Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022
Đấu tranh phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng trong bối cảnh mới
Một số biện pháp trong đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng
Để tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay. Mọi cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ thường xuyên nâng cao cảnh giác, nhận thức đúng đắn và thấy rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch để không bị mơ hồ, mất cảnh giác, vô tình tiếp tay cho chúng, luôn vững vàng trước sự chống phá của địch. Nội dung giáo dục nâng cao tập trung vào âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hiện nay; hoạt động chống phá trên không gian mạng; lợi dụng “phản biện” xã hội để phủ nhận chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Tổ chức học tập, nghiên cứu các tài liệu, chuyên đề liên quan đến âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm nâng cao cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ ý thức cảnh giác cách mạng, nhận thức đúng bản chất hoạt động chống phá này, chủ động phòng ngừa, đấu tranh.
Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, quy định về quan hệ, tiếp xúc với cá nhân, tổ chức nước ngoài của quân nhân như: Thông tư số 202/2016/TTBQP, ngày 12/12/2016 của Bộ Quốc phòng quy định về bảo đảm an toàn thông tin trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Công văn số 630/BVAN-P9, ngày 22/02/2019 của Cục Bảo vệ an ninh Quân đội về việc hướng dẫn thực hiện công tác Bảo vệ an ninh cá nhân, tổ chức nước ngoài của quân nhân; Quy chế tổ chức, quản lý và phối hợp các hoạt động đối ngoại quân sự ban hành kèm theo Thông tư số 88/2010/7TBQP, ngày 02/7/2010 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).
Thứ hai, tăng cường vai trò cấp ủy Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp các tổ chức, các lực lượng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần thường xuyên quan tâm làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ, thái độ đúng đắn trong bồi dưỡng; xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng, phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay. Ban Chỉ đạo 35 cần tiếp tục kiện toàn cơ cấu, tổ chức bảo đảm sự đồng bộ và hoạt động thường xuyên có hiệu quả. Thường xuyên bám sát tình hình thực tiễn tham mưu, đề xuất với cấp ủy, tổ chức đảng chủ trương, biện pháp lãnh đạo tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Chủ động dự báo, nắm bắt, theo dõi, phát hiện những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng để tổng hợp, phân tích, cung cấp những thông tin cần thiết, kịp thời, làm tư liệu, tài liệu đấu tranh có hiệu quả; định hướng dư luận nhân dân và cán bộ, đảng viên, quân nhân nhận thức đúng đắn về chức năng, nhiệm vụ của quân đội, bảo vệ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.
Thứ ba, thường xuyên rà soát, nắm và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nhất là về chính trị tư tưởng của mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Từng cơ quan, đơn vị phải tích cực, chủ động, bổ sung kiện toàn kế hoạch bảo vệ chính trị nội bộ, phòng chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của đơn vị mình; đồng thời, thường xuyên đánh giá quá trình tổ chức thực hiện một cách chặt chẽ, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những tư tưởng lệch lạc, sai trái, không để các thế lực thù địch móc nối, lôi kéo quân nhân tham gia vào hoạt động chống phá. Thực hiện phòng chống cả hai phía, phía địch tiến công ta bằng các thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và phía ta “tự diễn biến”. Phát huy vai trò, nâng cao hiệu quả Ban chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa. Thứ tư, tổ chức lực lượng nòng cốt đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng.
Tích cực chia sẻ, lan tỏa các bài viết, hình ảnh tốt đẹp của các đơn vị quân đội; các cơ quan, đơn vị chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng của địa phương theo dõi nắm chắc tình hình, phát hiện các hoạt động tụ tập biểu tình trái pháp luật, kịp thời định hướng tư tưởng bộ đội và nhân dân; xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống có thể xảy ra; thường xuyên “bám mạng”, nắm, báo cáo kịp thời thông tin tình hình trên internet, mạng xã hội, chủ động báo cáo, cung cấp các thông tin về hoạt động của các thế lực thù địch để phối hợp, triển khai các biện pháp đấu tranh kịp thời; tập trung chia sẻ các tin bài, video clip theo chỉ đạo, định hướng của Trung ương, Ban Chỉ đạo 35 và cơ quan báo chí quân đội.
Thứ năm, đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật và chấp hành pháp luật để tăng cường sức mạnh chính trị, tinh thần cho bộ đội. Coi trọng xây dựng ý thức tự giác của mỗi quân nhân trong chấp hành nền nếp chế độ; xây dựng mối đoàn kết tốt trong nội bộ, đoàn kết quân - dân, làm tốt công tác vận động nhân dân trong tình hình mới. Kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, hành vi sai trái trong đơn vị, thái độ thiếu trách nhiệm, ngại khó khăn gian khổ. Bằng nhiều hình thức, biện pháp, chủ động phối hợp, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn không để cho các “cơ sở xã hội” của các tổ chức “xã hội dân sự” tiến hành các hoạt động tuyên truyền, lôi kéo, tác động tới cán bộ, chiến sĩ, quần chúng nhân dần để thực hiện ý đồ của chúng. Mặt khác, tích cực phối hợp giữa các ngành, các cấp trong tham gia xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở; kết hợp chặt chẽ với công tác xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng đơn vị an toàn gắn với địa bàn an toàn đủ sức ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay là một dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, là công việc tự giác, thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng và của từng cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong quân đội. Sự quyết tâm thực hiện một số giải pháp nêu trên sẽ góp phần tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng, chỉ rõ vấn đề, giúp nâng cao nhạn thức, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại./.
Từ bỏ chủ nghĩa xã hội là một sai lầm lớn
Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 là một cơn động đất chính trị lớn của thế kỷ 20. Nó có ảnh hưởng lớn không chỉ đối với thế giới XHCN và độc lập dân tộc mà còn cả đối với thế giới tư bản chủ nghĩa.
Các ông trùm chiến lược, chiến lược gia và chính khách cỡ bự của chủ nghĩa tư bản đều hoan hỷ ăn mừng rằng đây là hồi chuông báo tử, rằng chủ nghĩa xã hội (CNXH) sẽ diệt vong vào cuối thế kỷ 20. Ta nhận định hoàn toàn ngược lại. Sự sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là một tổn thất lớn, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu, tin rằng, các nước XHCN còn lại sẽ giữ vững trận địa, đảng cộng sản và công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới, và xu thế XHCN sẽ tiếp tục đi dưới hình thức này hay hình thức khác.
Câu trả lời bước đầu đã có vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. CNXH không hề diệt vong. Các nước XHCN còn lại không những giữ vững trận địa mà còn định hướng vững vàng cho sự phát triển tiến lên. Từ vùng Trung-Nam Mỹ đã phát sinh phong trào XHCN kiểu Mỹ Latinh, khởi đầu từ Venezuela rồi lan ra một số nước khác... Chủ nghĩa tư bản thế giới không thể chứng minh được rằng nó là lực lượng thống trị toàn cầu và xã hội tư bản là xã hội tốt đẹp cuối cùng của loài người. Ngay giữa lúc thế giới tư bản chủ nghĩa huênh hoang về sức sống dài lâu của nó cũng lâm vào khủng hoảng cục bộ, rồi đến khủng hoảng toàn diện hơn, kể từ năm 2008 đến nay, vẫn còn chưa hoàn toàn hồi phục. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia "toàn cầu hóa" và "hội nhập quốc tế", vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau.
Điểm qua như thế để thấy rõ rằng, hơn 30 năm qua, xung quanh vấn đề nên theo hay không theo CNXH, diễn biến tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và trong xã hội ở nước ta cũng không thuần nhất và khá phức tạp, nhưng về cơ bản vẫn kiên định con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Quan điểm "phê phán quan điểm cho rằng CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH" không phải bây giờ mới có mà đã có từ lâu, từ sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Nhưng từ đó đến nay, những kẻ chống đối không còn nói nhẹ nhàng như thế, họ thẳng thừng đòi "Đảng Cộng sản Việt Nam tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng CNXH, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa...". Và đến thời điểm chúng ta đang tiến hành "phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", có người mang danh đảng viên, còn ngạo mạn nói rằng, trong lựa chọn đường lối, Đảng ta đã sai lầm không chỉ từ Hội nghị thành lập Đảng (năm 1930) mà là từ Hội nghị Tua (năm 1921). Ý tứ đằng sau những giọng điệu ấy là gì, chắc mỗi người chúng ta đều biết.
Với quan điểm ấy, họ đã sai lầm ít nhất là ở 8 điểm sau đây:
Về sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu:
Thứ nhất: Sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH, chứ không phải sự sụp đổ của CNXH nói chung, với tư cách là một nấc thang phát triển của xã hội loài người, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thứ hai: Chế độ Xô viết ngay từ lúc mới ra đời ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười (năm 1917) và sau này trên toàn Liên bang Xô viết, đã tỏ rõ được tính ưu việt so với các chế độ chính trị-xã hội trước đó. Chính quyền Xô viết thực sự là chính quyền của công-nông-binh và của nhân dân lao động nói chung. Nhờ tính ưu việt đó, nó đã đánh thắng cuộc chiến tranh can thiệp của các nước đế quốc sau Cách mạng Tháng Mười, lập lại hòa bình và xây dựng chế độ mới, thực hiện công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp thành công, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức-Nhật, dẫn tới sự ra đời của hệ thống XHCN thế giới. Vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 sự nghiệp xây dựng CNXH ở Liên Xô đạt được những thành công lớn, khiến cho Đảng và Nhà nước Xô viết ngộ nhận là CNXH đã xây dựng xong và chủ trương Liên Xô bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Sự thật thì cũng thời gian đó, nhiều nhược điểm và khuyết tật trong nội bộ Nhà nước Xô viết cũng bắt đầu hé lộ, nhất là khi so sánh với những bước phát triển của hệ thống tư bản chủ nghĩa thời đó. Nếu vì sự sụp đổ sau này mà phủ nhận sạch trơn những gì chế độ Xô viết đã giành được là một sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ ba: Vào những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, sau khi phát hiện sự chậm trễ của mình, Liên Xô đề ra chính sách cải tổ; các nước XHCN Đông Âu cũng đề ra cải cách. Cải tổ và cải cách nhằm mục tiêu tăng tốc về kinh tế và thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi hơn. Sai lầm của Liên Xô và các nước Đông Âu lúc đó là đã sa vào chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoang mang, dao động trong đông đảo quần chúng, dẫn đến hỗn loạn xã hội, khiến cho ở Đông Âu, chính quyền bị các thế lực thù địch cướp lấy, còn Liên Xô thì chia rẽ sâu sắc trong nội bộ lãnh đạo, cuối cùng chính quyền cũng lọt vào tay nhóm chống đối trong Bộ Chính trị, những kẻ chống chính quyền Xô viết từ rất sớm. Không thấy nguyên nhân trực tiếp của sự sụp đổ là ở đây, mà coi sự sụp đổ là tất yếu của chính quyền Xô viết cũng là sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ tư: Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan nêu trên (tuy chưa hết), còn có một nguyên nhân trực tiếp khác nữa là âm mưu và thủ đoạn trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đế quốc chủ nghĩa. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng đẩy mạnh chạy đua vũ trang. Trong khi lãnh đạo Liên Xô chủ trương thi đua hòa bình thì chúng một mặt đẩy mạnh chạy đua vũ trang, mặt khác đề ra chiến lược "diễn biến hòa bình" để xóa bỏ CNXH mà không cần chiến tranh và súng đạn. Liên Xô và nhiều nước khác đã sa vào cái bẫy này của chúng mà không tự giác phát hiện.
Về sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở Việt Nam.
Thứ năm: Đúng là ngay từ ngày mới thành lập, Đảng ta đã đề ra chủ trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản". Như cách nói ngày nay, đó là làm cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên làm cách mạng XHCN. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được đề ra xuất phát từ thực tế tình hình nước ta lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, cũng xuất phát từ xu thế phát triển có tính quy luật của thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga là tiến lên CNXH. Hơn 90 năm qua, những chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối này, cớ sao vì sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu mà phải từ bỏ nó?
Thứ sáu: Trong xây dựng CNXH, Việt Nam học tập kinh nghiệm của Liên Xô và các nước XHCN đi trước nhưng hoàn toàn không có sự sao chép. Mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam không phải là mô hình Xô viết của Liên Xô, bởi sự khác biệt cơ bản là ở chỗ, một bên là từ cơ sở của chế độ tư bản đi lên, một bên từ độc lập dân tộc đi lên. Bác Hồ từng nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(1). CNXH đối với Bác, như ngày nay chúng ta vẫn nói, là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhầm lẫn giữa mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam với mô hình Xô viết là một sự sai lầm lớn.
Thứ bảy: Vào những năm Liên Xô và Đông Âu tiến hành cải tổ và cải cách, Việt Nam cũng đề ra đuờng lối đổi mới. Những nhân tố đầu tiên của đổi mới xuất hiện từ những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ 20, nhưng đổi mới toàn diện trở thành đường lối chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam vào cuối năm 1986 theo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng. Đổi mới của chúng ta không đi theo vết xe đổ của cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu. Đảng ta đã nêu rõ 6 nguyên tắc của đổi mới, trong đó vấn đề giữ vững định hướng XHCN, đổi mới chứ không đổi màu là nguyên tắc đầu tiên. Chúng ta cũng bác bỏ quan điểm cho rằng “đổi mới là nửa vời, không nhất quán”. Sự thật là đổi mới của chúng ta qua hơn 30 năm đã đưa lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm cho Việt Nam càng vững bước đi lên trên con đường độc lập dân tộc và CNXH. Đánh đồng đổi mới của Việt Nam với cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu là một sai lầm có dụng ý.
Thứ tám: Qua 35 năm đổi mới cho thấy: Nhận thức của Đảng ta về CNXH và về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử"(2) .
Cương lĩnh nêu lên 8 đặc trưng của CNXH mà nhân dân ta xây dựng, trong đó 3 đặc trưng đầu tiên là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp.
Thử hỏi, con đường độc lập dân tộc đi lên CNXH xán lạn như vậy tại sao chúng ta phải từ bỏ chỉ vì mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ?
Trong khi nêu lên 8 sai lầm cơ bản như trên, người viết bài này muốn đặt ra câu hỏi đối với các tác giả đòi chúng ta từ bỏ con đường XHCN, ý đồ thực sự của các vị phía sau đòi hỏi này là gì?
PHAO
Cần tăng cường một số hoạt động đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay
Đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng
XUYÊN TẠC TỰ DO BÁO CHÍ VIỆT NAM
Những nội dung cần thiết để giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên hiện nay
Ở mỗi giai đoạn nhất định của tiến trình cách mạng, quan niệm về phẩm chất đạo đức, tư cách của người đảng viên lại có những yêu cầu cụ thể. Tuy vậy, nội dung cơ bản về giáo dục đạo đức cách mạng của đảng viên là:
Thứ nhất, giáo dục, rèn luyện về sự trung thành với lý tưởng cách mạng, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, tôn trọng và phục
vụ nhân dân
Người đảng viên cộng sản chỉ có thể là đảng viên khi họ gắn với lý tưởng
cộng sản; nếu xa rời lý tưởng người đảng viên sẽ mất phương hướng hành động và
như vậy họ không còn đủ tư cách là người đảng viên của Đảng. Người đảng viên
phấn đấu vào Đảng là để đấu tranh cho lý tưởng của Đảng; giác ngộ lý tưởng cộng
sản là điểm khác nhau quan trọng, cơ bản, đầu tiên giữa đảng viên và người
ngoài Đảng.
Giáo
dục, rèn luyện về sự trung thành với lý
tưởng cách mạng, với quyền lợi của Tổ quốc và nhân dân lao động cho đảng viên
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các cấp ủy, tổ chức đảng, nhằm tác động vào
nhận thức, vào niềm tin của người đảng viên.
Giáo
dục, rèn luyện cho đảng viên của Đảng phải luôn trung thành với mục đích, lý tưởng
của Đảng, phải nhận thức rõ rằng: tận trung với nước, tận hiếu với dân, coi phục
vụ nhân dân là lẽ sống cao thượng nhất, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng,
cho cách mạng chính là mục tiêu lớn nhất cần đạt tới.
Bằng
hành động cụ thể, mỗi đảng viên của Đảng phải gương mẫu trong lối sống, tôn
trong nhân dân, ra sức phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân
dân lên trên lợi ích cá nhân; không ngừng rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, chấp
hành nghiêm chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai, giáo dục, rèn luyện tinh thần lao động
gương mẫu, hăng say lao động và lao động sáng tạo
Đảng viên là chiến sĩ tiên phong của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, luôn đi đầu trong các phong trào cách mạng. Bản chất
giai cấp, mục đích, lý tưởng của Đảng đòi hỏi mọi đảng viên phải biết yêu lao động,
hiểu được giá trị của lao động và nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu trong
lao động, lao động hăng say và lao động sáng tạo.
Cấp ủy, tổ chức đảng phải luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện
tinh thần lao động gương mẫu, hăng say
và lao động sáng tạo, không ngừng cải tiến, tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm,
góp phần tích cực vào việc phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết việc làm
cho người lao động, ổn định và nâng cao đời sống cho nhân dân.
Thứ ba, giáo dục, rèn luyện về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Cấp
ủy, tổ chức đảng phải hết sức coi trọng việc giáo dục phẩm chất cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư, làm cho nó “sâu rễ, bền gốc” trong cán bộ, đảng
viên, trước hết là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ
quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và trong các tổ chức kinh tế nhà nước.
Đối với những đảng viên tha hóa, biến chất phải kiên quyết xử lý nghiêm minh bằng
kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Người cán bộ, đảng viên không chỉ
rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” mà
còn phải đấu tranh, phê phán những hiện tượng phi đạo đức…
Thứ tư, giáo dục, rèn luyện tinh thần nỗ lực học
tập, cầu tiến bộ
Việc giáo dục nâng cao nhận thức, trình độ cho đội ngũ đảng viên là
trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và phải được tiến hành thường xuyên,
đưa vào nội dung sinh hoạt thường kỳ của mỗi tổ chức đảng, mỗi tổ chức đoàn thể
và cơ quan, đơn vị.
Mỗi đảng viên phải được giáo dục, rèn luyện một cách toàn
diện cả về phẩm chất và năng lực để hoàn thiện nhân cách và đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ cách mạng.
Trong điều kiện hiện nay, cần
chú ý tăng cường bồi dưỡng các kỹ năng tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện và ý chí
phấn đấu cho đảng viên để họ biết cách thức tự điều chỉnh bản thân mình cho phù hợp
với những tiêu chí, yêu cầu đòi hỏi khách quan của tình hình, nhiệm vụ mới.
Thứ năm, giáo dục, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ
luật nghiêm, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng
Đây là một nội dung rất quan trọng trong giáo dục,
rèn luyện đội ngũ đảng viên của cấp ủy, tổ chức đảng. Mỗi đảng viên của Đảng phải
có ý thức tổ chức và kỷ luật, phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật
của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là
nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”[1].
Trong giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, cấp ủy, tổ chức đảng
yêu cầu mọi đảng viên phải ra sức góp phần xây dựng và giữ vững sự đoàn kết nhất
trí trong Đảng. Tất cả đảng viên, dù ở cương vị khác nhau, làm công tác khác
nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ, "giữ gìn sự
đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Tăng
cường tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của nhà nước trong các tổ
chức đảng và các cơ quan nhà nước phải đi liền với xử lý kịp thời, nghiêm minh,
công khai những đảng viên vi phạm, dù ở cương vị, chức trách nào. Điều đó sẽ
góp phần quan trọng trong giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên
của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
cảnh báo: “Một
dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn,
không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu
lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[2]. Trước lúc đi xa, Người đã căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng
viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo
đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng
ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân”[3].
Thứ sáu, giáo dục, rèn luyện tinh thần tập thể,
chống chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện lối sống trong sạch, lành mạnh
Mỗi đảng viên cần phải có phong cách, tác phong dân chủ,
vì tập thể. Luôn luôn tôn trọng và lắng nghe ý kiến của quần chúng và cấp dưới,
luôn xuất phát từ lợi ích của tập thể, của xã hội, vì quyền lợi chung, vì dân
vì nước để có quyết định đúng đắn kịp thời, chính xác. Phải khắc phục được tình
trạng thiếu tập thể, thiếu dân chủ, độc đoán, quan liêu, mệnh lệnh, xa dân
trong phong cách làm việc của không ít đảng viên hiện nay. Cần phải rèn luyện,
thực hiện nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Nghĩa là phải dám
nghĩ, dám làm, quyết đoán, chịu trách nhiệm về các quyết định và hành động
của mình trên cơ sở phát huy dân chủ.
Thực tế đòi hỏi mỗi đảng viên phải thực sự gương mẫu, nói
đi đôi với làm, phải có tinh thần tập thể cao cả, tinh thần “lo trước
thiên hạ vui sau thiên hạ”; phải công bằng với mọi người, công tâm, chính tâm…
thì dân sẽ tin, sẽ phục và làm theo.
Giáo dục rèn luyện
tinh thần tập thể phải tăng cường chống chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện lối sống
trong sạch, lành mạnh, bởimọi căn bệnh trong Đảng và trong mỗi đảng
viên đều do chủ nghĩa cá nhân mà ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân
là một loại giặc, nó còn ác hơn cả giặc ngoại xâm. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân ở
ngay trong con người ta, trong tổ chức của ta, không thể dùng súng, dùng lựu đạn
để tiêu diệt nó. Đấu tranh chống nó cực kỳ khó khăn và phức tạp.
Thứ bảy, giáo dục về chủ nghĩa quốc tế của giai
cấp công nhân
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là bản chất
của Đảng Cộng sản. Bản chất đó bắt nguồn từ vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế
giới của giai cấp công nhân. Tính chất quốc tế của Đảng phải được thể hiện
trong thực tiễn, không chỉ ở lời nói mà phải ở việc làm, trong hành động của
mình. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải luôn quan tâm giáo dục đội ngũ đảng viên và
nhân dân tinh thần quốc tế cao cả và trong sáng; kiên quyết chống lại mọi
khuynh hướng chủ nghĩa sô vanh nước lớn hoặc chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.
Đặc điểm của an ninh phi truyền thống trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, có những vấn đề an ninh phi truyền thống được hình thành trong quá trình tích lũy các yếu tố tiềm tàng, như vấn đề môi trường sinh thái, tôn giáo, dân tộc; có những vấn đề bùng phát và lan rộng tạo thành, như bệnh dịch, khủng hoảng tài chính, tiền tệ, chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu, ma túy... Ngoài ra, vấn đề an ninh phi truyền thống thường là bùng phát đột xuất dưới hình thức khủng hoảng, từ đó tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng trực tiếp đối với an ninh quốc gia. Khủng hoảng tiền tệ toàn cầu, bệnh dịch SARS hoành hành, sự kiện Thiên An Môn năm 1989, khủng bố 11-9-2001 ở Mỹ và bạo loạn ở Tân Cương (Trung Quốc) năm 2009... đều có đặc trưng như vậy.
Thứ hai, an ninh phi truyền thống có thể chia làm hai phương
diện: phương diện có tính chất bạo lực và phương diện có tính chất phi bạo lực.
Phương diện có tính chất bạo lực gồm những vấn đề có liên quan đến bạo lực như
chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu ma túy, tội phạm có tổ chức. Phương diện có tính
chất phi bạo lực biểu hiện của những vấn đề chưa có màu sắc hoạt động bạo lực,
như ô nhiễm môi trường, sinh thái xấu đi, khủng hoảng tài chính, tiền tệ, bệnh
dịch...
Thứ ba, an ninh phi truyền thống có đặc trưng lan rộng “xuyên
quốc gia”. Thông qua đó để phân biệt một vấn đề thuộc lĩnh vực an ninh phi
truyền thống hay thuộc lĩnh vực an ninh quốc gia của một nước. Ví dụ: Cạn kiệt
tài nguyên, bùng nổ dân số, môi trường bị ô nhiễm, xung đột tôn giáo dân tộc,
khủng hoảng kinh tế và tài chính, tiền tệ, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm công
nghệ cao, phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, tội phạm xuyên quốc gia, buôn
lậu ma túy, tị nạn vì mục đích kinh tế và di dân phi pháp, lan tràn bệnh truyền
nhiễm, hải tặc, rửa tiền phi pháp đều ít nhiều mang tính xuyên quốc gia. Đặc
trưng đó cho thấy, vấn đề an ninh phi truyền thống có ảnh hưởng và tác dụng
quan trọng đối với quan hệ giữa các quốc gia, khu vực và mang tính toàn cầu.
Thứ tư, tất cả những vấn đề thuộc an ninh phi truyền thống đều
trực tiếp đe dọa đến sinh mệnh và đời sống xã hội của công dân các nước và an
ninh toàn nhân loại, an ninh quốc gia, an ninh khu vực cũng như an ninh toàn
cầu, chỉ có phương thức, mức độ, thời gian và hậu quả là khác nhau mà thôi.
Thứ năm, các vấn đề của an ninh phi truyền thống đều có tác động
lẫn nhau, khiến cho ảnh hưởng và nguy hại mà nó tạo ra lớn hơn so với ban đầu, như:
sự nghèo đói, xung đột sắc tộc, vấn đề di dân và tị nạn sang các nước khác; các
hoạt động khủng bố, tin tặc, buôn lậu ma túy và rửa tiền phi pháp... Trong một
số trường hợp đã hình thành “chuỗi xích” từ khủng hoảng đến xung đột, có thể
kích thích lẫn nhau và tạo thành hiệu ứng nguy hại mang tính dây chuyền với
phạm vi lớn hơn.
PHAO
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thủ đoạn cực kỳ nguy hiểm nhưng khó nhận diện trong chiến lược “diễn biến hòa bình”
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự suy thoái từ bên trong, là quá trình biến đổi tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhân dân theo chiều hướng tiêu cực làm mất dần chuẩn mực của người cộng sản, của người công dân xã hội chủ nghĩa, dẫn đến hoài nghi, xa rời, rồi có hành động chống lại nguyên tắc, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thủ đoạn cực kỳ nguy hiểm nhưng khó nhận diện trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, đồng thời nó cũng là mục tiêu và là hệ quả của “diễn biến hòa bình”.
Đối tượng của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà các thế
lực thù địch nhằm tới là các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị và mọi
tầng lớp nhân dân trong xã hội, trong đó tập trung vào hệ thống tổ chức của
Đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức
nhà nước và lực lượng vũ trang. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng,
ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc của một bộ phận cán bộ,
đảng viên có chức, có quyền là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thúc đẩy
quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
diễn ra qua ba giai đoạn: 1) Giai đoạn ban đầu, đối tượng thể hiện sự hoang
mang, dao động về tư tưởng chính trị, sự hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng,
tính khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, và hoài nghi con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội; 2) Giai đoạn hai, đối tượng bắt đầu chủ động hơn trong tiếp nhận những
thông tin trái chiều, những luận điệu chống đối, hoặc lý luận phản động; 3)
Giai đoạn ba, đối tượng hoàn toàn có tư tưởng phản động, chống đối.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
của cá nhân nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị
suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra ở tầm vĩ mô
hoặc trong phần lớn cán bộ, đảng viên sẽ dẫn đến sự chuyển hóa từ chế độ xã hội
chủ nghĩa sang con đường tư bản chủ nghĩa. Như vậy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
là hệ quả của “diễn biến hòa bình”, và là giai đoạn nối tiếp của “diễn biến hòa
bình”.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
có thể diễn ra trên tất cả các lĩnh vực từ tư tưởng, chính trị, đến kinh tế,
văn hóa, đạo đức, lối sống. “Tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng là sự hoài
nghi chủ nghĩa Mác-Lênin; thiếu niềm tin, hoài nghi vai trò lãnh đạo của Đảng,
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; xa rời các nguyên lý xây dựng Đảng, phê phán
lịch sử thiếu khách quan, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo
Đảng, Nhà nước... “Tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng là sự nối tiếp của quá
trình “tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng. Khi sự biến đổi về chất đã làm
thay đổi quan điểm tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên,
sẽ dẫn đến hành động chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của
Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về kinh tế là sự phủ nhận nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức,
lối sống, là sự đề cao, sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các
giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống, các giá trị văn hóa, đạo đức xã hội chủ
nghĩa; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận nền văn hóa cách mạng; đánh mất bản sắc văn
hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng... “Tự diễn biến” về
văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống thường là sự khởi đầu cho “tự diễn biến” về
tư tưởng. Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, biểu hiện của “tự diễn biến” “tự
chuyển hóa” là thay đổi bản chất nền quốc phòng, thay đổi bản chất cách mạng
của lực lượng vũ trang, quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, v.v..
PHAO
ĐỪNG NÓI XẤU, CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC XONG LẠI KÊU GỌI CHÍNH QUYỀN TRONG NƯỚC GIÚP ĐỠ!
Bạo loạn lật đổ là hoạt động phản động, phản cách mạng do các thế lực thù địch, phản động thực hiện
“Bạo loạn là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản
động hay lực lượng ly khai, đối
lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành nhằm gây rối loạn an ninh
chính trị, trật tự, an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền (địa phương hoặc Trung
ương)”[1].
Bạo loạn, lật đổ là hình thức chống phá các nước xã hội
chủ nghĩa và độc lập dân tộc bằng thủ đoạn bạo lực có tổ chức, thể hiện bằng
chính trị hoặc vũ trang, do bọn phản động trong nước trực tiếp tiến hành dưới
sự chỉ đạo của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm lật đổ chính
quyền, dựng chính quyền phản động ở Trung ương hoặc địa phương.
Bản chất: Bạo loạn lật đổ là hoạt động phản động, phản cách mạng do các thế lực thù địch,
phản động thực hiện chống lại các nước xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc và
những chính quyền không thân phương Tây nhằm xây dựng chính quyền mới theo quỹ
đạo tư bản chủ nghĩa.
Hình thức bạo loạn lật đổ gồm có: 1) Bạo loạn vũ trang, trong đó các đối tượng sử
dụng lực lượng, biện pháp, phương tiện, vũ khí quân sự tấn công, lật đổ, cướp
chính quyền; 2) Bạo loạn phi vũ trang hay còn gọi là “bạo loạn chính trị”,
trong đó các đối tượng không sử dụng bạo lực quân sự mà chủ yếu là mít tinh,
biểu tình, tuần hành phá rối an ninh, gây rối trật tự xã hội, chống phá chính
quyền; 3) Bạo loạn chính trị kết hợp với bạo loạn vũ trang.
Đối tượng gây bạo loạn lật đổ: Là các tổ
chức, phần tử phản động trong nước có sự tham gia của những người bị tuyên
truyền lừa bịp, lôi kéo, kích động. Các thế lực thù địch, phản động lưu vong ở
nước ngoài thường có sự chỉ đạo, hậu thuẫn cho đối tượng gây bạo loạn ở trong
nước.
Quy mô bạo loạn lật đổ: Có thể từ nhỏ đến
vừa và lớn; từ một vài nơi, một vài khu vực lan ra nhiều nơi, nhiều khu vực.
Quy mô bạo loạn lật đổ tùy thuộc vào tương quan lực lượng, vào điều kiện và
thời cơ, mục đích thực sự của bạo loạn. Có loại bạo loạn lật đổ chỉ mang tính
cục bộ, quy mô nhỏ, trên địa bàn hẹp và cũng chỉ nhằm mục đích tập dượt, chuẩn
bị cho các cuộc bạo loạn quy mô lớn hơn, có mục đích cao hơn. Có loại bạo loạn
lật đổ nhằm hỗ trợ cho các hoạt động “diễn biến hòa bình”, như gây rối loạn chính trị - xã hội để tăng sức ép đối
với chính phủ, buộc chính phủ thay đổi đường lối, chính sách theo hướng có lợi
cho “diễn biến hòa bình” và tạo điều kiện
cho các hoạt động “diễn biến hòa bình” tiếp theo.
Phạm vi, địa bàn xảy ra bạo loạn lật đổ: Có thể diễn ra ở nhiều nơi, nhiều
vùng, nhưng trọng điểm là các trung tâm chính trị, kinh tế ở Trung ương và địa
phương, nơi rất nhạy cảm về chính trị, hoặc các khu vực, địa bàn mà cơ sở chính
trị của địa phương tỏ ra yếu kém.
Phương thức và thủ đoạn
tiến hành: 1) Triệt để
khai thác và lợi dụng các mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân,
mâu thuẫn giữa nhân dân với chính quyền, mâu thuẫn nội bộ trong chính quyền
hiện hành để kích động quần chúng chống chính quyền; 2) Thủ đoạn thường xuyên
được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân
tộc”, “tôn giáo” để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có
thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị. Vu cáo chính
quyền đương nhiệm vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, vi phạm
tự do tôn giáo, đàn áp dân tộc để biểu tình, chống đối... đề cao các giá trị
phương Tây để gây áp lực với chính quyền; 3) Dùng tiền, vật chất để kích động,
lôi kéo quần chúng, sử dụng quần chúng nhân dân gây áp lực với chính quyền.
Điều kiện xảy ra bạo loạn lật đổ gồm có các điều
kiện khách quan và chủ quan sau: 1) Các thế lực thù địch xây dựng được lực
lượng chính trị và lực lượng vũ trang phản động bí mật; tạo dựng được “ ngọn cờ ” để chỉ đạo, điều
hành và lôi kéo, kích động quần chúng tham gia; có sự liên kết, phối hợp giữa
các thế lực phản động trong nước và quốc tế; 2) Xã hội có hiện tượng không ổn
định, mâu thuẫn nội bộ chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa thỏa đáng, bị
các thế lực phản động lợi dụng, tìm cách khoét sâu, kích động làm chuyển hóa từ
mâu thuẫn nội bộ thành mâu thuẫn đối kháng, từ đó lái quần chúng và lôi kéo họ
đấu tranh phục vụ mưu đồ chính trị phản động của các thế lực thù địch; 3) Nền
kinh tế - xã hội kém phát triển, chính sách kinh tế không phù hợp, phụ thuộc
quá nhiều vào nước ngoài, tình trạng nghèo đói, thất nghiệp tăng cao, đời sống
vật chất, tinh thần của nhân dân không được cải thiện; 4) Bộ máy quản lý nhà
nước yếu kém, nạn quan liêu, tham nhũng, gia đình trị, nội bộ mâu thuẫn; 5) Lực
lượng vũ trang không được quan tâm đầy đủ, bị trung lập, vô hiệu hóa.
[1] Trung tâm Từ điển Bách khoa
quân sự, Bộ Quốc phòng: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, H.2004, tr.63.

