Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022

Một số vấn đề về mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế hiện nay

 Trong lịch sử thế giới hiện đại, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế đều chi phối đến các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hai chủ nghĩa này đều có những sắc thái mới và tương tác biện chứng, tác động mạnh mẽ đến đời sống quốc tế và chính trị nội bộ các quốc gia, dân tộc. Do đó, nhận thức đúng đắn mối quan hệ này sẽ góp phần giúp các quốc gia, dân tộc vừa bảo đảm lợi ích của mình, đồng thời, đóng góp vào sự phát triển chung của toàn nhân loại.

Chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan - hai biểu hiện trái ngược nhau trong quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế

Chủ nghĩa dân tộc (nationalism) không phải là một khái niệm mới. Trong lịch sử loài người, chủ nghĩa dân tộc đã manh nha hình thành từ khi các “dân tộc” ra đời. Chủ nghĩa dân tộc có thể được xem xét ở nhiều khía cạnh, như một loại tình cảm dân tộc, một loại hình tư tưởng, một quá trình xây dựng dân tộc, một hành động tập thể…

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là tình cảm dân tộc, là tình cảm trung thành, tình yêu, sự gắn bó với dân tộc mình. Tình cảm này được hình thành nhờ những yếu tố chung như nguồn gốc và đặc điểm nhân chủng, lịch sử chung, cùng khu vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo… Đó là những yếu tố khiến các cá nhân cảm thấy giống nhau, gắn bó với nhau trong cộng đồng. Tình cảm dân tộc có thể được nhận thấy thông qua quá trình cố kết dân tộc và quốc gia thành những cộng đồng khác nhau, thông qua những mối quan hệ khác nhau giữa người cùng dân tộc với người khác dân tộc và thông qua bản sắc dân tộc.

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là một loại hình tư tưởng (một hệ tư tưởng hay ý thức hệ), đó là những tư tưởng về quyền tự quyết, quyền tự trị, quyền bảo vệ bản sắc và các giá trị riêng của mỗi dân tộc. Trên phương diện quan hệ quốc tế, tư tưởng dân tộc được phản ánh trong tư tưởng lập quốc hay khẳng định chủ quyền quốc gia, trong sự bảo đảm và phát triển lợi ích quốc gia. Theo Từ điển Bách khoa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là “hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm lý đòi hỏi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc” (1).

Chủ nghĩa dân tộc với biểu hiện là một phong trào chính trị: John Breuilly - giáo sư về chủ nghĩa dân tộc và dân tộc tại Trường Kinh tế London (Anh) - cho rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là phong trào chính trị nhằm hướng đến hoặc thực hiện quyền lực nhà nước và biện minh cho các hành động như vậy với các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa” (2). Theo ông, các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa là học thuyết chính trị dựa trên ba khẳng định cơ bản: Một là, sự tồn tại của dân tộc với đặc điểm rõ ràng và đặc biệt; hai là, các quyền lợi và giá trị của dân tộc này được ưu tiên so với các quyền lợi và giá trị khác; ba là, dân tộc phải độc lập, điều này đòi hỏi ít nhất phải đạt được chủ quyền về chính trị.

Theo nghĩa này, chủ nghĩa dân tộc còn là quá trình xây dựng hoặc tham gia các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó có thể là quá trình thống nhất quốc gia gắn liền với tên tuổi của các nhân vật lịch sử; hoặc quá trình tái thống nhất đất nước sau chiến tranh; hay các phong trào giành độc lập của các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.

Chủ nghĩa dân tộc với đặc điểm là một hiện tượng văn hóa - xã hội, là sự tích hợp của những thần thoại và biểu tượng truyền thống. Dưới góc nhìn văn hóa, Anthony D. Smith - nhà xã hội học lịch sử người Anh - nhận xét, chủ nghĩa dân tộc là loại hình của văn hóa, gồm tư tưởng, ngôn ngữ, huyền thoại, biểu tượng, ý thức trong sự tương liên với toàn cầu (3). Ở khía cạnh này, S. Kramer (4) khẳng định, mặc dù chủ nghĩa dân tộc có nguồn gốc từ các cuộc cách mạng chính trị nhưng nền tảng cơ bản vẫn là văn hóa. Ông lập luận rằng, chủ nghĩa dân tộc với ý tưởng là các quốc gia nên đại diện cho các dân tộc thống nhất về văn hóa; và chủ nghĩa dân tộc là một lực lượng văn hóa nói lên khát vọng sâu sắc của con người nhằm kết nối với bên ngoài.

Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa của các học giả trong nước và quốc tế về chủ nghĩa dân tộc, có thể nhận định, chủ nghĩa dân tộc (nationalism) là một thứ tình cảm, một loại hình tư tưởng, một phong trào thực tiễn hay một hiện tượng văn hóa liên quan đến sự sinh tồn, phát triển và quyền lợi của dân tộc, được tạo ra trên cơ sở tình yêu, lòng trung thành và sự quan tâm sâu sắc của các thành viên đối với lợi ích dân tộc mình.

Một khái niệm liên quan đến chủ nghĩa dân tộc là Chủ nghĩa quốc tế (internationalism). Khái niệm này để chỉ mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc. Chủ nghĩa quốc tế ra đời khi chủ nghĩa tư bản hình thành, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao theo xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Chính nền sản xuất đại công nghiệp đã tạo ra một nền sản xuất, trao đổi và tiêu dùng mang tính quy mô toàn cầu. Điều này phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, tạo nên một thị trường thế giới thống nhất, khiến các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy sự liên kết. Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các quốc gia còn xuất phát từ những vấn đề mà từng quốc gia, dân tộc riêng lẻ không thể tự giải quyết được, đòi hỏi sự chung tay của cộng đồng quốc tế, như bảo vệ môi trường, xóa đói, giảm nghèo, chống bất bình đẳng giới…

Biểu hiện cho mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế được thể hiện qua hai dạng thức của chủ nghĩa dân tộc, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Chủ nghĩa dân tộc chân chính xuất phát từ tình cảm, lòng trung thành đối với đất nước nhưng không vì thế mà xem dân tộc mình ưu việt hơn dân tộc khác, do đó chủ nghĩa dân tộc chân chính biểu hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc chân chính là nền tảng, động lực cho tự do, độc lập, quyền tự quyết và phẩm giá của các dân tộc trước những áp bức, thống trị và bất công; là cơ sở để xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc.  

Trong khi đó, chủ nghĩa dân tộc cực đoan “là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thống giá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân tộc mình cao hơn tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác” (5). Chính vì thế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan dễ dẫn đến xu hướng biệt lập, cục bộ, vị kỷ, chống lại xu hướng hợp tác, liên kết và hội nhập quốc tế, thậm chí có thể thúc đẩy xu hướng chiến tranh, xâm lược. Do đó, nó làm cản trở sự giao thoa và hợp tác quốc tế, làm suy giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia.

Biểu hiện của mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế hiện nay

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế không đơn giản là mối quan hệ có hai chiều đối lập, mà còn là mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau, được thể hiện ở các xu hướng:

Một là, xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc. 

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan luôn có xu hướng bành trướng dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc, thông qua quá trình xâm lược thuộc địa, xâm lăng về kinh tế, chính trị, văn hóa. Với tư tưởng phân biệt giữa một dân tộc “ưu tú, vĩ đại, khuôn mẫu” với các quốc gia - dân tộc khác “man di, mọi rợ, lạc hậu, cần được khai hóa, đô hộ”, thậm chí phải bị tiêu diệt..., quá trình quốc tế hóa này đã tạo ra một sự liên kết giữa quốc gia một cách không tự nguyện mà chỉ xuất phát từ phía chủ quan của quốc gia bá quyền. Trong lịch sử hiện đại, các nước thực dân, đế quốc với những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa trên danh nghĩa “khai hóa văn minh” chính là biểu hiện của xu hướng này. Ngược lại với chủ nghĩa đế quốc, quốc tế hóa chủ nghĩa cộng sản về mặt lý thuyết dựa trên cơ sở tự nguyện giữa các quốc gia, dân tộc.

Hiện nay, biểu hiện của xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan là chủ nghĩa sô-vanh, chủ nghĩa bá quyền.

Về chính trị, các nước lớn tìm cách áp đặt luật lệ lên các nước nhỏ, bỏ qua luật pháp quốc tế hoặc tạo ra một luật chơi riêng có lợi cho mình. Các nước lớn ràng buộc các nước nhỏ bằng những hiệp định song phương, can thiệp để thay đổi thể chế, thậm chí nếu cần sẽ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Về kinh tế, các nước lớn muốn thông qua “sự lệ thuộc” về kinh tế để áp đặt về chính trị. Trong cuốn “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế” (xuất bản năm 2004), John Perkins đã chỉ ra, Mỹ tìm cách xây dựng một đế chế của riêng mình nhằm đưa các nước đang phát triển và kém phát triển vào vòng xoáy nợ nần để đặt ra những yêu cầu về kinh tế, chính trị ràng buộc và có lợi cho Mỹ. Bên cạnh đó, các nước lớn còn có thể tự đặt ra những luật chơi kinh tế chung cho toàn cầu.

Về văn hóa - xã hội, các nước lớn tìm cách áp đặt hệ giá trị, tư tưởng đối với các nước nghèo và đang phát triển nhằm tạo ra một “chuẩn mực chung” cho thế giới. Một khối lượng lớn các sản phẩm văn hóa từ các nước phát triển du nhập vào các nước đang phát triển. Thực tế cho thấy, văn hóa, lối sống của Mỹ và các nước phương Tây đang lan tràn ở nhiều nước.

Hội nhập quốc tế là do sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, thể hiện mối liên hệ giữa các quốc gia. Rõ ràng, trong quá trình toàn cầu hóa, các nước mạnh với những lợi thế của mình sẽ có ảnh hưởng lớn đến phần còn lại của thế giới, thông qua đó truyền bá các “giá trị” của nước mình và chủ nghĩa tự do nhằm duy trì ưu thế quân sự và thúc đẩy lợi ích kinh tế. Như vậy, có thể thấy, chủ nghĩa quốc tế đang bị lợi dụng nhằm phục vụ cho những mưu tính của chủ nghĩa quốc gia - dân tộc cực đoan.

Tất nhiên, cũng cần nhìn nhận xu hướng này trong tính hai mặt của nó. Đó là khi các nước lớn mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trong quá trình toàn cầu hóa, vừa tạo ra thách thức nhưng cũng là cơ hội để các nước đang và kém phát triển có thể tận dụng để vươn lên. Tiếp thu các thành tựu khoa học - công nghệ cũng như các giá trị văn hóa tiên tiến… là một trong những mặt tích cực mà các nước đang và kém phát triển cần nắm bắt trong xu thế khách quan này.

Hai là, chủ nghĩa dân tộc nước nhỏ chống lại xu hướng quốc tế hóa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn.

Xu hướng này có nguồn gốc từ chủ nghĩa quốc gia - dân tộc nhằm bảo vệ quyền sinh tồn, phát triển như một thực thể chính trị độc lập và chống lại xu hướng “quốc tế hóa” của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Với tư tưởng các dân tộc dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay kém phát triển… đều có quyền bình đẳng, mục tiêu của xu hướng này là bảo vệ lãnh thổ, không gian sinh tồn, bảo vệ tộc người - nòi giống, bảo vệ độc lập, tự do và quyền được phát triển, bảo vệ bản sắc…

Hiện nay, biểu hiện của xu hướng này chính là chống xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến chủ nghĩa dân tộc kinh tế. Bởi toàn cầu hóa không chỉ mang lại những tác động tích cực mà còn có cả những tác động tiêu cực. Toàn cầu hóa đang đặt các nước đang và kém phát triển trước những thách thức lớn; làm trầm trọng thêm bất công xã hội, tăng khoảng cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước với nhau. Chính các mặt tiêu cực này đã khiến chủ nghĩa dân tộc kinh tế ở cả các nước đang và kém phát triển trỗi dậy.

Bên cạnh đó, theo nhiều quan điểm, toàn cầu hóa còn được xem là quá trình phương Tây hóa mà cốt lõi là “Mỹ hóa” về mặt văn hóa, trong đó lối sống phương Tây được truyền bá và thực hiện một cách phổ biến. Điều này khiến các phương thức sống khác cùng với hệ thống các giá trị và hình mẫu văn hóa khác, đặc biệt là bản sắc văn hóa dân tộc, đứng trước nguy cơ bị xói mòn, hòa tan. Điều này tất yếu dẫn đến chủ nghĩa dân tộc văn hóa của các nước nhỏ cần tìm cách bảo vệ bản sắc dân tộc mình trước làn sóng “xâm lăng” của văn hóa phương Tây.

Ba là, xu hướng chủ nghĩa dân tộc nước lớn chống lại xu thế quốc tế.

Thực tế chính trị trong một thế giới toàn cầu hóa cho thấy, một đảng phái hay chính quyền nào đó sẽ nhận được sự tín nhiệm cao của người dân nếu nhận thức đầy đủ, toàn diện vấn đề chủ nghĩa dân tộc trong đường lối, chính sách. Có những quốc gia sử dụng chủ nghĩa dân tộc như một “lá bài” để đạt được lợi ích thông qua hành vi đề cao lợi ích quốc gia, chỉ quan tâm đến quyền lợi của quốc gia, dân tộc mà không quan tâm, thậm chí làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của các quốc gia khác. Từ đó, chối bỏ trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cộng đồng quốc tế, không gắn lợi ích dân tộc với quốc tế. Có thể thấy, do đặt lợi ích nước Mỹ lên trên hết, nên chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump theo đường lối thực dụng, đặc biệt về kinh tế, đã hạn chế quan tâm đến các vấn đề toàn cầu. Do vậy, trong giai đoạn Tổng thống Donald Trump cầm quyền, ông đã có những quyết định rút Mỹ khỏi một số tổ chức quốc tế cũng như các hiệp ước quốc tế, như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc…

Xu hướng này còn biểu hiện ở tư tưởng “phản toàn cầu hóa”, theo đuổi chủ nghĩa bảo hộ. Thực tế, không riêng Mỹ, chủ nghĩa bảo hộ đã trở thành xu hướng trên toàn cầu kể từ năm 2008, khi các quốc gia sử dụng các chính sách mới nhằm hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp nội địa trước sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau (áp dụng hạn ngạch, nâng thuế nhập khẩu, gia tăng các yêu cầu kỹ thuật…). Theo Tổ chức Cảnh báo thương mại toàn cầu (GTA), thương mại toàn cầu đang nghiêng theo xu hướng bảo hộ. Chỉ số đo lường tác động của chính sách bảo hộ thương mại tại mỗi quốc gia đều dương trong giai đoạn từ năm 2009 tới tháng 8-2018. Con số không ngừng gia tăng cho thấy chủ nghĩa bảo hộ đang lan rộng (6).

Ngoài ra, xu hướng này còn thể hiện ở tư tưởng bài ngoại, chống nhập cư. Hàng loạt đảng phái, phong trào nổi lên gần đây ở châu Âu cho thấy rõ điều này. Như vậy, chính chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã dẫn đến việc không thể giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế. Do vậy, các quốc gia hiện nay cần hướng đến chủ nghĩa dân tộc chân chính thiết lập nên chủ nghĩa quốc tế trên cơ sở của thế giới quan hiện đại: hòa bình, hữu nghị, dựa trên luật lệ, tôn trọng quyền tự quyết, độc lập và hội nhập quốc tế để cùng phát triển. Chủ nghĩa quốc tế dựa trên chủ nghĩa dân tộc chân chính chính là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của quốc gia trong mối quan hệ với lợi ích của các quốc gia khác trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; luật pháp quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế mà không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia - dân tộc khác.

Giải quyết mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Trong thời đại Hồ Chí Minh, sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng chính là bài học thành công của cách mạng Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử.

Thứ nhất, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế.

Cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng quốc tế. Tinh thần quốc tế trong sáng của Người thể hiện ở sự kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới” (7). Qua đó, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Thứ hai, kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế trong đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Điều này được thể hiện rõ nhất qua đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đó là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” (8); “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (9).

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã làm rõ mối quan hệ mật thiết và biện chứng giữa độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. Đại hội XIII đề ra phương châm: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (10). Đây là phương châm phù hợp với đường lối đối ngoại mà Việt Nam đã đề ra; đồng thời khẳng định giá trị của đối ngoại Việt Nam là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, hội nhập quốc tế, sẵn sàng tham gia đóng góp cho cộng đồng quốc tế cũng như giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu.

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế của Việt Nam cũng được thể hiện qua tư duy về lợi ích quốc gia - dân tộc. Kim chỉ nam cho tư duy và hành động của Việt Nam là trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời hài hòa với lợi ích của các đối tác, lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi” (11). Việc “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” không phải là xem nhẹ chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, càng không phải bỏ qua trách nhiệm quốc tế.

Cần xác định rõ rằng, ngày nay, mọi việc làm vì tiến bộ và phát triển chung của nhân loại đều là đưa nhân loại tiến gần hơn đến chủ nghĩa xã hội. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, đồng thời tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, mong muốn là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong quan hệ quốc tế vì độc lập, hòa bình và tiến bộ chính là làm tốt nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển” (12).

Trong môi trường quốc tế với sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cường quyền, Đảng ta đã khẳng định Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, mà thúc đẩy lợi ích trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Các nguyên tắc này bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; hợp tác bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Đó là những nguyên tắc phổ quát và tiến bộ mà toàn thể nhân loại đang nỗ lực gìn giữ và thực hiện.

Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy, đường lối đối ngoại nhất quán và những đóng góp chủ động, tích cực của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đã chứng minh tính đúng đắn của sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Tiến trình hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam trở thành một bộ phận gắn kết với thế giới. Thực tiễn những đóng góp của Việt Nam đã được bạn bè quốc tế ghi nhận, đất nước đạt được vị thế chưa từng có trên trường quốc tế. Từ chỗ bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị - ngoại giao, đến nay, cục diện đối ngoại Việt Nam được mở rộng với quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới của 15 hiệp định thương mại tự do (FTA) với khoảng 60 đối tác. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, 17/20 nước thuộc Nhóm 20 nền kinh tế lớn (G-20) và toàn bộ các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Thứ ba, tiếp tục phát huy giá trị chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Để đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Một là, cần nhận thức mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô sản một cách khách quan, khoa học để không rơi vào tư duy siêu hình. Một mặt, không rơi vào “chủ nghĩa quốc tế hư vô” mà quên đi một thực tế và cũng là quy luật rằng, giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo các đảng cộng sản cần phải gánh vác trách nhiệm giải phóng quốc gia - dân tộc của mình và xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên đất nước mình. Mặt khác, không rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vị kỷ, tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mà quên đi nghĩa vụ quốc tế.

Hai là, cần phân biệt rõ chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa quốc tế vô sản nếu được kết hợp với chủ nghĩa dân tộc chân chính sẽ tạo ra sức mạnh thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi nước trên thế giới.

Ba là, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi đặt lợi ích dân tộc lên trên hết nhưng lại tách rời Đảng Cộng sản Việt Nam với dân tộc, tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, có những quan điểm cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết; không có chủ nghĩa xã hội vẫn có độc lập dân tộc (?!). Đây là quan điểm hết sức sai lầm, phản động và tác động tiêu cực đến việc thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Bốn là, cần đấu tranh phản bác một số luận điểm xuyên tạc, sai trái rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì coi trọng hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia, dân tộc trong việc giải quyết một số vấn đề về biên giới lãnh thổ (?!). “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc” dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta khi mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới.

Tựu trung, mối quan hệ giữa quốc gia, dân tộc và quốc tế là mối quan hệ không thể tách rời. Do vậy, cần “luôn kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản” (13). Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sô-vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc hoặc chủ nghĩa bành trướng, bá quyền. Tất cả những khuynh hướng lệch lạc ấy có thể dẫn đến sự suy yếu, rạn vỡ, thậm chí là đổ vỡ của một quốc gia - dân tộc hay một nhà nước đa quốc gia, dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung... Bài học thành công của việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại của Đảng ta được thể hiện rõ trong kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Bài học đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cũng như trong một thế giới đang biến chuyển sâu sắc./.

Nhận diện thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động

 Các thế lực phản động chống đối trong và ngoài nước không ngừng gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, thông tin sai sự thật, suy diễn về mặt tư tưởng; bôi nhọ, xúc phạm, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước; kích động biểu tình, gây rối an ninh trật tự; sử dụng mạng xã hội để tác động tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân gây tâm lý hoang mang, làm giảm sút lòng tin đối với Đảng, chế độ và các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Các quan điểm sai trái, thù địch tập trung vào các nội dung sau: 

    - Phủ định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta; xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin; cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời. Phá hoại tư tưởng, tấn công chia rẽ nội bộ, xuyên tạc, bịa đặt, thông tin lợi dụng các vấn đề nhạy cảm chính trị xã hội, vụ việc phức tạp thu hút sự quan tâm của quần chúng, các tổ chức phản động kích động biểu tình, gây bất ổn về an ninh, trật tự, tìm thời cơ tiến hành “cách mạng đường phố” tại Việt Nam. hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng XHCN... Thủ đoạn chủ yếu là giả mạo, cắt xén, ngụy tạo bằng chứng để vu cáo; sử dụng thông tin cũ với những luận điệu mới; lợi dụng những vấn đề chính trị, thời sự để tung tin thất thiệt, tạo dư luận xấu; từ các vụ việc tiêu cực, tham nhũng để quy chụp do đường lối của Đảng, Nhà nước và chế độ. Các đối tượng đặt tên trang mạng, blog và đặt các tiêu đề, tên bài với ngôn từ giật gân, kích thích tính tò mò của người đọc, người xem, đăng tải tin, bài viết, video clip có nội dung phản động, thật giả lẫn lộn; làm giảm niềm tin, tạo sự nghi ngờ về phẩm chất, uy tín, năng lực của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhất là vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị của đất nước. 

Đáng chú ý là một số tổ chức phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng khoảng trống thông tin khi các cơ quan báo chí, truyền thông của ta chưa kịp đăng phát những thông tin chính thống thì chúng đã lồng ghép những thông tin giả xuyên tạc, bóp méo sự thật rồi tung lên không gian mạng rất sớm nhằm làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang trong dư luận (như: Việc một số cán bộ đi công tác nước ngoài trở về từ vùng dịch nhưng chưa tự giác cách ly theo quy định; việc để cho quan chức từ các nơi có nguy cơ nhiễm bệnh dịch cao trở về, di chuyển bình thường, mà không đặt dưới sự giám sát chặt chẽ về y tế...).  

 Lợi dụng vấn đề chống tham nhũng (nhất là sau khi ta xét xử một số vụ án tham nhũng, kinh tế) các đối tượng thù địch thông qua các trang mạng xã hội tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam. Chúng cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”. Những bài viết xuyên tạc, bịa đặt, dựng chuyện, biến việc xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên do tham nhũng thành tranh chấp quyền lực, phe phái trong Đảng, trong bộ máy nhà nước là một thủ đoạn cực kỳ trắng trợn, thâm độc của các phần tử cơ hội, thù địch... 

          Để truyền tải các nội dung phản động nói trên, các đối tượng phản động, chống đối đã dùng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, song chủ yếu là chúng lợi dụng công nghệ 4.0; mạng xã hội để tuyên truyền, thông tin xấu, độc. Cụ thể là: 

    Thứ nhất: Tạo lập các website, blog, facebook, fanpage giả mạo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, xuyên tạc về bản chất chế độ XHCN và kích động chống đối. Có thể kể đến các trang thông tin chống phá như: “Đại hội XIII”, “Dân làm báo”, “Dân luận”... thông tin theo kiểu “đánh lận con đen” nhằm làm rối nhiễu thông tin, phân tâm dư luận xã hội. Đó là một “đòn đánh” vào tâm lý người đọc rất tinh vi, thâm độc để lèo lái vào mục đích tuyên truyền lệch lạc, nguy hại. 

    Thứ hai: Tạo lập các trang giả mạo cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung khai thác tính lan tỏa, tương tác, chia sẻ, ẩn danh trên không gian mạng của website, trang thông tin điện tử, mạng xã hội để tán phát thông tin giả mạo, xấu độc, gắn với việc đưa thông tin bí mật đời tư, bí mật cá nhân của các đồng chí lãnh đạo cấp cao, sau đó đưa ra nhận xét, phân tích, bình luận nhạy cảm để tác động đến niềm tin của người đọc, từng bước phủ nhận, gây hoài nghi về lịch sử, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tinh thần độc lập, tự chủ. 

    Thứ ba: Khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 23/6


“Phải luôn luôn cảnh giác, chớ vì thắng lợi mà chủ quan, khinh địch” .
Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi bộ đội, đồng bào và cán bộ Tây Bắ!c, ngày 23 tháng 6 năm 1965. Đây là thời kỳ cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược ở miền Nam bước vào giai đoạn mới; quân và dân miền bắc quyết tâm đánh bại chiến dịch leo thang bắn phá miền Bắc bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.
Lời dạy của Bác đã khẳng định những thành tích xuất sắc của quân và dân ta nói chung, quân và dân Tây Bắc (Mộc Châu và Sơn La) nói riêng đã bắn rơi 09 máy bay Mỹ và bắt sống một số phi công. Đây là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần to lớn cho đồng bào cả nước có thêm quyết tâm và nghị lực đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trên mọi chiến trường; đồng thời, cũng là lời nhắc nhở, yêu cầu quân dân cả nước tiếp tục phát huy chiến công đã đạt được, phấn đấu thi đua đạt thành tích tốt hơn nữa trên tất cả các mặt công tác. Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, bộ đội cả nước phải thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, không chủ quan, khinh địch; chủ động đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù, thi đua lao động sản xuất, giết giặc lập công, góp phần kiến quốc và thống nhất nước nhà.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước bên cạnh những thuận lợi, vẫn tiềm ẩm nhiều nguy cơ, thách thức khó lường. Đảng ta vận dụng sâu sắc tư tưởng của Bác, chủ động có kế hoạch ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm từ xa…; quan tâm xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đồng thời, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước càng phải thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thường xuyên nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng; tuyệt đối không bị động, bất ngờ; ra sức học tập, huấn luyện, rèn luyện, sẵn sàng chiến đấu; vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa...
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
21
10 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

 Nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là khâu quan trọng, là tiền đề để nghị quyết được triển khai, trở thành hành động nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Chính vì thế, đổi mới, nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết là việc làm có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.

1- Nghị quyết của Đảng là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân; thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, được xây dựng trên cơ sở yêu cầu phát triển của cách mạng trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “cần nghiên cứu sâu để thấm nhuần tinh thần Nghị quyết; nghiên cứu càng sâu thì càng thêm phấn khởi, hoàn thành nhiệm vụ càng tốt. Nhưng cán bộ thấm nhuần chưa đủ. Phải làm cho tinh thần Nghị quyết thấm nhuần trong toàn Đảng, toàn dân, làm cho mọi người thấy hết thắng lợi, khả năng và khó khăn của ta, thấy rõ khả năng của ta to lớn hơn khó khăn nhiều, làm sao cho mọi người vui vẻ, hăng hái làm tròn nhiệm vụ, vì khi nhân dân vui vẻ, hăng hái thì mọi khó khăn sẽ vượt được”(1). Người cũng chỉ ra rằng khi đã có nghị quyết, phải lập tức đốc thúc thực hành nghị quyết ấy; phải nắm rõ tình hình sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân của từng địa phương; có như thế, mới kịp thời thấy rõ những khuyết điểm và những khó khăn để sửa đổi khuyết điểm và tìm ra cách vượt qua mọi khó khăn trong quá trình thực hiện nghị quyết.

Để nghị quyết đi vào cuộc sống một cách nhanh nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc “khai hội với các đảng viên, khai hội với dân chúng (hoặc binh sĩ), phái người đến báo cáo, giải thích.

- Các cấp dưới, đảng viên và dân chúng (hoặc binh sĩ) phải thảo luận những mệnh lệnh và nghị quyết đó cho rõ ràng, hiểu thấu ý nghĩa của nó và định cách thi hành cho đúng”(2). Tuy nhiên, Người cũng chỉ ra hiện tượng ở nhiều nơi, cán bộ lãnh đạo chỉ lo “khai hội” và “thảo nghị quyết”, “đánh điện và gửi chỉ thị”, nhưng không biết những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn, trở ngại gì, dân chúng có nhiệt tình tham gia hay không. Họ quên mất khâu vô cùng quan trọng là kiểm tra việc thực hiện. Chính vì thế, mặc dù “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” nhưng công việc vẫn không chạy. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo, “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(3).

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: “Thành công của Đại hội không phải là thông qua được Nghị quyết, bầu Ban Chấp hành mới, quan trọng hơn, sắp tới phải đưa Nghị quyết vào cuộc sống thế nào, biến nó thành hiện thực thế nào”(4).

Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới có nhiều biến đổi, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển nhanh và mạnh như vũ bão, tạo ra những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, thì đòi hỏi chúng ta càng phải nhanh nhạy bắt kịp xu thế thời đại, nắm bắt cơ hội phát triển, khắc phục kịp thời những khó khăn, khuyết điểm, hạn chế. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao, dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình, chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống, nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”(5). Muốn vậy, tinh thần, mục tiêu, Nghị quyết của Đại hội XIII phải được thấm sâu và nhanh chóng được hiện thực hóa trong mọi mặt đời sống của đất nước.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh tới yêu cầu cần tiếp tục đổi mới việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng; trong đó, phải đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm “khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại”; đưa việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược, đi vào nền nếp, nhất quán từ Trung ương đến cơ sở sao cho phù hợp với từng đối tượng; chú trọng chất lượng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm thiết thực, hiệu quả.

Với tinh thần đó, ngay sau Đại hội, các cấp ủy, tổ chức đảng đã tập trung làm tốt việc phổ biến, tuyên truyền sâu rộng nghị quyết trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; nghiên cứu, quán triệt sâu sắc nghị quyết và các văn kiện đại hội; khẩn trương xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch hành động; phát động phong trào thi đua yêu nước trên tinh thần đổi mới sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống.

2- Xác định nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là nhiệm vụ hàng đầu của công tác chính trị, tư tưởng; thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng đã nhanh chóng, kịp thời triển khai nghị quyết đến từng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, tạo nên những chuyển biến rõ rệt về chất và lượng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu.

Việc xây dựng kế hoạch, chuẩn bị tài liệu phục vụ tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết được triển khai một cách bài bản và khoa học(6). Cấp ủy các cấp bám sát quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của nghị quyết trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm, tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm tính khả thi, thiết thực, hiệu quả của chương trình, kế hoạch hành động. Công tác tổ chức hội nghị nghiên cứu, học tập, quản lý người học được chuẩn bị chu đáo, tổ chức chặt chẽ. Hình thức nghiên cứu, học tập được đổi mới, phù hợp với đặc điểm tình hình của từng địa phương, cơ sở, như học tập trực tuyến, thu âm, thu hình phát lại, tọa đàm chuyên đề cho cán bộ, đảng viên trao đổi, thảo luận nội dung nghị quyết, xây dựng chương trình hành động... Báo cáo viên hội nghị được cấp ủy các cấp chọn lọc kỹ lưỡng, có nhiều kinh nghiệm, am hiểu lý luận và thực tiễn, có phương pháp sư phạm, kỹ năng truyền đạt tốt. Cùng với đó, các cơ quan truyền thông, báo chí từ Trung ương đến địa phương cũng mở các chuyên trang, chuyên mục, thường xuyên đưa tin, đăng bài về những nội dung cơ bản, cốt lõi, những điểm mới của nghị quyết, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân có điều kiện tiếp cận nghiên cứu, học tập nghị quyết bằng nhiều cách thức, phương tiện.

Thông qua nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, các cấp ủy đã triển khai xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, thực hiện một cách hiệu quả các nhiệm vụ trọng yếu, những khâu đột phá, giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp bách tại cơ quan, đơn vị; đại đa số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động đã tiếp thu, nắm vững các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết thời gian qua vẫn còn một số hạn chế, yếu kém như: 1- Một số cấp ủy chưa nhận thức đúng về vị trí, tầm quan trọng của việc học tập nghị quyết, chưa thật sự quan tâm đến chất lượng, hiệu quả của việc nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng; 2- Công tác tổ chức học tập nghị quyết còn mang nặng tính khuôn mẫu, hình thức, chưa linh hoạt, sáng tạo; 3- Một số báo cáo viên còn chưa thực sự chuyên sâu trong truyền tải kiến thức, bài nói, bài viết chưa có sự điều chỉnh sao cho phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng, lĩnh vực, ngành, nghề; 4- Việc quán triệt nghị quyết chủ yếu mới dừng lại ở khâu báo cáo, ít thời gian tiến hành trao đổi, đặt ra các câu hỏi để thảo luận, tương tác, giải đáp thắc mắc; 5- Tinh thần, thái độ học tập của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thật sự nghiêm túc, vẫn còn tình trạng học đối phó cho xong, việc điểm danh tiến hành qua loa, chiếu lệ; 6- Cơ sở vật chất phục vụ cho học tập nghị quyết ở một số nơi còn khó khăn, thiếu thốn, chưa đáp ứng yêu cầu; 7- Công tác kiểm tra, đánh giá việc nghiên cứu, học tập, quán triệt ở một số nơi vẫn chưa được coi trọng đúng mức; 8- Hình thức nghiên cứu, học tập, quán triệt trực tuyến hiện đang phổ biến, nhưng cũng bộc lộ nhiều điểm yếu, như việc trao đổi, tương tác giữa báo cáo viên và đại biểu ở các điểm cầu ít, công tác kỹ thuật chưa bảo đảm, ảnh hưởng đến tín hiệu đường truyền (âm thanh kém, đường truyền bị đứt đoạn)...

Những hạn chế nêu trên đặt ra đòi hỏi cần tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao hơn nữa chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới nhằm bảo đảm chất lượng, hiệu quả học tập theo hướng thiết thực, dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hành; từ đó, tạo tiền đề thúc đẩy việc đưa nghị quyết vào cuộc sống, biến nghị quyết thành những thành tựu kinh tế - xã hội cụ thể, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

3- Trên tinh thần đó, để nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:

Một là, nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết từ cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đến các cán bộ, đảng viên. Chú trọng hơn nữa đến công tác tuyên truyền để mỗi cán bộ, đảng viên hiểu và xác định rõ việc học tập nghị quyết là nhu cầu tự thân, vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân. Đây được xem là giải pháp cơ bản, lâu dài góp phần khắc phục có hiệu quả biểu hiện “lười học” nghị quyết của Đảng, theo đúng tinh thần của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai nghị quyết. Sự lãnh đạo, chỉ đạo cần sát sao, quyết liệt, đồng bộ, có sự kiểm tra, đôn đốc thường xuyên; phát huy tinh thần chủ động, đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong việc xây dựng, thực hiện có hiệu quả các chương trình hành động nhằm cụ thể hóa nghị quyết. Nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, coi đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của tập thể và cá nhân người đứng đầu cấp ủy, địa phương, cơ quan, đơn vị.

Ba là, cân nhắc, lựa chọn hình thức lớp học phù hợp với từng đối tượng, đổi mới cách thức tổ chức lớp học, cách học với các hình thức đa dạng, như tổ chức hội nghị chung, lớp học chuyên đề; thông qua sinh hoạt chi bộ; qua việc tự nghiên cứu tài liệu; đảng viên thuộc lĩnh vực nào thì tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt sâu ở lĩnh vực đó.

Tiếp tục mở rộng việc tổ chức hội nghị trực tuyến nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, coi đây là hình thức cơ bản; phát triển ứng dụng công nghệ thông tin, nền tảng kỹ thuật số, đặc biệt là trong bối cảnh diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19. Đây là hình thức không chỉ mang tính thời sự cao, mà còn cho phép tổ chức với quy mô lớn, tiết kiệm thời gian và chi phí. Tuy nhiên, cần chú ý phân bổ thời gian cho việc trao đổi, giải đáp, tương tác giữa báo cáo viên và đại biểu ở các điểm cầu; đầu tư nâng cấp thiết bị, bảo đảm chất lượng đường truyền trong quá trình nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết. Tùy điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, cần linh hoạt kết hợp hình thức trực tuyến với nghiên cứu, học tập, quán triệt trực tiếp.

Bên cạnh việc tổ chức các lớp học, các cấp ủy cần quan tâm chú ý đến việc hướng dẫn tự nghiên cứu, tra cứu khai thác tài liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm cung cấp đầy đủ tài liệu cho cán bộ, đảng viên, phát huy tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tăng cường kiểm tra đánh giá nhận thức đối với cán bộ, đảng viên; chú trọng công tác sơ kết, tổng kết việc học tập, quán triệt, tuyên truyền nghị quyết của Đảng.

Bốn là, lựa chọn, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, trong sáng về đạo đức, lối sống; có trình độ chuyên sâu về lý luận chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu truyền đạt có hiệu quả nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt. Báo cáo viên ngoài việc làm rõ các quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được nêu trong nghị quyết, cần phải am hiểu sâu sắc, biết vận dụng một cách phù hợp nội dung của nghị quyết ở từng cấp, từng ngành, cơ quan, đơn vị; gia tăng tính đối thoại, thảo luận dân chủ đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng trong quá trình truyền đạt nghị quyết.

Năm là, nghiên cứu xây dựng các tài liệu theo hướng chuyên sâu, phù hợp với từng nhóm đối tượng, cấp phát tới từng chi bộ để cán bộ, đảng viên dễ dàng học tập, nghiên cứu và tuyên truyền. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, ứng dụng sách học tập nghị quyết điện tử, cập nhật kiến thức lý luận chính trị trên các báo, tạp chí lớn của Trung ương, qua internet, mạng xã hội, tạo điều kiện cho người học tiếp cận tài liệu nghiên cứu, học tập một cách thuận tiện, nhanh chóng, mọi lúc, mọi nơi.

Sáu là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, sinh động, sáng tạo, bằng nhiều phương tiện, như sử dụng các kênh thông tin đại chúng của Trung ương và địa phương (cổng thông tin điện tử, báo, tạp chí...), mạng xã hội, hoạt động sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội, các hội thi tìm hiểu, thi báo cáo viên giỏi... Trong quá trình tuyên truyền, cần chú ý nắm bắt, lắng nghe tâm tư, thắc mắc của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung nghị quyết để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, nâng cao hiệu quả định hướng, tạo sự đồng thuận trong nhận thức của toàn xã hội; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nghị quyết.

Bảy là, chú trọng xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Đảng một cách rõ ràng, thiết thực, khắc phục tối đa những hạn chế mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết còn hạn chế; năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp”(7). Cần bảo đảm tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện nghị quyết theo phương châm “kế hoạch 10 phần thì biện pháp phải 20 phần và quyết tâm 30 phần”(8), bởi những kết quả đạt được trên thực tế chính là thước đo chính xác nhất cho việc triển khai, đưa nghị quyết vào cuộc sống.

Tám là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng. Kết quả nghiên cứu, học tập và thực hiện chương trình hành động phải được coi là cơ sở quan trọng để kiểm điểm, đánh giá tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên hằng năm và cả nhiệm kỳ. Sau mỗi đợt nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần chú ý chỉ đạo thực hiện công tác sơ kết, rút kinh nghiệm; từ đó, đề ra biện pháp khắc phục triệt để “bệnh hình thức”, qua loa, đại khái; đồng thời, kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả của các tập thể, cá nhân.

Với vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị đất nước, các nghị quyết của Đảng khi được hiện thực hóa tạo ra sự chuyển biến căn bản của đất nước trong từng giai đoạn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết phải luôn được đổi mới để tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất trong ý chí và hành động; từ đó, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước ngày càng phát triển phồn vinh, hạnh phúc./.

HAI LẦN GẶP CHA Ở CHIẾN TRƯỜNG

Đồng Hới, tháng Tư, năm 1975. Chiếc MiG vừa hạ cánh chạy dúi dụi trong bụi mù mịt thì một chiếc xe com-măng-ca phủ đầy bụi chạy ngược lại cũng bỏ lại một đám bụi phía sau, hai đám bụi ấy hòa vào nhau trong mưa dầm làm đường băng chả còn nhìn thấy gì nữa. Vừa lúc ấy, lại một chiếc máy bay cánh quạt chui từ mây ra chạm đất, lại bụi nữa... Cảnh ấy gợi lên hình ảnh tấp nập của chiến trường ở đầu cầu hàng không của hậu phương miền Bắc với Đà Nẵng mới giải  phóng... Rồi từ đuôi chiếc máy bay vận tải, đoàn cán bộ lại rảo bước đến chiếc trực thăng Mi8 đang nổ máy chờ, bụi, bụi lại bốc lên...

Đại đội phó Đại đội 4, phi công Từ Đễ bước xuống thang máy bay MiG sau chuyến bay tuần tra gần Huế, mũ xách tay, mặt nạ dưỡng khí vắt vai, mồ hôi nhễ nhại lúi húi ký vào sổ nhật ký kỹ thuật của máy bay. Anh nói lớn do ù tai: "Lốp mòn rồi, mấy ông thay hộ ngay cho chuyến tiếp bảo vệ cho các cụ sắp bay vào". Vừa nói xong, anh quay ra toan đi vào thì gặp một người mặc quân phục không đeo quân hàm bước tới: "Ôi, bố! Sao bố lại biết con ở đây mà tìm?".

Cha Từ Đễ là ông Từ Giấy, một cán bộ Cục Quân nhu, tươi cười: "Bố đi đôn đốc hỗ trợ hậu cần cho mặt trận, các chú quân y, quân nhu, xăng dầu, vận tải cùng đi đang chờ ngoài kia. Bên quân chủng nói con trong này đang hỗ trợ cầu hàng không Đồng Hới nên bố vào thăm trước khi vào trong kia". Ông Từ Giấy lôi ra một gói quà nhỏ: "Cháu Thảo gửi cho con hình vẽ máy bay và nói: Ba Đễ bay như chim nhé, bao giờ ba về hái hồng xiêm cho con?". Từ Đễ mở gói quà nhỏ của con gái có bức tranh vẽ máy bay xanh đỏ và 10 quả hồng xiêm cảm động: "Chà, quà của hai mẹ con đây". Anh nhớ tới cây hồng xiêm bố trồng nhân dịp cháu nội ra đời nay đã bói quả, nhớ tới con gái nhỏ bé: "Bao giờ gặp lại con gái đây?". Hai cha con Từ Giấy-Từ Đễ cùng các chú cán bộ chạy ra căng-tin sân bay ăn bún Đồng Hới. "Cháu bảo đảm bún Đồng Hới toàn mùi tôm bé xíu - con ruốc đỏ au ngọt lừ", Từ Đễ khẳng định. Cậu lái xe chạy đi chặt cây ngụy trang cho xe nói to: "Cụ ông bắt ngụy trang cho đúng quy định. Ngụy nó chạy tám hoánh rồi còn đâu máy bay mà lo". Ông Từ Giấy nói vọng ra: "Cứ làm cho đúng, biết đâu thằng Mỹ nó quay trở lại rồi lại bị như hồi 72 ấy, cậu còn nhớ chứ?"...

Từ Đễ đưa một gói kẹo mè xửng: "Bố mang đi ăn đường cho ngọt xe, an toàn. Chắc con cũng vào theo mặt trận thôi". Hai bố con bắt tay nhau: "Nếu vào thì nhớ mang màn kẻo muỗi. Bố đi trước nhé, hồi năm 45, bố tới Ninh Thuận thì quay ra, kỳ này chắc vào tới Sài Gòn". Đúng là anh chưa hiểu hết bố mình, ông có một ước mơ từ thuở nhỏ là đi khắp đất nước chỉ để tìm cách nào đó cho con người đỡ khổ vì thiếu học, để họ biết sống khoa học và ăn sạch. Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã từng là hội viên hội nhà báo cứu quốc được lên chúc thọ cụ Hồ tròn 60 tuổi cùng với cụ Nguyễn Huy Tưởng, Tố Hữu. Rồi ông còn làm chủ bút báo Vui sống nổi tiếng với số phát hành trên ba vạn bản. Rồi ông tham gia bảo vệ sức khỏe cho bộ đội tại mặt trận Điện Biên, giặc Pháp hàng, ông lại đi tẩy rửa cánh đồng Mường Thanh... Anh không biết chuyện ông Từ Giấy mang về Cục Quân y một ba lô chiến lợi phẩm đặc biệt: Các thư từ của binh lính Pháp bỏ lại trong các hầm, bệnh xá dã chiến, hy vọng một ngày nào đó tìm gửi trả lại cho chủ nhân các bức thư đó! Rồi anh cũng không biết khi còn học tại Trường Chu Văn An ông đã từng là chủ bút một tờ báo "Văn", đỗ tú tài toán và ghi danh vào trường y... Cái đất học Thường Tín (có nhiều tiến sĩ được ghi danh tại Văn Miếu), là nơi gần như duy nhất tại Việt Nam có khu Văn chỉ (dạng văn miếu địa phương) đã nổi tiếng từ lâu ....

Mặt trận càng xa về phía Nam, Đại đội 4 lại rút về căn cứ đóng quân của Trung đoàn không quân 923. Ở đây, họ đã tính toán về khả năng vào Nam chi viện cho mặt trận, nhưng MiG 17 không thể tham gia vì cự ly hoạt động ngắn và công tác đảm bảo rất khó khăn. Hy vọng ta chiếm được máy bay A37 thì may ra... Thế rồi ngày 17-4-1975, có tin trên xuống: “Đã chiếm được sân bay Thành Sơn (Phan Rang). Bắt sống Tư lệnh Sư 6 Phạm Ngọc Sang!". Cả trung đoàn bàn tán xôn xao: "Mấy cha bộ binh giỏi thật, bắt hai con chuột to mà không vỡ  bình!". Anh đã chuẩn bị lên đường vì biết mình có khả năng làm những việc khó khăn nhất.

Thế rồi có lệnh cho đại đội lên máy bay vào Đà Nẵng. Khi ghé qua nhà tại phố Lý Nam Đế, anh gặp lại con gái bé nhỏ ríu rít bên chân khoe đôi giày đẹp - bé tý đã biết làm đẹp. Hôm sau, khi ra sân bay Gia Lâm bay vào Đà Nẵng, vợ anh đưa cho con gái một bông hoa loa kèn kêu mang đến tặng cho ba: "Ba đi nhớ con gái bên bông hoa loa kèn nhé, chóng về với con!".

Đại đội anh bay máy bay A37, di chuyển đi Phù Cát, Phan Rang và ngày 28-4-1975, bí mật ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, gây chấn động và đập tan ý chí của chính quyền ngụy, tiêu diệt lực lượng máy bay cuối cùng của không lực Sài Gòn. Cha anh lại từ Tây Nguyên tiến vào theo hướng Quân đoàn 3. Khi nghe tin anh đánh sân bay, cụ Đinh Đức Thiện sai liên lạc chạy đi các hướng tìm cho được ông Từ Giấy. Hai tiếng sau, ông Từ Giấy mới tới sở chỉ huy chỉ để nghe ông Thiện thông báo một câu: "Thằng Đễ vừa đánh sân bay Tân Sơn Nhất xong, nó về an toàn, chúc mừng hai bố con!". Ông Đinh Đức Thiện lại nói vui: "Thằng Đễ nhà anh cũng hay, khi chỉ huy mặt đất ngụy nó hỏi máy bay của phi đoàn nào thì nó trả lời dõng dạc: Máy bay A-mê-ri-cơn đây. Con giống cha quá!". Cha anh lặng đi vì tự hào về con. Ông lập tức điện ra Hà Nội, ra lệnh chuẩn bị vải may ngay lễ phục duyệt binh mừng chiến thắng! Cái cảm nhận chiến thắng sẽ đến ngay ngày mai chắc nó đã nằm đâu đó trong tim người lính già từ lâu lắm rồi.

Ngày 2-5-1975, anh cùng "Phi đội Quyết Thắng" bay vào căn cứ Biên Hòa, bố anh lại từ sân bay Tân Sơn Nhất chạy xe sang đón anh tại sân bay, y hệt như lần hai cha con gặp nhau tại Đồng Hới, chỉ khác là lần này ngập trong nắng vàng và niềm vui chiến thắng. Chả có từ ngữ nào diễn tả được niềm sung sướng của hai cha con giữa thành phố Sài Gòn vừa giải phóng. Ông Từ Giấy bảo: "Bố con ta cùng đi và bố con ta sẽ cùng trở về Hà Nội mãi mãi!".   



TỐ NGÂN - Báo QĐND

Phi công Từ Đễ (trái) và cha mình-GS Từ Giấy tại Sài Gòn sau ngày giải phóng. Ảnh do nhân vật cung cấp.

HÀNG CHỤC NGÀN NGƯỜI BIỂU TÌNH PHẢN ĐỐI NATO Ở "THỦ ĐÔ" CỦA EU!

Những người biểu tình tức giận trước việc chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cao và lên án sự can dự của khối quân sự NATO vào cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine.
Theo đài RT, một cuộc biểu tình lớn do công đoàn tổ chức, với sự tham gia của 70.000 đến 80.000 người, đã xảy ra trên nhiều đường phố ở Brussels, Bỉ vào ngày 20-6.
Bên cạnh sự tức giận trước việc chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cao, nhiều người biểu tình còn lên án liên minh quân sự NATO (Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương) do Mỹ dẫn đầu và sự can dự của khối này vào cuộc xung đột Nga-Ukraine.
“NATO hãy ngừng lại đi” - đoàn người biểu tình hô vang.
Theo những người biểu tình, tình hình kinh tế khó khăn ở thời điểm hiện tại là do các lệnh trừng phạt của EU (Liên minh châu Âu) nhắm vào Nga cũng như do việc NATO viện trợ vũ khí cho Ukraine./.
Yêu nước ST.