Qua kinh nghiệm Công xã Pari năm 1871, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, sau khi
giành được chính quyền, giai cấp vô sản phải nhanh chóng củng cố nền chuyên chính vô sản, củng
cố khối liên minh công nông, giải giáp quân đội cũ, vũ trang toàn dân, thành
lập các đội tự vệ công nhân, xây dựng xã hội mới, kiên quyết tiến công đập tan mọi
hành động phản kháng của giai cấp tư sản. Đó là những tư tưởng ban đầu về bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
V.I.Lênin
phát hiện quy luật phát triển không đều về kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư
bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và đi đến kết luận hết sức quan trọng: Trong
điều kiện lịch sử mới, giai cấp vô sản có thể giành được chính quyền ở mắt xích
yếu nhất của chủ nghĩa tư bản, cách mạng vô sản có thể thành công ở một nước,
thậm chí ở một nước có trình độ phát triển chưa cao. Thực tiễn ở nước Nga đã
chứng minh nhận định trên đây là đúng đắn, cách mạng vô sản Nga đã thành công
vào tháng 10-1917.
Học
thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cống hiến mới của V.I.Lênin vào lý
luận chủ nghĩa Mác, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đang đặt
ra trực tiếp ở nước Nga Xôviết thời kỳ đó. Xuất phát từ quy luật xây dựng chủ
nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin đã có
những đóng góp to lớn trong việc bảo vệ và phát triển học thuyết bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa. Ông chỉ rõ: “Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những
người chủ trương bảo vệ Tổ quốc..., nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta
đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[1].
Ngay sau khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, nhà nước của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập, Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa cũng bắt đầu hình thành. Giai cấp công nhân bắt tay vào công cuộc cải tạo
xã hội cũ và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Cùng với nhiệm vụ
xây dựng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng được đặt ra và trở
thành nhiệm vụ chiến lược của các nước xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến
lược này gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủ
nghĩa.
Kế
thừa tinh hoa của dân tộc, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin
về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta
phải cùng nhau giữ lấy nước”[2].
Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Người nói: “Chúng
ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ... Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!...[3].
Người khẳng định: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết
giành cho được độc lập”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương kiên quyết bảo vệ
chính quyền và chủ quyền dân tộc, thực hiện nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn
biến”, hết sức tranh thủ thời gian hòa hoãn để xây dựng lực lượng mọi mặt cho
sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Người đưa ra hàng loạt các biện pháp xây dựng và củng
cố chính quyền cách mạng, tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, thông qua Hiến
pháp năm 1946; kiên quyết chống “giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt”, ra Chỉ
thị “Kháng chiến kiến quốc”, đồng thời cùng Trung ương Đảng quyết định chủ
trương “Hòa để tiến”; quyết định ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946
để có thời gian chuẩn bị kháng chiến, bảo vệ chính quyền.
Cách
mạng Tháng Tám thành công, nước ta phải đối phó với cả thù trong giặc ngoài,
nhiều khó khăn chồng chất như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã cùng với Đảng ta chủ trương “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”. Với đường
lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ”, từng bước tạo nên sự chuyển hóa
cả về thế, thời và lực để đánh bại thực dân Pháp xâm lược. Trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do; Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước
ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh
hết sức coi trọng xây dựng các tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
xây dựng tinh thần kháng chiến của toàn dân. Đồng thời, chú trọng xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ).
Tích cực thực hiện các biện pháp ngoại giao, lợi dụng mâu thuẫn nội bộ kẻ thù,
phân hóa chúng, đồng thời hết sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân
thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục
tiêu xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước lúc qua đời, trong Di chúc,
Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa.
Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải
quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”[4].
Người kêu gọi nhân dân cả nước quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn để
giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc, cả nước đi
lên xã hội chủ nghĩa.
Học
thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bộ
phận hợp thành lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa, bao gồm một hệ thống các
quan điểm, tư tưởng rất cơ bản về tính tất yếu, nhiệm vụ và nội dung bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa và các biện pháp có tính chiến lược trong xây dựng, củng
cố quốc phòng, chuẩn bị đất nước về mọi mặt cùng với đường lối đối ngoại đúng
đắn để có thể đánh thắng thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét