Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

ĐẤU TRANH NGĂN NGỪA NHỮNG BIỂU HIỆN CHỦ NGHĨA DÂN TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa dân túy trên thế giới đã trở thành trào lưu điển hình chi phối đời sống chính trị - xã hội ở nhiều nước, nhưng ở Việt Nam mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động của một số người. Tuy nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh ngăn ngừa kịp thời.

Tư tưởng dân túy xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, nhưng nó phát triển mạnh mẽ và trở thành chủ nghĩa - chủ nghĩa dân túy vào khoảng thế kỷ XIX trong các phong trào nông dân, thể hiện sự ủng hộ hoặc nhân danh nông dân chống lại giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng tư sản. Hiện nay, sự nổi lên mang tính toàn cầu của chủ nghĩa dân túy ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị - xã hội của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, với diện mạo mới và những diễn biến phức tạp; nội hàm của nó đã được mở rộng hơn, không chỉ thuần túy là việc “nhân danh nông dân”. Đặc biệt, việc nhiều nhà dân túy giành được vị trí lãnh đạo ở một số nước, đã tạo nên những thay đổi, làm cho vấn đề càng trở nên phức tạp hơn.

Ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, nhưng trước sự tác động từ những diễn biến phức tạp của đời sống chính trị quốc tế, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy xuất hiện và có xu hướng phát triển. Dễ nhận thấy, thực chất chủ nghĩa dân túy là những lời nói và hành động mang tính chất mị dân, lợi dụng, kích động nhân dân, lấy một số nhóm được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho tính chính danh, phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế,… của cá nhân, nhóm, phe phái nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong mỗi giai đoạn khác nhau, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy cũng khác nhau cả về đặc điểm và sắc thái, tuy chúng vẫn cùng bản chất và tính chất. Vì thế, cần tiếp cận với các góc độ khác nhau để nhận diện những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:

1. Những biểu hiện “theo đuôi quần chúng” của một số cán bộ, đảng viên, cá nhân và nhóm lợi ích. Những người có biểu hiện này thường “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm quần chúng nhất định. Họ nhân danh quần chúng nhân dân, “lấy lòng” quần chúng, tìm mọi cách vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho bản thân một cách không lành mạnh, bỏ qua các vấn đề thuộc về nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng. Họ thường xem mục tiêu, lý tưởng như là vấn đề “trang sức” cho con đường công danh, tiến thân của bản thân; coi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, đặc biệt là những kẽ hở trong đó như là “điều kiện” để trục lợi. Tuy đây là cấp độ biểu hiện thấp, nhưng nó đã thể hiện sự phai nhạt niềm tin, lý tưởng, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

2. Lợi dụng tình cảm tự phát, nhu cầu trước mắt, lợi ích thường nhật của dân chúng để mưu cầu lợi ích riêng. Trước những vấn đề bức xúc, nhạy cảm của xã hội, của địa phương, đất nước, họ lợi dụng, lấy lòng, hòng làm “thỏa mãn” nhu cầu trước mắt nào đó của một bộ phận dân chúng; kích động người dân phản ứng với dụng ý xấu, động cơ thiếu trong sáng, vì lợi ích riêng của họ; lạm dụng các quyền tự do, dân chủ đưa ra những đòi hỏi, yêu sách phi lý, mị dân, trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những người có biểu hiện này thực sự đã suy thoái về chính trị tư tưởng, xa rời dần những nguyên tắc, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; niềm tin đối với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã suy giảm nghiêm trọng, nhưng họ chưa muốn thay đổi chế độ, bởi lẽ chế độ này “còn có lợi” cho họ để có thể “đục nước béo cò”.

3. Giương cao khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước”, kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước. Những người có biểu hiện này đã thể hiện rõ sự biến chất về chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù họ ít bộc lộ tư tưởng, quan điểm một cách trực tiếp, nhưng khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước” luôn được họ thể hiện bằng cách này hay cách khác để lôi kéo, kích động đám đông phục vụ cho ý đồ của họ, tạo cơ sở cho việc tuyên truyền các quan điểm lệch lạc, sai trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

4. Những biểu hiện ở người có quan điểm sai trái, thậm chí thù địch. Họ nhân danh “vì nhân dân”, “bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước”, “vì sự phát triển đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”,… lợi dụng, kích động dân chúng hướng đến những hành động cực đoan chống đối Đảng, chính quyền và chế độ xã hội. Ở những người này, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đạt đến độ thay đổi về chất, đã biến chất về chính trị; ra mặt chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước không chỉ bằng tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, mà còn bằng cả hành động; họ đã “trở cờ”, nhưng vẫn nhân danh “vì nhân dân”, “vì lợi ích quốc gia dân tộc” và họ thường được sự hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần của các thế lực thù địch, phản động.

Những biểu hiện trên chưa phản ánh hết tính chất phức tạp của tình hình, song, đó là những dạng biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa dân túy hiện nay, đang từng ngày, từng giờ chống phá Đảng và Nhà nước. Nó tác động, gây nhiều hệ lụy tiêu cực, dễ gây nên sự mơ hồ, ngộ nhận; dễ lẫn lộn giữa những cán bộ thực sự vì dân, vì nước với những kẻ ngụy trang khéo léo bằng vỏ bọc “vì dân”; dễ dẫn đến dao động về tư tưởng, hoài nghi, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ, ảnh hưởng tiêu cực đến đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó đặt ra nhiều khó khăn đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cũng như trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy để những biểu hiện đó không phát triển, trở thành “vi rút độc” gây ô nhiễm đời sống chính trị đất nước; những người mang nó không chuyển hẳn sang phía bên kia, chống lại Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc và phương pháp luận quan trọng. Để đấu tranh ngăn ngừa, phải thực hiện tổng thể nhiều giải pháp, trước hết, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận diện đúng những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay; thấy rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của nó đến đời sống tinh thần xã hội, đến nền tảng tư tưởng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy đảng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, v.v. Qua đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những “tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái”1. Trên cơ sở đó, tạo sự vững vàng và nhạy bén về chính trị; sự “miễn dịch” cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” và khả năng đấu tranh ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và tác động của những biểu hiện chủ nghĩa dân túy.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. Theo đó, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến chi bộ về đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, hiệu quả hơn theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quan tâm hơn nữa đến vấn đề đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy; khắc phục mọi biểu hiện xem nhẹ, buông lỏng vấn đề này; bổ sung, hoàn thiện chủ trương, quan điểm nhằm tăng hiệu quả đấu tranh. Đồng thời, có cơ chế, chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, triệt tiêu mầm mống nảy sinh, phát triển suy thoái, tham nhũng và tiêu cực; phát hiện từ sớm, từ đầu những biểu hiện dân túy, gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, “phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”2. Khắc phục mọi biểu hiện hình thức, cá nhân chủ nghĩa, “mị dân”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”.

Ba là, chủ động đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với đấu tranh khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đây vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản, vừa là biện pháp quan trọng trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay. Theo đó, các cấp ủy đảng cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội”3, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phê phán mạnh mẽ tính chất mị dân, lừa phỉnh của những người có biểu hiện dân túy, gắn với việc làm rõ quan điểm lấy dân làm gốc, tất cả vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân của Đảng. Thực hiện tốt phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”, để phê phán những biểu hiện chủ nghĩa dân túy và phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt, tạo cơ sở ngăn ngừa, loại trừ những biểu hiện chủ nghĩa dân túy từ cơ sở. Cấp ủy các cấp cần nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng; duy trì nghiêm quy định, quy chế phát ngôn; kiên quyết phòng, chống mọi biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán quan điểm dân túy, kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ. Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, kiên định, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân./.

“BẤT TUÂN DÂN SỰ” - MỘT THỦ ĐOẠN ĐẦY NGUY HIỂM

 Nhận diện bản chất

Thứ nhất, mặc dù “bất tuân dân sự” được coi là phương thức bất bạo động, ôn hòa, nhưng qua lịch sử, vận động và biến tướng của phương thức này diễn ra ở một số nước trên thế giới và ở nước ta có thể khẳng định rằng ranh giới giữa bất bạo động, phi vũ trang với bạo động có vũ trang là rất mong manh (thể hiện tính chất nguy hiểm). Bởi lẽ, các thế lực phản động, thù địch thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình tư bản chủ nghĩa. Có điều để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những hình thức khác nhau, như: tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa”, “phản kháng bất bạo động”. Do vậy, hình thức của “bất tuân dân sự” là phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng, không hợp tác, nhưng cơ bản là ôn hòa, bất bạo động. Thậm chí, những người “bất tuân dân sự” quan niệm, hành động vũ trang của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh hơn có vũ trang thì được coi là bất bạo động. Điều này thể hiện sự mập mờ về tính chất của các hình thức đấu tranh gọi là bất bạo động; hay nói cách khác, ranh giới giữa bất bạo động và bạo động là rất mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng. Thực chất, đây là cách ngụy tạo để biện giải, mở đường chuyển sang đấu tranh bạo động khi bất bạo động đã chuẩn bị đủ điều kiện để “châm ngòi” xung đột.

Cần phân biệt rõ giữa bản chất và hiện tượng. Đối với các hiện tượng cụ thể, có thể ở mức độ thấp, không ảnh hưởng xấu nhiều tới cộng đồng, nhưng ở mức độ cao, khi hướng tới mục tiêu chính trị bằng các hình thức đấu tranh trực tiếp gây tác động tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự của đất nước, của địa phương thì cần phải có giải pháp phù hợp.

Thứ hai, trên thực tế, các hành động thực hiện “bất tuân dân dân sự” và “bất hợp tác” có những điểm giống nhau và khác nhau. Điểm chung giống nhau của hai phương thức này là đều vô hiệu hóa chủ trương, chính sách của nhà nước. Điểm khác nhau là “bất hợp tác” từ chối hợp tác với chính phủ trong khi “bất tuân dân sự” đề cập đến việc từ chối tuân theo luật pháp của nhà nước. Về hình thức biểu hiện, “bất hợp tác” từ chối một việc làm, một hành động nằm trong chủ trương, chính sách của nhà nước trong khi “bất tuân dân sự” đi đến tẩy chay, biểu tình, thậm chí chuyển hóa thành bạo lực.

Một số biến tướng

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa. Đi cùng với đó, chiêu bài “bất tuân dân sự” được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế lợi dụng, từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Các cuộc “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Cộng hòa Dân chủ Đức; “cách mạng ca hát” ở các nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX; các cuộc “cách mạng màu” ở một số nước trong không gian hậu Xô-viết; “cách mạng hoa nhài” (Mùa xuân Ả-rập) ở một số nước Bắc Phi, Trung Đông cuối năm 2010, đầu năm 2011; phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bolivar ở Venezuela (từ năm 2014 đến nay); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2014, năm 2019 và 2020… đều có dấu ấn của thủ đoạn kích động bất tuân dân sự, nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây trở ngại đến hoạt động công quyền, thực thi công lý, gây ra những hiểm họa khôn lường, thậm chí khủng hoảng toàn diện, sâu sắc cho nhiều vùng lãnh thổ và quốc gia trên thế giới.

Ở nước ta, hoạt động “bất tuân dân sự” đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành “phong trào” nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời.

Những năm gần đây, có một số vụ việc mang bóng dáng “bất tuân dân sự”, như: “bất tuân cưỡng chế” của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắc Nông, Gia Lai…; “bất tuân” quy định về thành lập hội (nhóm) đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như: Hội anh em dân chủ, Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam, Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam, Hội văn đoàn độc lập Việt Nam, Hội nhà báo độc lập Việt Nam, mạng lưới Blogger Việt Nam…; “bất tuân” để phản đối Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội (năm 2014), Dự án Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, Luật An ninh mạng (năm 2018)… Các hình thức như: kích động tài xế phản đối trả phí BOT giao thông; từ chối đóng các loại quỹ phúc lợi xã hội; tẩy chay hàng hóa nước ngoài…cũng có nhiều vụ việc bị lợi dụng, biến tướng.

“Bất tuân dân sự” có tổ chức ngày càng chặt chẽ, được một số tổ chức phản động nước ngoài như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh còn hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để làm suy giảm niềm tin, tích tụ mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền.

Tổ chức đấu tranh

Để ngăn chặn, làm thất bại thủ đoạn “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, cần quán triệt và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chủ động tập trung vạch trần bản chất thủ đoạn “bất tuân dân sự”, làm cho người dân hiểu rõ đây là một thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm, nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và lực lượng phản động quốc tế, nhằm phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước của nhân dân ta. Đồng thời tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hóa “thượng tôn pháp luật” cho mội công dân.

Điều quan trọng là tiếp tục đẩy mạnh công tác tư tưởng ở cơ sở, trong đó chú trọng đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, ban, ngành, đoàn thể ở địa phương để bám, nắm cơ sở; sớm phát hiện và đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng lôi kéo người dân thực hiện “bất tuân dân sự” ngay khi mới manh nha.

Khi xảy ra vụ việc “bất tuân dân sự”, cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo… 

Nhận diện các biểu hiện lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong điều kiện hiện nay. Thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, sẽ góp phần quan trọng làm thất bại mưu toan kích động “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam.

NHÂN DÂN LÀ TAI MẮT CỦA ĐẢNG


Trong Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ tình trạng: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Cùng với đó, Đảng ta cũng nhận định, cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, diễn ra rất khó khăn, phức tạp, thực sự là vấn đề cấp bách đối với sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chúng ta phải làm nhiều việc. Đặc biệt, cần thấy rõ vai trò rất quan trọng của “tai mắt” nhân dân trong cuộc đấu tranh này.

Bàn về mục tiêu lý tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, muốn hoàn thành mục tiêu lý tưởng của mình, muốn trường tồn và phát triển vững mạnh, Đảng phải gắn bó máu thịt với dân. Đảng phải biết dựa vào nhân dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân.

 V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Quan điểm ấy đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Chính phong trào đấu tranh của nhân dân là cái nôi mà Đảng ta sinh ra và tôi luyện để Đảng ta phát triển. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, chính nhờ được nhân dân chở che, đùm bọc, bảo vệ và hiến kế mà Đảng ta ngày càng trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dân tộc Việt Nam ta đã đánh bại những kẻ xâm lược hung bạo nhất, lập nên những chiến thắng lừng lẫy, những mốc son chói lọi, viết nên những trang sử hào hùng. Yếu tố quyết định để có điều ấy là Đảng ta đã quy tụ và phát huy được sức mạnh của lòng dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. 

Những thành tựu to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được trong hơn 35 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ đất nước càng chứng minh rõ vai trò to lớn của nhân dân. Một trong những bài học sâu sắc, quý báu mà Đảng ta rút ra từ sự nghiệp đổi mới là: Ðổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc...

Công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa những năm gần đây càng thêm khẳng định vai trò của nhân dân. Tâm tư, nguyện vọng; những kiến nghị, đề xuất; những phát minh, sáng kiến nảy sinh từ thực tiễn lao động sản xuất và chiến đấu của nhân dân là yếu tố quan trọng góp phần hình thành, hoàn thiện đường lối, chủ trương, quyết sách của Ðảng. Không chỉ góp phần hình thành, hoàn thiện mà chính nhân dân còn là nguồn lực, sức mạnh để biến những chủ trương, quyết sách của Đảng đi vào cuộc sống và trở thành hiện thực. 

Cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của Đảng ta những năm qua đạt được nhiều kết quả quan trọng. Không ít biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là nhiều hiện tượng tiêu cực, hành vi tham nhũng của cán bộ, đảng viên đã được phát hiện qua tai mắt nhân dân. Một yếu tố rất quan trọng tạo nên những kết quả ấy là Đảng ta đã biết phát huy tai mắt của nhân dân.

Từ thực tiễn, có thể khẳng định rằng: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không chỉ là trách nhiệm của các tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, mà là trách nhiệm của toàn dân, của toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát và khẳng định: “Nhân dân là tai mắt của Đảng”. Đặc biệt, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện nói chung, trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nói riêng, nhân dân đóng vai trò rất quan trọng. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Đúng như lời Người đã dạy dù khó khăn, phức tạp mấy có nhân dân giúp đỡ, được nhân dân đồng tình, ủng hộ nhất định Đảng ta sẽ vượt qua và cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất định sẽ đạt được mục tiêu đề ra./.

CHIÊU TRÒ TẨY TRẮNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ĐỒNG ĐÔ LA DƠ BẨN

 Mới đây nhiều tờ báo ca ngợi em Tăng Vân Khanh, học sinh lớp 12 Văn, trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi, Hải Dương vừa đỗ 7 trường Đại học Mỹ danh giá và được cấp các mức học bổng với tổng trị giá lên đến hơn 25 tỷ đồng từ một bài luận 650 từ viết về người Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng nói là em đã tư duy theo cách gọi của người Mỹ về "cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam" là “Cuộc chiến tranh Việt Nam". Tôi cứ đặt câu hỏi ai đã dạy em cách gọi ấy và không biết gia đình, dòng họ em có ai hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không nhưng rõ ràng đây là một chiêu trò tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của người Mỹ khi họ chọn chủ đề du học là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam!

Rõ ràng là, 21 năm Mỹ xâm lược Việt Nam, chia đôi đất nước để dễ bề thôn tính, hàng triệu người Việt Nam đã đổ máu để đổi lấy thống nhất, độc lập trước 1 đội quân đế quốc xâm lược. Thế mà, không biết tự bao giờ mà một bộ phận giới trẻ Việt Nam hôm nay như Tăng Vân Khanh lại có thể gọi là "Cuộc chiến tranh Việt Nam? rồi ngày mai, ngày kia những đứa con của Tăng Vân Khanh có tiếp tục được chính người mẹ các cháu có dạy cho các cháu như vây không. Nếu đúng như thế thì thật là đau buồn!
Tôi còn nhớ, Cách đây 27 năm, ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; rạng sáng ngày 12/7/1995 (giờ Việt Nam), Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ. Đây là kết quả của một hành trình dài với những nỗ lực bền bỉ của cả hai bên quyết tâm gác lại quá khứ hướng tới tương lai, từ một cựu thù đến nay hai nước đã trở thành đối tác toàn diện.
Tuy nhiên, sau 27 năm bình thường hóa quan hệ, những gì Mỹ mong muốn ở Việt Nam đang nằm ngoài sức tưởng tượng của đa số người Việt Nam bởi trước mắt chúng ta, những người dân Việt Nam chỉ nhìn thấy bức tranh kinh tế của nó nhưng sẽ không hiểu hết đằng sau đó Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam.
Đầu tiên chúng ta hãy nhớ lại, sau khi Mỹ rút quân khỏi miền Nam, giới lãnh đạo Hoa Kỳ đã tuyên bố: 30 năm sau người Mỹ sẽ trở lại Việt Nam không phải bằng bom đạn mà bằng Dollas và người Việt Nam sẽ phải chào đón họ như những người anh hùng...
Trong một lần sang thăm Việt Nam, Tổng thống Binclinton cũng từng nhắc lại ý định này trước hàng nghìn sinh viên các trường Đại học Việt Nam rằng "những gì mà người Mỹ trước đây chưa thực hiện được ở Việt Nam thì chính những thế hệ người Việt Nam sau này sẽ thay họ thực hiện nó..." Vậy thì những gì họ chưa thực hiện được mà họ mong muốn những thế hệ người Việt thay họ thực hiện???
Mỹ đã từng xâm lược Việt Nam và họ đã thất bại, những người đã từng làm tay sai tiếp tay cho Mỹ cũng thất bại và đó cũng là điều mà họ muốn một bộ phận người Việt Nam hôm nay và mai sau tiếp tục làm tay sai cho họ lần nữa. Muốn đạt được mục đích đó không có con đường nào duy nhất ngoài việc tác động chuyển hóa tư tưởng bằng đầu tư giáo dục, về lâu dài những con người ấy sẽ nắm giữ các vị trí quan trọng trong Đảng, Nhà nước họ có thể dưới sự điều khiển, dật dây của Mỹ làm chuyển hóa toàn bộ hệ tư tưởng hiện nay của chúng ta.
Để thực hiện mục tiêu này, Năm 2016, Đại học Fulbright Việt Nam được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên khi tiến hành các hoạt động giáo dục họ đã cương quyết không đưa các môn Lý luận Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình dạy học đồng thời mở ra các ngành, chuyên ngành đào tạo theo hơi hướng giá trị thực dụng phương tây, xã hội dân sự... Thực chất là nhằm tới phá vỡ nền tảng XHCN đưa một thế hệ người Việt theo học mang nặng tư duy sùng bái Mỹ, thậm chí có tư tưởng chống lại chế độ hoặc ngấm ngầm hoặc công khai.
Hàng năm, Mỹ chi tới 5 triệu USD/năm từ cái gọi là "Quỹ Sáng kiến Thủ lĩnh Trẻ Đông Nam Á" (Yseali) để thành lập Học viện Yseali tại Việt Nam. Quỹ này trong chuỗi hoạt động của cựu Tổng thống Barack Obama "nhằm tăng cường năng lực lãnh đạo và kết nối trong ASEAN" nhưng nó chỉ là vỏ bọc để tuyển chọn, huấn luyện, đào tạo mầm mống cho cái gọi là các nhà dân chủ và các tổ chức "xã hội dân sự" - mầm mống của những cuộc cách mạng màu mà nó đã từng diễn ra ở các nước Liên Xô, Đông Âu và đã lật đổ thành công CNXH ở đây, điển hình của sự bất ổn hiện nay như Tunisia, Ucraina và nhiều nước trên thế giới. Trong suốt quá trình bình thường hóa quan hệ, Mỹ luôn tìm mọi cách can thiệp vào lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo của Việt Nam, thậm chí luôn dung túng những kẻ bất mãn chống lại nhà nước Việt Nam thì câu hỏi đặt ra Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam đã quá rõ. Hiện chúng ta có trên dưới 30.000 sinh viên đang học tập tại Mỹ và rất có thể các em lại là những phương tiện, tai sai đắc lực cho Mỹ mà việc đầu tiên là tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam băng chính những đồng USD dơ bẩn


CỰU THỨ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG PHÁP, VIÊN TƯỚNG BẠI TRẬN MUỐN RẮC TRO CỐT CỦA MÌNH XUỐNG LÒNG CHẢO ĐIỆN BIÊN

 Đại tướng Marcel Bigeard - Cựu thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Pháp khi còn sống, trong quá khứ thời trai trẻ của cuộc đời mình, ông từng là viên chỉ huy bại trận trước những người lính Cụ Hồ tại chiến dịch Điện Biên Phủ.

Khi đó ông là một viên đại tá của quân đội Pháp nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên, dù bại trận bị bắt làm tù binh, nhưng khi viết về những người lính Cụ Hồ trong chiến tranh vệ quốc của họ, ông dành cho những người lính bên kia chiến tuyến sự kính trọng, muôn phần nể phục:
“Tôi đã thấy họ khởi đầu từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta”
Họ đã trở nên vĩ đại và bất diệt, bởi những người lính xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước sẽ không ai nghĩ rằng họ sẽ chiến đấu chỉ để sau này, mỗi tháng họ được nhận vài ba trăm nghìn tiền trợ cấp và vài cái giấy khen ố vàng, thậm chí, có những thương binh, liệt sĩ, đến nay cũng chẳng có trợ cấp và ghi công gì, nhưng trên hết họ chiến đấu vì đất nước, vì gia đình và vì dân tộc, chỉ vậy thôi.
Những con người đã viết lên lịch sử và giá trị của những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, mọi thế hệ hôm nay và mai sau phải biết ơn và trân trọng. "Đừng chết" vì thay đổi giá trị của nó!
DI NGUYỆN CUỐI CÙNG: MUỐN TRỞ LẠI NƠI ÔNG LÀ MỘT KẺ BẠI TRẬN VÀ Ở ĐÓ LẠI MÃI MÃI.
Ngày 18/6/2010, Đại tướng Pháp Marcel Bigeard đã qua đời tại nhà riêng. Gia đình ông quyết định tuân theo di chúc của người quá cố:
Rắc tro xác của ông xuống lòng chảo Điện Biên Phủ. Vì sao?
Sinh năm 1916 tại vùng Toul, Pháp, sang Việt Nam tham chiến giữa thập niên 40 của thế kỷ trước, Bigeard nguyên khởi đường binh nghiệp từ lính nhảy dù, vốn được coi là lực lượng thiện chiến nhất của quân đội viễn chinh Pháp.
Cuốn Lịch sử cách mạng Yên Bái, không cụ thể chi tiết, ghi nhận: Ngày 18/10/1952, quân Pháp nhảy dù xuống Tú Lệ nhằm ứng cứu cho Nghĩa Lộ bị thất thủ, đội du kích Cao Phạ đã phối hợp với bộ đội chủ lực của ta chốt chặn và chiến đấu quyết liệt với quân địch ở đèo Khau Phạ… Bigeard chính là viên sĩ quan đã thực hiện cuộc nhảy dù xuống vựa lúa nếp nổi tiếng, cánh đồng Tú Lệ, nhằm giải cứu cho lực lượng Pháp còn sót lại, sau thất bại thảm hại của Pháp tại Nghĩa Lộ, Văn Chấn.
Thực sự, số quân Pháp trong chiến dịch này, đã không bị bộ đội Việt Nam tiêu diệu hoàn toàn. Bigeard từ chỗ nhảy xuống Tú Lệ nhằm giải cứu, chuyển thành cầm cự rồi tháo lui cứu vãn lực lượng. Cuộc tháo chạy trong trùng điệp vòng vây của địa hình hiểm trở và lực lượng kháng chiến Việt Nam kéo dài hơn 100 cây số.
Bigeard vượt qua được phục kích của du kích và quân chủ lực Việt Nam, qua được đèo Cao Phạ đầy nguy hiểm. Với nhãn quan quân sự thuần tuý, đây là một sở đoản đáng khâm phục của Bigeard khi ở tư cách một sĩ quan chỉ huy phá vây. Điểm nhấn lịch sử cá nhân của ông và quân đội Pháp trong thất bại này, thực sự vừa là bi kịch của chiến tranh, vừa nói lên tính can trường của người lính Bigeard...
Tỏ ra là một sĩ quan giàu kinh nghiệm chiến đấu, Bigeard cùng cánh tàn quân làm cuộc hành quân dài hơn 120 cây số. 120 cây số là đơn vị chiều dài không giản đơn, khi ông dẫn một đoàn quân tháo chạy, vừa bị đánh tơi bời, phải lui binh giữa vùng núi non hiểm trở, luôn bị đối phương bao vây bằng sức mạnh tổng hợp của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương là người dân địa phương Yên Bái, những người vốn rất quen thuộc địa hình. Điều đó thực quả không hề dễ dàng thoát hiểm. Song Bigeard đã tổ chức cuộc rút lui khá an toàn tính mạng về phía Tây - Tây Bắc…
Sau cuộc tháo chạy thảm bại này của tiểu đoàn lính dù Pháp do Bigeard cầm quân, về phía kháng chiến quân Việt Nam là sự giải phóng hoàn toàn vùng Yên Bái, lấy đó làm khu hậu cần khổng lồ, đường tiếp vận chủ yếu cho chiến dịch Điện Biên Phủ ngay sau đó 1 năm.
Trên thao trường như trong chiến trận.Song về phía Pháp, lại là cơ hội để giới chính trị sa-lon ở chính quốc và giới quân sự Đông Dương Pháp, lên dây cót cho tinh thần quân đội Pháp và lính đánh thuê Lê Dương đang hết sức lúng túng và bị động trước sự điều binh khiển tướng chiến lược của Việt Minh trên toàn chiến trường Đông Dương nói chung và trên mặt trận chính là miền Bắc Việt Nam. Bigeard lập tức được báo giới chính quốc bấy giờ thổi phồng, tuyên truyền, coi như việc tháo chạy khỏi Yên Bái như hành vi anh hùng của quân đội Pháp tại Đông Dương…
Nhưng quá khứ quan trọng nhất, có lẽ thực sự gây ám ảnh suốt đời Bigeard sau này, để ông về cuối đời đã 7 lần qua lại Việt Nam và xác lập nguyện vọng đốt xác, rắc nắm tro của ông xuống cánh đồng, lòng chảo Điện Biên Phủ, chính là nơi ông thực hiện cuộc nhảy dù cuối cùng trong chiến tranh tại Việt Nam, khi bộ đội Việt Nam đã khép chặt vòng vây và Điện Biên Phủ đang ở thời điểm giao tranh khốc liệt nhất trong chiến tranh Pháp - Việt và Bộ chỉ huy quân đội Pháp do Nava chỉ huy hết sức lúng túng, bị nhiều bất ngờ khi đối phó với các lực lượng quân sự chính quy của Việt Nam ở điểm trọng yếu này.
Phía Pháp phải ném vào lòng chảo đang ngun ngút khói lửa vị sĩ quan tài ba nhất của họ tại Đông Dương. Thiếu tá là cấp bậc của Bigeard trước khi ông nhảy dù xuống Điện Biên. Hồi kí của nhiều nhân chứng Pháp và Việt, kể cả người của chính quyền bù nhìn Bảo Đại, hồi kí của chính Bigeard đều mô phỏng hết sức chi tiết và không khác nhau lắm về giai đoạn này.
Đặc biệt ở lịch sử Yên Bái, tuy không ghi chi tiết về cá nhân sĩ quan Bigeard, song hồi kí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại ghi nhận rõ từng thời kì, nhiều điểm cuộc đời binh nghiệp Bigeard. Giai đoạn Bigeard chiến đấu tại Điện Biên, thực hiện cuộc nhảy dù với hai khẩu pháo 105 li và sau đó lập tức chiến đấu hết sức liều lĩnh, cùng lính dù Pháp và Thái do ông ta chỉ huy ngày 16-3-1954, để tăng cường và khích lệ lực lượng phòng thủ đã suy yếu, gần như tuyệt vọng.
Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi nhận sự xuất hiện của Bigeard đã mang lại một chút phấn chấn cho quân đồn trú...Bigeard ngay sau khi nhảy dù được thăng cấp trung tá, lập tức chỉ huy lực lượng phản kích, gồm năm tiểu đoàn với sự yểm trợ của tối đa không quân và pháo binh.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng ghi nhận ở hồi ký của ông về trận phản kích của Bigeard được quân viễn chinh coi là thắng lợi, một chiến thắng hầu như duy nhất tại Điện Biên Phủ trong suốt thời gian này.Các nhà chiến lược quân sự Pháp hẳn có nhiều dụng tâm khi ở giai đoạn gay cấn nhất trên trận Điện Biên Phủ, lại thả con xe điều xuống Điện Biên, lò lửa Đông Dương này.
Và đáng buồn thay, sự kiện trên - theo tài liệu của chính Lịch sử quân lực của chính quyền Sài Gòn ghi rằng: Đêm hôm 15 tháng 3 đã có một số binh sĩ Thái trốn khỏi cứ điểm, và vào ngày 17 tháng 3 đại bộ phận của Tiểu đoàn 3 Thái, một phần đào ngũ theo Việt Minh, một phần bỏ ngũ về với gia đình.
Mặc dù đã có Tiểu đoàn Dù thuộc địa số 6 dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Marcel Bigeard, một sĩ quan thuộc loại cừ khôi vào bậc nhất của Pháp ở Đông Dương. Như vậy dù Bigeard có mặt, cũng không lên được dây cót cho một đội quân ở Điện Biên lâm vào cái thế không thể thay đổi, đã hoảng sợ trước sức mạnh như bão táp của các sư đoàn quân Việt Nam.Bigeard đã bị bắt làm tù binh và sau năm 1954, đã được chính phủ Việt Nam trao trả cho chính phủ Pháp.
Paris mặc dầu vậy vẫn đánh giá cao, thừa nhận, coi ông là sĩ quan có tài, nên lại tiếp tục ném Bigeard vào cuộc chiến mới tại Algeria, để ông tiếp tục bảo vệ quyền lợi của nhà nước thực dân Pháp. Nhưng chính ông, ở hồi ký của mình, đã nhận ra rằng, mọi cố gắng khi đó, của ông và quân đội đồn trú ở Điện Biên chả có tính anh hùng ca bất tử.
Sự hồi tưởng ám ảnh của Bigeard trên cánh đồng Mường Thanh năm đó, là sự thức tỉnh có tính giác ngộ, khi chính người anh hùng Bigeard đã coi chiến công này chỉ là: Ngọn lửa rơm (Bigeard, 1975, tr. 167). Chỉ ba từ Ngọn lửa rơm, Bigeard đã nhìn ra sự thật, cái tất yếu của chiến cuộc, mà phần thắng không gì cưỡng nổi thuộc về người Việt.
Chi tiết tự nhận ra bản chất thật ý nghĩa đời sống binh nghiệp này của Bigeard, phần nào lí giải cho ý nguyện của ông, khi năm 1988 quyết định ở di chúc: sau khi chết, tro bụi xác thân được rải xuống Điện Biên Phủ. Về nghĩa đen, tức là ông muốn xác ông quay lại nơi ông từng tham chiến. Nếu theo như truyền thống văn hoá Pháp và luật Pháp nước Pháp: là Đại tướng, Bigeard phải được danh dự tang lễ và chôn xác ở tổ quốc.
Việc mong ước mang chính tro xác mình ra đi, ở hẳn nơi xứ người, có nghĩa là ông không chỉ trở về với nơi đã rút lui, bỏ lại hơn 100 xác chết mà còn là việc ông từ chối sự vinh danh mà nước Pháp dành cho ông, tức là chối bỏ điều ông tin tưởng ngày xưa. Sự quay trở lại nơi ông đã từng đồng cam cộng khổ với đồng đội - theo cá nhân tôi, cũng là một người lính - còn là sự tự đánh giá hành vi cá nhân ở mỗi giai đoạn lịch sử mang tính ngộ (chữ theo ý nghĩa nhà Phật) thừa nhận một lần nữa, một cách khách quan nhất, tài năng địch thủ của ông, những người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.Có câu “Con người sinh ra từ cát bụi lại trở về cát bụi”.
Nhưng sự kiện Đại tướng bốn sao Marcel Bigeard, từng là cựu Thứ trưởng Quốc phòng (1975), với sở nguyện cuối cùng của mình (mà chính phủ Pháp ở quá khứ không muốn như ông di chúc - Tổng Thống Pháp Giscard d'Estaing trước kia khi được báo giới hỏi ý kiến về di chúc "rải tro" đã trả lời là không đồng ý).
Và, hôm nay, sau khi viên Đại tướng Marcel Bigeard qua đời, chính phủ đương nhiệm Pháp lại yên lặng trước quyết định của gia đình ông. Như vậy, hẳn thời đại, lịch sử thế giới đã và đang sang trang rất mới, trong đó con người ta, tuy không thể làm lại lịch sử, song có thể hàn gắn nó, những vết thương cũ của lịch sử còn lại, để cho các dân tộc tiến bộ trên địa cầu này có thể hiểu nhau mà xích lại gần nhau hơn nữa.
Nó cũng là lời cảnh báo cho các lực lượng hiếu chiến rằng, ở một thời điểm nào đó, ai có thể lừa bịp được dân chúng, đẩy họ đi vào các cuộc chiến trên thế mạnh về vật chất, song sự thật của lịch sử, thì không thể nào lừa bịp được các dân tộc, khi những chứng nhân có danh dự, lương tri sẽ có một ngày cất tiếng…
Sở cầu của viên Đại tướng Pháp hẳn trùng với câu ngạn ngữ của người Việt: Tiếng chim hót trước khi chết là tiếng chim khôn


NHÂN QUYỀN KHÔNG ĐẾN TỪ NƯỚC MẮT..!

 

Đã từng có vị tổng thống khóc, đã có mấy anh, chị nghị sĩ khóc và người dân thì đã từng khóc rất nhiều. Nhưng thực sự căn cốt của vấn đề vẫn ko phải là ở nước mắt chảy nhiều hay ít. Nước mắt dễ lấy đi của con người ta xúc cảm, lòng thương và vì thế mà thực tại dẫu phũ phàng đến mấy đôi khi cũng khiến đám đông quên đi.

Xứ Hợp Chủng quốc đã từng có nhiều cuộc biểu tình diễn ra, thậm chí có cả đốt phá vì vấn nạn súng đạn. Người tìm hiểu về lịch sử hình thành của nước Mỹ hẳn nhiên họ cũng ko quá ngạc nhiên vì suốt quá trình đó là máu, là vàng và cả nước mắt. Quyền sở hữu tư nhân đặt ở vị trí  tối cao trong xã hội, cho nên nếu người dân tưởng như lợi ích của mình sẽ đc bảo đảm khi  có trong nhà  hẳn 1 khẩu súng trường tấn công, thêm vài khẩu Glock 17 thì thử hỏi lợi ích màu mỡ của những nhà tài phiệt lái súng hạng nặng liệu sẽ có bao giờ mất đi đc không..? 

Cái ông giám đốc hãng súng nhất nhì ở Mỹ đã từng phát biểu trước nạn xả súng, rằng " để chống lại một kẻ xấu có súng phải là một người tốt nhưng cũng phải có súng". 

Vậy ra trong bất luận trường hợp nào đi chăng nữa, hàng nóng của các ngài ấy sẽ đc bán cho cả hai bên, xấu và tốt. Chả trách bên đó người ta đang tính trang bị súng cho cả giáo viên và áo chống đạn cho học sinh. Và tương lai là những vũ khí hạng nặng gì nữa thì chưa thể đoán định. Nhưng nếu cứ như thế này thì biết đến bao giờ nhân quyền mới đc gọi tên thực sự hay đó chỉ la một thứ tự do theo kiểu chọn lọc của giới tự nhiên.

Có thể có vị Tổng thống đã khóc rất nhiều, có thể có anh nghị sĩ đã khóc nhiều hơn và người dân còn khóc to hơn nữa. Nhưng nhân quyền vẫn không bao giờ có thể đến từ nước mắt. Có chăng đó chỉ sự mủi lòng theo kiểu sự đã rồi mà thôi.

Phan xi păng

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ BẢO ĐẢM QUYỀN LỰC THUỘC VỀ NHÂN DÂN

 

Kiểm soát quyền lực là vấn đề được mọi thiết chế chính trị hết sức quan tâm. Thực tế cho thấy ở đâu có quyền lực thì ở đó cần phải có sự kiểm soát để bảo đảm việc thực thi quyền lực được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, không bị lạm dụng.

Kiểm soát quyền lực có thể hiểu ngắn gọn là hệ thống những cơ chế, hoạt động kiểm tra, đánh giá, phát hiện, ngăn chặn, loại bỏ những hành vi vượt quá giới hạn được ủy quyền của các chủ thể nắm quyền lực nhằm bảo đảm cho việc thực thi quyền lực đúng quy định, đúng mục đích, đúng quyền hạn và có hiệu quả. Ở Việt Nam, ngay từ khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đã sớm đề cập đến vấn đề kiểm tra, kiểm soát, giám sát, nâng cao trách nhiệm của Chính phủ, chính quyền đối với dân nhằm xây dựng một nhà nước dân chủ, ngăn chặn tình trạng cán bộ lạm quyền, lộng quyền gây hại cho dân.

Kể từ thời điểm đất nước tiến hành đổi mới, nhất là khi chúng ta chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Ðảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm soát quyền lực, và đưa ra những quan điểm chỉ đạo ngày càng cụ thể, rõ ràng, quyết liệt hơn về vấn đề này.

Tại Ðại hội XI, lần đầu tiên khái niệm kiểm soát quyền lực chính thức được ghi nhận trong quan điểm chỉ đạo quá trình đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

Ðặc biệt, đến Ðại hội XIII, vấn đề kiểm soát quyền lực đã trở thành một nội dung quan trọng được nhấn mạnh. Văn kiện Ðại hội chỉ rõ, một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là phải “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”, đồng thời coi việc “Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền” là một trong các nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Ðảng trong sạch, vững mạnh, “tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước” là nội dung cần chú trọng để hoàn thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Mục đích của việc tăng cường kiểm soát quyền lực là nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, bảo đảm dân chủ và thúc đẩy tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhanh chóng đi đến thắng lợi, gặt hái được những thành tựu quan trọng để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, mang lại cho người dân cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, cực đoan đã phớt lờ mục tiêu tốt đẹp đó, ngang nhiên bịa đặt, vu khống, tuyên truyền rằng “Việt Nam lâu nay luôn duy trì chế độ Ðảng trị độc tài phi dân chủ, không có lực lượng đối trọng, không có sự kiểm soát quyền lực cho nên mới tạo điều kiện cho cán bộ, quan chức tham nhũng, trục lợi, vi phạm quyền dân chủ và lợi ích của nhân dân, khiến cho đất nước không thể phát triển như tiềm năng, lợi thế vốn có, đời sống nhân dân khốn khổ, lòng dân bức xúc…”.

Khi Ðảng chủ trương tăng cường kiểm soát quyền lực nhằm làm trong sạch hệ thống chính trị, thực thi dân chủ, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực để trục lợi, tham nhũng,… thì chúng lập tức xuyên tạc rằng “Ðảng đang củng cố quyền lực độc tài, thực hiện đấu đá nội bộ, thanh trừng phe phái, triệt tiêu những lực lượng đối trọng tiến bộ có khả năng cạnh tranh quyền lực với Ðảng…”.

Ði đôi với những luận điệu xuyên tạc đó, các thế lực thù địch, phản động còn dùng nhiều thủ đoạn để bôi xấu, công kích Ðảng, đổ lỗi cho Ðảng “gây ra tình trạng tham nhũng, tha hóa đạo đức của đội ngũ cán bộ quan chức, kéo lùi tiến trình phát triển của Việt Nam”, từ đó đòi phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng. Không khó để nhận ra mưu đồ chính trị ẩn sau những luận điệu xuyên tạc chế độ, kêu gọi tự do, dân chủ đó là nhằm tấn công, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó chúng ta phải hết sức cảnh giác, đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ tính đúng đắn trong những quan điểm chỉ đạo của Ðảng, bảo vệ những thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những giá trị ưu việt mà nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu bao năm qua dưới sự lãnh đạo, đồng hành của Ðảng.

Kiểm soát quyền lực là vấn đề mà mọi thiết chế chính trị đều quan tâm cho dù là trong lịch sử hay hiện tại. Ðiểm khác nhau là mục đích của việc kiểm soát quyền lực ở mỗi thiết chế chính trị. Việt Nam lựa chọn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, về bản chất là chế độ dân chủ thật sự, dân chủ triệt để cho số đông nhân dân lao động, do đó, bảo đảm dân chủ luôn là mục tiêu mà Việt Nam theo đuổi và nỗ lực phấn đấu thực hiện.

Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam cũng nhằm để thực hiện và bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân bởi lẽ nhà nước pháp quyền mà Việt Nam xây dựng là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước đều vì “lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Ðể hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang bản chất dân chủ tốt đẹp đó càng cần thiết phải coi trọng tăng cường kiểm soát quyền lực. Thực tế cho thấy, khi quyền lực bị buông lỏng, không được kiểm soát chặt chẽ rất dễ dẫn tới tha hóa quyền lực, khiến cho quyền lực đó không còn thuộc về nhân dân, không vì lợi ích của nhân dân mà thuộc về những người được trao quyền lực, nắm quyền lực.

Thời gian qua, đã có không ít cán bộ lợi dụng những hạn chế trong công tác kiểm soát quyền lực đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn để xâm hại, chà đạp quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, trục lợi, thâu tóm lợi ích riêng, tham nhũng, tiêu cực… gây tổn hại to lớn không chỉ đến lợi ích của tổ chức, cá nhân mà của cả quốc gia, dân tộc.

Hậu quả của việc làm này là đã phá hoại những thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nhiều thế hệ đã dày công gây dựng; đi ngược lại mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp mà chúng ta đang hướng tới; làm tha hóa bản chất dân chủ ưu việt của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng; làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Ðảng và Nhà nước.

Chủ trương tăng cường kiểm soát quyền lực của Ðảng chính là nhằm khắc phục những hiện tượng tiêu cực đó, phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham nhũng, trục lợi, loại trừ những phần tử cơ hội, những cán bộ tha hóa biến chất đạo đức; làm trong sạch đội ngũ cán bộ; nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội mang lại những thành tựu tốt đẹp hơn.

Hơn thế, Ðảng ta còn quyết liệt chỉ đạo việc kiểm soát quyền lực phải được thực hiện thường xuyên liên tục ở mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương, đơn vị, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, khắc phục triệt để tình trạng lạm quyền, lộng quyền, vi phạm quyền và lợi ích của nhân dân.

Ðảng ta cũng chỉ rõ, kiểm soát quyền lực là trách nhiệm không chỉ của Ðảng, mà của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Nhân dân là lực lượng quan trọng thực hiện kiểm soát quyền lực, thực hiện kiểm tra, giám sát để quyền lực ấy thật sự thuộc về nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Kiểm soát quyền lực tốt sẽ góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ ưu việt mà chúng ta đang xây dựng.

Ðảng ta ra đời từ nhân dân và luôn gắn bó với lợi ích của nhân dân, hoạt động vì lợi ích của đông đảo tầng lớp nhân dân lao động. Vì vậy, bảo vệ quyền lực của nhân dân cũng là bảo vệ quyền lực của Ðảng, bảo vệ lợi ích của nhân dân cũng là bảo vệ lợi ích của Ðảng.

Tuy nhiên, Ðảng ta cũng nhận thấy, kiểm soát quyền lực không phải là công việc dễ dàng vì nó liên quan trực tiếp đến những người nắm quyền lực, những người “có chức có quyền” trong xã hội, do đó, kiểm soát quyền lực cần được xem là công việc hệ trọng, cấp bách, đòi hỏi mọi cấp bộ, ngành, địa phương, đơn vị, cá nhân phải có quyết tâm chính trị cao và nỗ lực thực hiện bằng được. Ðó cũng là điều kiện tiên quyết để đưa đất nước ngày càng phát triển.

 

Phát huy vai trò báo chí cách mạng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

Trong suốt chặng đường 92 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn kiên định, nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; xác định đây là cuộc đấu tranh liên tục, bền bỉ, lâu dài, là một trong những nhiệm vụ xuyên suốt quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng như thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết đã khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng nêu rõ: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và thể chế hóa chủ trương, định hướng, xác định hệ thống các nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, nhấn mạnh và chỉ rõ trách nhiệm của báo chí cách mạng Việt Nam, với chức năng là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và Nhà nước, luôn đồng hành, gắn bó với sự nghiệp của Đảng, đất nước và dân tộc; chính là phương tiện quan trọng tuyên truyền xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Trong những năm qua, các cơ quan báo chí đã quán triệt, thực hiện nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thông tin của Đảng, Nhà nước, bám sát mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, tạo sự đồng thuận của xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ; thông tin kịp thời, trung thực, toàn diện đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế; trong đó, thông tin, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được quan tâm, đầu tư bài bản với các chuyên trang, chuyên mục, chương trình, tuyến bài sâu sắc, phong phú, chất lượng.

Cùng với đó, các cơ quan báo chí đã tích cực thông tin, tuyên truyền về lý luận chính trị; khẳng định tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lịch sử đấu tranh cách mạng cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đạt được những thành tựu như hiện nay. Các cơ quan báo chí, như: Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, điện tử Chính phủ, điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trung tâm Phát thanh - Truyền hình Quân đội, Truyền hình Công an nhân dân và một số tạp chí, như: Cộng sản, Tuyên giáo, Xây dựng Đảng, Quốc phòng toàn dân, Lý luận Chính trị, các báo đảng địa phương,… đã có nhiều bài viết đề cập sâu sắc, diễn giải thấu đáo, giúp tăng cường, củng cố niềm tin khoa học, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, lý tưởng xã hội chủ nghĩa giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, tạo hiệu ứng lan tỏa trong nhân dân. Điểm nhấn nổi bật trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận thời gian qua chính là việc công bố bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Từ khi bài viết được công bố ngày 16/5/2021 trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan báo chí đã đăng tải hàng nghìn chương trình, bài viết, bài bình luận thể hiện sự đánh giá cao, hưởng ứng tích cực của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các tầng lớp nhân dân trong nước cũng như bạn bè, các chính đảng, chính khách và dư luận quốc tế. Bài viết của Tổng Bí thư đã trở thành tài liệu hết sức giá trị, phục vụ việc học tập, giáo dục lý luận chính trị, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Và chính các cơ quan báo chí đã trở thành phương tiện hữu hiệu giúp lan tỏa công trình khoa học có tầm lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc này đến với đông đảo bạn đọc.

Báo chí không chỉ tích cực thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chủ trương, kế hoạch phát triển đất nước của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương; mà còn phát huy vai trò giám sát, phản biện khi đăng, phát ý kiến của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và cả nhân dân, làm rõ những vấn đề đang còn băn khoăn liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước; kịp thời biểu dương, cổ vũ những mô hình, điển hình, kinh nghiệm, cách làm tốt trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, tạo sức lan tỏa, cổ vũ các phong trào Thi đua yêu nước. Báo chí đồng thời có nhiều chương trình, bài viết về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng; gắn tuyên truyền phòng, chống tham nhũng với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, v.v. Các chương trình, chuyên mục nổi bật, như: Đối diện (Đài Truyền hình Việt Nam), Việc cần làm ngay, Bình luận phê phán (Báo Nhân Dân), Nhìn thẳng nói đúng (Đài Tiếng nói Việt Nam), Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (Báo Quân đội nhân dân); nhiều tuyến tin bài của Thông tấn xã Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Xây dựng Đảng,… được quan tâm đầu tư với nhiều đổi mới, nội dung thuyết phục, hấp dẫn, sinh động, được dư luận đánh giá cao, tạo được hiệu ứng tốt trong xã hội. Bên cạnh các chương trình, tin tức thực hiện bằng tiếng Việt, một số cơ quan báo, đài còn thực hiện các chương trình, ấn phẩm bằng các tiếng dân tộc thiểu số, bằng các ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Trung, Nhật) để giúp thông tin lan tỏa vùng đồng bào dân tộc, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng như cộng đồng quốc tế.

Báo chí đã chủ động phê phán, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về tình hình đất nước cũng như các chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển đất nước; vạch trần, chỉ rõ âm mưu của các thế lực thù địch nhằm lôi kéo, kích động người dân tụ tập, khiếu kiện đông người (đặc biệt tập trung vào các thời điểm quan trọng, như: chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội; khi Đảng, Nhà nước ta phải quyết định những vấn đề quan trọng, v.v.). Một số tạp chí như: Cộng sản; Lý luận Chính trị, Tuyên giáo, Triết học, Dân tộc học, Công tác tôn giáo, Nghiên cứu dân tộc,… cùng các cơ quan báo chí chính trị chủ lực và một số báo thuộc bộ, ngành, tổ chức xã hội,… đã tập trung luận giải và làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; khẳng định những chính sách nhân văn, có lý, có tình, tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm quyền con người của Việt Nam; vạch rõ chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội, báo chí nước ngoài để gây nhiễu loạn thông tin, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam; phân tích, khẳng định, chứng minh cơ sở pháp luật đúng đắn của Việt Nam - quốc gia có chủ quyền trong việc khởi tố, bắt tạm giam, xét xử một số cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, như: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang, v.v.

Có thể nói, với nội dung phong phú, lập luận sắc bén, dẫn chứng, số liệu cụ thể, thuyết phục, các chương trình, bài viết trên báo chí về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái, thù địch đã tạo hiệu ứng tốt trong thông tin, tuyên truyền, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đón nhận, lan tỏa.

Hiện nay, đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, thử thách. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tiếp tục gia tăng chống phá; lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội để có những hoạt động tinh vi, xảo quyệt hơn. Điều này đặt ra những yêu cầu mới về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có nhiệm vụ, giải pháp về công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí. Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, công tác thông tin, tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn nhiều thách thức, tồn tại, trong một số thời điểm, một số vụ việc chưa được như mong muốn; tính dự báo, phân tích, xử lý thông tin đôi khi chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; một số cơ quan báo chí còn chưa quan tâm đúng mức, xao nhãng trong thông tin, tuyên truyền, nội dung đấu tranh nghèo nàn hoặc không có; cá biệt có cơ quan báo chí còn thiếu nhạy cảm chính trị, đăng thông tin không phù hợp để bị lợi dụng, kích động, chống phá, v.v. Để phát huy hơn nữa vai trò các cơ quan báo chí, nâng cao hiệu quả trong thông tin, tuyên truyền về mảng đề tài quan trọng này, cần nhận thức sâu sắc, thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới cho đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí. Các cơ quan báo chí cần xác định công tác thông tin, tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác thông tin, tuyên truyền. Trong đó, cần tập trung phản ánh việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam hiện nay, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và kiên định, vững vàng với những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc; tích cực tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; thành tựu của đất nước trong hơn 35 năm đổi mới; bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; tuyên truyền, lan tỏa những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ hai, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với báo chí; tăng cường chỉ đạo, quán triệt sâu sắc cho các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo định hướng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; tăng cường phối hợp giữa cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam và các cơ quan liên quan, tạo sự thống nhất trong lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí; giữ vững vai trò chỉ đạo, định hướng để báo chí thực hiện tốt sứ mạng của báo chí cách mạng. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý báo chí cần kịp thời, nhạy bén; đồng thời, phải đảm bảo tính khoa học, thuyết phục, có lý, có tình, theo kịp sự vận động phát triển của thực tiễn; chủ động, sắc bén, kịp thời trong việc dự báo, định hướng chính trị tư tưởng, nhất là trước những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm trong đời sống xã hội; phối hợp chặt chẽ thông tin đối nội và đối ngoại, v.v.

Cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cần xây dựng, đẩy mạnh rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo, văn bản quy phạm pháp luật về báo chí chặt chẽ, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hội nhập quốc tế và sự phát triển của truyền thông số; ứng dụng khoa học, công nghệ mới trong hoạt động quản lý báo chí theo hướng hiện đại hóa. Xây dựng cơ chế chủ động cung cấp thông tin cho báo chí để thông tin trên báo chí giữ vai trò định hướng, giúp các tổ chức, cá nhân, nhất là tổ chức, cá nhân nước ngoài hiểu đầy đủ, toàn diện và có thái độ khách quan trong nhìn nhận, đánh giá về tình hình Việt Nam. Định hướng, quản lý các cơ quan báo chí, những người làm báo thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác báo chí, 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam, Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam, để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không chỉ được tuyên truyền sâu rộng trên báo chí mà còn được triển khai, thực hiện nghiêm, hiệu quả trong chính các cơ quan báo chí.

Thứ ba, nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan báo chí, nhất là trách nhiệm trong việc quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị quan trọng; nâng cao chất lượng đội ngũ phóng viên, biên tập viên cả về chính trị, tư tưởng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp. Quan tâm, coi trọng xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng, đoàn thể trong các cơ quan báo chí; công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về tư tưởng, văn hóa, các định hướng của Đảng về công tác báo chí trong tình hình mới, làm cơ sở để báo chí phát triển đúng định hướng, giữ vững bản chất báo chí cách mạng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng trong các cơ quan báo chí; phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chính những người làm báo.

Thứ tư, đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền; tăng cường số lượng, chất lượng các tuyến chương trình, bài viết tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; trong đó, mỗi chương trình, bài viết phải có cơ sở lý luận chắc chắn, quan điểm, luận cứ sâu sắc, mang tính thời sự và có giá trị định hướng về nhận thức, tư tưởng đối với bạn đọc, để mỗi tác phẩm báo chí thực sự là một công cụ tăng cường nhận thức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đất nước. Trong tuyên truyền, đấu tranh, cần có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp tốt giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, lâu dài, “chống” là cấp bách, thường xuyên, quyết liệt; chủ động lan tỏa thông tin tích cực trên báo chí và internet; nghiêm túc, quyết liệt đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, để báo chí cách mạng thực sự là “vũ khí sắc bén” trong sự nghiệp “phò chính trừ tà”, bảo vệ chính nghĩa, đồng hành với lẽ phải, lên án cái xấu, cái ác, chống lại những nhận thức, hành động sai trái, phi nghĩa; một lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Phát huy lợi thế của báo chí điện tử, trang tin điện tử, các phương tiện truyền thông mới, các loại hình, diễn đàn mạng xã hội để phục vụ nhiệm vụ thông tin tuyên truyền. Các cơ quan báo chí cần tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại trong quy trình sản xuất, biên tập, duyệt tin bài; tận dụng thế mạnh của internet, truyền thông xã hội để báo chí thực sự gần gũi, dễ tiếp cận với độc giả. Tranh thủ các kênh để đưa báo chí phục vụ kiều bào ta ở nước ngoài và người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam, giúp họ hiểu rõ hơn, đúng hơn về tình hình tại Việt Nam.

Thứ năm, có sự đầu tư trọng điểm về cơ sở vật chất, con người. Bên cạnh việc quan tâm phát triển nguồn cộng tác viên dồi dào, chất lượng; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành, nhà khoa học, nhà nghiên cứu lý luận,… mỗi cơ quan báo chí cần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong chính cơ quan của mình, hình thành một bộ phận (hoặc tổ, ban) phóng viên chuyên trách, có năng lực tác nghiệp nhạy bén, để kịp thời, thường xuyên có thông tin, bài viết sâu sắc và thuyết phục trong tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng cơ chế để kịp thời khen thưởng cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên có nhiều thành tích trong công tác thông tin, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch; tiếp tục tổ chức các Giải thưởng Báo chí định kỳ về đề tài này, qua đó động viên, cổ vũ, tôn vinh các nhà báo, đồng thời tạo động lực thôi thúc những người làm báo đi sâu tìm tòi, nghiên cứu, có những bài viết sâu sắc, chất lượng, đạt hiệu quả tuyên truyền.

Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, đầu tư, hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện để báo chí phát triển. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”2. Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ truyền thông số đang mở ra nhiều không gian phát triển mới cho báo chí. Hơn lúc nào hết, các cơ quan báo chí, người làm báo cả nước cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm báo chí là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang với gần 100 năm xây dựng và phát triển, tiếp tục đổi mới, sáng tạo, có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguồn: QPTD

1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 183.

2 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 146.

 

 

Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị ADMM-16

 

Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị ADMM-16

Nhận lời mời của Đại tướng Tea Banh, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Campuchia, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) lần thứ 16, các cuộc gặp không chính thức Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN-Trung Quốc và ASEAN-Nhật Bản tại thủ đô Phnom Penh từ ngày 21 đến 23-6.

Việc đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị ADMM-16 và các cuộc gặp không chính thức nhằm tiếp tục khẳng định vai trò của Việt Nam là một thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm trong thúc đẩy hợp tác quốc phòng ASEAN cũng như hợp tác quốc phòng giữa ASEAN với các đối tác, đồng thời thể hiện sự ủng hộ của Việt Nam đối với Campuchia trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2022.

 

Chủ tịch nước dự gặp mặt các cơ quan báo chí tại thành phố Hồ Chí Minh

 

Chủ tịch nước dự gặp mặt các cơ quan báo chí tại thành phố Hồ Chí Minh

Nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, tối 20-6, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức cuộc gặp mặt các cơ quan báo chí trên địa bàn thành phố. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu. Cùng dự có lãnh đạo Văn phòng Chủ tịch nước, UBND thành phố Hồ Chí Minh.

Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện có 161 cơ quan báo chí trung ương với đủ các loại hình báo chí đặt văn phòng đại diện và cử phóng viên thường trú, 19 cơ quan báo chí của thành phố.

Chủ tịch nước nêu rõ, cùng với hệ thống báo chí cách mạng cả nước, các cơ quan báo chí thành phố Hồ Chí Minh luôn phản ánh đậm nét, trung thực, kịp thời những diễn biến quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đất nước và thành phố Hồ Chí Minh; tích cực tuyên truyền, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Nội dung thông tin phong phú, toàn diện, có tính phản biện xã hội cao, đúng định hướng, tập trung vào các vấn đề lớn, quan trọng của đất nước.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trân trọng gửi tới toàn thể cán bộ, phóng viên, biên tập viên, các cơ quan báo chí trên địa bàn thành phố và tất cả người làm báo cả nước tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Nhắc lại giai đoạn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam gánh chịu nhiều thiệt hại do dịch Covid-19 gần một năm trước, Chủ tịch nước biểu dương đội ngũ các phóng viên, nhà báo đã không quản khó khăn, nguy hiểm, lăn lộn ngày, đêm trên tuyến đầu chống dịch; có mặt ghi hình, đưa tin tại các điểm nóng, kịp thời phản ánh tình hình dịch bệnh; tôn vinh gương người tốt việc tốt, các nhà hảo tâm trong chung tay phòng, chống dịch bệnh. Nhiều phóng viên, nhà báo của thành phố là những tấm gương điển hình trong phòng, chống dịch, góp phần nhân lên những nét đẹp trong cuộc sống, khẳng định truyền thống, đạo lý nhân ái của dân tộc.

Cùng với đó, các cơ quan báo chí cũng kịp thời phản ánh nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong quyết tâm khôi phục các hoạt động kinh tế, xã hội sau đại dịch, lấy lại vị thế, tầm vóc đà tăng trưởng của thành phố.

Nêu những lời căn dặn đội ngũ người làm báo cách mạng Việt Nam của Bác Hồ đến nay vẫn còn nguyên giá trị, Chủ tịch nước khẳng định, bên cạnh những thành tựu to lớn của đất nước, vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng, những bức xúc của người dân chưa được báo chí phản ánh đầy đủ, kịp thời.

Do đó, Chủ tịch nước đề nghị lực lượng báo chí cả nước, trong đó có báo chí tại thành phố Hồ Chí Minh phản ánh đậm nét, trung thực, kịp thời những diễn biến quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội; cũng như dư luận xã hội, tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của các tầng lớp nhân dân mong muốn gửi tới Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp, từ đó các cơ quan nhà nước có phản ứng chính sách kịp thời. Đó cũng là hành động cụ thể góp phần xây dựng "Nhà nước của dân, do dân và vì dân" và thực hiện chủ trương "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Cùng với đó, tiếp tục đóng góp đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực gắn với tăng cường rèn luyện đạo đức, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước. Qua các bài báo phản ánh, những phóng sự điều tra, báo chí có thể "cảnh báo sớm" để các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân không thể và không dám tham nhũng, tiêu cực; giúp ngăn chặn từ sớm, từ xa, không để các sai phạm nhỏ trở thành sai phạm lớn, vụ án lớn gây thiệt hại rất lớn tài sản của Nhà nước và nhân dân.

Trên cương vị Trưởng ban Chỉ đạo xây dựng Đề án "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045", Chủ tịch nước đề nghị các cơ quan báo chí cùng đội ngũ những người làm báo cả nước cần xác định tuyên truyền về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục để các nhà báo, cộng tác viên và quần chúng nhân dân tích cực tham gia, đóng góp ý kiến.

Chủ tịch nước cũng mong muốn đội ngũ những người làm báo tại thành phố Hồ Chí Minh là nhân tố tích cực, là lực lượng xung kích của Đảng bộ và chính quyền thành phố Hồ Chí Minh, quảng bá hình ảnh con người và thành phố luôn năng động, sáng tạo, đổi mới và phát triển mạnh mẽ; tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị, xã hội, góp phần xây dựng một thành phố văn minh, hiện đại, nghĩa tình.

Trước đó, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã tới thăm, chúc mừng nhà báo Dương Trọng Dật, nguyên Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng, nguyên Phó Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam.