Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022
CHIÊU TRÒ TẨY TRẮNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ĐỒNG ĐÔ LA!
Mới
đây nhiều tờ báo ca ngợi em Tăng Vân Khanh, học sinh lớp 12 Văn, trường THPT
Chuyên Nguyễn Trãi, Hải Dương vừa đỗ 7 trường Đại học Mỹ danh giá và được cấp
các mức học bổng với tổng trị giá lên đến hơn 25 tỷ đồng từ một bài luận 650 từ
viết về người Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng
nói là em đã tư duy theo cách gọi của người Mỹ về "cuộc chiến tranh xâm lược
Việt Nam" là “Cuộc chiến tranh Việt Nam". Tôi cứ đặt câu hỏi ai đã dạy
em cách gọi ấy và không biết gia đình, dòng họ em có ai hy sinh trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước không nhưng rõ ràng đây là một chiêu trò tẩy trắng
cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của người Mỹ khi họ chọn chủ đề du học là cuộc
chiến tranh xâm lược Việt Nam!
Rõ
ràng là, 21 năm Mỹ xâm lược Việt Nam, chia đôi đất nước để dễ bề thôn tính,
hàng triệu người Việt Nam đã đổ máu để đổi lấy thống nhất, độc lập trước 1 đội
quân đế quốc xâm lược. Thế mà, không biết tự bao giờ mà một bộ phận giới trẻ Việt
Nam hôm nay như Tăng Vân Khanh lại có thể gọi là "Cuộc chiến tranh Việt
Nam? rồi ngày mai, ngày kia những đứa con của Tăng Vân Khanh có tiếp tục được
chính người mẹ các cháu có dạy cho các cháu như vây không. Nếu đúng như thế thì
thật là đau buồn!
Tôi
còn nhớ, Cách đây 27 năm, ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã chính
thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; rạng sáng ngày
12/7/1995 (giờ Việt Nam), Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã chính thức tuyên bố
bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ. Đây là kết quả của một hành trình
dài với những nỗ lực bền bỉ của cả hai bên quyết tâm gác lại quá khứ hướng
tới tương lai, từ một cựu thù đến nay hai nước đã trở thành đối tác
toàn diện.
Tuy
nhiên, sau 27 năm bình thường hóa quan hệ, những gì Mỹ mong muốn ở
Việt Nam đang nằm ngoài sức tưởng tượng của đa số người Việt Nam bởi
trước mắt chúng ta, những người dân Việt Nam chỉ nhìn thấy bức tranh
kinh tế của nó nhưng sẽ không hiểu hết đằng sau đó Mỹ đang muốn gì
ở Việt Nam.
Đầu
tiên chúng ta hãy nhớ lại, sau khi Mỹ rút quân khỏi miền Nam, giới
lãnh đạo Hoa Kỳ đã tuyên bố: 30 năm sau người Mỹ sẽ trở lại Việt Nam không
phải bằng bom đạn mà bằng Dollas và người Việt Nam sẽ phải chào đón họ như những
người anh hùng...
Trong
một lần sang thăm Việt Nam, Tổng thống Binclinton cũng từng nhắc lại ý
định này trước hàng nghìn sinh viên các trường Đại học Việt Nam rằng "những
gì mà người Mỹ trước đây chưa thực hiện được ở Việt Nam thì chính những thế hệ
người Việt Nam sau này sẽ thay họ thực hiện nó..." Vậy thì những gì
họ chưa thực hiện được mà họ mong muốn những thế hệ người Việt thay
họ thực hiện???
Mỹ
đã từng xâm lược Việt Nam và họ đã thất bại, những người đã từng
làm tay sai tiếp tay cho Mỹ cũng thất bại và đó cũng là điều mà họ
muốn một bộ phận người Việt Nam hôm nay và mai sau tiếp tục làm tay
sai cho họ lần nữa. Muốn đạt được mục đích đó không có con đường nào
duy nhất ngoài việc tác động chuyển hóa tư tưởng bằng đầu tư giáo
dục, về lâu dài những con người ấy sẽ nắm giữ các vị trí quan
trọng trong Đảng, Nhà nước họ có thể dưới sự điều khiển, dật dây
của Mỹ làm chuyển hóa toàn bộ hệ tư tưởng hiện nay của chúng ta.
Để
thực hiện mục tiêu này, Năm 2016, Đại học Fulbright Việt Nam được thành lập
tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên khi tiến hành các hoạt động giáo
dục họ đã cương quyết không đưa các môn Lý luận Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí
Minh vào chương trình dạy học đồng thời mở ra các ngành, chuyên ngành đào tạo
theo hơi hướng giá trị thực dụng phương tây, xã hội dân sự... Thực chất là nhằm
tới phá vỡ nền tảng XHCN đưa một thế hệ người Việt theo học mang nặng tư
duy sùng bái Mỹ, thậm chí có tư tưởng chống lại chế độ hoặc ngấm
ngầm hoặc công khai.
Hàng
năm, Mỹ chi tới 5 triệu USD/năm từ cái gọi là "Quỹ Sáng kiến Thủ lĩnh Trẻ
Đông Nam Á" (Yseali) để thành lập Học viện Yseali tại Việt Nam. Quỹ
này trong chuỗi hoạt động của cựu Tổng thống Barack Obama "nhằm tăng cường
năng lực lãnh đạo và kết nối trong ASEAN" nhưng nó chỉ là vỏ bọc để
tuyển chọn, huấn luyện, đào tạo mầm mống cho cái gọi là các nhà dân chủ và
các tổ chức "xã hội dân sự" - mầm mống của những cuộc cách mạng
màu mà nó đã từng diễn ra ở các nước Liên Xô, Đông Âu và đã lật đổ
thành công CNXH ở đây, điển hình của sự bất ổn hiện nay như Tunisia,
Ucraina và nhiều nước trên thế giới. Trong suốt quá trình bình thường
hóa quan hệ, Mỹ luôn tìm mọi cách can thiệp vào lĩnh vực dân chủ,
nhân quyền, tự do tôn giáo của Việt Nam, thậm chí luôn dung túng những
kẻ bất mãn chống lại nhà nước Việt Nam thì câu hỏi đặt ra Mỹ đang
muốn gì ở Việt Nam đã quá rõ. Hiện chúng ta có trên dưới 30.000 sinh
viên đang học tập tại Mỹ và rất có thể các em lại là những phương tiện, tay sai
đắc lực cho Mỹ mà việc đầu tiên là tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt
Nam bằng những đồng USD dơ bẩn./.
Nguồn Xây dựng Đảng
NGƯỜI CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
6 tháng trước khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, giữa núi rừng Việt Bắc, Bác Hồ đã soạn thảo “Cuốn sách của người Chính trị viên” với những huấn thị của Người về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác chính trị, vai trò của người Chính trị viên trong các đơn vị bộ đội. Tác phẩm gồm 44 trang, trong đó lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tập trung làm nổi bật các vấn đề cốt lõi của công tác chính trị.
Ngay trong phần nội dung đầu tiên của tác phẩm, Người đã nói rõ và cụ thể về vai trò công tác của người Chính trị viên trong đội vũ trang hay đội du kích: Trong sinh hoạt chính trị, sinh hoạt quân sự và sinh hoạt vật chất. Người viết:
“1. Trong đội vũ trang hay đội du kích sinh hoạt kém thì ai chịu trách nhiệm?
- Trả lời: Hoàn toàn là người chính trị viên chịu trách nhiệm.
2. Trong đội vũ trang hay đội du kích sinh hoạt quân sự kém hay sai lầm thì ai chịu trách nhiệm?
- Trả lời: Cả Đội trưởng cùng Chính trị viên chịu trách nhiệm. Nếu vũ trang hành động có hại về mặt chính trị thì trách nhiệm của Chính trị viên nặng nề hơn.
3. Trong đội vũ trang hay đội du kích sinh hoạt vật chất hoặc thiếu thốn hoặc quá xa xỉ? thì ai chịu trách nhiệm?
- Trả lời: Phần lớn Chính trị viên chịu trách nhiệm.
Thế mới biết nhiệm vụ của Chính trị viên là khó khăn.”
Trong phần “Công tác chính trị trong đội du kích”, Người nêu bật sự cần thiết của công tác chính trị trong đội du kích: “Không có công tác chính trị đúng thì đội du kích dễ bị mất tính chất cách mạng của nó, dễ đi con đường sai lầm, không lợi cho cách mạng và có thể rất hại cho cách mạng, ví dụ nó có thể hóa ra quân phiệt, hóa ra thổ phỉ.”. Công tác chính trị trong đội du kích, gồm: Công tác chính trị đối với bộ đội; công tác chính trị với dân chúng; công tác chính trị đối với quân đội đế quốc.
Công tác chính trị đối với bộ đội trên các mặt: Nhận thức chính trị; sinh hoạt; công tác chính trị trước khi chiến đấu; công tác chính trị trong lúc chiến đấu; công tác chính trị sau khi chiến đấu.
Công tác chính trị trong dân chúng: Cần nhất quán nguyên tắc “quân dân nhất trí”, Người nhấn mạnh: “Du kích là đội quân của dân, ở trong dân chúng do dân chúng tổ chức ra để binh vực quyền lợi cho dân chúng vì dân chúng mà hi sinh, chiến đấu giành chính quyền”. Để đảm bảo công tác chính trị trong dân chúng đạt hiệu quả cần: Chú trọng công tác tuyên truyền cổ động; tổ chức huấn luyện; phát huy lực lượng của dân chúng; cách đối đãi với dân chúng.
Trong tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành riêng 1 chương viết về “Địa vị của người Chính trị viên”. Người Chính trị viên cần có những tư cách sau:
1. Đi đúng con đường chính trị giác ngộ cách mạng sâu sắc, nhận thức cách mạng vững vàng, có lý luận cách mạng và kinh nghiệm chính trị dồi dào.
2. Phải là người có năng lực lãnh đạo, người Chính trị viên “không phải một ông quan suốt ngày ngồi trên bàn giấy viết thông cáo và chỉ thị. Người Chính trị viên là người nhúng tay vào tất cả mọi việc để do đó còn dìu dắt người khác. Người Chính trị viên phải có nhiều năng lực lãnh đạo, năng lực này phải đủ mọi mặt quân sự lẫn chính trị, năng lực về tuyên truyền, tổ chức, xếp đặt kế hoạch…”.
3. Làm mô phạm, nói về tác dụng mô phạm của người Chính trị viên ở chỗ: “Người Chính trị viên là người nhúng tay vào tất cả mọi việc để do đó còn dìu dắt người khác. Nhúng tay vào làm thực sự chứ không phải làm cho qua chuyện. Nhúng tay vào làm hơn người ta cho người ta noi theo mà làm, cho người ta bắt chước”. Tính mô phạm của người Chính trị viên về mặt kỉ luật; mặt giữ bí mật; mặt xử trí tiền tài của đoàn thể… Trong bất cứ lúc nào, bất cứ việc gì người Chính trị viên cũng phải làm gương.
Phần cuối của tác phẩm, Người viết:
“Xem xong “Cuốn sách của người Chính trị viên” này, các đồng chí chính trị viên hiện thời và tương lai nhận thấy thế nào?
Chắc chắn các đồng chí nhận thấy khó khăn lắm!
Khó vẫn khó!
Nhưng chúng ta là người cách mạng, hơn nữa chúng ta là Chính trị viên, chúng ta phải học tập, làm cho được.”
Theo Người, xây dựng Quân đội về chính trị là phải chú trọng đến bản chất giai cấp công nhân, đến tính nhân dân và tính dân tộc, làm cho Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; lấy xây dựng chính trị làm cơ sở để xây dựng các mặt khác; coi việc xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần là một trong những nhân tố quyết định đến thắng lợi…
Chiến đấu với những đội quân nhà nghề, thiện chiến, được trang bị vũ khí tối tân hơn hẳn nhiều lần, trong lúc Quân đội ta phát triển lên “từ không đến có”, vừa chiến đấu vừa xây dựng thì chỉ có thể giành thắng lợi trước kẻ thù xâm lược bằng sự vững mạnh về chính trị. Lịch sử đã chứng minh, Quân đội ta chiến đấu và chiến thắng đội quân xâm lược nhà nghề của “hai đế quốc to” cũng là nhờ vững mạnh về chính trị. Trong quá trình xây dựng Quân đội, Người không bao giờ xem nhẹ vũ khí và trang bị kỹ thuật, nhưng Người luôn luôn nhấn mạnh: “Vũ khí rất cần, nhưng quan trọng hơn là người sử dụng vũ khí”, “là người vác súng”. Người nói: “Chúng ta không sợ thiếu vũ khí, chỉ sợ khi thời cơ đến lại thiếu người cầm vũ khí”. Vì vậy, trong sự nghiệp cách mạng, Bác Hồ đã dành tâm huyết để đào tạo, rèn luyện, chăm sóc những thế hệ chiến sĩ cầm súng trung thành, có bản lĩnh chính trị, tinh thông về quân sự, có trình độ văn hóa và sức khỏe dồi dào, là những con người “dám quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Người nói làm được thế thì “không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được Quân đội nhân dân Việt Nam”.
“Cuốn sách của người Chính trị viên” là một trong những tiền đề, cơ sở lý luận khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 đồng chí, trong đó đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) là Chính trị viên. Ngay khi thành lập, Đội đã quán triệt và thực hiện tốt tư tưởng, phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”, “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”. Người thường xuyên huấn thị: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại.Quân đội ta là quân đội nhân dân, nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”.
Suốt 76 năm qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đi trước tiếp tục dìu dắt thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay đã phát huy mạnh mẽ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, giương cao ngọn cờ “Quyết chiến, Quyết thắng”, xây dựng quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm tròn hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng và của nhân dân và thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập - tự do của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”./.
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH
Với phương châm lấy “xây” để “chống”, báo chí cách mạng đã chủ động, tích cực tham gia tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Báo chí cũng là lực lượng chủ công tuyên truyền làm nổi bật những thành tựu của đất nước, tính ưu việt của chế độ và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Báo chí cách mạng cũng tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lên án những hành vi coi thường kỷ cương, phép nước. Qua đó, báo chí không những góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà còn góp phần củng cố niềm tin, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Đặc biệt, bằng sự tương tác đa chiều với bạn đọc, báo chí cách mạng đang tham gia mạnh mẽ, có hiệu quả vào công tác đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần định hướng dư luận, củng cố niềm tin trong nhân dân. Với nhiều bài viết sắc sảo, lập luận chặt chẽ, có luận cứ, luận điểm sắc bén bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự đúng đắn, sáng tạo trong quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; kịp thời phản bác những luận điệu sai trái góp phần quan trọng đấu tranh ngăn chặn sự phá hoại về tư tưởng nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống đất nước ta của các thế lực thù địch.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi các cơ quan báo chí phải luôn đề cao tính thận trọng. Báo chí phải tăng cường khả năng “bút chiến”, sự sắc sảo, sức thuyết phục, nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn. Trước mỗi luận điểm, vấn đề, các nhà báo cần cố gắng tìm tòi, khai thác thông tin để chứng minh làm rõ vấn đề một cách thuyết phục.
Đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, đòi hỏi mỗi chúng ta phải thực sự chủ động, quyết liệt, kiên trì và bền bỉ. Chỉ có phát huy được sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức, các lực lượng tuyên truyền trong hệ thống chính trị, chúng ta mới đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; phòng ngừa, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 97 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21/6/1925 - 21/6/2022).
Cách đây 97 năm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Báo Thanh niên, số ra đầu tiên vào ngày 21/6/1925, đặt nền móng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của Báo Thanh niên là dấu mốc quan trọng của cách mạng nước ta. Thông qua Báo Thanh niên, Bác Hồ truyền bá tư tưởng cách mạng tới đông đảo các tầng lớp nhân dân, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/2/1930 và 20 năm sau đó, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Suốt 97 năm qua, Báo chí Cách mạng luôn đồng hành cùng dân tộc, lớn lên cùng cách mạng, phục vụ cách mạng, phụng sự nhân dân. Người làm báo thực sự là chiến sỹ, với cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén, góp phần xứng đáng vào công cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.
Nhân dịp ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, xin gửi lời chúc tới các bác, anh, chị, em đã, đang và sẽ trở thành những nhà báo lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và luôn có cái tâm sáng, ngòi bút sắc bén góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.
NGƯỜI ĐIỆP VIÊN CÔNG GIÁO HUYỀN THOẠI.
Lịch
sử tình báo thế giới đã lưu danh rất nhiều điệp viên huyền thoại, nhưng nhiệm vụ
mà nhà tình báo cách mạng Phạm Ngọc Thảo đã làm, đến nay vẫn được coi là “có một
không hai”. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng nhận định: "Anh Phạm Ngọc Thảo
đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có tiền lệ trong công tác cách mạng của
chúng ta".
Trong
cuốn sách “Điệp viên hoàn hảo”, nhà sử học người Mỹ Larry Berman đã dẫn lời điệp
viên Phạm Xuân Ẩn: "Nhiệm vụ được giao cho Phạm Ngọc Thảo khác với nhiệm vụ
của tôi. Ông ấy có nhiệm vụ làm mất ổn định của chế độ Diệm và vạch âm mưu đảo
chính, còn tôi là một nhà tình báo chiến lược. Nhiệm vụ của ông Phạm Ngọc Thảo
nguy hiểm hơn nhiệm vụ của tôi rất nhiều".
Đại
tá, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Ngọc Thảo là tấm gương thầm lặng hy sinh, trung
thành với lý tưởng cách mạng đến phút giây cuối cùng. Đối với kẻ thù, khi tra tấn
Phạm Ngọc Thảo đến chết, chúng vẫn không hay biết ông là điệp viên cộng sản.
Ông được đồng bào, chiến sĩ cả nước biết đến nhiều hơn sau khi nhà văn Nguyễn
Trương Thiên Lý viết tác phẩm “Ván bài lật ngửa” mà Phạm Ngọc Thảo là nguyên mẫu
nhân vật chính.
Hồ
sơ phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của Đại tá Phạm Ngọc Thảo đã đề
cập ngắn gọn về cuộc đời như huyền thoại của ông:
“Đồng
chí Phạm Ngọc Thảo (tức Phạm Thao), sinh năm 1922, tại tỉnh Long Xuyên, dân tộc
Kinh. Tham gia cách mạng năm 1945, nhập ngũ 1946. Lúc hy sinh, đồng chí là Đại
tá, cán bộ Cục Nghiên cứu, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng
8-1945, đồng chí tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn. Đầu năm 1946, đồng chí được
cử ra miền Bắc học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân
I). Ra trường, đồng chí trở lại miền Nam hoạt động ở địa bàn Khu 8, Khu 9.
Cuối
năm 1947, được trên giao làm Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ (cơ quan tình báo của
ta). Với tinh thần trách nhiệm, trong một thời gian ngắn, đồng chí đã thống nhất
được các lực lượng tình báo toàn Nam Bộ.
Năm
1949, được trên điều sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410 chủ lực Khu 9, tiểu
đoàn đã chiến đấu nhiều trận thắng lợi lớn, góp phần mở rộng vùng giải phóng.
Sau
Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhận chỉ thị của tổ chức, đồng chí ở lại miền Nam, dựa vào
thế lực là một gia đình trí thức, theo Thiên Chúa giáo, thân cận với gia đình họ
Ngô, đồng chí đã thâm nhập đi sâu, leo cao vào chế độ ngụy quyền miền Nam, phục
vụ yêu cầu tình báo chiến lược.
Trong
thời gian làm việc trong chế độ ngụy, Phạm Ngọc Thảo lần lượt là: Năm 1956, được
phong Đại úy, Tỉnh trưởng Bảo an Vĩnh Long. Năm 1957, được đề bạt Thiếu tá, thuộc
Sở Nghiên cứu chính trị-xã hội của Phủ Tổng thống (cơ quan mật vụ của ngụy do
Trần Kim Tuyến phụ trách). Năm 1958, được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến
Tre).
Cuối
năm 1961, do bị nghi ngờ là nội tuyến của Việt Cộng, nên địch điều đồng chí đi
học nước ngoài, đến giữa năm 1962 về đảm nhiệm chức Tham vụ chuyên môn Phủ Tổng
thống.
Với
bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định quan điểm, đường lối chiến tranh nhân
dân của Đảng, với ý thức kỷ luật cao, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ tình
báo mưu trí, sáng tạo, giành thế chủ động tấn công địch.
Những
năm làm tỉnh trưởng, với bình phong bất lợi nhưng đồng chí đã cung cấp được nhiều
tin tức, tài liệu liên quan đến các cuộc hành quân của địch trong tỉnh và quân
khu, nên đã ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do các cuộc hành quân quy mô lớn của
địch gây ra.
Lợi
dụng chức vụ tỉnh trưởng, đồng chí đã đẩy được một trung đoàn của Sư đoàn Bộ
binh 3 của ngụy, 5 tiểu đoàn biệt động do địch đưa về đàn áp phong trào du kích
Bến Tre ra khỏi tỉnh. Hoặc khi địch mở cuộc hành quân ở khu vực nào đó, đồng
chí đã bí mật báo cho lực lượng ta biết để đối phó…
Năm
1965, không may sa vào tay địch, chúng tra tấn đồng chí rất dã man, song không
hề lay chuyển được ý chí sắt đá của đồng chí. Cay cú trước khí phách hiên ngang
của người cộng sản, địch đã giết hại đồng chí.
Đồng
chí Phạm Ngọc Thảo là một cán bộ tình báo chiến lược, được Trung ương trực tiếp
chỉ đạo đi sâu, leo cao vào những vị trí trọng yếu của địch. Với bản lĩnh chính
trị vững vàng, lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, đồng
chí đã lập được nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc.
Đồng
chí đã được truy phong quân hàm Đại tá và được công nhận liệt sĩ. Xét thành tích
đặc biệt xuất sắc của đồng chí trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày
30-8-1995, đồng chí được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT Nhân
dân".
Vì
nhiều lý do, nhiều chi tiết, câu chuyện như huyền thoại về cuộc đời hoạt động của
Phạm Ngọc Thảo đến nay vẫn chưa được công bố. Nhiều nhà phân tích tình báo quốc
tế đã gọi Phạm Ngọc Thảo là “điệp viên có một không hai” vì ông là điệp viên hoạt
động đơn tuyến, không có đồng đội trực tiếp hỗ trợ, chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến
lược của Trung ương.
Nhiệm
vụ của ông không phải là thu thập tin tức mà là tác động đến sự "rối loạn
chế độ ngụy quyền". Bằng hoạt động của mình, Phạm Ngọc Thảo là người có thể
tác động trực tiếp đến ngụy quân, ngụy quyền. Là sĩ quan cao cấp trong Quân lực
Việt Nam cộng hòa, ông đã trực tiếp đạo diễn và tham gia chỉ đạo hàng loạt vụ đảo
chính làm rung chuyển, gây mất ổn định chính phủ ngụy quyền những năm
1964-1965. Trong cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái quân đội ngụy, Phạm
Ngọc Thảo bị xem là đối tượng nguy hiểm và bị đe dọa tính mạng bất cứ lúc nào.
Mặc dù vậy, ông vẫn tiếp tục nhiệm vụ mà không trốn chạy để bảo toàn tính mạng.
Thậm chí, cả khi bị bắt và tra tấn dã man, tàn bạo đến chết, Phạm Ngọc Thảo vẫn
không hé lộ tung tích của mình.
Mãi
sau này, khi ông được truy phong Anh hùng LLVT nhân dân, người ta mới biết ông
là điệp viên cộng sản. Đồng chí Trần Bạch Đằng (bút danh Nguyễn Trương Thiên
Lý), nguyên Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, cũng nhận xét:
"Các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác
tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù,
tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và
độc lập tác chiến. Anh là người tình báo đặc biệt có một không hai".
Theo
dịch giả Lê Đỗ Huy, trong công văn tháng 6-1965 của tình báo Mỹ, có tài liệu
nhan đề Đại tá Phạm Ngọc Thảo (Colonel Pham Ngoc Thao, 4-6-1965). Điện mật này
đánh số 00780, do William Colby, Phó giám đốc về kế hoạch cơ quan CIA ở Sài Gòn
viết như sau:
“1. Đã phát hiện được Phạm Ngọc Thảo tung tăng
lượn phố ngay giữa Sài Gòn, và giúp đỡ chủ bút của một tờ báo bí mật.
(Hai đoạn số 2 và 3 bị CIA xóa khi giải mật)
4.
Vấn đề này quả là nghiêm trọng, trên hai phương diện. Thứ nhất, chính quyền hiện
hành của Việt Nam cộng hòa vẫn ngại ngùng, không có chủ trương bắt, và hành
hình Phạm Ngọc Thảo. Còn rất ít nghi ngờ về chỗ ẩn nấp của Thảo ở Sài Gòn, cũng
như một kế hoạch phối hợp cảnh sát để bắt giữ Thảo. Chính quyền Sài Gòn lại luận
giải một cách chắc chắn rằng Thảo là một biểu tượng của người Công giáo, tới mức,
việc bỏ tù/thủ tiêu Thảo trong tình hình như thế này sẽ gây bùng nổ. Cách suy
luận như thế của Thủ tướng Quát lại được dung túng bởi Công văn số 4003 ngày 2
tháng Sáu của Sứ quán Mỹ từ Sài Gòn, theo đó Đại sứ Taylor báo cáo rằng Quát đã
nhất trí để cho Thảo và một số người khác bí mật rời đất nước, cho dù chính
Quát hiểu rằng cần có một kỷ luật cấp quốc gia cao hơn.
5.
Vấn đề thứ hai là cốt cách của Thảo. Ông ta tin vào sứ mạng cứu nhân độ thế, xả
thân vì dân tộc mình, như một thiên sứ. Ông ta biết rõ mình phải làm gì. Lung lạc
được Thảo bởi tiền tài hay hình phạt, kể cả tử hình, để ông ta ngừng tạo ra
tình thế chỉ có lợi cho một mình Việt Cộng, rõ ràng là điều không thể. Việc Thảo
không sợ bị trừng phạt còn do ông ta được bảo trợ bởi các thủ lĩnh quân sự Công
giáo. Cũng không có bằng chứng rõ rệt rằng, Thảo đang không được Việt Cộng hỗ
trợ một cách bí mật”.
Cho
đến nay, điệp viên Phạm Ngọc Thảo vẫn được xem là một bí ẩn khó có thể giải mã
của báo chí quốc tế. Có nhà báo đã viết: “Sự bí ẩn không phải vì xung quanh ông
vẫn còn những bí mật quân sự, cũng không phải xung quanh ông có những điều “nhạy
cảm” khó nói.
Khó
giải mã là do tầng tầng lớp lớp những biến cố lịch sử, những quan hệ, sự thiên
biến vạn hóa của chiến lược, chiến thuật, kỹ thuật, nghệ thuật chiến tranh tồn
tại trên chiến trường, trên chính trường và trong cuộc sống nhưng nằm ngoài
sách vở và các bản tổng kết”. Còn Thiếu tướng tình báo Nguyễn Đức Trí (Nguyễn
Văn Khiêm) nhận xét: “Trong lịch sử tình báo nước ta, câu chuyện ly kỳ như Phạm
Ngọc Thảo là hãn hữu”./.
Phù Đổng
CHIẾN DỊCH RẢI CHẤT ĐỘC HÓA HỌC-OPERATION RANCH HAND CỦA MỸ TRONG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM.
Chiến
dịch Operation Ranch Hand kéo dài từ năm 1962 đến năm 1971 đã phun khoảng
76.000m3 thuốc diệt cỏ và thuốc làm rụng lá cây ở các vùng nông thôn miền Nam
Việt Nam trong nỗ lực nhằm hủy hoại nguồn cung cấp thực phẩm và các vùng rừng
núi là nơi quân Giải Phóng làm nơi trú ẩn. Các khu vực khác của Lào và
Campuchia cũng bị phun thuốc này nhưng với nồng độ thấp hơn.
Trong
suốt 10 năm của chiến dịch phun thuốc diệt cỏ hoặc rụng lá cây nằm trong chiến
dịch Ranch Hand, đã có khoảng 20.000km2 rừng ở Việt Nam đã bị rải chất khai
quang với khoảng 2.000km2 rừng bị tàn phá nặng nề hoặc bị hủy diệt hoàn toàn và
khoảng 20% diện tích rừng ở Việt Nam bị rải chất khai quang ít nhất một lần.
Thuốc
diệt cỏ hay thuốc làm rụng lá cây được dùng trong chiến dịch Operation Ranch
Hand cao hơn gấp 50 lần so với tỉ lệ dùng trong nông nghiệp và phần lớn thuốc
này chứa nhóm TDCC có công thức hóa học là 2,3,7,8-TC DD – 2,3,7,8
Tetrachlorodibenzo-p-dioxin hay còn gọi là Dioxin là độc nhất.
Chất
độc da cam là một chất lỏng trong suốt,
nó còn được gọi là “chất da cam” – Agent Orange vì những thùng phuy dùng để vận
chuyển nó được vẽ các sọc có màu da cam. Quân đội Hoa Kỳ còn có một số mã danh
khác để chỉ đến các chất diệt cỏ được dùng trong thời kỳ này: “chất xanh”
(Agent Blue, cacodylic acid), “chất trắng” (Agent White, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D
và picloram), “chất tím” (Agent Purple) và “chất hồng” (Agent Pink) và chất độc
da cam có chứa chất độc dioxin, nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư, dị dạng
và nhiều rối loạn chức năng ở cả người Việt lẫn các cựu quân nhân Hoa Kỳ.
Trong
chiến dịch Pink Rose – Operation Pink Rose vào tháng năm 1967 ở khu vực Tây
Ninh và An Lộc, quân đội Mỹ đã sử dụng máy bay C-123 Provider phun chất làm rụng
lá cây 2 lần và chất làm khô 1 lần. Sau đó dùng 10 tốp máy bay B-52, mỗi tốp 3
chiếc mang 42 quả bom chùm M-35 và ném vào khu vực , những quả bom này phát nổ
sẽ gây cháy khủng khiếp, đốt trụi và phá hủy mọi thứ kể cả những công sự ngầm của
quân Giải Phóng.
Với
mức độ dùng là 35 lít /10.000m2, Các dấu hiệu về lá cây sẽ xuất hiện chỉ vài
ngày ở khu vực bị rải thuốc, và trong 2 tuần sau đó, lá sẽ chuyển sang vàng úa
và bắt đầu rụng. Trong 2-4 tháng sau, toàn bộ khu vực sẽ trở nên hoàn toàn cằn
cõi và trụi lá. Tuy nhiên quân đội Mỹ đã dùng với liều lượng đến 60 lít /
10.000m2 để đẩy nhanh tốc độ phá hủy cây cối.
Đầu
tháng 11 năm 1961, bộ chỉ huy Không Quân Mỹ đã cấp 6 chiếc máy bay C-123
Provider để bắt đầu tiến hành chiến dịch phun chất khai quang với tên gọi là
Operation Ranch Hand, các phi hành đoàn và chuyên viên được đào tạo tại Phi Đội
4400–4400th Combat Crew Training Squadron. 3 máy bay đầu tiên đến sân bay Tân
Sơn Nhất ngày 7 tháng 1 năm 1962.
Ngày 10 tháng 1 đã tiến hành chuyến phun thử đầu
tiên và ngày 13 tháng 1 đã tiến hành nhiệm vụ chính thức đầu tiên.
Tháng
12 năm 1963, chiến dịch Operation Ranch Hand bắt đầu tiến hành thử nghiệm các
chuyến bay rải thuốc vào ban đêm nhằm tránh hỏa lực phòng không của quân Giải
Phóng.
Tháng
7 năm 1964, Ranch Hand được giao cho phi đội biệt kích số 309 thuộc nhóm vận tải
315 – 309th Air Commando Squadron, 315th Troop Carrier Group. Tháng 12 năm
1965, Ranch Hand được chuyển từ Tân Sơn Nhất đến sân bay Biên Hòa và phạm vi hoạt
động được mở rộng đến tận Lào. Tháng 5 năm 1966, số lượng máy bay C-123 được
tăng thêm 11 chiếc để làm nhiệm vụ rải chất độc.
Tháng
6 năm 1966 đã ghi nhận máy bay của chiến dịch Operation Ranch Hand bị bắn hạ lần
đầu tiên ở Quảng Trị nhưng 3 người thuộc phi hành đoàn đã được trực thăng cứu
thoát. Ngày 15 tháng 10 năm 1966, Ranch Hand trở thành phi đội biệt kích số 12.
Trong
năm 1967, chiến dịch Ranch Hand tiến hành 18-27 phi vụ mỗi ngày với 3-4 máy cho
mỗi nhiệm vụ. Mỗi máy bay mang thùng phi chứ 3.785 lít chất độc được nối với
vòi phun dưới cánh và đuôi. Máy bay bay chậm và thấp nhất có thể, mỗi máy bay
phun ra làn hơi chiều ngang hơn 8m và dài đến gần 20km. Mỗi máy bay có phi hành
đoàn 3-4 người và 1 người Việt Nam làm nhiệm vụ quan sát.
Ngày
1 tháng 8 năm 1968, Ranch Hand được đổi tên thành phi đội đặc biệt số 12 – 12th
special Operations Squadron (12 SOS) và từ tháng 2 năm 1969 đã chuyển từ sân
bay Biên Hòa đến Phan Rang và đến tháng 5, Ranch Hand bắt đầu nhận những chiếc
máy bay UC-123K được trang bị thêm 2 động cơ phụ làm nhiệm vụ phun thuốc.
Năm
1969, Operation Ranch Hand áp dụng chiến thuật mới với việc sử dụng thêm máy
bay A-1 Skyraiders làm nhiệm vụ hộ tống và máy bay F-4 lãnh nhiệm vụ tấn công
sau khi tiến hành phun thuốc. Chiến thuật này đã làm giảm sự thiệt hại do máy
bay phun thuốc bị bắn từ dưới đất. Trung bình mỗi tháng trong tháng 9, Ranch
Hand tiến hành 400 phi vụ mỗi tháng và giảm dần chỉ còn 43 phi vụ mỗi tháng
trong năm 1970.
Ngày
7 tháng 1 năm 1971, chiến dịch phun thuốc làm rụng lá cây Operation Ranch Hand
tiến hành phi vụ cuối cùng và chính thức giải tán vào tháng 2 năm 1971.
Chiến
dịch Operation Ranch Hand không chỉ làm ảnh hưởng đến môi trường, con người ở
Việt Nam mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các binh lính Mỹ tham chiến ở Việt
Nam.Đến nay ở Việt Nam vẫn còn hàng triệu nạn nhân đang chịu sự dày vò của chất
độc da cam, hàng trăm nghìn trẻ em bị dị tật với bao cuộc đời bất hạnh. Như các
cựu binh lính Mỹ đang là nạn nhân của chất độc da cam đã viết : “Tôi đã bị giết
trong chiến tranh Việt Nam nhưng đến giờ vẫn chưa chết được."
Theo
công bố trên tạp chí Nature thì chiến dịch phun chất độc hóa học ở Việt Nam là
một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất thế giới.Trong thời gian 10 năm đó, quân
đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam đã rải 76,9 triệu lít hóa chất xuống rừng núi
và đồng ruộng Việt Nam. Trong số này có 64% là chất độc da cam, 27% là chất màu
trắng, 8,7% chất màu xanh và 0,6% chất màu tím. Tổng lượng Dioxin vào khoảng
370Kg. Cần lưu ý rằng một nghiên cứu năm 2002 của trường đại học Colombia đã
tính rằng chỉ 80 gram Dioxin pha vào nước uống sẽ giết sạch người dân của cả 1
thành phố với 8 triệu dân.
Các
cơ quan y tế ở Việt Nam ước tính khoảng 400.000 người đã bị giết hoặc tàn tật,
khoảng 500.000 trẻ em sinh ra bị dị dạng, dị tật bởi chất độc hóa học này. Hội
Chữ Thập đỏ Việt Nam ước lượng khoảng 1 triệu nạn nhân Việt Nam đã bị tàn phế
hoặc bệnh tật vì chất độc da cam.
Chiến
tranh đã lùi xa nhưng đâu đó sau những ngôi nhà hay những lũy tre làng xanh ngắt,
những cánh đồng bát ngát vẫn còn biết bao người lính Việt Nam cũng như gia đình
họ đang phải âm thầm chịu đựng những mất mát, những di chứng của cuộc chiến
tranh “hóa học” mà đế quốc Mỹ đã gây ra.Vẫn mãi còn đó những nỗi đau mang tên
da cam...
Theo Phù Đổng
CÂU CHUYỆN VỀ LÒNG NHÂN TỪ!
SỰ SUY THOÁI CHÍNH TRỊ CỦA ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC!
ĐẤU TRANH NGĂN NGỪA NHỮNG BIỂU HIỆN CHỦ NGHĨA DÂN TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa dân túy trên thế giới đã trở thành
trào lưu điển hình chi phối đời sống chính trị - xã hội ở nhiều nước, nhưng ở
Việt Nam mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động của một số người. Tuy
nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và nguy cơ tạo ra những hậu
quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh ngăn ngừa kịp thời.
Tư tưởng dân túy xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại,
nhưng nó phát triển mạnh mẽ và trở thành chủ nghĩa - chủ nghĩa dân túy vào khoảng
thế kỷ XIX trong các phong trào nông dân, thể hiện sự ủng hộ hoặc nhân danh
nông dân chống lại giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng tư sản. Hiện nay,
sự nổi lên mang tính toàn cầu của chủ nghĩa dân túy ảnh hưởng không nhỏ đến đời
sống chính trị - xã hội của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, với diện mạo
mới và những diễn biến phức tạp; nội hàm của nó đã được mở rộng hơn, không chỉ
thuần túy là việc “nhân danh nông dân”. Đặc biệt, việc nhiều nhà dân túy giành
được vị trí lãnh đạo ở một số nước, đã tạo nên những thay đổi, làm cho vấn đề
càng trở nên phức tạp hơn.
Ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế,
chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, nhưng trước sự tác động từ
những diễn biến phức tạp của đời sống chính trị quốc tế, những biểu hiện chủ
nghĩa dân túy xuất hiện và có xu hướng phát triển. Dễ nhận thấy, thực chất chủ
nghĩa dân túy là những lời nói và hành động mang tính chất mị dân, lợi dụng,
kích động nhân dân, lấy một số nhóm được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho
tính chính danh, phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế,… của cá nhân, nhóm,
phe phái nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và lợi ích quốc gia,
dân tộc. Trong mỗi giai đoạn khác nhau, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy cũng
khác nhau cả về đặc điểm và sắc thái, tuy chúng vẫn cùng bản chất và tính chất.
Vì thế, cần tiếp cận với các góc độ khác nhau để nhận diện những biểu hiện chủ
nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:
1. Những biểu hiện “theo đuôi quần chúng” của một số cán bộ, đảng
viên, cá nhân và nhóm lợi ích. Những người có biểu hiện này thường “chiều theo”
ý kiến, nguyện vọng của một nhóm quần chúng nhất định. Họ nhân danh quần chúng
nhân dân, “lấy lòng” quần chúng, tìm mọi cách vận động, tác động, tranh thủ
phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho bản thân một cách không lành mạnh, bỏ qua các
vấn đề thuộc về nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu
cầu lợi ích riêng. Họ thường xem mục tiêu, lý tưởng như là vấn đề “trang sức”
cho con đường công danh, tiến thân của bản thân; coi đường lối, chủ trương,
chính sách, pháp luật, đặc biệt là những kẽ hở trong đó như là “điều kiện” để
trục lợi. Tuy đây là cấp độ biểu hiện thấp, nhưng nó đã thể hiện sự phai nhạt
niềm tin, lý tưởng, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến
việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
2. Lợi dụng tình cảm tự phát, nhu cầu trước mắt, lợi ích thường
nhật của dân chúng để mưu cầu lợi ích riêng. Trước những vấn đề bức xúc, nhạy
cảm của xã hội, của địa phương, đất nước, họ lợi dụng, lấy lòng, hòng làm “thỏa
mãn” nhu cầu trước mắt nào đó của một bộ phận dân chúng; kích động người dân
phản ứng với dụng ý xấu, động cơ thiếu trong sáng, vì lợi ích riêng của họ; lạm
dụng các quyền tự do, dân chủ đưa ra những đòi hỏi, yêu sách phi lý, mị dân,
trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những người có biểu hiện này thực
sự đã suy thoái về chính trị tư tưởng, xa rời dần những nguyên tắc, mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội; niềm tin đối với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước
đã suy giảm nghiêm trọng, nhưng họ chưa muốn thay đổi chế độ, bởi lẽ chế độ này
“còn có lợi” cho họ để có thể “đục nước béo cò”.
3. Giương cao khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước”, kích động, lôi kéo
một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối,
chống phá, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách
của Đảng, Nhà nước và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước. Những người có
biểu hiện này đã thể hiện rõ sự biến chất về chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù họ ít bộc lộ tư
tưởng, quan điểm một cách trực tiếp, nhưng khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước” luôn
được họ thể hiện bằng cách này hay cách khác để lôi kéo, kích động đám đông
phục vụ cho ý đồ của họ, tạo cơ sở cho việc tuyên truyền các quan điểm lệch
lạc, sai trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước.
4. Những biểu hiện ở người có quan điểm sai trái, thậm chí thù
địch. Họ nhân danh “vì nhân dân”, “bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước”, “vì sự
phát triển đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”,… lợi dụng, kích động dân
chúng hướng đến những hành động cực đoan chống đối Đảng, chính quyền và chế độ
xã hội. Ở những người này, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đạt đến độ thay
đổi về chất, đã biến chất về chính trị; ra mặt chống đối cách mạng, chống đối
Đảng và Nhà nước không chỉ bằng tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, mà còn
bằng cả hành động; họ đã “trở cờ”, nhưng vẫn nhân danh “vì nhân dân”, “vì lợi
ích quốc gia dân tộc” và họ thường được sự hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh
thần của các thế lực thù địch, phản động.
Những biểu hiện trên chưa phản ánh hết tính chất phức tạp của
tình hình, song, đó là những dạng biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa dân túy hiện
nay, đang từng ngày, từng giờ chống phá Đảng và Nhà nước. Nó tác động, gây
nhiều hệ lụy tiêu cực, dễ gây nên sự mơ hồ, ngộ nhận; dễ lẫn lộn giữa những cán
bộ thực sự vì dân, vì nước với những kẻ ngụy trang khéo léo bằng vỏ bọc “vì
dân”; dễ dẫn đến dao động về tư tưởng, hoài nghi, suy giảm niềm tin của cán bộ,
đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ, ảnh hưởng tiêu cực đến đồng thuận
xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó đặt ra nhiều khó khăn đối với
nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cũng như trong thực hiện đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy để những
biểu hiện đó không phát triển, trở thành “vi rút độc” gây ô nhiễm đời sống
chính trị đất nước; những người mang nó không chuyển hẳn sang phía bên kia,
chống lại Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc và
phương pháp luận quan trọng. Để đấu tranh ngăn ngừa, phải thực hiện tổng thể
nhiều giải pháp, trước hết, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau:
Một là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận diện đúng những biểu
hiện của chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay; thấy rõ tính chất nguy hại và
tác động tiêu cực của nó đến đời sống tinh thần xã hội, đến nền tảng tư tưởng,
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà
nước. Các cấp ủy đảng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm, có hiệu quả
các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng, chỉnh
đốn Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị
(khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, gắn với thực hiện hiệu
quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa
XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu,
vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình
hình mới”, v.v. Qua đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
những “tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác
dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi
những sai trái”. Trên cơ sở đó, tạo sự vững vàng và nhạy bén về chính trị; sự
“miễn dịch” cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” và khả năng đấu tranh ngăn chặn,
loại trừ sự thẩm thấu và tác động của những biểu hiện chủ nghĩa dân túy.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng
các cấp trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. Theo đó,
cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến chi bộ về đấu tranh
ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo trong
đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, hiệu quả hơn
theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quan tâm hơn
nữa đến vấn đề đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy; khắc phục
mọi biểu hiện xem nhẹ, buông lỏng vấn đề này; bổ sung, hoàn thiện chủ trương,
quan điểm nhằm tăng hiệu quả đấu tranh. Đồng thời, có cơ chế, chế tài đủ mạnh
để ngăn chặn, triệt tiêu mầm mống nảy sinh, phát triển suy thoái, tham nhũng và
tiêu cực; phát hiện từ sớm, từ đầu những biểu hiện dân túy, gắn với trách nhiệm
nêu gương của cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Người đứng đầu các cấp phải thực
sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích quốc
gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Tăng cường mối quan
hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, “phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa
vào dân để xây dựng Đảng”. Khắc phục mọi biểu hiện hình thức, cá nhân chủ
nghĩa, “mị dân”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”.
Ba là, chủ động đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa
dân túy, gắn với đấu tranh khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và
phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đây
vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản, vừa là biện pháp quan trọng trong
đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay. Theo
đó, các cấp ủy đảng cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng: “Tăng
cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh,
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp
thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa
bình”, thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội”3, kiên quyết đấu tranh,
ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những
biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phê phán mạnh mẽ tính
chất mị dân, lừa phỉnh của những người có biểu hiện dân túy, gắn với việc làm
rõ quan điểm lấy dân làm gốc, tất cả vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân của
Đảng. Thực hiện tốt phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích
cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”, để phê phán những biểu hiện chủ nghĩa dân túy
và phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Bốn là, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán
bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt, tạo cơ sở ngăn ngừa, loại trừ những biểu
hiện chủ nghĩa dân túy từ cơ sở. Cấp ủy các cấp cần nắm chắc tình hình tư
tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với
quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính. Thực hiện
tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tự phê bình và phê bình trong các tổ chức
đảng; duy trì nghiêm quy định, quy chế phát ngôn; kiên quyết phòng, chống mọi
biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng,
mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán quan điểm dân túy, kích động, chia
rẽ đoàn kết nội bộ. Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân;
phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong
sạch, vững mạnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, kiên định,
tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu
thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân./.
Nguồn : Fb QPTD
TÙY TIỆN CHỖ NÀO???
Nghe mấy anh chị trong “nhóm công tác của Liên hợp quốc” tố Việt Nam bắt giữ tuỳ tiện Châu Văn Khảm mà thấy buồn cười. Thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân, xâm nhập Việt Nam định tiến hành các hoạt động khủng bố thì bị bắt, vậy thì tuỳ tiện ở đâu.
Châu
Văn Khảm, SN 1949, là Việt kiều Úc, được biết đến là người tích cực tham gia hoạt
động chống phá Việt Nam, là thành viên của tổ chức khủng bố “Việt tân” từ năm
2010 với bí danh là Hoàng Liêm và trở thành “đại diện cơ sở đảng bộ Sydney” và
“Bí thư đảng bộ Úc châu” của tổ chức “Việt tân”. Đến tháng 01/2019, Châu Văn Khảm
nhập cảnh Campuchia và sử dụng CMTND lấy tên Chung Chính Phi theo đường bộ từ
Campuchia để xâm nhập trái phép vào Việt Nam. Sau đó, Châu Văn Khảm cùng với một
số đối tượng như Nguyễn Văn Viễn (48 tuổi, quê Quảng Nam, ngụ quận 12, thành phố
Hồ Chí Minh) và Trần Văn Quyền (20 tuổi, quê Hà Tĩnh, ngụ tại thị xã Dĩ An, tỉnh
Bình Dương) đã câu kết, móc nối, lôi kéo và cung cấp tiền bạc, đào tạo huấn luyện
cách thức chống phá chính quyền cho số đối tượng chống đối ở trong nước.
Trên
cơ sở thông báo về tổ chức khủng bố “Việt tân” do Bộ Công an Việt Nam công bố
ngày 4/10/2016 trên cổng thông tin điện tự Bộ Công an, trong đó xác định cụ thể:
“người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham
gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Việt tân”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện
do “Việt tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt tân”… sẽ đồng phạm tội
khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt
Nam”, vào ngày 12/01/2019 Châu Văn Khảm
đã bi bắt và đến ngày 02/3/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
đã tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”
và tuyên y án đối với Châu Văn Khảm 12 năm tù giam (sẽ bị trục xuất sau khi chấp
hành xong bản án), Nguyễn Văn Viễn 11 năm và Trần Văn Quyền 10 năm tù giam về tội
“Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” theo Điều 113 Bộ luật Hình sự 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Việc
kêu gọi trả tự do cho Châu Văn Khảm không phải là lần đầu tiên được số đối tượng
chống đối cực đoan, số đối tượng đội lốt dân chủ, số cá nhân, tổ chức thiếu thiện
chí với Việt Nam như RFA, BBC Tiếng Việt, “Việt Tân” hay kể cả một số nghị,
chính giới một số nước như Úc cũng đã nhiều lần gặp gỡ, thậm chí đưa ra những đề
nghị đối với chính quyền Việt Nam. Vậy nhưng pháp luật Việt Nam sẽ trừng trị
nghiêm minh với những kẻ coi thường, thách thức pháp luật, kể cả người đó có là
Việt Kiều hay được sự hậu thuẫn của chính giới một số nước phương Tây. Bản án
12 năm tù giam cho 1 kẻ phản quốc như Châu Văn Khảm là hoàn toàn xứng đáng,
đúng quy định pháp luật và là bài học cho những kẻ đang đồng lõa hay “tát nước
theo mưa” cho hành vi vi phạm pháp luật của Châu Văn Khảm.
Ấy
vậy mà họ cho rằng Việt Nam "tùy tiện" bắt Châu Văn Khảm là sai? Thậm
chí HRW con kêu gọi Tân Thủ tướng Úc can thiệp trả tự do cho Châu Văn Khảm là sao?
PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH PHẢI CHỐNG TỪ QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG!
BÁC HỒ VỚI BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM: NGƯỜI KHAI SINH VÀ ĐẶT NỀN MÓNG CHO BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM!
Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2022
Báo chí luôn là một trong những lực lượng trên tuyến đầu
Chiều 17-6, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì gặp mặt của Thường trực Chính phủ với lãnh đạo các cơ quan báo chí nhân kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925/21-6-2022).
Chủ tịch Quốc hội Mozambique bắt đầu thăm chính thức Việt Nam
Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, chiều 18-6, Chủ tịch Quốc hội Cộng hòa Mozambique, bà Esperanca Laurinda Francisco Nhiuane Bias dẫn đầu đoàn đại biểu Quốc hội Cộng hòa Mozambique đã tới sân bay Nội Bài (Hà Nội), bắt đầu thăm chính thức nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 18 đến ngày 23-6.
Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng luôn được đảm bảo ở Việt Nam
Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.
Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đóng vai trò quan trọng trong đời sống luật pháp quốc tế, giúp khẳng định chủ quyền trên biển của các quốc gia, từ đó góp phần gìn giữ môi trường biển, an toàn và hòa bình...
Việt Nam trong Đại hội đồng LHQ về ứng phó dịch bệnh
Đại dịch COVID-19 đã bộc lộ những hạn chế của hệ thống y tế toàn cầu trong phòng, chống và ứng phó với dịch bệnh, để lại những tác động nặng nề về kinh tế-xã hội, làm chậm hoặc đảo ngược những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững, ảnh hưởng đến sức khỏe, y tế cho người dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương.













