, nhưng vì sự nghiệp chung và vì sự tồn vong của Đảng, chúng ta phải làm, kiên quyết làm. Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 - 2020 đã chỉ ra: “Từ năm 2013 đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương đã khởi tố, điều tra trên 14.300 vụ/24.410 bị can, xét xử sơ thẩm hơn 11.700 vụ/22.600 bị cáo về tham nhũng, kinh tế, chức vụ”… Từ những kết quả đó chúng ta có thể khẳng định, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được quốc tế ghi nhận. Kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là minh chứng sống bác bỏ tất cả những tổ chức, cá nhân có quan điểm sai trái, thù địch với cách mạng Việt Nam.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ lâu dài, khó khăn, phức tạp, cần sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, với phương châm: kiên quyết, kiên trì, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “không ngừng”, “không nghỉ”, được thực hiện với các giải pháp đồng bộ như sau:

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân tạo sự thống nhất cao về ý chí, hành động trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, trên cơ sở đó nhận diện, vạch trần những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch chống phá cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Đây là giải pháp rất quan trọng, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân có nhận thức đúng đắn, tin tưởng, ủng hộ cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước, còn là cơ sở đấu tranh bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục sâu rộng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp, quy định của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; công khai, minh bạch thông tin về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao cả về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bên cạnh đó, cần “chỉ mặt”, “điểm tên” những quan điểm sai trái, định hướng cho cán bộ, đảng viên và người dân tin theo đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, để không nghe, không tin, không mắc mưu, không phát tán thông tin xấu độc, đồng thời tích cực đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái chống phá cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tạo cơ sở để kiên quyết, kiên trì đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng nói riêng cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực và cơ chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng vững chắc, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng. khẩn trương, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, kịp thời khắc phục những bất cập, những "khoảng trống", "kẽ hở" để "không thể tham nhũng".

Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, có đãi ngộ hợp lý, đảm bảo cuộc sống cho cán bộ, công chức, viên chức để “không cần tham nhũng”. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phát hiện sớm, xử lý nhanh và nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng đủ sức răn đe để cán bộ “không dám tham nhũng”.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta sẽ còn diễn ra lâu dài, khó khăn, phức tạp, trong điều kiện các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn tinh vi, thâm độc để điên cuồng chống phá. Để cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” ngày càng đạt kết quả tốt, đồng thời đập tan những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, phát huy hơn nữa vai trò của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, đặc biệt cần phát huy vai trò của đội ngũ nhân sĩ, trí thức, nhà báo, lực lượng chuyên trách, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, chống phá cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của  Đảng và Nhà nước ta.

Quân đội ta là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội có vinh dự và trách nhiệm học tập, rèn luyện, phấn đấu trở thành đội quân tiên phong, gương mẫu, xung kích đi đầu, làm nòng cốt, cổ vũ các lực lượng trong xã hội đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hòa bình”“Tự diễn biến”, Tự chuyển hóa”, bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch chống phá cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh tiêu biểu, xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, không có tham nhũng. Đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện để cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh nhuệ về chính trị, trong sạch về đạo đức, lối sống, thực hiện nghiêm quy định khai thác, sử dụng thông tin trên các phương tiện truyền thông, đặc biệt là trên không gian mạng, miễn dịch với thông tin xấu độc, nhận diện chính xác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, không để văn hóa phẩm đồi trụy xâm nhập vào đơn vị. Phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, đội ngũ nhà giáo, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị các cấp, đặc biệt quan tâm phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, ban chỉ đạo 94, lực lượng 47 trong quân đội, nhằm quản lý chặt chẽ, nắm chắc tình hình, tuyên truyền đậm nét gương người tốt, việc tốt, lấy cái đúng át cái sai, lấy cái tốt, cái tiến bộ át cái xấu, cái tiêu cực lạc hậu. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh trực diện bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch chống phá cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Đầu tư đúng mức để có nhiều công trình khoa học, tác phẩm nghệ thuật, chương trình phát thanh, truyền hình, hội thảo, tọa đàm, diễn đàn, bài viết, bài nói, clip có sức lan tỏa sâu rộng trong đơn vị, toàn quân và xã hội đấu tranh bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng hiện nay./.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

 Ở Việt Nam tham nhũng được xem là một “quốc nạn”, là thứ “giặc nội xâm”, một trong bốn nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta lại tiếp tục khẳng định: “Công tác phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn và có chiều hướng giảm”. Thông qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

Thời gian gần đây, trên các trang mạng xã hội có những bài viết xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta; chúng lập luận rồi đưa ra các quan điểm cho rằng; Đảng Cộng sản Việt Nam không thể hoàn thành sứ mệnh phòng, chống tham nhũng trong nội bộ Đảng hiện nay; khi các thế lực thù địch đưa ra quan điểm sai trái này, chính là lúc bọn chúng bộc lộ sự lo sợ trước những thành tựu của công cuộc đổi mới, trước kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng rất quyết liệt của Đảng và Nhà nước ta.

Chúng sử dụng những thủ đoạn tinh vi, thâm độc điên cuồng phá hoại quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước, phá vỡ niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân; thúc đẩy “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ, hạ thấp uy tín, phủ nhận vị trí cầm quyền, cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch công khai công kích, xúi giục, lôi kéo, hỗ trợ những phần tử bất mãn, thoái hóa, biến chất, quá khích cấu kết với bọn phản động, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước, tụ tập đông người để gây rối, biểu tình, tạo áp lực lên chính quyền, gây mất ổn định chính trị, tạo dựng ngọn cờ, gây bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Mở lại những trang sử hào hùng của dân tộc đã ghi nhận, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX phong trào yêu nước ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, hàng loạt cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra, chống lại ách đô hộ, áp bức tàn bạo của thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước nhưng đều bị thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng, bế tắc về đường lối lãnh đạo. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), Đảng được trang bị lý luận sắc bén, tiến bộ là chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc; Vì vậy, nhân dân tin tưởng trao cho Đảng quyền lãnh đạo cách mạng, nhân dân bảo vệ Đảng đi theo Đảng làm cách mạng, Đảng có địa vị vững chắc trong lòng nhân dân, trong lòng Dân tộc Việt Nam ngay từ ngày đầu có Đảng.

Xét về pháp lý, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) đã xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”. Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) tiếp tục khẳng định: “Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam có địa vị lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xét về thực tiễn, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc Cách mạng long trời lở đất Tháng Tám năm 1945; giành thắng lợi vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Qua 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử; Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói “chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”. Từ những vấn đề lý luận, lịch sử và thực tiễn cách mạng Việt Nam, chúng ta khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam có đầy đủ địa vị, uy tín, bản lĩnh, năng lực trí tuệ lãnh đạo thành công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà không một thế lực nào có thể ngăn cản được. Những lời xảo trá, xuyên tạc, bịa đặt của một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động kia chẳng hề làm mảy may gì đến kết quả trong công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta./.