Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022

Báo chí thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Một trong những chức năng cơ bản, quan trọng của báo chí là giám sát và phản biện xã hội. Chức năng này đã được báo chí cách mạng Việt Nam phát huy hiệu quả trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

CHIÊU TRÒ TẨY TRẮNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ĐỒNG ĐÔ LA!

 


Mới đây nhiều tờ báo ca ngợi em Tăng Vân Khanh, học sinh lớp 12 Văn, trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi, Hải Dương vừa đỗ 7 trường Đại học Mỹ danh giá và được cấp các mức học bổng với tổng trị giá lên đến hơn 25 tỷ đồng từ một bài luận 650 từ viết về người Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng nói là em đã tư duy theo cách gọi của người Mỹ về "cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam" là “Cuộc chiến tranh Việt Nam". Tôi cứ đặt câu hỏi ai đã dạy em cách gọi ấy và không biết gia đình, dòng họ em có ai hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không nhưng rõ ràng đây là một chiêu trò tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của người Mỹ khi họ chọn chủ đề du học là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam!

Rõ ràng là, 21 năm Mỹ xâm lược Việt Nam, chia đôi đất nước để dễ bề thôn tính, hàng triệu người Việt Nam đã đổ máu để đổi lấy thống nhất, độc lập trước 1 đội quân đế quốc xâm lược. Thế mà, không biết tự bao giờ mà một bộ phận giới trẻ Việt Nam hôm nay như Tăng Vân Khanh lại có thể gọi là "Cuộc chiến tranh Việt Nam? rồi ngày mai, ngày kia những đứa con của Tăng Vân Khanh có tiếp tục được chính người mẹ các cháu có dạy cho các cháu như vây không. Nếu đúng như thế thì thật là đau buồn!

Tôi còn nhớ, Cách đây 27 năm, ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; rạng sáng ngày 12/7/1995 (giờ Việt Nam), Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ. Đây là kết quả của một hành trình dài với những nỗ lực bền bỉ của cả hai bên quyết tâm gác lại quá khứ hướng tới tương lai, từ một cựu thù đến nay hai nước đã trở thành đối tác toàn diện.

Tuy nhiên, sau 27 năm bình thường hóa quan hệ, những gì Mỹ mong muốn ở Việt Nam đang nằm ngoài sức tưởng tượng của đa số người Việt Nam bởi trước mắt chúng ta, những người dân Việt Nam chỉ nhìn thấy bức tranh kinh tế của nó nhưng sẽ không hiểu hết đằng sau đó Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam.

Đầu tiên chúng ta hãy nhớ lại, sau khi Mỹ rút quân khỏi miền Nam, giới lãnh đạo Hoa Kỳ đã tuyên bố: 30 năm sau người Mỹ sẽ trở lại Việt Nam không phải bằng bom đạn mà bằng Dollas và người Việt Nam sẽ phải chào đón họ như những người anh hùng...

Trong một lần sang thăm Việt Nam, Tổng thống Binclinton cũng từng nhắc lại ý định này trước hàng nghìn sinh viên các trường Đại học Việt Nam rằng "những gì mà người Mỹ trước đây chưa thực hiện được ở Việt Nam thì chính những thế hệ người Việt Nam sau này sẽ thay họ thực hiện nó..." Vậy thì những gì họ chưa thực hiện được mà họ mong muốn những thế hệ người Việt thay họ thực hiện???

Mỹ đã từng xâm lược Việt Nam và họ đã thất bại, những người đã từng làm tay sai tiếp tay cho Mỹ cũng thất bại và đó cũng là điều mà họ muốn một bộ phận người Việt Nam hôm nay và mai sau tiếp tục làm tay sai cho họ lần nữa. Muốn đạt được mục đích đó không có con đường nào duy nhất ngoài việc tác động chuyển hóa tư tưởng bằng đầu tư giáo dục, về lâu dài những con người ấy sẽ nắm giữ các vị trí quan trọng trong Đảng, Nhà nước họ có thể dưới sự điều khiển, dật dây của Mỹ làm chuyển hóa toàn bộ hệ tư tưởng hiện nay của chúng ta.

Để thực hiện mục tiêu này, Năm 2016, Đại học Fulbright Việt Nam được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên khi tiến hành các hoạt động giáo dục họ đã cương quyết không đưa các môn Lý luận Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình dạy học đồng thời mở ra các ngành, chuyên ngành đào tạo theo hơi hướng giá trị thực dụng phương tây, xã hội dân sự... Thực chất là nhằm tới phá vỡ nền tảng XHCN đưa một thế hệ người Việt theo học mang nặng tư duy sùng bái Mỹ, thậm chí có tư tưởng chống lại chế độ hoặc ngấm ngầm hoặc công khai.

Hàng năm, Mỹ chi tới 5 triệu USD/năm từ cái gọi là "Quỹ Sáng kiến Thủ lĩnh Trẻ Đông Nam Á" (Yseali) để thành lập Học viện Yseali tại Việt Nam. Quỹ này trong chuỗi hoạt động của cựu Tổng thống Barack Obama "nhằm tăng cường năng lực lãnh đạo và kết nối trong ASEAN" nhưng nó chỉ là vỏ bọc để tuyển chọn, huấn luyện, đào tạo mầm mống cho cái gọi là các nhà dân chủ và các tổ chức "xã hội dân sự" - mầm mống của những cuộc cách mạng màu mà nó đã từng diễn ra ở các nước Liên Xô, Đông Âu và đã lật đổ thành công CNXH ở đây, điển hình của sự bất ổn hiện nay như Tunisia, Ucraina và nhiều nước trên thế giới. Trong suốt quá trình bình thường hóa quan hệ, Mỹ luôn tìm mọi cách can thiệp vào lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo của Việt Nam, thậm chí luôn dung túng những kẻ bất mãn chống lại nhà nước Việt Nam thì câu hỏi đặt ra Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam đã quá rõ. Hiện chúng ta có trên dưới 30.000 sinh viên đang học tập tại Mỹ và rất có thể các em lại là những phương tiện, tay sai đắc lực cho Mỹ mà việc đầu tiên là tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng những đồng USD dơ bẩn./.

            Nguồn Xây dựng Đảng

 NGƯỜI CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN


6 tháng trước khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, giữa núi rừng Việt Bắc, Bác Hồ đã soạn thảo “Cuốn sách của người Chính trị viên” với những huấn thị của Người về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác chính trị, vai trò của người Chính trị viên trong các đơn vị bộ đội. Tác phẩm gồm 44 trang, trong đó lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tập trung làm nổi bật các vấn đề cốt lõi của công tác chính trị.

Ngay trong phần nội dung đầu tiên của tác phẩm, Người đã nói rõ và cụ thể về vai trò công tác của người Chính trị viên trong đội vũ trang hay đội du kích: Trong sinh hoạt chính trị, sinh hoạt quân sự và sinh hoạt vật chất. Người viết:

“1. Trong đội vũ trang hay đội du kích sinh hoạt kém thì ai chịu trách nhiệm?

- Trả lời: Hoàn toàn là người chính trị viên chịu trách nhiệm.

2. Trong đội vũ trang hay đội du kích sinh hoạt quân sự kém hay sai lầm thì ai chịu trách nhiệm?

- Trả lời: Cả Đội trưởng cùng Chính trị viên chịu trách nhiệm. Nếu vũ trang hành động có hại về mặt chính trị thì trách nhiệm của Chính trị viên nặng nề hơn.

3. Trong đội vũ trang hay đội du kích sinh hoạt vật chất hoặc thiếu thốn hoặc quá xa xỉ? thì ai chịu trách nhiệm?

- Trả lời: Phần lớn Chính trị viên chịu trách nhiệm.

Thế mới biết nhiệm vụ của Chính trị viên là khó khăn.”

Trong phần “Công tác chính trị trong đội du kích”, Người nêu bật sự cần thiết của công tác chính trị trong đội du kích: “Không có công tác chính trị đúng thì đội du kích dễ bị mất tính chất cách mạng của nó, dễ đi con đường sai lầm, không lợi cho cách mạng và có thể rất hại cho cách mạng, ví dụ nó có thể hóa ra quân phiệt, hóa ra thổ phỉ.”. Công tác chính trị trong đội du kích, gồm: Công tác chính trị đối với bộ đội; công tác chính trị với dân chúng; công tác chính trị đối với quân đội đế quốc.

Công tác chính trị đối với bộ đội trên các mặt: Nhận thức chính trị; sinh hoạt; công tác chính trị trước khi chiến đấu; công tác chính trị trong lúc chiến đấu; công tác chính trị sau khi chiến đấu.

Công tác chính trị trong dân chúng: Cần nhất quán nguyên tắc “quân dân nhất trí”, Người nhấn mạnh: “Du kích là đội quân của dân, ở trong dân chúng do dân chúng tổ chức ra để binh vực quyền lợi cho dân chúng vì dân chúng mà hi sinh, chiến đấu giành chính quyền”. Để đảm bảo công tác chính trị trong dân chúng đạt hiệu quả cần: Chú trọng công tác tuyên truyền cổ động; tổ chức huấn luyện; phát huy lực lượng của dân chúng; cách đối đãi với dân chúng.

Trong tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành riêng 1 chương viết về “Địa vị của người Chính trị viên”. Người Chính trị viên cần có những tư cách sau:

1. Đi đúng con đường chính trị giác ngộ cách mạng sâu sắc, nhận thức cách mạng vững vàng, có lý luận cách mạng và kinh nghiệm chính trị dồi dào.

2. Phải là người có năng lực lãnh đạo, người Chính trị viên “không phải một ông quan suốt ngày ngồi trên bàn giấy viết thông cáo và chỉ thị. Người Chính trị viên là người nhúng tay vào tất cả mọi việc để do đó còn dìu dắt người khác. Người Chính trị viên phải có nhiều năng lực lãnh đạo, năng lực này phải đủ mọi mặt quân sự lẫn chính trị, năng lực về tuyên truyền, tổ chức, xếp đặt kế hoạch…”.

3. Làm mô phạm, nói về tác dụng mô phạm của người Chính trị viên ở chỗ: “Người Chính trị viên là người nhúng tay vào tất cả mọi việc để do đó còn dìu dắt người khác. Nhúng tay vào làm thực sự chứ không phải làm cho qua chuyện. Nhúng tay vào làm hơn người ta cho người ta noi theo mà làm, cho người ta bắt chước”. Tính mô phạm của người Chính trị viên về mặt kỉ luật; mặt giữ bí mật; mặt xử trí tiền tài của đoàn thể… Trong bất cứ lúc nào, bất cứ việc gì người Chính trị viên cũng phải làm gương.

Phần cuối của tác phẩm, Người viết:

“Xem xong “Cuốn sách của người Chính trị viên” này, các đồng chí chính trị viên hiện thời và tương lai nhận thấy thế nào?

Chắc chắn các đồng chí nhận thấy khó khăn lắm!

Khó vẫn khó!

Nhưng chúng ta là người cách mạng, hơn nữa chúng ta là Chính trị viên, chúng ta phải học tập, làm cho được.”  

Theo Người, xây dựng Quân đội về chính trị là phải chú trọng đến bản chất giai cấp công nhân, đến tính nhân dân và tính dân tộc, làm cho Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; lấy xây dựng chính trị làm cơ sở để xây dựng các mặt khác; coi việc xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần là một trong những nhân tố quyết định đến thắng lợi…

Chiến đấu với những đội quân nhà nghề, thiện chiến, được trang bị vũ khí tối tân hơn hẳn nhiều lần, trong lúc Quân đội ta phát triển lên “từ không đến có”, vừa chiến đấu vừa xây dựng thì chỉ có thể giành thắng lợi trước kẻ thù xâm lược bằng sự vững mạnh về chính trị. Lịch sử đã chứng minh, Quân đội ta chiến đấu và chiến thắng đội quân xâm lược nhà nghề của “hai đế quốc to” cũng là nhờ vững mạnh về chính trị. Trong quá trình xây dựng Quân đội, Người không bao giờ xem nhẹ vũ khí và trang bị kỹ thuật, nhưng Người luôn luôn nhấn mạnh: “Vũ khí rất cần, nhưng quan trọng hơn là người sử dụng vũ khí”, “là người vác súng”. Người nói: “Chúng ta không sợ thiếu vũ khí, chỉ sợ khi thời cơ đến lại thiếu người cầm vũ khí”. Vì vậy, trong sự nghiệp cách mạng, Bác Hồ đã dành tâm huyết để đào tạo, rèn luyện, chăm sóc những thế hệ chiến sĩ cầm súng trung thành, có bản lĩnh chính trị, tinh thông về quân sự, có trình độ văn hóa và sức khỏe dồi dào, là những con người “dám quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Người nói làm được thế thì “không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được Quân đội nhân dân Việt Nam”.

“Cuốn sách của người Chính trị viên” là một trong những tiền đề, cơ sở lý luận khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 đồng chí, trong đó đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) là Chính trị viên. Ngay khi thành lập, Đội đã quán triệt và thực hiện tốt tư tưởng, phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”, “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”. Người thường xuyên huấn thị: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại.Quân đội ta là quân đội nhân dân, nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”.

Suốt 76 năm qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đi trước tiếp tục dìu dắt thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay đã phát huy mạnh mẽ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, giương cao ngọn cờ “Quyết chiến, Quyết thắng”, xây dựng quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm tròn hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng và của nhân dân và thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập - tự do của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”./.


 VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH 


Với phương châm lấy “xây” để “chống”, báo chí cách mạng đã chủ động, tích cực tham gia tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Báo chí cũng là lực lượng chủ công tuyên truyền làm nổi bật những thành tựu của đất nước, tính ưu việt của chế độ và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.


Báo chí cách mạng cũng tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lên án những hành vi coi thường kỷ cương, phép nước. Qua đó, báo chí không những góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà còn góp phần củng cố niềm tin, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.


Đặc biệt, bằng sự tương tác đa chiều với bạn đọc, báo chí cách mạng đang tham gia mạnh mẽ, có hiệu quả vào công tác đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần định hướng dư luận, củng cố niềm tin trong nhân dân. Với nhiều bài viết sắc sảo, lập luận chặt chẽ, có luận cứ, luận điểm sắc bén bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự đúng đắn, sáng tạo trong quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; kịp thời phản bác những luận điệu sai trái góp phần quan trọng đấu tranh ngăn chặn sự phá hoại về tư tưởng nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống đất nước ta của các thế lực thù địch.


Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi các cơ quan báo chí phải luôn đề cao tính thận trọng. Báo chí phải tăng cường khả năng “bút chiến”, sự sắc sảo, sức thuyết phục, nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn. Trước mỗi luận điểm, vấn đề, các nhà báo cần cố gắng tìm tòi, khai thác thông tin để chứng minh làm rõ vấn đề một cách thuyết phục.


Đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, đòi hỏi mỗi chúng ta phải thực sự chủ động, quyết liệt, kiên trì và bền bỉ. Chỉ có phát huy được sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức, các lực lượng tuyên truyền trong hệ thống chính trị, chúng ta mới đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; phòng ngừa, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”  trong nội bộ.


 CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 97 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21/6/1925 - 21/6/2022).


Cách đây 97 năm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Báo Thanh niên, số ra đầu tiên vào ngày 21/6/1925, đặt nền móng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của Báo Thanh niên là dấu mốc quan trọng của cách mạng nước ta. Thông qua Báo Thanh niên, Bác Hồ truyền bá tư tưởng cách mạng tới đông đảo các tầng lớp nhân dân, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/2/1930 và 20 năm sau đó, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 


Suốt 97 năm qua, Báo chí Cách mạng luôn đồng hành cùng dân tộc, lớn lên cùng cách mạng, phục vụ cách mạng, phụng sự nhân dân. Người làm báo thực sự là chiến sỹ, với cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén, góp phần xứng đáng vào công cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.


Nhân dịp ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, xin gửi lời chúc tới các bác, anh, chị, em đã, đang và sẽ trở thành những nhà báo lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và luôn có cái tâm sáng, ngòi bút sắc bén góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

NGƯỜI ĐIỆP VIÊN CÔNG GIÁO HUYỀN THOẠI.

 


Lịch sử tình báo thế giới đã lưu danh rất nhiều điệp viên huyền thoại, nhưng nhiệm vụ mà nhà tình báo cách mạng Phạm Ngọc Thảo đã làm, đến nay vẫn được coi là “có một không hai”. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng nhận định: "Anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có tiền lệ trong công tác cách mạng của chúng ta".

Trong cuốn sách “Điệp viên hoàn hảo”, nhà sử học người Mỹ Larry Berman đã dẫn lời điệp viên Phạm Xuân Ẩn: "Nhiệm vụ được giao cho Phạm Ngọc Thảo khác với nhiệm vụ của tôi. Ông ấy có nhiệm vụ làm mất ổn định của chế độ Diệm và vạch âm mưu đảo chính, còn tôi là một nhà tình báo chiến lược. Nhiệm vụ của ông Phạm Ngọc Thảo nguy hiểm hơn nhiệm vụ của tôi rất nhiều".

Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Ngọc Thảo là tấm gương thầm lặng hy sinh, trung thành với lý tưởng cách mạng đến phút giây cuối cùng. Đối với kẻ thù, khi tra tấn Phạm Ngọc Thảo đến chết, chúng vẫn không hay biết ông là điệp viên cộng sản. Ông được đồng bào, chiến sĩ cả nước biết đến nhiều hơn sau khi nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý viết tác phẩm “Ván bài lật ngửa” mà Phạm Ngọc Thảo là nguyên mẫu nhân vật chính.

Hồ sơ phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của Đại tá Phạm Ngọc Thảo đã đề cập ngắn gọn về cuộc đời như huyền thoại của ông:

“Đồng chí Phạm Ngọc Thảo (tức Phạm Thao), sinh năm 1922, tại tỉnh Long Xuyên, dân tộc Kinh. Tham gia cách mạng năm 1945, nhập ngũ 1946. Lúc hy sinh, đồng chí là Đại tá, cán bộ Cục Nghiên cứu, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 8-1945, đồng chí tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn. Đầu năm 1946, đồng chí được cử ra miền Bắc học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân I). Ra trường, đồng chí trở lại miền Nam hoạt động ở địa bàn Khu 8, Khu 9.

Cuối năm 1947, được trên giao làm Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ (cơ quan tình báo của ta). Với tinh thần trách nhiệm, trong một thời gian ngắn, đồng chí đã thống nhất được các lực lượng tình báo toàn Nam Bộ.

Năm 1949, được trên điều sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410 chủ lực Khu 9, tiểu đoàn đã chiến đấu nhiều trận thắng lợi lớn, góp phần mở rộng vùng giải phóng.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhận chỉ thị của tổ chức, đồng chí ở lại miền Nam, dựa vào thế lực là một gia đình trí thức, theo Thiên Chúa giáo, thân cận với gia đình họ Ngô, đồng chí đã thâm nhập đi sâu, leo cao vào chế độ ngụy quyền miền Nam, phục vụ yêu cầu tình báo chiến lược.

Trong thời gian làm việc trong chế độ ngụy, Phạm Ngọc Thảo lần lượt là: Năm 1956, được phong Đại úy, Tỉnh trưởng Bảo an Vĩnh Long. Năm 1957, được đề bạt Thiếu tá, thuộc Sở Nghiên cứu chính trị-xã hội của Phủ Tổng thống (cơ quan mật vụ của ngụy do Trần Kim Tuyến phụ trách). Năm 1958, được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre).

Cuối năm 1961, do bị nghi ngờ là nội tuyến của Việt Cộng, nên địch điều đồng chí đi học nước ngoài, đến giữa năm 1962 về đảm nhiệm chức Tham vụ chuyên môn Phủ Tổng thống.

Với bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, với ý thức kỷ luật cao, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ tình báo mưu trí, sáng tạo, giành thế chủ động tấn công địch.

Những năm làm tỉnh trưởng, với bình phong bất lợi nhưng đồng chí đã cung cấp được nhiều tin tức, tài liệu liên quan đến các cuộc hành quân của địch trong tỉnh và quân khu, nên đã ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do các cuộc hành quân quy mô lớn của địch gây ra.

Lợi dụng chức vụ tỉnh trưởng, đồng chí đã đẩy được một trung đoàn của Sư đoàn Bộ binh 3 của ngụy, 5 tiểu đoàn biệt động do địch đưa về đàn áp phong trào du kích Bến Tre ra khỏi tỉnh. Hoặc khi địch mở cuộc hành quân ở khu vực nào đó, đồng chí đã bí mật báo cho lực lượng ta biết để đối phó…

Năm 1965, không may sa vào tay địch, chúng tra tấn đồng chí rất dã man, song không hề lay chuyển được ý chí sắt đá của đồng chí. Cay cú trước khí phách hiên ngang của người cộng sản, địch đã giết hại đồng chí.

Đồng chí Phạm Ngọc Thảo là một cán bộ tình báo chiến lược, được Trung ương trực tiếp chỉ đạo đi sâu, leo cao vào những vị trí trọng yếu của địch. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, đồng chí đã lập được nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc.

Đồng chí đã được truy phong quân hàm Đại tá và được công nhận liệt sĩ. Xét thành tích đặc biệt xuất sắc của đồng chí trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 30-8-1995, đồng chí được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT Nhân dân".

Vì nhiều lý do, nhiều chi tiết, câu chuyện như huyền thoại về cuộc đời hoạt động của Phạm Ngọc Thảo đến nay vẫn chưa được công bố. Nhiều nhà phân tích tình báo quốc tế đã gọi Phạm Ngọc Thảo là “điệp viên có một không hai” vì ông là điệp viên hoạt động đơn tuyến, không có đồng đội trực tiếp hỗ trợ, chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến lược của Trung ương.

Nhiệm vụ của ông không phải là thu thập tin tức mà là tác động đến sự "rối loạn chế độ ngụy quyền". Bằng hoạt động của mình, Phạm Ngọc Thảo là người có thể tác động trực tiếp đến ngụy quân, ngụy quyền. Là sĩ quan cao cấp trong Quân lực Việt Nam cộng hòa, ông đã trực tiếp đạo diễn và tham gia chỉ đạo hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển, gây mất ổn định chính phủ ngụy quyền những năm 1964-1965. Trong cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái quân đội ngụy, Phạm Ngọc Thảo bị xem là đối tượng nguy hiểm và bị đe dọa tính mạng bất cứ lúc nào. Mặc dù vậy, ông vẫn tiếp tục nhiệm vụ mà không trốn chạy để bảo toàn tính mạng. Thậm chí, cả khi bị bắt và tra tấn dã man, tàn bạo đến chết, Phạm Ngọc Thảo vẫn không hé lộ tung tích của mình.

Mãi sau này, khi ông được truy phong Anh hùng LLVT nhân dân, người ta mới biết ông là điệp viên cộng sản. Đồng chí Trần Bạch Đằng (bút danh Nguyễn Trương Thiên Lý), nguyên Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, cũng nhận xét: "Các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và độc lập tác chiến. Anh là người tình báo đặc biệt có một không hai".

Theo dịch giả Lê Đỗ Huy, trong công văn tháng 6-1965 của tình báo Mỹ, có tài liệu nhan đề Đại tá Phạm Ngọc Thảo (Colonel Pham Ngoc Thao, 4-6-1965). Điện mật này đánh số 00780, do William Colby, Phó giám đốc về kế hoạch cơ quan CIA ở Sài Gòn viết như sau:

 “1. Đã phát hiện được Phạm Ngọc Thảo tung tăng lượn phố ngay giữa Sài Gòn, và giúp đỡ chủ bút của một tờ báo bí mật.

 (Hai đoạn số 2 và 3 bị CIA xóa khi giải mật)

4. Vấn đề này quả là nghiêm trọng, trên hai phương diện. Thứ nhất, chính quyền hiện hành của Việt Nam cộng hòa vẫn ngại ngùng, không có chủ trương bắt, và hành hình Phạm Ngọc Thảo. Còn rất ít nghi ngờ về chỗ ẩn nấp của Thảo ở Sài Gòn, cũng như một kế hoạch phối hợp cảnh sát để bắt giữ Thảo. Chính quyền Sài Gòn lại luận giải một cách chắc chắn rằng Thảo là một biểu tượng của người Công giáo, tới mức, việc bỏ tù/thủ tiêu Thảo trong tình hình như thế này sẽ gây bùng nổ. Cách suy luận như thế của Thủ tướng Quát lại được dung túng bởi Công văn số 4003 ngày 2 tháng Sáu của Sứ quán Mỹ từ Sài Gòn, theo đó Đại sứ Taylor báo cáo rằng Quát đã nhất trí để cho Thảo và một số người khác bí mật rời đất nước, cho dù chính Quát hiểu rằng cần có một kỷ luật cấp quốc gia cao hơn.

5. Vấn đề thứ hai là cốt cách của Thảo. Ông ta tin vào sứ mạng cứu nhân độ thế, xả thân vì dân tộc mình, như một thiên sứ. Ông ta biết rõ mình phải làm gì. Lung lạc được Thảo bởi tiền tài hay hình phạt, kể cả tử hình, để ông ta ngừng tạo ra tình thế chỉ có lợi cho một mình Việt Cộng, rõ ràng là điều không thể. Việc Thảo không sợ bị trừng phạt còn do ông ta được bảo trợ bởi các thủ lĩnh quân sự Công giáo. Cũng không có bằng chứng rõ rệt rằng, Thảo đang không được Việt Cộng hỗ trợ một cách bí mật”.

Cho đến nay, điệp viên Phạm Ngọc Thảo vẫn được xem là một bí ẩn khó có thể giải mã của báo chí quốc tế. Có nhà báo đã viết: “Sự bí ẩn không phải vì xung quanh ông vẫn còn những bí mật quân sự, cũng không phải xung quanh ông có những điều “nhạy cảm” khó nói.

Khó giải mã là do tầng tầng lớp lớp những biến cố lịch sử, những quan hệ, sự thiên biến vạn hóa của chiến lược, chiến thuật, kỹ thuật, nghệ thuật chiến tranh tồn tại trên chiến trường, trên chính trường và trong cuộc sống nhưng nằm ngoài sách vở và các bản tổng kết”. Còn Thiếu tướng tình báo Nguyễn Đức Trí (Nguyễn Văn Khiêm) nhận xét: “Trong lịch sử tình báo nước ta, câu chuyện ly kỳ như Phạm Ngọc Thảo là hãn hữu”./.

                                                                                                    Phù Đổng

CHIẾN DỊCH RẢI CHẤT ĐỘC HÓA HỌC-OPERATION RANCH HAND CỦA MỸ TRONG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM.

 


Chiến dịch Operation Ranch Hand kéo dài từ năm 1962 đến năm 1971 đã phun khoảng 76.000m3 thuốc diệt cỏ và thuốc làm rụng lá cây ở các vùng nông thôn miền Nam Việt Nam trong nỗ lực nhằm hủy hoại nguồn cung cấp thực phẩm và các vùng rừng núi là nơi quân Giải Phóng làm nơi trú ẩn. Các khu vực khác của Lào và Campuchia cũng bị phun thuốc này nhưng với nồng độ thấp hơn.

Trong suốt 10 năm của chiến dịch phun thuốc diệt cỏ hoặc rụng lá cây nằm trong chiến dịch Ranch Hand, đã có khoảng 20.000km2 rừng ở Việt Nam đã bị rải chất khai quang với khoảng 2.000km2 rừng bị tàn phá nặng nề hoặc bị hủy diệt hoàn toàn và khoảng 20% diện tích rừng ở Việt Nam bị rải chất khai quang ít nhất một lần.

Thuốc diệt cỏ hay thuốc làm rụng lá cây được dùng trong chiến dịch Operation Ranch Hand cao hơn gấp 50 lần so với tỉ lệ dùng trong nông nghiệp và phần lớn thuốc này chứa nhóm TDCC có công thức hóa học là 2,3,7,8-TC DD – 2,3,7,8 Tetrachlorodibenzo-p-dioxin hay còn gọi là Dioxin là độc nhất.

Chất độc da cam  là một chất lỏng trong suốt, nó còn được gọi là “chất da cam” – Agent Orange vì những thùng phuy dùng để vận chuyển nó được vẽ các sọc có màu da cam. Quân đội Hoa Kỳ còn có một số mã danh khác để chỉ đến các chất diệt cỏ được dùng trong thời kỳ này: “chất xanh” (Agent Blue, cacodylic acid), “chất trắng” (Agent White, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D và picloram), “chất tím” (Agent Purple) và “chất hồng” (Agent Pink) và chất độc da cam có chứa chất độc dioxin, nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư, dị dạng và nhiều rối loạn chức năng ở cả người Việt lẫn các cựu quân nhân Hoa Kỳ.

Trong chiến dịch Pink Rose – Operation Pink Rose vào tháng năm 1967 ở khu vực Tây Ninh và An Lộc, quân đội Mỹ đã sử dụng máy bay C-123 Provider phun chất làm rụng lá cây 2 lần và chất làm khô 1 lần. Sau đó dùng 10 tốp máy bay B-52, mỗi tốp 3 chiếc mang 42 quả bom chùm M-35 và ném vào khu vực , những quả bom này phát nổ sẽ gây cháy khủng khiếp, đốt trụi và phá hủy mọi thứ kể cả những công sự ngầm của quân Giải Phóng.

Với mức độ dùng là 35 lít /10.000m2, Các dấu hiệu về lá cây sẽ xuất hiện chỉ vài ngày ở khu vực bị rải thuốc, và trong 2 tuần sau đó, lá sẽ chuyển sang vàng úa và bắt đầu rụng. Trong 2-4 tháng sau, toàn bộ khu vực sẽ trở nên hoàn toàn cằn cõi và trụi lá. Tuy nhiên quân đội Mỹ đã dùng với liều lượng đến 60 lít / 10.000m2 để đẩy nhanh tốc độ phá hủy cây cối.

Đầu tháng 11 năm 1961, bộ chỉ huy Không Quân Mỹ đã cấp 6 chiếc máy bay C-123 Provider để bắt đầu tiến hành chiến dịch phun chất khai quang với tên gọi là Operation Ranch Hand, các phi hành đoàn và chuyên viên được đào tạo tại Phi Đội 4400–4400th Combat Crew Training Squadron. 3 máy bay đầu tiên đến sân bay Tân Sơn Nhất ngày 7 tháng 1 năm 1962.

 Ngày 10 tháng 1 đã tiến hành chuyến phun thử đầu tiên và ngày 13 tháng 1 đã tiến hành nhiệm vụ chính thức đầu tiên.

Tháng 12 năm 1963, chiến dịch Operation Ranch Hand bắt đầu tiến hành thử nghiệm các chuyến bay rải thuốc vào ban đêm nhằm tránh hỏa lực phòng không của quân Giải Phóng.

Tháng 7 năm 1964, Ranch Hand được giao cho phi đội biệt kích số 309 thuộc nhóm vận tải 315 – 309th Air Commando Squadron, 315th Troop Carrier Group. Tháng 12 năm 1965, Ranch Hand được chuyển từ Tân Sơn Nhất đến sân bay Biên Hòa và phạm vi hoạt động được mở rộng đến tận Lào. Tháng 5 năm 1966, số lượng máy bay C-123 được tăng thêm 11 chiếc để làm nhiệm vụ rải chất độc.

Tháng 6 năm 1966 đã ghi nhận máy bay của chiến dịch Operation Ranch Hand bị bắn hạ lần đầu tiên ở Quảng Trị nhưng 3 người thuộc phi hành đoàn đã được trực thăng cứu thoát. Ngày 15 tháng 10 năm 1966, Ranch Hand trở thành phi đội biệt kích số 12.

Trong năm 1967, chiến dịch Ranch Hand tiến hành 18-27 phi vụ mỗi ngày với 3-4 máy cho mỗi nhiệm vụ. Mỗi máy bay mang thùng phi chứ 3.785 lít chất độc được nối với vòi phun dưới cánh và đuôi. Máy bay bay chậm và thấp nhất có thể, mỗi máy bay phun ra làn hơi chiều ngang hơn 8m và dài đến gần 20km. Mỗi máy bay có phi hành đoàn 3-4 người và 1 người Việt Nam làm nhiệm vụ quan sát.

Ngày 1 tháng 8 năm 1968, Ranch Hand được đổi tên thành phi đội đặc biệt số 12 – 12th special Operations Squadron (12 SOS) và từ tháng 2 năm 1969 đã chuyển từ sân bay Biên Hòa đến Phan Rang và đến tháng 5, Ranch Hand bắt đầu nhận những chiếc máy bay UC-123K được trang bị thêm 2 động cơ phụ làm nhiệm vụ phun thuốc.

Năm 1969, Operation Ranch Hand áp dụng chiến thuật mới với việc sử dụng thêm máy bay A-1 Skyraiders làm nhiệm vụ hộ tống và máy bay F-4 lãnh nhiệm vụ tấn công sau khi tiến hành phun thuốc. Chiến thuật này đã làm giảm sự thiệt hại do máy bay phun thuốc bị bắn từ dưới đất. Trung bình mỗi tháng trong tháng 9, Ranch Hand tiến hành 400 phi vụ mỗi tháng và giảm dần chỉ còn 43 phi vụ mỗi tháng trong năm 1970.

Ngày 7 tháng 1 năm 1971, chiến dịch phun thuốc làm rụng lá cây Operation Ranch Hand tiến hành phi vụ cuối cùng và chính thức giải tán vào tháng 2 năm 1971.

Chiến dịch Operation Ranch Hand không chỉ làm ảnh hưởng đến môi trường, con người ở Việt Nam mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các binh lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam.Đến nay ở Việt Nam vẫn còn hàng triệu nạn nhân đang chịu sự dày vò của chất độc da cam, hàng trăm nghìn trẻ em bị dị tật với bao cuộc đời bất hạnh. Như các cựu binh lính Mỹ đang là nạn nhân của chất độc da cam đã viết : “Tôi đã bị giết trong chiến tranh Việt Nam nhưng đến giờ vẫn chưa chết được."

Theo công bố trên tạp chí Nature thì chiến dịch phun chất độc hóa học ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất thế giới.Trong thời gian 10 năm đó, quân đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam đã rải 76,9 triệu lít hóa chất xuống rừng núi và đồng ruộng Việt Nam. Trong số này có 64% là chất độc da cam, 27% là chất màu trắng, 8,7% chất màu xanh và 0,6% chất màu tím. Tổng lượng Dioxin vào khoảng 370Kg. Cần lưu ý rằng một nghiên cứu năm 2002 của trường đại học Colombia đã tính rằng chỉ 80 gram Dioxin pha vào nước uống sẽ giết sạch người dân của cả 1 thành phố với 8 triệu dân.

Các cơ quan y tế ở Việt Nam ước tính khoảng 400.000 người đã bị giết hoặc tàn tật, khoảng 500.000 trẻ em sinh ra bị dị dạng, dị tật bởi chất độc hóa học này. Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam ước lượng khoảng 1 triệu nạn nhân Việt Nam đã bị tàn phế hoặc bệnh tật vì chất độc da cam.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng đâu đó sau những ngôi nhà hay những lũy tre làng xanh ngắt, những cánh đồng bát ngát vẫn còn biết bao người lính Việt Nam cũng như gia đình họ đang phải âm thầm chịu đựng những mất mát, những di chứng của cuộc chiến tranh “hóa học” mà đế quốc Mỹ đã gây ra.Vẫn mãi còn đó những nỗi đau mang tên da cam...

                                                                                Theo Phù Đổng

CÂU CHUYỆN VỀ LÒNG NHÂN TỪ!

         Sau khi trở thành Tổng thống, tôi đã rủ một số vệ sĩ của mình đi dạo trong thị trấn. Sau khi đi bộ, chúng tôi đi ăn trưa tại một nhà hàng. Chúng tôi ngồi ở một nơi gần trung tâm nhất, và hỏi nhau xem muốn ăn gì. Sau một hồi chờ đợi, người phục vụ mang thực đơn cho chúng tôi, ngay lúc đó tôi nhận ra rằng bàn ngay trước mặt chúng tôi có một người đàn ông đang chờ được phục vụ.

Khi anh ta được bồi bàn tới tiếp, tôi nói với một trong những người lính của mình: hãy rủ người đó ngồi cùng bàn với chúng tôi. Người lính đi và truyền lời mời của tôi.

Người đàn ông đứng dậy, lấy đĩa và ngồi cạnh tôi. Trong khi ăn, tay anh ấy liên tục run và không ngẩng đầu lên khỏi thức ăn. Khi chúng tôi kết thúc, anh ấy vẫy tay với tôi mà không dám nhìn tôi, còn tôi bắt tay anh ấy và bỏ đi!

Người lính nói với tôi:

- Madiba, người đàn ông đó chắc hẳn rất ốm vì tay anh ta không ngừng run khi đang ăn.

Không có gì! Lý do cho sự run rẩy của anh ta là chuyện khác - Tôi đáp. Họ nhìn tôi kỳ lạ và tôi liền nói với họ:

- Người đàn ông đó là cai ngục của nhà tù mà tôi bị nhốt. Thường, sau khi bị tra tấn, tôi đã la hét đòi uống nước và anh ta đến để làm nhục tôi, anh ta cười nhạo tôi và thay vì cho tôi uống nước thì anh ta đi tiểu trên đầu tôi.

Anh ấy không bị bệnh, anh ấy sợ hãi và run rẩy có lẽ sợ rằng tôi, bây giờ là tổng thống Nam Phi, sợ tôi sẽ tống anh ấy vào tù và làm điều tương tự anh ấy đã làm với tôi, tra tấn và làm nhục anh ấy. 

Nhưng đó không phải là tôi, hành vi đó không có trong tính cách cũng như chuẩn mực đạo đức của tôi.

Có những người luôn nghĩ tới cách tìm kiếm sự trả thù nhằm phá hủy các quốc gia, trong khi cũng có những người chỉ suy nghĩ việc tìm kiếm sự hòa giải để xây dựng các quốc gia./.
CÂU CHUYỆN VỀ LÒNG NHÂN TỪ !

Sau khi trở thành Tổng thống, tôi đã rủ một số vệ sĩ của mình đi dạo trong thị trấn. Sau khi đi bộ, chúng tôi đi ăn trưa tại một nhà hàng. Chúng tôi ngồi ở một nơi gần trung tâm nhất, và hỏi nhau xem muốn ăn gì. Sau một hồi chờ đợi, người phục vụ mang thực đơn cho chúng tôi, ngay lúc đó tôi nhận ra rằng bàn ngay trước mặt chúng tôi có một người đàn ông đang chờ được phục vụ.

Khi anh ta được bồi bàn tới tiếp, tôi nói với một trong những người lính của mình: hãy rủ người đó ngồi cùng bàn với chúng tôi. Người lính đi và truyền lời mời của tôi.

Người đàn ông đứng dậy, lấy đĩa và ngồi cạnh tôi. Trong khi ăn, tay anh ấy liên tục run và không ngẩng đầu lên khỏi thức ăn. Khi chúng tôi kết thúc, anh ấy vẫy tay với tôi mà không dám nhìn tôi, còn tôi bắt tay anh ấy và bỏ đi!

Người lính nói với tôi:

- Madiba, người đàn ông đó chắc hẳn rất ốm vì tay anh ta không ngừng run khi đang ăn.

Không có gì! Lý do cho sự run rẩy của anh ta là chuyện khác - Tôi đáp. Họ nhìn tôi kỳ lạ và tôi liền nói với họ:

- Người đàn ông đó là cai ngục của nhà tù mà tôi bị nhốt. Thường, sau khi bị tra tấn, tôi đã la hét đòi uống nước và anh ta đến để làm nhục tôi, anh ta cười nhạo tôi và thay vì cho tôi uống nước thì anh ta đi tiểu trên đầu tôi.

Anh ấy không bị bệnh, anh ấy sợ hãi và run rẩy có lẽ sợ rằng tôi, bây giờ là tổng thống Nam Phi, sợ tôi sẽ tống anh ấy vào tù và làm điều tương tự anh ấy đã làm với tôi, tra tấn và làm nhục anh ấy. 

Nhưng đó không phải là tôi, hành vi đó không có trong tính cách cũng như chuẩn mực đạo đức của tôi.

Có những người luôn nghĩ tới cách tìm kiếm sự trả thù nhằm phá hủy các quốc gia, trong khi cũng có những người chỉ suy nghĩ việc tìm kiếm sự hòa giải để xây dựng các quốc gia./.
Dịch từ 
Nelson Mandela
(From Echeverría Martínez ′′ Chicali Wall").
Yêu nước ST.

SỰ SUY THOÁI CHÍNH TRỊ CỦA ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC!

         Nhà sử học Dương Trung Quốc đang trượt dài trên chính con đường mình đã thành danh: Sử học!
Ông Dương Trung Quốc phát ngôn tại diễn đàn Quốc hội rằng: "Chúng ta không nên nhắc lại câu chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ hơn 70 năm trước, thời đại đã thay đổi rồi. Thời bác Hồ là thời kỳ có những giá trị lớn hơn tiền bạc, đó là yêu nước. Cho nên, phần lớn những người Bác dùng được đào tạo ở chế độ cũ nhưng sẵn sàng hy sinh tất cả giá trị vật chất để thực hiện mục tiêu yêu nước".

Ông Dương Trung Quốc không xứng đáng làm đại biểu nhân dân nữa, bởi: (1) Ông DTQ đã xuyên tạc, dẫm lên Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, tấn công vào ý chí toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang đẩy mạnh thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; (2) Ông DTQ xuyên tạc thành quả lãnh đạo của Đảng khi ông ta nói những người Bác Hồ dùng là do chế độ cũ đào tạo ra, nên họ sẵn sàng hy sinh tất cả giá trị vật chất để yêu nước, còn những người cán bộ được Đảng ta, Nhà nước ta đào tạo thì không có được điều đó. (3) Ông DTQ xuyên tạc thời đại Hồ Chí Minh rằng: Không có lòng yêu nước, chỉ có vật chất, tiền bạc.

Chúng ta đều biết:
Ngày xưa ông DTQ học sử, nghiên cứu lịch sử, chép sử dân tộc. Ông truyền thụ, thổi hồn dân tộc vào các thế hệ. Ông trở thành nhà sử học uy danh, uy tín, uy nghiêm. Cũng lắm người ngưỡng mộ ông, tôn trọng ông, vị nể ông.

Thế rồi, bẵng đi thời gian, ông Dương Trung Quốc bước chân vào nghị trường, trở thành ông nghị, ông ngáo mình là ông kẹ, ông bị cóng tay, vứt bút (vì lâu lắm rồi không viết nỗi tác phẩm, cuốn sách nào), ông vứt luôn cái tâm sử, trí sử, tín sử, chính sử mà quay lại, đi ngược lại con đường mình đã đi, trở thành ngụy sử, ngụy ngôn, ngụy tâm. Trước hết là lập lờ đòi đa Đảng, hạ thấp uy tín của Đảng CSVN, rồi thì gỡ tội xâm lược cho thực dân Pháp, kế đến là gỡ tội phản bội cho ngụy quyền SG, rồi ông kết thân, kết bè, kết bạn với tay, chân, mắt, mũi, mồm của các tổ chức phản động, bọn dân chủ cuội, bon No-U - tổ chức Việt Tân, và bây giờ thì sao? Ông lại xét lại lòng yêu nước thời đại Hồ Chí Minh, bôi nhọ, bôi bẩn, xúc phạm, xuyên tạc nhân phẩm, nhân cách của cả thế hệ hôm nay.

 Ông ta đã thể hiện một quan điểm nhìn nhận thời đại phi tính lịch sử, đồng thời ông cũng đang xúc phạm đến quan điểm, chủ trương, quyết tâm của Đảng về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải chăng ông Dương Trung Quốc muốn làm đao phủ trực tiếp khởi đầu cho việc tạo nên vết chém mạnh cắt đứt tính liên hệ, nối tiếp của giai đoạn lịch sử thời đại hào hùng chiến đấu giải phóng dân tộc với thời điểm hiện tại? Phải chăng ông Dương Trung Quốc đang cổ súy lối sống thực dụng, vật chất và xem nhẹ bài học từ quá khứ? không cần quá khứ, không nên học quá khứ? Đó là hành động của thế lực phản động, phản cách mạng, phản bội đất nước.

Tôi từng đọc ở đâu đó rằng: "Một thế hệ ngoảnh mặt lại với lịch sử là một thế hệ không có quá khứ - và cũng không có tương lai". 

Theo dõi quá trình, phản ứng, hành vi, ngôn ngữ của Dương Trung Quốc thì chúng ta cũng cảm nhận được phần nào ông ta đã, đang và sẽ tiếp tục cổ súy tư tưởng, hình thành một lối sống, một lớp nghĩ, một thế hệ ngoảnh lưng vào quá khứ, lịch sử, chống lại sự lãnh đạo của Đảng CSVN mà thôi.
Ông Dương Trung Quốc không xứng làm người đại diện của Nhân dân trong những năm qua mà còn phải đưa vào lò mới phải./.





Yêu nước ST.

ĐẤU TRANH NGĂN NGỪA NHỮNG BIỂU HIỆN CHỦ NGHĨA DÂN TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa dân túy trên thế giới đã trở thành trào lưu điển hình chi phối đời sống chính trị - xã hội ở nhiều nước, nhưng ở Việt Nam mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động của một số người. Tuy nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh ngăn ngừa kịp thời.

Tư tưởng dân túy xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, nhưng nó phát triển mạnh mẽ và trở thành chủ nghĩa - chủ nghĩa dân túy vào khoảng thế kỷ XIX trong các phong trào nông dân, thể hiện sự ủng hộ hoặc nhân danh nông dân chống lại giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng tư sản. Hiện nay, sự nổi lên mang tính toàn cầu của chủ nghĩa dân túy ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị - xã hội của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, với diện mạo mới và những diễn biến phức tạp; nội hàm của nó đã được mở rộng hơn, không chỉ thuần túy là việc “nhân danh nông dân”. Đặc biệt, việc nhiều nhà dân túy giành được vị trí lãnh đạo ở một số nước, đã tạo nên những thay đổi, làm cho vấn đề càng trở nên phức tạp hơn.

Ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, nhưng trước sự tác động từ những diễn biến phức tạp của đời sống chính trị quốc tế, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy xuất hiện và có xu hướng phát triển. Dễ nhận thấy, thực chất chủ nghĩa dân túy là những lời nói và hành động mang tính chất mị dân, lợi dụng, kích động nhân dân, lấy một số nhóm được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho tính chính danh, phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế,… của cá nhân, nhóm, phe phái nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong mỗi giai đoạn khác nhau, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy cũng khác nhau cả về đặc điểm và sắc thái, tuy chúng vẫn cùng bản chất và tính chất. Vì thế, cần tiếp cận với các góc độ khác nhau để nhận diện những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:

1. Những biểu hiện “theo đuôi quần chúng” của một số cán bộ, đảng viên, cá nhân và nhóm lợi ích. Những người có biểu hiện này thường “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm quần chúng nhất định. Họ nhân danh quần chúng nhân dân, “lấy lòng” quần chúng, tìm mọi cách vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho bản thân một cách không lành mạnh, bỏ qua các vấn đề thuộc về nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng. Họ thường xem mục tiêu, lý tưởng như là vấn đề “trang sức” cho con đường công danh, tiến thân của bản thân; coi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, đặc biệt là những kẽ hở trong đó như là “điều kiện” để trục lợi. Tuy đây là cấp độ biểu hiện thấp, nhưng nó đã thể hiện sự phai nhạt niềm tin, lý tưởng, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

2. Lợi dụng tình cảm tự phát, nhu cầu trước mắt, lợi ích thường nhật của dân chúng để mưu cầu lợi ích riêng. Trước những vấn đề bức xúc, nhạy cảm của xã hội, của địa phương, đất nước, họ lợi dụng, lấy lòng, hòng làm “thỏa mãn” nhu cầu trước mắt nào đó của một bộ phận dân chúng; kích động người dân phản ứng với dụng ý xấu, động cơ thiếu trong sáng, vì lợi ích riêng của họ; lạm dụng các quyền tự do, dân chủ đưa ra những đòi hỏi, yêu sách phi lý, mị dân, trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những người có biểu hiện này thực sự đã suy thoái về chính trị tư tưởng, xa rời dần những nguyên tắc, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; niềm tin đối với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã suy giảm nghiêm trọng, nhưng họ chưa muốn thay đổi chế độ, bởi lẽ chế độ này “còn có lợi” cho họ để có thể “đục nước béo cò”.

3. Giương cao khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước”, kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước. Những người có biểu hiện này đã thể hiện rõ sự biến chất về chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù họ ít bộc lộ tư tưởng, quan điểm một cách trực tiếp, nhưng khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước” luôn được họ thể hiện bằng cách này hay cách khác để lôi kéo, kích động đám đông phục vụ cho ý đồ của họ, tạo cơ sở cho việc tuyên truyền các quan điểm lệch lạc, sai trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

4. Những biểu hiện ở người có quan điểm sai trái, thậm chí thù địch. Họ nhân danh “vì nhân dân”, “bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước”, “vì sự phát triển đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”,… lợi dụng, kích động dân chúng hướng đến những hành động cực đoan chống đối Đảng, chính quyền và chế độ xã hội. Ở những người này, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đạt đến độ thay đổi về chất, đã biến chất về chính trị; ra mặt chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước không chỉ bằng tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, mà còn bằng cả hành động; họ đã “trở cờ”, nhưng vẫn nhân danh “vì nhân dân”, “vì lợi ích quốc gia dân tộc” và họ thường được sự hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần của các thế lực thù địch, phản động.

Những biểu hiện trên chưa phản ánh hết tính chất phức tạp của tình hình, song, đó là những dạng biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa dân túy hiện nay, đang từng ngày, từng giờ chống phá Đảng và Nhà nước. Nó tác động, gây nhiều hệ lụy tiêu cực, dễ gây nên sự mơ hồ, ngộ nhận; dễ lẫn lộn giữa những cán bộ thực sự vì dân, vì nước với những kẻ ngụy trang khéo léo bằng vỏ bọc “vì dân”; dễ dẫn đến dao động về tư tưởng, hoài nghi, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ, ảnh hưởng tiêu cực đến đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó đặt ra nhiều khó khăn đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cũng như trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy để những biểu hiện đó không phát triển, trở thành “vi rút độc” gây ô nhiễm đời sống chính trị đất nước; những người mang nó không chuyển hẳn sang phía bên kia, chống lại Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc và phương pháp luận quan trọng. Để đấu tranh ngăn ngừa, phải thực hiện tổng thể nhiều giải pháp, trước hết, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận diện đúng những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay; thấy rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của nó đến đời sống tinh thần xã hội, đến nền tảng tư tưởng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy đảng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, v.v. Qua đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những “tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái”. Trên cơ sở đó, tạo sự vững vàng và nhạy bén về chính trị; sự “miễn dịch” cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” và khả năng đấu tranh ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và tác động của những biểu hiện chủ nghĩa dân túy.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. Theo đó, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến chi bộ về đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, hiệu quả hơn theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quan tâm hơn nữa đến vấn đề đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy; khắc phục mọi biểu hiện xem nhẹ, buông lỏng vấn đề này; bổ sung, hoàn thiện chủ trương, quan điểm nhằm tăng hiệu quả đấu tranh. Đồng thời, có cơ chế, chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, triệt tiêu mầm mống nảy sinh, phát triển suy thoái, tham nhũng và tiêu cực; phát hiện từ sớm, từ đầu những biểu hiện dân túy, gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, “phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”. Khắc phục mọi biểu hiện hình thức, cá nhân chủ nghĩa, “mị dân”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”.

Ba là, chủ động đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với đấu tranh khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đây vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản, vừa là biện pháp quan trọng trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay. Theo đó, các cấp ủy đảng cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội”3, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phê phán mạnh mẽ tính chất mị dân, lừa phỉnh của những người có biểu hiện dân túy, gắn với việc làm rõ quan điểm lấy dân làm gốc, tất cả vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân của Đảng. Thực hiện tốt phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”, để phê phán những biểu hiện chủ nghĩa dân túy và phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt, tạo cơ sở ngăn ngừa, loại trừ những biểu hiện chủ nghĩa dân túy từ cơ sở. Cấp ủy các cấp cần nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng; duy trì nghiêm quy định, quy chế phát ngôn; kiên quyết phòng, chống mọi biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán quan điểm dân túy, kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ. Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, kiên định, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân./.

                                                                            Nguồn : Fb QPTD

TÙY TIỆN CHỖ NÀO???

 

Nghe mấy anh chị trong “nhóm công tác của Liên hợp quốc” tố Việt Nam bắt giữ tuỳ tiện Châu Văn Khảm mà thấy buồn cười. Thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân, xâm nhập Việt Nam định tiến hành các hoạt động khủng bố thì bị bắt, vậy thì tuỳ tiện ở đâu.

Châu Văn Khảm, SN 1949, là Việt kiều Úc, được biết đến là người tích cực tham gia hoạt động chống phá Việt Nam, là thành viên của tổ chức khủng bố “Việt tân” từ năm 2010 với bí danh là Hoàng Liêm và trở thành “đại diện cơ sở đảng bộ Sydney” và “Bí thư đảng bộ Úc châu” của tổ chức “Việt tân”. Đến tháng 01/2019, Châu Văn Khảm nhập cảnh Campuchia và sử dụng CMTND lấy tên Chung Chính Phi theo đường bộ từ Campuchia để xâm nhập trái phép vào Việt Nam. Sau đó, Châu Văn Khảm cùng với một số đối tượng như Nguyễn Văn Viễn (48 tuổi, quê Quảng Nam, ngụ quận 12, thành phố Hồ Chí Minh) và Trần Văn Quyền (20 tuổi, quê Hà Tĩnh, ngụ tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương) đã câu kết, móc nối, lôi kéo và cung cấp tiền bạc, đào tạo huấn luyện cách thức chống phá chính quyền cho số đối tượng chống đối ở trong nước.

Trên cơ sở thông báo về tổ chức khủng bố “Việt tân” do Bộ Công an Việt Nam công bố ngày 4/10/2016 trên cổng thông tin điện tự Bộ Công an, trong đó xác định cụ thể: “người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Việt tân”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Việt tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt tân”… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam”, vào ngày 12/01/2019  Châu Văn Khảm đã bi bắt và đến ngày 02/3/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” và tuyên y án đối với Châu Văn Khảm 12 năm tù giam (sẽ bị trục xuất sau khi chấp hành xong bản án), Nguyễn Văn Viễn 11 năm và Trần Văn Quyền 10 năm tù giam về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” theo Điều 113 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Việc kêu gọi trả tự do cho Châu Văn Khảm không phải là lần đầu tiên được số đối tượng chống đối cực đoan, số đối tượng đội lốt dân chủ, số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam như RFA, BBC Tiếng Việt, “Việt Tân” hay kể cả một số nghị, chính giới một số nước như Úc cũng đã nhiều lần gặp gỡ, thậm chí đưa ra những đề nghị đối với chính quyền Việt Nam. Vậy nhưng pháp luật Việt Nam sẽ trừng trị nghiêm minh với những kẻ coi thường, thách thức pháp luật, kể cả người đó có là Việt Kiều hay được sự hậu thuẫn của chính giới một số nước phương Tây. Bản án 12 năm tù giam cho 1 kẻ phản quốc như Châu Văn Khảm là hoàn toàn xứng đáng, đúng quy định pháp luật và là bài học cho những kẻ đang đồng lõa hay “tát nước theo mưa” cho hành vi vi phạm pháp luật của Châu Văn Khảm.

Ấy vậy mà họ cho rằng Việt Nam "tùy tiện" bắt Châu Văn Khảm là sai? Thậm chí HRW con kêu gọi Tân Thủ tướng Úc can thiệp trả tự do cho Châu Văn Khảm là sao?

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH PHẢI CHỐNG TỪ QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG!

         Chống diễn biến hòa bình làm thất bại mọi âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và những giá trị lịch sử to lớn của dân tộc là ở đây chứ đâu xa.
Phải kiên quyết đấu tranh đập tan âm mưu lộng giả thành chân, biến không thành có, phủ bụi làm mờ đi chân lý sự thật lịch sử, sự ngụy biện xảo trá nhằm xóa bỏ "ranh giới địch ta" làm phai mờ giá trị lịch sử gây hoang mang nhầm lẫn cho nhân dân về tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước ngụy quân ngụy quyền mà một số học trò của ông đang dẫm theo để cố thực hiện.
Nhắc lại PHL chính là kẻ đã khơi dậy phong trào xuyên tạc hạ bệ anh hùng dân tộc trong thời gian qua mà cụ thể là anh hùng Lê Văn Tám.   
Sau bộ thông sử 15 tập đã thay đổi danh xưng thì nay bộ phim truyền hình 90 tập Biên niên sử đã và đang lặp lại những sai lầm căn bản trên./.





Môi trường ST.

BÁC HỒ VỚI BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM: NGƯỜI KHAI SINH VÀ ĐẶT NỀN MÓNG CHO BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

     Không chỉ là một Anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam và cũng là nhà báo lỗi lạc của nền báo chí ấy. 96 năm qua, đến nay những lời dạy của Người về báo chí vẫn là tài sản quý đối nền báo chí cách mạng Việt Nam.
     Ngày 21/6/1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Báo Thanh Niên, cơ quan của tổ chức Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Đây là tờ báo cách mạng Việt Nam đầu tiên do Bác Hồ sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính. Báo Thanh Niên giữ vai trò lịch sử đặc biệt quan trọng, mở đầu cho việc tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cách mạng theo quan điểm Mác - Lênin, viết bằng quốc ngữ Việt Nam, được phổ biến rộng khắp cả nước, trong người dân Việt Nam, nhất là trong tầng lớp thanh niên, công nhân, nông dân… 
     Không chỉ là một Anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam và cũng là nhà báo lỗi lạc của nền báo chí ấy. 96 năm qua, đến nay những lời dạy của Người về báo chí vẫn là tài sản quý đối nền báo chí cách mạng Việt Nam.
 
    Là người am hiểu tinh hoa văn hóa đông tây, kim cổ và sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ sức mạnh to lớn, diệu kỳ của báo chí trong sự nghiệp cách mạng, trong đời sống xã hội và trong việc nâng cao dân đức, dân trí. Đặc biệt, từ thực tiễn hoạt động sinh động của cách mạng Việt Nam, Bác coi báo chí là một thứ vũ khí cách mạng sắc bén và đã sử dụng báo chí một cách tài tình để tuyên truyền cách mạng, để vận động nhân dân tham gia sự nghiệp cách mạng. 
 
    Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sáng lập ra 9 tờ báo: Người cùng khổ (Le Paria năm 1922), Quốc tế Nông dân (1924), Thanh Niên (1925), Công Nông (1925), Lính Kách mệnh (1925), Thân Ái (1928), Việt Nam Độc lập (1941), Cứu quốc (1942) và Tạp chí Đỏ (1930). 
 
    Bác chỉ thị thành lập Đài phát thanh Quốc gia (nay là Đài Tiếng nói Việt Nam) ngày 7/9/1945; thành lập Hãng tin Quốc gia (nay là Thông tấn xã Việt Nam) ngày 15/9/1945; báo Sự Thật (nay là báo Nhân Dân), ngày 11/3/1951. 
 
    Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác sử dụng trên 170 bút danh để viết trên 2.000 bài báo bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, nhiều thể loại khác nhau (chính luận, tiểu phẩm, truyện, ký và thơ...) đề cập đến toàn bộ các vấn đề rộng lớn của cách mạng, của đời sống xã hội. Ngòi bút của Bác bao quát rộng lớn những vấn đề có ý nghĩa quan trọng đang đặt ra, phân tích một cách sắc sảo, cụ thể, đánh giá rõ ràng, xác đáng, đưa ra các giải pháp thiết thực, khả thi yết. Đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, những bài viết của Bác như một lời kêu gọi, có tác dụng vô cùng to lớn, trở thành sức mạnh tinh thần mạnh mẽ, cổ vũ toàn dân tham gia kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là một nhà báo cách mạng vĩ đại. Những tác phẩm báo chí của Người dù ở thể loại nào, viết về vấn đề gì đều có một sắc thái rất riêng, hết sức độc đáo, sáng tạo.
 
    Người thầy của báo chí Cách mạng Việt Nam
 
    Không chỉ là người sáng lập báo chí cách mạng Việt Nam, là tác giả của một khối lượng không nhỏ các bài báo, đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Bác còn có những lời chỉ dạy sâu sắc về người làm báo. 
 
    Các bài viết của Người bao giờ cũng có giá trị lý luận và thực tiễn cao; vừa nhuần nhụy, đậm đà tính dân tộc, vừa giàu tính hiện đại; vừa mang tính chiến đấu, vừa có sức cảm hóa, thuyết phục mạnh mẽ đối với người đọc… Đó chính là phong cách báo chí Hồ Chí Minh.
 
    Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của người làm báo: “Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo”, “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”, “Tờ báo chỉ là giấy trắng mực đen mà thôi. Nhưng với giấy trắng mực đen ấy, người ta có thể viết những bức tối hậu thư”.
 
    Vì vậy, đối với người làm báo, đạo đức và năng lực là yêu cầu không thể thiếu để báo chí xứng đáng với vai trò vị trí quan trọng trong công cuộc cách mạng chung của đất nước. Yêu cầu đầu tiên đối với người làm báo là phải vững vàng về phẩm chất chính trị. Bác căn dặn, “tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành…) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”. 
 
    Bác đã cụ thể hóa phẩm chất chính trị của một nhà báo phải được thể hiện từ việc xác định đối tượng phục vụ và nhiệm vụ của báo chí là: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên báo chí phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”. “Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng. Đạo đức đó là cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Bác cũng yêu cầu cán bộ báo chí phải biết tự phê bình và phê bình. Bác coi đó “là vũ khí cần thiết và sắc bén nó giúp cho chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”. Đối với nhà báo cách mạng “viết cũng như mọi việc khác, phải có chí, chớ giấu dốt, nhờ tự phê bình và phê bình mới tiến bộ.
 
    Đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển với thế và lực mới, cơ hội đi cùng khó khăn, thách thức. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ của báo chí rất nặng nề. Mỗi người làm báo cần luôn giữ cho mình “Tâm sáng, lòng trong, ngòi bút sắc”, không ngừng tự học và rèn luyện nhằm nâng cao chất lượng công tác báo chí trên lĩnh vực thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.(HP)./.
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Đại hội lần thứ III những người viết báo Việt Nam (8/9/1962).
Môi trường ST.

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2022

Báo chí luôn là một trong những lực lượng trên tuyến đầu

 


Chiều 17-6, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì gặp mặt của Thường trực Chính phủ với lãnh đạo các cơ quan báo chí nhân kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925/21-6-2022).

Chủ tịch Quốc hội Mozambique bắt đầu thăm chính thức Việt Nam

 


Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, chiều 18-6, Chủ tịch Quốc hội Cộng hòa Mozambique, bà Esperanca Laurinda Francisco Nhiuane Bias dẫn đầu đoàn đại biểu Quốc hội Cộng hòa Mozambique đã tới sân bay Nội Bài (Hà Nội), bắt đầu thăm chính thức nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 18 đến ngày 23-6.

Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng luôn được đảm bảo ở Việt Nam

 


Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

 


Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đóng vai trò quan trọng trong đời sống luật pháp quốc tế, giúp khẳng định chủ quyền trên biển của các quốc gia, từ đó góp phần gìn giữ môi trường biển, an toàn và hòa bình...

Việt Nam trong Đại hội đồng LHQ về ứng phó dịch bệnh

 

Đại dịch COVID-19 đã bộc lộ những hạn chế của hệ thống y tế toàn cầu trong phòng, chống và ứng phó với dịch bệnh, để lại những tác động nặng nề về kinh tế-xã hội, làm chậm hoặc đảo ngược những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững, ảnh hưởng đến sức khỏe, y tế cho người dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương.