Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022

LỜI BÁC CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ: NƯỚC VIỆT NAM LÀ MỘT, DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT”!

     Mỗi một quốc gia trên thế giới đều phải trải qua những cuộc chiến gìn giữ đất nước, chủ quyền dân tộc. Nhiều dân tộc chiến thắng, giữ gìn được nền độc lập của mình nhưng có đất nước lại bị đô hộ, bị đồng hóa. Dân tộc Việt Nam là dân tộc phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh giành và giữ độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Dân tộc Việt Nam đã phải chống lại và vượt qua những đội quân xâm lược hung mạnh nhất để có được độc lập, chủ quyền như ngày nay. Và để làm được điều đó, yếu tố cơ bản nhất chính là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”.
      Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam không chỉ dừng lại ở tư tưởng mà nó đã trở thành chân lý, một chân lý được kiểm nghiệm bằng thực tiễn lịch sử suốt hơn 4000 năm. Ngày nay, trước sự thay đổi to lớn của thế giới xã hội loài người, chân lý đó cũng không hề thay đổi mà nó còn trở nên sâu sắc hơn, bền chặt hơn. Dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua rất nhiều khó khăn thử thách, và đã giành được những thắng lợi to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Đất nước trải qua hơn 35 năm đổi mới đã trở lên to đẹp hơn, giàu mạnh hơn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay./.



Môi trường ST.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

Giá trị của Học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc

Qua kinh nghiệm Công xã Pari năm 1871, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản phải nhanh chóng củng cố nền chuyên chính vô sản, củng cố khối liên minh công nông, giải giáp quân đội cũ, vũ trang toàn dân, thành lập các đội tự vệ công nhân, xây dựng xã hội mới, kiên quyết tiến công đập tan mọi hành động phản kháng của giai cấp tư sản. Đó là những tư tưởng ban đầu về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

V.I.Lênin phát hiện quy luật phát triển không đều về kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và đi đến kết luận hết sức quan trọng: Trong điều kiện lịch sử mới, giai cấp vô sản có thể giành được chính quyền ở mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa tư bản, cách mạng vô sản có thể thành công ở một nước, thậm chí ở một nước có trình độ phát triển chưa cao. Thực tiễn ở nước Nga đã chứng minh nhận định trên đây là đúng đắn, cách mạng vô sản Nga đã thành công vào tháng 10-1917.

Học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cống hiến mới của V.I.Lênin vào lý luận chủ nghĩa Mác, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đang đặt ra trực tiếp ở nước Nga Xôviết thời kỳ đó. Xuất phát từ quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin đã có những đóng góp to lớn trong việc bảo vệ và phát triển học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ông chỉ rõ: “Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc..., nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[1].

Ngay sau khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu hình thành. Giai cấp công nhân bắt tay vào công cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Cùng với nhiệm vụ xây dựng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng được đặt ra và trở thành nhiệm vụ chiến lược của các nước xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến lược này gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Kế thừa tinh hoa của dân tộc, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước[2]. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Người nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!...[3]. Người khẳng định: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương kiên quyết bảo vệ chính quyền và chủ quyền dân tộc, thực hiện nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, hết sức tranh thủ thời gian hòa hoãn để xây dựng lực lượng mọi mặt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Người đưa ra hàng loạt các biện pháp xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, thông qua Hiến pháp năm 1946; kiên quyết chống “giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt”, ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, đồng thời cùng Trung ương Đảng quyết định chủ trương “Hòa để tiến”; quyết định ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946 để có thời gian chuẩn bị kháng chiến, bảo vệ chính quyền.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước ta phải đối phó với cả thù trong giặc ngoài, nhiều khó khăn chồng chất như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng ta chủ trương “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”. Với đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ”, từng bước tạo nên sự chuyển hóa cả về thế, thời và lực để đánh bại thực dân Pháp xâm lược. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do; Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng xây dựng các tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng tinh thần kháng chiến của toàn dân. Đồng thời, chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ). Tích cực thực hiện các biện pháp ngoại giao, lợi dụng mâu thuẫn nội bộ kẻ thù, phân hóa chúng, đồng thời hết sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước lúc qua đời, trong Di chúc, Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”[4]. Người kêu gọi nhân dân cả nước quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa.

Học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bộ phận hợp thành lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa, bao gồm một hệ thống các quan điểm, tư tưởng rất cơ bản về tính tất yếu, nhiệm vụ và nội dung bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và các biện pháp có tính chiến lược trong xây dựng, củng cố quốc phòng, chuẩn bị đất nước về mọi mặt cùng với đường lối đối ngoại đúng đắn để có thể đánh thắng thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

PHAO

[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.36, tr.102.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.9, tr.59.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.534.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.15, tr.612.

HUYỀN THOẠI NHỮNG NGƯỜI MẸ ANH HÙNG .


Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Việt Nam đã giành được hòa bình, giữ vững chủ quyền. Song những mất mát mà chiến tranh gây ra thực sự rất nặng nề. Đặc biệt là đối với những người phụ nữ, họ không chỉ hi sinh cả tuổi thanh xuân của mình mà còn mất đi người chồng, người con và người cháu thân yêu. Họ, những người Việt Nam cao cả, những bà mẹ Việt Nam anh hùng. Sự hi sinh của họ rất đáng để toàn bộ người Việt Nam gọi họ bằng một từ thiêng liêng nhất: Mẹ!
1. MẸ NGUYỄN THỊ THỨ(1904 – 2010)
Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh ra tại Thanh Quýt, Điện Thắng Trung, Điện Bàn, Quảng Nam, có chồng, 9 con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại là liệt sĩ. Mẹ là người có nhiều con cháu hi sinh nhất trong cả hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài gần 30 năm (kể từ năm 1948 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975).
Tại khu vườn nhà mẹ có 5 hầm bí mật, nơi mẹ Thứ và người con gái cả nuôi giấu nhiều cán bộ, bộ đội và du kích Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Mẹ được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Quốc hội Việt Nam trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng vào ngày 17 tháng 12 năm 1994.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ là bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu, được lấy làm nguyên mẫu xây dựng tường đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam trong dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ. Mẹ mất vào lúc 1 giờ 40 phút sáng ngày 10 tháng 12 năm 2010 tại Đà Nẵng. Người con gái cả của mẹ Nguyễn Thị Thứ tên là Lê Thị Trị, cũng được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng vào ngày 30 tháng 4 năm 2007, vì có chồng và 2 con gái là liệt sĩ.
2. MẸ PHẠM THỊ NGỰ (1912 - 2002)
Mẹ Phạm Thị Ngự sinh ra tại Hàm Hiệp, Hàm Thuận, Bình Thuận, có 8 người con ruột và 1 con rể là liệt sĩ. Mẹ Ngự là người phụ nữ duy nhất ở tỉnh Bình Thuận được Đảng và Nhà nước phong tặng hai danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Chiến tranh diễn ra, cả hai vợ chồng mẹ Ngự đều hăng hái tham gia các đoàn thể cứu quốc của Mặt trận Việt Minh thành lập. Ngoài ra, mẹ còn là tổ trưởng Tổ phụ nữ chuyên vận động bà con nhân dân quyên góp tiền bạc, thuốc men, lương thực thực phẩm ủng hộ kháng chiến.
Ngày 17 tháng 12 năm 1994, mẹ Ngự được Nhà nước phong tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có con đường hay tượng đài nào mang tên người mẹ vĩ đại này.
3. MẸ TRẦN THỊ MÍT (1900 - 2005)
Mẹ Trần Thị Mít sinh ra tại Hải Phú, Hải Lăng, Quảng Trị, có chồng, 7 người con ruột, 1 con dâu và 1 cháu nội là liệt sĩ. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mẹ Mít đã hiến dâng những người thân yêu nhất trong gia đình, nước mắt mẹ tưởng chừng đã cạn sau mỗi lần nhận được giấy báo tử của họ.
Mẹ được Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng và căn nhà tình nghĩa. Mẹ Trần Thị Mít không còn, nhưng những gì mẹ đã đóng góp cho quê hương, đất nước trong những năm kháng chiến thì không ai là không biết.
Bởi, mẹ là bà mẹ Việt Nam anh hùng có tới 9 thân nhân liệt sĩ, là bà mẹ Việt Nam anh hùng có nhiều thân nhân liệt sĩ nhất ở Quảng Trị. Tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ở Thủ đô Hà Nội, mẹ còn được ghi danh là 1 trong 10 Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu nhất của cả nước bởi những đóng góp của bản thân và sự hy sinh to lớn của những người ruột thịt thân yêu của mẹ.
4. MẸ NGUYỄN THỊ RÀNH (1900 – 1979)
Mẹ Nguyễn Thị Rành cự ngụ tại xóm Đìa, ấp Trúc Đèn, Phước Hiệp, Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh, có 8 người con trai và hai cháu là liệt sĩ. Mẹ Rành có nhiều tên gọi khác nhau như: Má Tám Rành, Bà ba Củ Chi, Má Tám Trầu, Bà mẹ Đất Thép, Bà Má Dũng Sĩ.
Trong kháng chiến chống Mỹ, mẹ là cơ sở bí mật của Cách mạng, là dân quân của xã, mẹ đã đào hầm nuôi giấu hàng trăm cán bộ, cất giấu vũ khí, tiếp tế cho du kích. Ngày 6 tháng 1 năm 1978, mẹ Rành được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và danh hiêu Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 1994.
Sau khi qua đời, mẹ được dựng tượng trước Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, tên của mẹ còn được đặt cho một trạm y tế và một con đường tại huyện Củ Chi.
5. MẸ LÊ THỊ TỰ (1902 – 1982)
Mẹ Lê Thị Tự sinh ra ở thị trấn Lái Thiêu, Thuận An, Bình Dương, có 9 trong tổng số 12 người con là liệt sĩ. Mẹ Tự lập gia đình năm 20 tuổi với ông Phan Văn Tại – một người giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Ông đã cùng nhân dân Tấn Thới tham gia cướp chính quyền, rồi gia nhập vũ trang Tân Thới chiến đấu giữ quê hương.
Trong cuộc kháng chiến, mẹ Tự đã bị bắt giam ở nhà lao Thủ Đức nhằm khai thác thông tin của đồng đội và con trai mẹ. Song chúng buộc phải thả mẹ và ra lệnh trục xuất mẹ khỏi quê hương khi chẳng khai thác được gì. Năm 1994, mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
6. MẸ NGUYỄN THỊ NGHỊ
"Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ..." lời bài hát quen thuộc, nhưng với Mẹ anh hùng Nguyễn Thị Nghị, tại tổ 16 phường Phúc Lợi, quận Long Biên. Mẹ Nghị sinh năm 1921. Cả ba lần mẹ Nghị tiễn con đi, cả ba lần mẹ không được đón con về. Ba người con trai của mẹ lần lượt nằm lại chiến trường, vĩnh viễn để lại cho mẹ nỗi đau cắt lòng.
Giờ mẹ sống với vợ chồng người con trai thứ tư, anh Nguyễn Khắc Hận và chị Ngô Thị Hiển. So với nhiều Mẹ Anh hùng khác, mẹ Nghị vẫn là người may mắn và hạnh phúc hơn vì còn có con kề cận chăm sóc. Nhiều Mẹ anh hùng khác phải sống cảnh quạnh quẽ khi về già vì chồng con các mẹ đã 'ra đi' hết.
7. MẸ VĂN THỊ THỪA
Mẹ Văn Thị Thừa (sinh năm 1915, ở xã Duy An, nay là TT.Nam Phước, H.Duy Xuyên, Quảng Nam) là một trong số ít mẹ Việt Nam anh hùng được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Năm 1967, mẹ Thừa cùng lúc phải gánh chịu 3 cái tang, chồng (Nguyễn Thừa) và 2 con trai (Nguyễn Thứ, Nguyễn Y) đã ngã xuống trong trận chiến ác liệt tại địa bàn lân cận thuộc H.Quế Sơn. Chỉ 1 năm sau, đến lượt 2 con trai Nguyễn Nuôi và Nguyễn Yên cũng hy sinh. Cuối đời, mẹ chỉ còn một cháu gái phụng dưỡng.
Hồi đó, nhà mẹ Thừa ở sát cánh đồng, gần bờ sông (Phước Mỹ 3, TT.Nam Phước ngày nay), nơi ẩn nấp và di chuyển của nhiều bộ đội trong và sau chiến dịch Mậu Thân (1968). Để cảnh báo có địch càn quét, lùng sục, mẹ Thừa đã nghĩ ra cách dùng hương đốt lên để làm ám hiệu. Những đêm đông quân địch vào làng, bà liền dùng một nắm hương lớn đem đốt rồi cắm vào lư hương này. Bà ngầm quy ước, nếu giặc đi ít thì sẽ thắp ít hương, không thắp hương là lúc an toàn. Nhờ đó, rất nhiều đoàn cán bộ, du kích thoát hiểm, tránh va chạm với quân địch những lúc không cần thiết.
8. MẸ LÊ THỊ SOI
Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Soi, sinh năm 1915, quê xã Xuân Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Năm 2014, mẹ chuyển vào Vũng Tàu sinh sống tại số 97 đường Võ Văn Tần, phường Thắng Nhất. Mẹ Lê Thị Soi có 2 con trai là liệt sĩ. Năm 18 tuổi, mẹ Lê Thị Soi kết duyên với người thanh niên cùng xã Lê Văn Nghi và sinh được 8 người con. Khi vừa tròn mười tám đôi mươi, 5 người con của mẹ Lê Thị Soi lần lượt tham gia cách mạng.
Năm 1966, sau khi lập gia đình được vài tháng và chưa kịp có con thì ông Lê Văn Thất (sinh năm 1944), con trai cả của mẹ, đã hăng hái lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu tại mặt trận phía Nam. Tiếp đó, tháng 8-1969, ông Lê Văn Thập (sinh năm 1951), con trai thứ hai của mẹ, cũng lên đường nhập ngũ vào Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 141, Sư đoàn 7.
Tiếp nối tinh thần yêu nước của các anh, 2 người con gái của mẹ là Lê Thị Gia và Lê Thị Dâu cũng tình nguyện đi thanh niên xung phong. Đến năm 1970, người con trai thứ 5 của mẹ là ông Lê Văn Sỹ cũng tham gia dân công hỏa tuyến, mở đường ở khu vực biên giới Việt - Lào.
Ở nhà, mẹ Lê Thị Soi luôn mong chờ ngày đất nước thống nhất để gia đình được đoàn tụ. Thế nhưng, tháng 9-1970, mẹ Lê Thị Soi nhận được tin con trai Lê Văn Thập hy sinh tại chiến trường Sa Mát, tỉnh Tây Ninh. Nỗi đau này chưa nguôi thì đến tháng 1-1977, mẹ Lê Thị Soi tiếp tục nhận được tin con trai Lê Văn Thất hy sinh tại mặt trận Tây Nam. Đến nay, mẹ Lê Thị Soi vẫn chưa tìm được hài cốt của 2 con trai đã hy sinh. Năm 2014, mẹ Lê Thị Soi được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý Mẹ Việt Nam Anh hùng.
Chắc chắn không có người phụ nữ nào trên đời này sinh con ra để rồi phải lần lượt nhìn những đứa con mình chết. Cũng chẳng có đứa trẻ nào sinh ra để làm anh hùng, chỉ là thời thế tạo ra những nhân vật đó.
Và ở Việt Nam, đất nước bị vùi dập bao nhiêu năm vì chiến tranh, đã sinh ra những người mẹ như vậy. Những người mẹ, người phụ nữ ấy, cao cả biết bao, vĩ đại biết bao; nhưng cũng đau đớn biết bao, đáng thương biết chừng nào. Chiến tranh đã đặt lên vai những người phụ nữ thuần hậu danh hiệu lớn lao nhưng cũng vô cùng đau đớn ấy. Chúng con xin cảm ơn các mẹ, những người phụ nữ Việt Nam vĩ đại./.

TIẾP TỤC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC, CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG, CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ TRONG THỜI KỲ MỚI 🇻🇳

 TIẾP TỤC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC, CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG, CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ TRONG THỜI KỲ MỚI

🇻🇳
Đại tướng LƯƠNG CƯỜNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự là sự kế thừa truyền thống giữ nước của dân tộc, kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Ngày 25-10-2013, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Đây là nghị quyết đặc biệt quan trọng, thể hiện tư duy mới của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Chương trình hành động, các ban, bộ, ngành ở Trung ương cụ thể hóa bằng các chiến lược chuyên ngành, chương trình, đề án. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xây dựng và trình Bộ Chính trị ban hành Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự,...; đồng thời, xây dựng các kế hoạch, đề án và làm nòng cốt trong triển khai thực hiện. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước, các cấp, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội tổ chức quán triệt, nắm vững các quan điểm chỉ đạo và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, quyết liệt các giải pháp để đưa nội dung các chiến lược vào hoạt động thực tiễn, nâng cao ý thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn quân và toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc. Tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự, triển khai Chiến lược quốc phòng dưới sự lãnh đạo của Đảng và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Qua đó, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ chế độ, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại Đại hội XIII của Đảng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1). Các chiến lược đã đánh dấu bước phát triển mới về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Những năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, song, tình hình thế giới, khu vực biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo; các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại, phát triển. Các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp; kinh tế toàn cầu tuy phục hồi sau đại dịch COVID-19 nhưng chưa thực sự vững chắc, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực; tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với các quốc gia trên thế giới. Xung đột cục bộ có thể diễn ra ở nhiều nơi; cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và tập hợp lực lượng diễn biến phức tạp, gay gắt hơn; nhiều nước đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, tăng cường năng lực quân sự; đặc biệt, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới, làm thay đổi môi trường chiến lược... Bối cảnh này đặt ra những thách thức mới đối với hòa bình, ổn định trên thế giới và ở khu vực. Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, trở thành địa bàn cạnh tranh chiến lược trọng điểm của các nước lớn, tiềm ẩn nhiều bất ổn, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn sẽ tác động sâu sắc, toàn diện tới Việt Nam.
Ở trong nước, sau hơn 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đại dịch COVID-19 và các thách thức an ninh phi truyền thống; bốn nguy cơ được Đảng ta xác định qua các kỳ đại hội vẫn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ngày càng công khai, quyết liệt và trực diện hơn. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra động lực, thời cơ và thách thức trong xây dựng, phát triển đất nước, đồng thời tác động lớn đến xây dựng nền quốc phòng toàn dân, hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự... và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”(2). Theo đó, chúng ta cần phát huy kết quả đã đạt được; đồng thời, phải nắm vững các quan điểm chỉ đạo và tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:
🇻🇳
Thứ nhất, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong triển khai thực hiện các chiến lược.
Đây là quan điểm chỉ đạo, đồng thời là giải pháp quan trọng hàng đầu, cơ bản, xuyên suốt trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện toàn diện, có hiệu quả các chiến lược; nhằm tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp; không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; tiếp tục thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng bằng hệ thống pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, người đứng đầu các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương và cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang trong lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các chiến lược. Quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các quan điểm trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp; thực hiện nghiêm Hiến pháp, Luật Quốc phòng, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự... Củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác quân sự, quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế về quốc phòng; quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương, bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và tăng cường công tác quản lý, thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về quốc phòng bằng pháp luật.
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân; bảo đảm để Đảng nắm chắc lực lượng vũ trang trong mọi tình huống, là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của lực lượng vũ trang. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”(3), thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
🇻🇳
Thứ hai, nắm vững mối quan hệ giữa Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, tiếp tục cụ thể hóa trong quá trình triển khai thực hiện.
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược quốc phòng là những chiến lược quốc gia. Chiến lược quân sự là chiến lược chuyên ngành, có mối quan hệ, tác động hữu cơ nhưng không đồng nhất với hai chiến lược đó. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hai chiến lược cơ bản, quan trọng hàng đầu; là những chiến lược quốc gia bao trùm, nền tảng mang tính chỉ đạo chiến lược đối với việc xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược chuyên ngành. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc là mưu lược, kế sách quốc gia nhằm xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khả thi, tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chiến lược quốc phòng là chiến lược phòng thủ quốc gia, bảo vệ đất nước, giữ nước “từ sớm”, “từ xa”, từ khi nước chưa nguy, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Đây là chiến lược mang tính chất hòa bình, tự vệ, bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; dựa trên đường lối chính trị đúng đắn là nhân tố quyết định, sức mạnh quốc phòng là then chốt, sức mạnh quân sự là đặc trưng, trực tiếp là sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân; xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Chiến lược quốc phòng là bộ phận chủ đạo, cụ thể hóa Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, cùng với các chiến lược khác thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chiến lược quân sự là nội dung nòng cốt, cụ thể hóa Chiến lược quốc phòng, là cơ sở để xây dựng, hoàn chỉnh phương án tác chiến, thế trận, tổ chức quân đội, bảo đảm trang bị, đào tạo nguồn lực, huấn luyện,... sẵn sàng đối phó với các hình thái chiến tranh hiện đại. Do đó, quá trình thực hiện các chiến lược đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải nắm vững mối quan hệ, các quan điểm chỉ đạo và nội dung của từng chiến lược để tổ chức thực hiện có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn.
Trên cơ sở các chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thực hiện nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự và thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Chương trình hành động của Quân ủy Trung ương, Kế hoạch của Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự để bổ sung, cụ thể hóa những nội dung mới bằng các chương trình, đề án, kế hoạch. Trong đó, cần xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá phù hợp với tình hình theo chức năng, nhiệm vụ của các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm sát với yêu cầu thực hiện các chiến lược trong thời kỳ mới. Việc triển khai toàn diện, đồng bộ cần phải thống nhất theo lộ trình tổng thể thực hiện nhiệm vụ chính trị của các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương, các lực lượng vũ trang. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc ở mỗi cấp, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức.
🇻🇳
Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác dự báo, tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng trong triển khai thực hiện các chiến lược.
Đây là một giải pháp rất quan trọng trong hoạch định và triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự. Chất lượng công tác nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược cần được nâng cao toàn diện về tổ chức, cơ chế, năng lực, tham mưu đề xuất các chủ trương, đối sách, giải pháp sát, đúng, kịp thời, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; xử lý kịp thời, có hiệu quả các tình huống chiến lược, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, phục vụ nghiên cứu phát triển lý luận về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và chỉ đạo, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp đối với các hoạt động nghiên cứu dự báo chiến lược. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp cần nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác nghiên cứu dự báo chiến lược quốc phòng; mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng theo quy định.
Công tác nghiên cứu dự báo chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; kết hợp với các văn bản có tính pháp quy của cơ quan có thẩm quyền, tạo cơ sở pháp lý tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu dự báo chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng. Theo đó, cần bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế chỉ đạo, điều hành, phối hợp nghiên cứu dự báo, tham mưu chiến lược quốc phòng. Xác định nội dung, xây dựng chương trình nghiên cứu dự báo chiến lược quốc phòng 5 năm, 10 năm, phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ nghiên cứu dự báo dài hạn với ngắn hạn và đột xuất. Tập trung xây dựng và triển khai chương trình nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo và tham mưu Chiến lược quốc phòng giai đoạn 2020 - 2025 và những năm tiếp theo.
Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, ứng dụng công nghệ hiện đại trong nghiên cứu dự báo, tham mưu. Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu dự báo chiến lược lĩnh vực quốc phòng, quân sự với nghiên cứu khoa học. Xây dựng, chuẩn hóa hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đồng bộ, ngày càng hiện đại, bảo đảm thuận tiện trong chia sẻ, liên kết giữa các cơ quan thông tin, tư liệu nhằm cung cấp thông tin đa chiều, khách quan, tin cậy từ các nguồn khác nhau.
Xây dựng, củng cố các cơ quan nghiên cứu Chiến lược quốc phòng theo hướng tập trung, chuyên sâu, đúng chức năng, xây dựng cơ chế phối hợp, bảo đảm,... đáp ứng nhu cầu nghiên cứu dự báo chiến lược trước mắt cũng như lâu dài. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ học vấn cao với số lượng hợp lý, chất lượng cao. Quan tâm chế độ, chính sách hoạt động nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng. Đẩy mạnh công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ nghiên cứu dự báo chiến lược. Nâng cao hiệu quả hợp tác, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu chiến lược của các ban, bộ, ngành trong nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược.
🇻🇳
Thứ tư, tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong triển khai thực hiện các chiến lược.
Nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự là nhiệm vụ, giải pháp quan trọng, kế sách giữ nước “từ sớm”, “từ xa”; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Tăng cường vị thế quốc tế và độc lập, tự chủ của đất nước; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Quán triệt và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Tăng cường công tác đối ngoại quốc phòng cùng với đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Tăng cường lòng tin chiến lược, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”. Thực hiện hội nhập quốc tế toàn diện, phát triển quan hệ đối ngoại cả chiều rộng và chiều sâu nhằm tạo thế chiến lược mới. Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc phòng tin cậy với các đối tác, nhất là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, với các nước lớn, nước láng giềng, bạn bè truyền thống; tập trung vào những lĩnh vực các bên có thế mạnh; xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược.
Tích cực, chủ động tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Mở rộng quy mô, phạm vi tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa; hợp tác quốc tế về khắc phục hậu quả chiến tranh; tích cực tham gia nỗ lực chống phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt hàng loạt. Chú trọng tăng cường hợp tác bảo vệ và giao lưu hữu nghị biên giới với các nước có chung đường biên giới, như hợp tác tuần tra chung, trao đổi kinh nghiệm trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia; tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai... Củng cố tổ chức, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng. Đổi mới nội dung, hình thức hợp tác tổ chức các hội nghị, hội thảo, diễn tập chung. Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và dư luận quốc tế về chính sách quốc phòng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển của Việt Nam. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế phối hợp với các cơ quan đối ngoại; gắn kết, thu hút sự tham gia, đóng góp về tinh thần và vật chất của các tổ chức, cá nhân, nhất là đội ngũ trí thức người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
🇻🇳
Thứ năm, chú trọng sơ kết, tổng kết, bổ sung các chiến lược đã ban hành; nghiên cứu các chiến lược chuyên ngành mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Quá trình triển khai thực hiện các chiến lược, theo từng giai đoạn có những thay đổi, phát triển mới của tình hình trong thời gian 5 năm, từ 10 đến 20 năm..., cần chú trọng sơ kết, tổng kết để kịp thời bổ sung, điều chỉnh chiến lược cho phù hợp với yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong sơ kết, tổng kết thực hiện các chiến lược, cần đánh giá trung thực, khách quan, toàn diện, sâu sắc, nghiêm túc; chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, làm cơ sở điều chỉnh mục tiêu, yêu cầu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, khâu đột phá cho giai đoạn tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn. Trong giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cần chủ động nâng cao chất lượng tổng kết 40 năm đổi mới về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (2013 - 2023); sơ kết 5 năm thực hiện các chiến lược chuyên ngành đã ban hành; hoàn thiện lý luận về xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Tiếp tục nghiên cứu tham mưu xây dựng các chiến lược chuyên ngành khác, như Chiến lược phòng thủ dân sự; chuyển đổi số trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong Quân đội... Trên cơ sở sơ kết, tổng kết thực hiện các chiến lược để bổ sung, điều chỉnh các chiến lược đã ban hành và nghiên cứu đề xuất các chiến lược chuyên ngành mới thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Nắm vững quan điểm chỉ đạo và triển khai thực hiện có hiệu quả, toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm”, “từ xa” là một yêu cầu tất yếu khách quan, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, nòng cốt là lực lượng vũ trang. Với những thành tựu, kết quả đã đạt được, cần tiếp tục tiến hành nhiều nội dung, giải pháp nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức, sự đồng thuận trong xã hội, thực hiện toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả các chiến lược trong thời gian tới. Đề cao tinh thần trách nhiệm, sự năng động, sáng tạo của các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương, của cả hệ thống chính trị và toàn quân theo phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực trong tổ chức thực hiện nhằm cụ thể hóa các chiến lược, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.
--------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 104
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 160
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 158

“PHẢI CÓ QUYẾT TÂM CAO ĐỂ VƯỢT MỌI KHÓ KHĂN LÀM TRÒN NHIỆM VỤ"

 

Trong thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ.
Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ”... Lời dạy của Người là nguồn động viên, cổ vũ, khích lệ đội ngũ cán bộ cũng như toàn quân chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, lập nhiều thành tích trong kháng chiến và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn đã chứng minh, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy vũ khí, trang bị của Quân đội ta còn thua kém địch gấp nhiều lần, nhưng nhờ phát huy tinh thần tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, gian khổ, phấn đấu rèn luyện, bộ đội ta vừa chiến đấu, lấy vũ khí của địch đánh địch, vừa tự nghiên cứu cải tiến, chế tạo vũ khí mới. Chiến thắng Điện Biên Phủ chứng minh lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới, quân đội của một nước nhỏ, trang bị thô sơ, chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, đã đánh bại đội quân nhà nghề, được trang bị hiện đại của một cường quốc thực dân.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", cùng toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, anh dũng chiến đấu, lập nên những chiến công vang dội như: Ấp Bắc, Vạn Tường, Ba Gia, Plây Me, Đường 9-Nam Lào... Bộ đội Trường Sơn đã vượt qua mưa bom, bão đạn của kẻ thù, vận chuyển vũ khí, lương thực chi viện cho chiến trường miền Nam. Nhờ vậy, bộ đội ta càng đánh càng mạnh, dũng mãnh tiến công địch rộng khắp ở cả vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn, đồng bằng và thành thị. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo, vượt mọi khó khăn, gian khổ để nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ). Từ thực tiễn huấn luyện, SSCĐ và công tác, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được phát huy, lan tỏa, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Các đơn vị trong toàn quân luôn chủ động nâng cao chất lượng huấn luyện với tư duy đổi mới, sáng tạo, làm sao cho bộ đội nắm chắc, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị được biên chế, hiểu và vận dụng các hình thức tác chiến, thủ đoạn chiến đấu, giỏi tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng với các điều kiện và quy mô khác nhau... góp phần nâng cao khả năng SSCĐ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tại Hội thao Quân sự quốc tế (Army Games) 2021 vừa qua, Đoàn QĐND Việt Nam đã nêu cao tinh thần và ý chí quyết tâm phấn đấu, rèn luyện, thể hiện năng lực, tư duy chỉ huy, tham mưu, tư duy chiến thuật và khai thác sử dụng trang bị khí tài hiện có. Qua hội thao giúp chúng ta học hỏi thêm về phương pháp tổ chức huấn luyện, SSCĐ của quân đội các nước bạn, từ đó bổ sung những nội dung phù hợp, vận dụng hiệu quả vào chương trình huấn luyện sát với tình hình thực tiễn, phù hợp với nghệ thuật quân sự và cách đánh của bộ đội ta.
Với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, các đơn vị quân đội đã góp phần xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng khu vực phòng thủ, tăng cường quốc phòng-an ninh, phát triển kinh tế-xã hội; tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hóa mới trong các khu dân cư; chăm sóc sức khỏe cộng đồng và các hoạt động an sinh xã hội...
Bằng sự chủ động, sáng tạo, kết hợp huấn luyện với thực hiện Phong trào thi đua “dân vận khéo”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã phối hợp triển khai hiệu quả các chương trình, như: “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, hành trình “Quân đội chung tay vì người nghèo-không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Nâng bước em tới trường”, “Bò giống giúp người nghèo nơi biên giới”, “Con nuôi đồn biên phòng”, “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân”, “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển"... Các binh đoàn, đoàn kinh tế-quốc phòng đã gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng-an ninh, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới trên các địa bàn chiến lược; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Không chỉ thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, quân đội còn nỗ lực khắc phục khó khăn, thực hiện tốt chức năng là đội quân công tác. Đặc biệt, trong cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, quân đội đã triển khai hàng trăm điểm cách ly, tổ chức cách ly cho hàng trăm nghìn người dân. Để canh giữ biên cương, hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ không quản nguy hiểm đến tính mạng, tổ chức hàng nghìn chốt chặn giữa rừng sâu để ngăn chặn dịch tràn vào đất nước. Các đơn vị phối hợp với địa phương phong tỏa, cách ly, tiêu độc, khử trùng, dập dịch; thành lập các tổ, đội cơ động phòng, chống dịch tại các đơn vị, lập các bệnh viện dã chiến, sẵn sàng tiếp nhận, điều trị..., được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.
Trong cuộc chiến phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ-cứu nạn, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, quân đội luôn xung kích đi đầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Với tinh thần “Cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, trong năm 2021, nhiều cán bộ, chiến sĩ quân đội không quản gian khổ, hy sinh có mặt ở những nơi xung yếu, hiểm nguy, giúp dân phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả mưa lũ, tìm kiếm cứu nạn. Càng trong gian khó, hiểm nguy, trong mất mát, đau thương thì tình quân dân lại càng thêm ngời sáng. Không ai có thể quên được những trận bão lũ lịch sử tại miền Trung xảy ra vào tháng 10 và tháng 11-2020. Các địa danh như: Rào Trăng (Thừa Thiên Huế), Trà Leng, Phước Sơn (Quảng Nam) đều in dấu chân Bộ đội Cụ Hồ. Ngay tại khu vực Thủy điện Rào Trăng 3, trong mưa gió, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ cần mẫn đào từng mét đất, mò tìm dọc triền sông, suối tìm kiếm người dân mất tích. Để có được cuộc sống bình yên cho nhân dân, biết bao người lính đã ra đi không trở về...
Trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mỗi cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam cần tiếp tục học tập và thực hiện tốt lời căn dặn của Bác, tiếp tục phát huy truyền thống vượt khó, không ngừng học tập và rèn luyện, nâng cao trình độ nhận thức chính trị, xây dựng động cơ, quyết tâm cao, rèn luyện ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trên từng cương vị công tác, mỗi quân nhân phải nâng cao nhận thức, kiên định lập trường cách mạng, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, không ngừng phấn đấu vươn lên vượt qua khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt chức trách được giao. Càng trong khó khăn, gian khổ, bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng phải được khẳng định, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Trong điều kiện các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, lôi kéo cán bộ, chiến sĩ quân đội chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần, đồng thời lợi dụng các vụ việc vi phạm kỷ luật của một số cán bộ, chiến sĩ để đưa ra những luận điệu xuyên tạc trắng trợn hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, do đó cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho bộ đội về tầm quan trọng của việc phấn đấu, rèn luyện xứng danh Bộ đội Cụ Hồ với các chuẩn mực: Kiên định vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao, hành động đẹp, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt; dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; đoàn kết, tôn trọng, gắn bó máu thịt với nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.
Muốn vậy, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác; tỉnh táo, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Nhất là phát huy tinh thần trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp. Chính sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là của cấp ủy và chỉ huy các cấp có vai trò, tác động rất lớn, tạo nên sự đoàn kết gắn bó trong thực hiện nhiệm vụ, qua đó mà không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị và xây dựng quân đội.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, ý chí quyết tâm và ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quân đội sẽ quyết định chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Học tập và làm theo lời Bác dạy, đội ngũ cán bộ quân đội càng phải gương mẫu đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; luôn gần gũi, quan tâm chăm lo đời sống bộ đội, tạo điều kiện để họ phấn đấu, rèn luyện, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
ST

THỦ TƯỚNG HUN SEN: BỮA CƠM ĐẦU TIÊN NGƯỜI VIỆT CHO TÔI BẰNG CẢ TRĂM CẢ NGÀN TẤN GẠO HÔM NAY!

         Các câu chuyện về sự gian khổ trong những ngày đầu tìm đường cứu nước và sự giúp đỡ của Việt Nam đã được Thủ tướng Hun Sen ôn lại trong các cuộc gặp với lãnh đạo, nhân dân Việt Nam sáng 20-6.

Trong cuộc nói chuyện với đại diện nhân dân tỉnh Bình Phước, nơi ông Hun Sen đã đặt chân đến khi rời khỏi Campuchia sang nhờ Việt Nam đánh đuổi Pol Pot, ông thổ lộ bữa cơm đầu tiên mà người dân Việt Nam nấu cho ông và đồng đội 45 năm trước "bằng cả trăm cả ngàn tấn gạo của hôm nay".

Cuộc nói chuyện là một phần trong các hoạt động kỷ niệm 45 năm "Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" của Thủ tướng Campuchia Hun Sen diễn ra sáng 20-6, theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam phát cùng ngày.

Nhà lãnh đạo Campuchia đã bày tỏ lời tri ân đối với nhân dân địa phương và nhấn mạnh nếu không có sự giúp đỡ này, tính mạng ông sẽ gặp nguy hiểm và không biết đất nước Campuchia sẽ đi về đâu.

Thủ tướng Hun Sen cũng chân thành cảm ơn Đảng và Nhà nước Việt Nam đã giúp ông xây dựng lực lượng, cảm ơn cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh xương máu cứu giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng.

Cũng trong sáng 20-6, Thủ tướng Hun Sen đã chủ trì lễ đón Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang dự các hoạt động kỷ niệm bên phía Campuchia.

Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Hun Sen ôn lại những kỷ niệm không thể nào quên của mình và đồng đội trong hành trình sang Việt Nam tìm đường cứu nước.

Ông nhấn mạnh lịch sử đã chứng minh nếu không có "hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" bắt đầu vào ngày 20-6-1977 và những sự kiện tiếp theo thì Campuchia không thể có ngày hôm nay.

Ông khẳng định Tòa án đặc biệt Tư pháp Campuchia đã ra phán quyết lên án tội ác diệt chủng và điều này cũng chứng minh tính đúng đắn của cuộc chiến chính nghĩa chống bè lũ Pol Pot và hành động của Việt Nam.

Nhà lãnh đạo Campuchia nhấn mạnh "khi hoạn nạn khó khăn mới biết ai là bạn tốt", khẳng định luôn ghi nhớ và cảm ơn nhân dân và các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh xương máu giúp Campuchia giải phóng đất nước, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot./.
Yêu nước ST.

CHỐNG LỢI DỤNG PHẢN BIỆN … ĐỂ PHẢN BỘI


Phản biện xã hội là kênh quan trọng giúp đường lối, chủ trương, chính sách ban hành được đúng đắn và đi nhanh vào cuộc sống. Thế nhưng, cũng có không ít người đã lợi dụng phản biện để tạo mâu thuẫn, gây rối, thậm chí chuyển thành phản bội đồng chí, đồng đội; phản bội Tổ quốc; phản bội nhân dân.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc kiểm soát quyền lực, “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế” là hết sức cần thiết. Để giám sát và kiểm soát quyền lực, Đảng ta luôn tạo thuận lợi nhất để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và người dân giám sát, phản biện xã hội. Pháp luật Việt Nam cũng tạo những cơ sở pháp lý quan trọng để mọi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia phản biện xã hội trước những quyết sách quan trọng của quốc gia. Tất cả các đạo luật trước khi được Quốc hội thông qua đều được đưa ra công khai xin ý kiến đóng góp, phản biện của nhân dân.
Thực tế thời gian qua, đa số các ý kiến phản biện của đảng viên và nhân dân đã được Đảng, Nhà nước trân trọng tiếp thu. Tuy nhiên, vẫn còn có những ý kiến phản biện không mang tính chất xây dựng mà là suy diễn, quy chụp, lợi dụng phản biện để xuyên tạc, bôi nhọ đồng chí, đồng đội; nói xấu Đảng, Nhà nước.
Cuộc sinh hoạt chi bộ khu dân cư X mới đây để chuẩn bị cho Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2022-2025 đã biến thành “diễn đàn kể tội cán bộ” sau khi một đảng viên khơi mào “phản biện” và kêu gọi các đảng viên khác phát biểu góp ý. Đảng viên này đưa ra hàng loạt các “nghi vấn” về tiêu cực, tham nhũng của đội ngũ cán bộ phường, quận rồi phê phán kịch liệt chủ trương của phường trong việc lập lại trật tự xây dựng đô thị. Thế nhưng, các “bằng chứng” đưa ra đều là “nghe nói”, “quần chúng phản ánh”… Rất may, ý kiến này được một đảng viên là cựu chiến binh chặn lại, sau khi chất vấn.
Trước đó, trong dịp đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, tại một số địa phương cũng đã có những “ý kiến phản biện”, “thư góp ý”, “thư phản ánh”, “ý kiến tâm huyết”, “tâm thư”, "bản kiến nghị"... của đảng viên và quần chúng gửi đến các cơ quan chức năng bày tỏ băn khoăn về ứng cử viên này, ứng cử viên nọ. Đáng chú ý, đã có nhiều thư góp ý thông tin không đúng sự thật. Điều đáng tiếc là một số người nhẹ dạ cả tin đã vô tình mắc vào “bẫy” này. Lợi dụng quyền dân chủ trong các cuộc họp, trong việc góp ý với các tổ chức Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, không ít người thổi phồng, xuyên tạc, bịa đặt nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của đồng chí, đồng đội, lãnh đạo các cấp, các cơ quan, tổ chức Đảng, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp; gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.
Nguy hiểm hơn, một số đối tượng vì tư lợi hẹp hòi, động cơ chính trị lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để gieo rắc thù hận và chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa phản biện, các cá nhân đã đưa lên báo chí hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường cho cá nhân, tập thể, địa phương.
Đặc biệt, gần đây đã xuất hiện tình trạng một số người lợi dụng danh nghĩa phản biện xã hội để châm chọc, đả kích đường lối, chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn của Đảng, Nhà nước. Có cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất lợi dụng việc phản biện để đưa lên mạng xã hội những thông tin lệch lạc, trái với quan điểm của Đảng, Nhà nước. Từ phản biện chuyển thành phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân là vấn đề đáng báo động.
Để ngăn chặn tình trạng phản biện chuyển hóa thành phản bội, trước hết, các cơ quan, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục. Cần công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị mình, nhất là về những chủ trương, chính sách trong giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân. Không nên để những thông tin giả, tin đồn thất thiệt lan truyền và hoành hành trong cộng đồng rồi mới tìm cách khắc phục theo kiểu “chạy theo”.
Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra thông tin tuyên truyền chống phá, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, giúp người dân tránh trở thành “con rối”, tiếp tay cho kẻ xấu trục lợi, thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.
Đã đến lúc phải xây dựng cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện phản biện xã hội một cách đúng đắn. Phản biện xã hội là điều bắt buộc phải thực hiện một cách nghiêm túc, công khai đối với các dự án pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm cao và tinh thần khoa học, để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển của đất nước.
Mang danh phản biện xã hội để đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận được. Vì vậy, rất cần có chế tài xử lý nghiêm việc lợi dụng phản biện để gây rối xã hội, phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.

Theo dấu chân Người!!!


- Ngày 21-6-1925, tuần Báo Thanh Niên, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên ở Quảng Châu (Trung Quốc). Tờ báo còn trở thành hạt nhân tổ chức và huấn luyện đội ngũ những nhà hoạt động cách mạng. Tờ báo hoạt động đến tháng 4-1927, ra được tổng cộng 88 số báo. Ngày 21-6 trở thành Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam.
- Ngày 21-6-1946, Báo Cứu Quốc tiếp tục đăng bài “Vấn đề quân nhu và lương thực” trong loạt bài về Binh pháp Tôn Tử của Bác đề cập tới một lĩnh vực quan trọng bảo đảm thắng lợi trong chiến tranh: “Về quân sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng. Có binh hùng, tướng giỏi, nhưng thiếu quân nhu, lương thực, không thể thắng trận được...”
- Ngày 21-6-1948, Bác gửi điện tới Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ khen đồng bào xã Giới Xuân tỉnh Gia Định về thành tích đã thanh toán xong nạn mù chữ, mong nhiều địa phương “bắt chước xã Giới Xuân” và nêu rõ: “Chúng ta cần phải đánh tan giặc dốt, cũng như đánh tan giặc ngoại xâm”.
- Ngày 21-6-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Hộ pháp Phạm Công Tắc, thủ lĩnh của đạo Cao Đài đang sống tại Campuchia nêu rõ quan điểm: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, toàn dân ta từ Bắc chí Nam, trong nước và ngoài nước đều đang kiên quyết và bền bỉ đấu tranh để thực hiện nguyện vọng tha thiết của dân tộc, là làm cho nước Việt Nam ta được hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.