Trong lịch sử thế giới hiện đại, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế đều chi phối đến các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hai chủ nghĩa này đều có những sắc thái mới và tương tác biện chứng, tác động mạnh mẽ đến đời sống quốc tế và chính trị nội bộ các quốc gia, dân tộc. Do đó, nhận thức đúng đắn mối quan hệ này sẽ góp phần giúp các quốc gia, dân tộc vừa bảo đảm lợi ích của mình, đồng thời, đóng góp vào sự phát triển chung của toàn nhân loại.
Chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực
đoan - hai biểu hiện trái ngược nhau trong quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và
chủ nghĩa quốc tế
Chủ
nghĩa dân tộc (nationalism) không phải là một khái
niệm mới. Trong lịch sử loài người, chủ nghĩa dân tộc đã manh nha hình thành từ
khi các “dân tộc” ra đời. Chủ nghĩa dân tộc có thể được xem xét ở nhiều khía
cạnh, như một loại tình cảm dân tộc, một loại hình tư tưởng, một quá trình xây
dựng dân tộc, một hành động tập thể…
Chủ
nghĩa dân tộc với tư cách là tình cảm dân tộc, là
tình cảm trung thành, tình yêu, sự gắn bó với dân tộc mình. Tình cảm này được
hình thành nhờ những yếu tố chung như nguồn gốc và đặc điểm nhân chủng, lịch sử
chung, cùng khu vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo… Đó là những yếu tố
khiến các cá nhân cảm thấy giống nhau, gắn bó với nhau trong cộng đồng. Tình
cảm dân tộc có thể được nhận thấy thông qua quá trình cố kết dân tộc và quốc
gia thành những cộng đồng khác nhau, thông qua những mối quan hệ khác nhau giữa
người cùng dân tộc với người khác dân tộc và thông qua bản sắc dân tộc.
Chủ
nghĩa dân tộc với tư cách là một loại hình tư tưởng (một hệ tư tưởng hay ý thức
hệ), đó là những tư tưởng về quyền tự quyết, quyền tự trị,
quyền bảo vệ bản sắc và các giá trị riêng của mỗi dân tộc. Trên phương diện
quan hệ quốc tế, tư tưởng dân tộc được phản ánh trong tư tưởng lập quốc hay
khẳng định chủ quyền quốc gia, trong sự bảo đảm và phát triển lợi ích quốc gia.
Theo Từ điển Bách khoa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, chủ
nghĩa dân tộc là “hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm lý đòi hỏi quyền lợi
độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc” (1).
Chủ
nghĩa dân tộc với biểu hiện là một phong trào chính trị: John
Breuilly - giáo sư về chủ nghĩa dân tộc và dân tộc tại Trường Kinh tế London
(Anh) - cho rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là phong trào chính trị nhằm hướng đến
hoặc thực hiện quyền lực nhà nước và biện minh cho các hành động như vậy với
các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa” (2). Theo ông, các lý lẽ mang tính dân tộc chủ
nghĩa là học thuyết chính trị dựa trên ba khẳng định cơ bản: Một
là, sự tồn tại của dân tộc với đặc điểm rõ ràng và đặc biệt; hai
là, các quyền lợi và giá trị của dân tộc này được ưu tiên so với
các quyền lợi và giá trị khác; ba là, dân tộc phải độc
lập, điều này đòi hỏi ít nhất phải đạt được chủ quyền về chính trị.
Theo nghĩa này, chủ nghĩa dân tộc còn là quá
trình xây dựng hoặc tham gia các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó có
thể là quá trình thống nhất quốc gia gắn liền với tên tuổi của các nhân vật
lịch sử; hoặc quá trình tái thống nhất đất nước sau chiến tranh; hay các phong
trào giành độc lập của các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế
quốc, chủ nghĩa thực dân.
Chủ
nghĩa dân tộc với đặc điểm là một hiện tượng văn hóa - xã hội, là sự
tích hợp của những thần thoại và biểu tượng truyền thống. Dưới góc nhìn văn
hóa, Anthony D. Smith - nhà xã hội học lịch sử người Anh - nhận xét, chủ nghĩa
dân tộc là loại hình của văn hóa, gồm tư tưởng, ngôn ngữ, huyền thoại, biểu
tượng, ý thức trong sự tương liên với toàn cầu (3). Ở khía cạnh này, S. Kramer (4) khẳng định, mặc dù
chủ nghĩa dân tộc có nguồn gốc từ các cuộc cách mạng chính trị nhưng nền tảng
cơ bản vẫn là văn hóa. Ông lập luận rằng, chủ nghĩa dân tộc với ý tưởng là các
quốc gia nên đại diện cho các dân tộc thống nhất về văn hóa; và chủ nghĩa dân
tộc là một lực lượng văn hóa nói lên khát vọng sâu sắc của con người nhằm kết
nối với bên ngoài.
Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa của các
học giả trong nước và quốc tế về chủ nghĩa dân tộc, có thể nhận định, chủ
nghĩa dân tộc (nationalism) là một thứ tình cảm, một loại hình tư tưởng, một
phong trào thực tiễn hay một hiện tượng văn hóa liên quan đến sự sinh tồn, phát
triển và quyền lợi của dân tộc, được tạo ra trên cơ sở tình yêu, lòng trung
thành và sự quan tâm sâu sắc của các thành viên đối với lợi ích dân tộc mình.
Một
khái niệm liên quan đến chủ nghĩa dân tộc là Chủ nghĩa quốc tế (internationalism). Khái
niệm này để chỉ mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc. Chủ nghĩa quốc tế ra
đời khi chủ nghĩa tư bản hình thành, cùng với sự phát triển của lực lượng sản
xuất có trình độ xã hội hóa cao theo xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Chính
nền sản xuất đại công nghiệp đã tạo ra một nền sản xuất, trao đổi và tiêu dùng
mang tính quy mô toàn cầu. Điều này phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách giữa các quốc
gia, tạo nên một thị trường thế giới thống nhất, khiến các quốc gia phụ thuộc
lẫn nhau, thúc đẩy sự liên kết. Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các quốc gia còn
xuất phát từ những vấn đề mà từng quốc gia, dân tộc riêng lẻ không thể tự giải
quyết được, đòi hỏi sự chung tay của cộng đồng quốc tế, như bảo vệ môi trường,
xóa đói, giảm nghèo, chống bất bình đẳng giới…
Biểu
hiện cho mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế được thể hiện
qua hai dạng thức của chủ nghĩa dân tộc, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính và
chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Chủ
nghĩa dân tộc chân chính xuất phát từ tình cảm, lòng trung thành đối với đất
nước nhưng không vì thế mà xem dân tộc mình ưu việt hơn dân tộc khác, do đó chủ
nghĩa dân tộc chân chính biểu hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Chủ nghĩa
dân tộc chân chính là nền tảng, động lực cho tự do, độc lập, quyền tự quyết và
phẩm giá của các dân tộc trước những áp bức, thống trị và bất công; là
cơ sở để xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc.
Trong
khi đó, chủ nghĩa dân tộc cực đoan “là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa
giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thống
giá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân tộc mình cao hơn
tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác” (5). Chính vì thế, chủ nghĩa dân tộc
cực đoan dễ dẫn đến xu hướng biệt lập, cục bộ, vị kỷ, chống lại xu hướng hợp
tác, liên kết và hội nhập quốc tế, thậm chí có thể thúc đẩy xu hướng chiến
tranh, xâm lược. Do đó, nó làm cản trở sự giao thoa và hợp tác quốc
tế, làm suy giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia.
Biểu hiện của mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân
tộc và chủ nghĩa quốc tế hiện nay
Mối
quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế không đơn giản là mối quan
hệ có hai chiều đối lập, mà còn là mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau,
được thể hiện ở các xu hướng:
Một là, xu hướng bành trướng của chủ nghĩa
dân tộc cực đoan nước lớn dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc.
Chủ
nghĩa dân tộc cực đoan luôn có xu hướng bành trướng dẫn đến quá trình quốc tế
hóa một cách ép buộc, thông qua quá trình xâm lược thuộc địa, xâm lăng về kinh
tế, chính trị, văn hóa. Với tư tưởng phân biệt giữa một dân tộc “ưu tú, vĩ đại,
khuôn mẫu” với các quốc gia - dân tộc khác “man di, mọi rợ, lạc hậu, cần được
khai hóa, đô hộ”, thậm chí phải bị tiêu diệt..., quá trình quốc tế hóa này đã
tạo ra một sự liên kết giữa quốc gia một cách không tự nguyện mà chỉ xuất phát
từ phía chủ quan của quốc gia bá quyền. Trong lịch sử hiện đại, các nước thực
dân, đế quốc với những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa trên danh nghĩa
“khai hóa văn minh” chính là biểu hiện của xu hướng này. Ngược lại với chủ
nghĩa đế quốc, quốc tế hóa chủ nghĩa cộng sản về mặt lý thuyết dựa trên cơ sở
tự nguyện giữa các quốc gia, dân tộc.
Hiện
nay, biểu hiện của xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan là chủ
nghĩa sô-vanh, chủ nghĩa bá quyền.
Về chính trị, các
nước lớn tìm cách áp đặt luật lệ lên các nước nhỏ, bỏ qua luật pháp quốc tế
hoặc tạo ra một luật chơi riêng có lợi cho mình. Các nước lớn ràng buộc các
nước nhỏ bằng những hiệp định song phương, can thiệp để thay đổi thể chế, thậm
chí nếu cần sẽ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Về kinh tế, các
nước lớn muốn thông qua “sự lệ thuộc” về kinh tế để áp đặt về chính trị. Trong
cuốn “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế” (xuất bản năm 2004), John Perkins đã
chỉ ra, Mỹ tìm cách xây dựng một đế chế của riêng mình nhằm đưa các nước đang
phát triển và kém phát triển vào vòng xoáy nợ nần để đặt ra những yêu cầu về
kinh tế, chính trị ràng buộc và có lợi cho Mỹ. Bên cạnh đó, các nước lớn còn có
thể tự đặt ra những luật chơi kinh tế chung cho toàn cầu.
Về văn hóa - xã hội, các
nước lớn tìm cách áp đặt hệ giá trị, tư tưởng đối với các nước nghèo và đang
phát triển nhằm tạo ra một “chuẩn mực chung” cho thế giới. Một khối lượng lớn
các sản phẩm văn hóa từ các nước phát triển du nhập vào các nước đang phát
triển. Thực tế cho thấy, văn hóa, lối sống của Mỹ và các nước phương Tây đang
lan tràn ở nhiều nước.
Hội
nhập quốc tế là do sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, thể hiện
mối liên hệ giữa các quốc gia. Rõ ràng, trong quá trình toàn cầu hóa, các nước
mạnh với những lợi thế của mình sẽ có ảnh hưởng lớn đến phần còn lại của thế
giới, thông qua đó truyền bá các “giá trị” của nước mình và chủ nghĩa tự do
nhằm duy trì ưu thế quân sự và thúc đẩy lợi ích kinh tế. Như vậy, có thể thấy,
chủ nghĩa quốc tế đang bị lợi dụng nhằm phục vụ cho những mưu tính của chủ nghĩa
quốc gia - dân tộc cực đoan.
Tất
nhiên, cũng cần nhìn nhận xu hướng này trong tính hai mặt của nó. Đó là khi các
nước lớn mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trong quá trình toàn cầu hóa, vừa tạo
ra thách thức nhưng cũng là cơ hội để các nước đang và kém phát triển có thể
tận dụng để vươn lên. Tiếp thu các thành tựu khoa học - công nghệ cũng như các
giá trị văn hóa tiên tiến… là một trong những mặt tích cực mà các nước đang và
kém phát triển cần nắm bắt trong xu thế khách quan này.
Hai là, chủ nghĩa dân tộc nước nhỏ chống lại
xu hướng quốc tế hóa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn.
Xu
hướng này có nguồn gốc từ chủ nghĩa quốc gia - dân tộc nhằm bảo vệ quyền sinh
tồn, phát triển như một thực thể chính trị độc lập và chống lại xu hướng “quốc
tế hóa” của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Với tư tưởng các dân tộc dù lớn hay
nhỏ, dù phát triển hay kém phát triển… đều có quyền bình đẳng, mục tiêu của xu
hướng này là bảo vệ lãnh thổ, không gian sinh tồn, bảo vệ tộc người - nòi
giống, bảo vệ độc lập, tự do và quyền được phát triển, bảo vệ bản sắc…
Hiện
nay, biểu hiện của xu hướng này chính là chống xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến
chủ nghĩa dân tộc kinh tế. Bởi toàn cầu hóa không chỉ mang lại những tác động
tích cực mà còn có cả những tác động tiêu cực. Toàn cầu hóa đang đặt các nước
đang và kém phát triển trước những thách thức lớn; làm trầm trọng thêm bất công
xã hội, tăng khoảng cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước với nhau.
Chính các mặt tiêu cực này đã khiến chủ nghĩa dân tộc kinh tế ở cả các nước
đang và kém phát triển trỗi dậy.
Bên
cạnh đó, theo nhiều quan điểm, toàn cầu hóa còn được xem là quá trình phương
Tây hóa mà cốt lõi là “Mỹ hóa” về mặt văn hóa, trong đó lối sống phương Tây
được truyền bá và thực hiện một cách phổ biến. Điều này khiến các phương thức
sống khác cùng với hệ thống các giá trị và hình mẫu văn hóa khác, đặc biệt là
bản sắc văn hóa dân tộc, đứng trước nguy cơ bị xói mòn, hòa tan. Điều này tất
yếu dẫn đến chủ nghĩa dân tộc văn hóa của các nước nhỏ cần tìm cách bảo vệ bản
sắc dân tộc mình trước làn sóng “xâm lăng” của văn hóa phương Tây.
Ba là, xu hướng chủ nghĩa dân tộc nước lớn
chống lại xu thế quốc tế.
Thực
tế chính trị trong một thế giới toàn cầu hóa cho thấy, một đảng phái hay chính
quyền nào đó sẽ nhận được sự tín nhiệm cao của người dân nếu nhận thức đầy đủ,
toàn diện vấn đề chủ nghĩa dân tộc trong đường lối, chính sách. Có những quốc
gia sử dụng chủ nghĩa dân tộc như một “lá bài” để đạt được lợi ích thông qua
hành vi đề cao lợi ích quốc gia, chỉ quan tâm đến quyền lợi của quốc gia, dân
tộc mà không quan tâm, thậm chí làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của các quốc
gia khác. Từ đó, chối bỏ trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cộng đồng quốc tế,
không gắn lợi ích dân tộc với quốc tế. Có thể thấy, do đặt lợi ích nước Mỹ lên
trên hết, nên chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump theo đường lối thực
dụng, đặc biệt về kinh tế, đã hạn chế quan tâm đến các vấn đề toàn cầu. Do vậy,
trong giai đoạn Tổng thống Donald Trump cầm quyền, ông đã có những quyết định
rút Mỹ khỏi một số tổ chức quốc tế cũng như các hiệp ước quốc tế, như Hiệp định
Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA),
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Nhân
quyền Liên hợp quốc…
Xu
hướng này còn biểu hiện ở tư tưởng “phản toàn cầu hóa”, theo đuổi chủ nghĩa bảo
hộ. Thực tế, không riêng Mỹ, chủ nghĩa bảo hộ đã trở thành xu hướng trên toàn
cầu kể từ năm 2008, khi các quốc gia sử dụng các chính sách mới nhằm hỗ trợ
hoạt động của doanh nghiệp nội địa trước sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước
ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau (áp dụng hạn ngạch, nâng thuế nhập khẩu,
gia tăng các yêu cầu kỹ thuật…). Theo Tổ chức Cảnh báo thương mại toàn cầu
(GTA), thương mại toàn cầu đang nghiêng theo xu hướng bảo hộ. Chỉ số đo lường
tác động của chính sách bảo hộ thương mại tại mỗi quốc gia đều dương trong giai
đoạn từ năm 2009 tới tháng 8-2018. Con số không ngừng gia tăng cho thấy chủ
nghĩa bảo hộ đang lan rộng (6).
Ngoài
ra, xu hướng này còn thể hiện ở tư tưởng bài ngoại, chống nhập cư. Hàng loạt
đảng phái, phong trào nổi lên gần đây ở châu Âu cho thấy rõ điều này. Như vậy,
chính chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã dẫn đến việc không thể giải quyết hài hòa
mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế. Do vậy, các quốc gia
hiện nay cần hướng đến chủ nghĩa dân tộc chân chính thiết lập nên chủ nghĩa
quốc tế trên cơ sở của thế giới quan hiện đại: hòa bình, hữu nghị, dựa trên
luật lệ, tôn trọng quyền tự quyết, độc lập và hội nhập quốc tế để cùng phát
triển. Chủ nghĩa quốc tế dựa trên chủ nghĩa dân tộc chân chính chính là giải
quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của quốc gia trong mối quan hệ với lợi
ích của các quốc gia khác trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; luật pháp
quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế mà không làm tổn hại đến lợi ích của các
quốc gia - dân tộc khác.
Giải quyết mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc
và chủ nghĩa quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Trong
thời đại Hồ Chí Minh, sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và
chủ nghĩa quốc tế trong sáng chính là bài học thành công của cách mạng Việt Nam
trong các thời kỳ lịch sử.
Thứ nhất, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc
và quốc tế.
Cùng
với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ mối quan hệ giữa cách mạng
Việt Nam và cách mạng quốc tế. Tinh thần quốc tế trong sáng của Người thể hiện
ở sự kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với
nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn
kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ
Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít
với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ
hòa bình thế giới” (7). Qua đó, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi
đến thắng lợi.
Thứ hai, kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa chủ
nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế trong đường lối đối ngoại của Việt Nam.
Điều
này được thể hiện rõ nhất qua đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới, đó là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” (8); “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn
diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực,
có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (9).
Đại
hội XIII của Đảng (năm 2021) đã làm rõ mối quan hệ mật thiết và biện chứng giữa
độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. Đại hội XIII
đề ra phương châm: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích
cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (10). Đây là phương châm phù hợp với đường lối đối
ngoại mà Việt Nam đã đề ra; đồng thời khẳng định giá trị của đối ngoại Việt Nam
là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, thể hiện quyết tâm của Việt Nam
trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, hội nhập quốc tế, sẵn
sàng tham gia đóng góp cho cộng đồng quốc tế cũng như giải quyết các vấn đề khu
vực và toàn cầu.
Mối
quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế của Việt Nam cũng được thể
hiện qua tư duy về lợi ích quốc gia - dân tộc. Kim chỉ nam cho tư duy và hành
động của Việt Nam là trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời
hài hòa với lợi ích của các đối tác, lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Đại
hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc
trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và
luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi” (11). Việc “bảo đảm cao nhất
lợi ích quốc gia - dân tộc” không phải là xem nhẹ chủ nghĩa quốc tế của giai
cấp công nhân, càng không phải bỏ qua trách nhiệm quốc tế.
Cần
xác định rõ rằng, ngày nay, mọi việc làm vì tiến bộ và phát triển chung của
nhân loại đều là đưa nhân loại tiến gần hơn đến chủ nghĩa xã hội. Đặt lợi ích
quốc gia, dân tộc lên trên hết, đồng thời tích cực, chủ động hội nhập quốc tế,
mong muốn là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong quan hệ quốc
tế vì độc lập, hòa bình và tiến bộ chính là làm tốt nghĩa vụ quốc tế của Việt
Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng
sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những
mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm
quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập,
tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển” (12).
Trong
môi trường quốc tế với sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cường quyền,
Đảng ta đã khẳng định Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, mà
thúc đẩy lợi ích trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc
và luật pháp quốc tế. Các nguyên tắc này bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử
dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; hợp tác bình đẳng
và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
Đó là những nguyên tắc phổ quát và tiến bộ mà toàn thể nhân loại đang nỗ lực
gìn giữ và thực hiện.
Thực
tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy, đường lối đối ngoại nhất quán và những đóng
góp chủ động, tích cực của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đã chứng minh
tính đúng đắn của sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa
quốc tế trong sáng. Tiến trình hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam trở thành một
bộ phận gắn kết với thế giới. Thực tiễn những đóng góp của Việt Nam đã được bạn
bè quốc tế ghi nhận, đất nước đạt được vị thế chưa từng có trên trường quốc tế.
Từ chỗ bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị - ngoại giao, đến
nay, cục diện đối ngoại Việt Nam được mở rộng với quan hệ kinh tế, thương mại,
đầu tư với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã trở thành một mắt xích quan
trọng trong mạng lưới của 15 hiệp định thương mại tự do (FTA) với khoảng 60 đối
tác. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 30 nước,
trong đó có tất cả các nước lớn, 17/20 nước thuộc Nhóm 20 nền kinh tế lớn
(G-20) và toàn bộ các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Thứ ba, tiếp tục phát huy giá trị chủ nghĩa
dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Để
đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa chủ
nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo đảm sự thắng lợi của
chủ nghĩa xã hội, cần lưu ý một số vấn đề sau:
Một là, cần nhận thức mối
quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô sản một cách khách quan,
khoa học để không rơi vào tư duy siêu hình. Một mặt, không rơi
vào “chủ nghĩa quốc tế hư vô” mà quên đi một thực tế và cũng là
quy luật rằng, giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo các đảng cộng sản cần phải
gánh vác trách nhiệm giải phóng quốc gia - dân tộc của mình và xây dựng thành
công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên đất nước mình. Mặt
khác, không rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vị kỷ, tuyệt đối
hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mà quên đi nghĩa vụ quốc tế.
Hai là, cần phân biệt rõ
chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa quốc tế
vô sản nếu được kết hợp với chủ nghĩa dân tộc chân chính sẽ tạo ra sức mạnh
thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi nước trên thế giới.
Ba là, kiên quyết đấu
tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi đặt lợi ích dân tộc lên trên hết
nhưng lại tách rời Đảng Cộng sản Việt Nam với dân tộc, tách rời mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, có những quan điểm cho rằng, lực
lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết;
không có chủ nghĩa xã hội vẫn có độc lập dân tộc (?!). Đây là quan điểm hết sức
sai lầm, phản động và tác động tiêu cực đến việc thực hiện chủ nghĩa quốc tế
của giai cấp công nhân.
Bốn là, cần đấu tranh phản
bác một số luận điểm xuyên tạc, sai trái rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì coi
trọng hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia, dân tộc trong việc giải quyết
một số vấn đề về biên giới lãnh thổ (?!). “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia
dân tộc” dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi luôn là tư
tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta khi mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả
các nước trên thế giới.
Tựu
trung, mối quan hệ giữa quốc gia, dân tộc và quốc tế là mối quan hệ không thể
tách rời. Do vậy, cần “luôn kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính và
chủ nghĩa quốc tế vô sản” (13). Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và
tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp
hòi, chủ nghĩa sô-vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc hoặc chủ nghĩa bành trướng,
bá quyền. Tất cả những khuynh hướng lệch lạc ấy có thể dẫn đến sự suy yếu, rạn
vỡ, thậm chí là đổ vỡ của một quốc gia - dân tộc hay một nhà nước đa quốc gia,
dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung... Bài học
thành công của việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại của Đảng ta
được thể hiện rõ trong kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ
nghĩa quốc tế trong sáng. Bài học đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong
kỷ nguyên của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cũng như trong một thế giới
đang biến chuyển sâu sắc./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét