Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

Giá trị của Học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc

Qua kinh nghiệm Công xã Pari năm 1871, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản phải nhanh chóng củng cố nền chuyên chính vô sản, củng cố khối liên minh công nông, giải giáp quân đội cũ, vũ trang toàn dân, thành lập các đội tự vệ công nhân, xây dựng xã hội mới, kiên quyết tiến công đập tan mọi hành động phản kháng của giai cấp tư sản. Đó là những tư tưởng ban đầu về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

V.I.Lênin phát hiện quy luật phát triển không đều về kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và đi đến kết luận hết sức quan trọng: Trong điều kiện lịch sử mới, giai cấp vô sản có thể giành được chính quyền ở mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa tư bản, cách mạng vô sản có thể thành công ở một nước, thậm chí ở một nước có trình độ phát triển chưa cao. Thực tiễn ở nước Nga đã chứng minh nhận định trên đây là đúng đắn, cách mạng vô sản Nga đã thành công vào tháng 10-1917.

Học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cống hiến mới của V.I.Lênin vào lý luận chủ nghĩa Mác, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đang đặt ra trực tiếp ở nước Nga Xôviết thời kỳ đó. Xuất phát từ quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin đã có những đóng góp to lớn trong việc bảo vệ và phát triển học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ông chỉ rõ: “Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc..., nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[1].

Ngay sau khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu hình thành. Giai cấp công nhân bắt tay vào công cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Cùng với nhiệm vụ xây dựng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng được đặt ra và trở thành nhiệm vụ chiến lược của các nước xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến lược này gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Kế thừa tinh hoa của dân tộc, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước[2]. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Người nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!...[3]. Người khẳng định: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương kiên quyết bảo vệ chính quyền và chủ quyền dân tộc, thực hiện nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, hết sức tranh thủ thời gian hòa hoãn để xây dựng lực lượng mọi mặt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Người đưa ra hàng loạt các biện pháp xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, thông qua Hiến pháp năm 1946; kiên quyết chống “giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt”, ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, đồng thời cùng Trung ương Đảng quyết định chủ trương “Hòa để tiến”; quyết định ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946 để có thời gian chuẩn bị kháng chiến, bảo vệ chính quyền.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước ta phải đối phó với cả thù trong giặc ngoài, nhiều khó khăn chồng chất như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng ta chủ trương “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”. Với đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ”, từng bước tạo nên sự chuyển hóa cả về thế, thời và lực để đánh bại thực dân Pháp xâm lược. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do; Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng xây dựng các tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng tinh thần kháng chiến của toàn dân. Đồng thời, chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ). Tích cực thực hiện các biện pháp ngoại giao, lợi dụng mâu thuẫn nội bộ kẻ thù, phân hóa chúng, đồng thời hết sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước lúc qua đời, trong Di chúc, Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”[4]. Người kêu gọi nhân dân cả nước quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa.

Học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bộ phận hợp thành lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa, bao gồm một hệ thống các quan điểm, tư tưởng rất cơ bản về tính tất yếu, nhiệm vụ và nội dung bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và các biện pháp có tính chiến lược trong xây dựng, củng cố quốc phòng, chuẩn bị đất nước về mọi mặt cùng với đường lối đối ngoại đúng đắn để có thể đánh thắng thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

PHAO

[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.36, tr.102.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.9, tr.59.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.534.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.15, tr.612.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét