Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022

PHÁT HUY VAI TRÒ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG ĐỂ THỰC HIỆN TỐT NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ.


Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên đã góp phần thống nhất về nhận thức, tư tưởng chính trị và hành động trong Đảng và xã hội, tạo động lực thúc đẩy cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2020-2025
ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC TRONG HOẠT ĐỘNG TUYÊN GIÁO
Trong 6 tháng đầu năm 2022, công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên đạt được kết quả đáng ghi nhận, góp phần vào kết quả chung tích cực của ngành Tuyên giáo. Công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên đã được thực hiện chủ động, tích cực, có hiệu quả trong tham mưu định hướng tuyên truyền sâu rộng việc học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; các chỉ thị, nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương khóa XIII, các bài phát biểu chỉ đạo quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư, các ngày lễ lớn của Đảng, của dân tộc, các sự kiện quan trọng trong nước và quốc tế. Song song với đó, tuyên truyền các kết quả phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; công tác phòng, chống đại dịch COVID-19. Trong bối cảnh đó, các hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi khu vực và chung khảo toàn quốc đã được tổ chức thành công, góp phần nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ tuyên truyền miệng. Việc triển khai thực hiện chất lượng, hiệu quả các hội thi thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn, ý thức trách nhiệm cao của các cấp ủy đảng, ban tuyên giáo các cấp trên phạm vi cả nước trong công tác tuyên truyền, quán triệt, nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 vào cuộc sống.
Công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên được nâng cao chất lượng nội dung và đổi mới hình thức cung cấp thông tin phục vụ công tác tuyên truyền miệng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đội ngũ báo cáo viên các cấp. Các hội nghị báo cáo viên do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức cơ bản đáp ứng tốt 3 tiêu chí: 1) Nội dung thiết thực, kịp thời và phù hợp với đối tượng người nghe; 2) Bảo đảm sự cân đối giữa nội dung cơ bản và nội dung mang tính thời sự; 3) Nội dung rõ tính định hướng. Những đồng chí báo cáo viên tại các hội nghị đều là những đồng chí lãnh đạo chủ chốt, chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực. Việc xây dựng các nội dung thông tin chuyên đề và hình thức tổ chức hội nghị báo cáo viên đều linh hoạt, phù hợp và có chất lượng.
Đối với các hội nghị báo cáo viên Trung ương được tổ chức trực tuyến, ban tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy thường xuyên, nghiêm túc tổ chức việc tiếp sóng đến các điểm cầu của tỉnh. Nhiều tỉnh, thành thường xuyên mở điểm cầu đến cấp huyện, cấp xã với số lượng điểm cầu lớn, số đại biểu tham dự đông đủ.
Các bản tin Thông tin công tác tuyên giáo, Thông tin nội bộ, Thông tin sinh hoạt chi bộ do ban tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chủ động biên soạn có ý nghĩa rất quan trọng đối với đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên tại địa phương, đơn vị. Các bản tin này đã có sự thay đổi, theo hướng ngày càng hiện đại, phù hợp với phong cách báo chí chuyên nghiệp nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn đội ngũ báo cáo viên. Các tài liệu bằng nhiều thứ tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số do các địa phương phát hành đã trực tiếp tiếp cận, định hướng tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Nhằm đa dạng hóa nguồn thông tin và đưa thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn nữa tới đội ngũ báo cáo viên, từ tháng 9/2021, Ứng dụng “Thông tin tuyên giáo” trên điện thoại di động do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp Thông tấn xã Việt Nam được đưa vào sử dụng.
Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên đã góp phần thống nhất về nhận thức, tư tưởng chính trị và hành động trong Đảng và xã hội, tạo động lực thúc đẩy cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2020-2025.
NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ
Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên vẫn còn tồn tại một số hạn chế.
Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, trong công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên vẫn còn tồn tại hiện tượng một số cấp ủy vẫn chưa thật sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền miệng, coi tuyên truyền miệng là nhiệm vụ của ngành Tuyên giáo và cá nhân báo cáo viên hoặc đánh giá chưa đầy đủ về hiệu quả của tuyên truyền miệng so với các phương thức tuyên truyền khác. Một số địa phương, đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc Quy chế cung cấp thông tin phục vụ công tác tuyên truyền miệng của Đảng cũng như Quyết định 238-QĐ/TW về “Quy chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo các cấp với cơ quan nhà nước cùng cấp trong việc thực thi pháp luật, triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết các vấn đề nổi cộm, nhân dân quan tâm. Một số đồng chí đứng đầu cấp ủy chưa nhiệt tình trực tiếp thực hiện nhiệm vụ báo cáo viên. Bên cạnh đó, còn hiện tượng cán bộ tham mưu về công tác tuyên truyền miệng chưa thật tích cực, chủ động.
Về việc cung cấp, xử lý thông tin, một số nội dung chuyên đề tại Hội nghị Báo cáo viên hoặc các Bản tin chưa thật sự đảm bảo tính thời sự, hấp dẫn và chất lượng còn hạn chế. Chất lượng trình bày chuyên đề ở một số Hội nghị Báo cáo viên các cấp chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu; chưa thực hiện tốt nội dung đối thoại, ở cả hai phía người trình bày và người nghe. Bên cạnh đó, có trường hợp báo cáo viên còn có biểu hiện né tránh những vấn đề bức xúc mà dư luận quan tâm. Việc phản bác các thông tin sai trái, thù địch còn nặng về lý luận, chưa có tính thuyết phục cao. Nguồn tài liệu phục vụ đội ngũ báo cáo viên còn hạn chế. Nhiều trường hợp thông tin chính thống, thông tin định hướng nhất là trước các vấn đề lớn, phức tạp, nhạy cảm chưa được cung cấp kịp thời cho đội ngũ báo cáo viên. Đồng thời, có hiện tượng báo cáo viên không dành nhiều thời gian để đọc, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin để phục vụ công tác tuyên truyền miệng.
Về cơ cấu, chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, vẫn còn tình trạng đội ngũ báo cáo viên đông nhưng chưa mạnh, còn lúng túng trong công tác tham mưu, bị động khi xử lý tình huống, nhất là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm mới phát sinh. Chất lượng đội ngũ báo cáo viên các cấp còn có sự chênh lệch đáng kể. Nhiều tuyên truyền viên cơ sở chưa được thật vững vàng về kỹ năng nghiệp vụ công tác tuyên truyền miệng. Một số cơ quan, địa phương khi xây dựng, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên chưa thật sự hợp lý; chưa ưu tiên những người trực tiếp, thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền miệng; chưa kiện toàn đầy đủ số lượng báo cáo viên theo chỉ tiêu phân bổ.

TIẾP TỤC NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA CÁC CẤP ỦY ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG


Để phát huy vai trò công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, trong thời gian tới, cần tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, nhất là đồng chí bí thư, người đứng đầu cơ quan, đơn vị; của mỗi cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng. Thực tiễn trong những năm qua và kết quả Hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 cho thấy, nơi nào, cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị nhận thức đầy đủ vị trí, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng, từ đó có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư nhân lực, cơ sở vật chất cho công tác tuyên truyền miệng thì ở đó, chất lượng công tác này được nâng cao rõ rệt.
Thứ hai, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên của Đảng trong năm 2022.
Ban Tuyên giáo các cấp tiếp tục tham mưu cấp ủy phổ biến, tuyên truyền kết quả Hội thi Chung khảo toàn quốc Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025; gắn các nội dung cơ bản, quan trọng của nghị quyết đại hội đảng các cấp do các báo cáo viên là thí sinh dự thi lựa chọn với các nội dung tuyên truyền khác để tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trên thực tế.
Thứ ba, nâng cao chất lượng nội dung và đổi mới, hiện đại hóa các hình thức cung cấp thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đội ngũ báo cáo viên các cấp, tuyên truyền viên cơ sở; góp phần đẩy mạnh hiệu quả các hoạt động tuyên truyền miệng; giải quyết tốt kiến nghị của các địa phương, đơn vị về việc cung cấp thông tin.
Tập trung nâng cao chất lượng thông tin tuyên truyền theo hướng cân đối giữa nội dung cơ bản, quan trọng trong năm 2022 với các nội dung có tính thời sự, “nóng”, “nhạy cảm”, những vấn đề được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân, dư luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Lựa chọn, xây dựng nội dung các chuyên đề chuyên sâu phù hợp với mục đích của hoạt động tuyên truyền và nhu cầu của người nghe.
Đẩy mạnh hơn nữa việc trao đổi, đối thoại hai chiều trong các hoạt động tuyên truyền miệng. Thực hiện nghiêm túc việc nắm bắt, tổng hợp tình hình tư tưởng, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên để kịp thời phản ánh và đề xuất giải pháp với cấp ủy các cấp.
Tiếp tục cung cấp thông tin nhanh chóng, hiệu quả cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên bằng nhiều hình thức truyền thống (Hội nghị báo cáo viên, các bản tin…) và hiện đại (Ứng dụng Thông tin Tuyên giáo, Trang tin điện tử tổng hợp “baocaovien.vn”…). Tập trung nâng cao chất lượng và đánh giá đầy đủ hiệu quả, tác động của các phương thức cung cấp thông tin mới.
Căn cứ việc Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội nghị báo cáo viên theo hình thức trực tiếp hay trực tuyến, ban tuyên giáo các tỉnh thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương căn cứ theo điều kiện cụ thể của địa phương mình để tổ chức hội nghị báo cáo viên của tỉnh, huyện, không nhất thiết hội nghị nào cũng kết nối đường truyền trực tuyến từ hội nghị Báo cáo viên Trung ương tới cấp cơ sở, chú trọng gắn việc quán triệt nghị quyết, thông tin thời sự… gắn với địa phương, đơn vị, tránh bỏ qua các khâu nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Thứ tư, tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa cho đội ngũ báo cáo viên các cấp, tuyên truyền viên cơ sở; rà soát, củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng của đội ngũ đáp ứng yêu cầu của công tác tuyên truyền miệng trong bối cảnh tình hình năm 2022 còn nhiều khó khăn, thử thách.
Về đội ngũ báo cáo viên các cấp, căn cứ các văn bản hướng dẫn của Trung ương, ban tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương tham mưu với cấp ủy chỉ đạo lựa chọn, xây dựng, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên bảo đảm đúng số lượng, tiêu chuẩn, có năng lực và trình độ chuyên môn và hoạt động phải hiệu quả. Ưu tiên những đồng chí có năng khiếu, có điều kiện để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền miệng. Tránh tình trạng xây dựng, kiện toàn đội ngũ mang tính cơ cấu, hoạt động không hiệu quả.
Thống nhất thành lập đội ngũ báo cáo viên 3 cấp: Báo cáo viên Trung ương, báo cáo viên cấp tỉnh, báo cáo viên cấp huyện (một số báo cáo viên cấp huyện công tác ở xã, làm nhiệm vụ tuyên truyền miệng ở xã) theo đúng Hướng dẫn 31 ngày 30/12/2011 của Ban Tuyên giáo Trung ương về xây dựng, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên các cấp.
Thành lập đội ngũ tuyên truyền viên nòng cốt ở các cấp uỷ cơ sở đảng, theo đúng Quyết định số 973 của Ban Tuyên giáo Trung ương về Quy chế hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng (quan tâm lựa chọn các thí sinh tham gia qua các hội thi ở cấp quận, huyện, tỉnh và Trung ương để đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng);
Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Quy chế hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 973-QĐ/BTGTW, ngày 15/12/2021 của Ban Tuyên giáo Trung ương) và các nhiệm vụ gắn với đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên theo Hướng dẫn 39-HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên năm 2022.
Bồi dưỡng nghiệp vụ, cập nhật kiến thức cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên này tùy theo diễn biến tình hình, điều kiện tại địa phương, đơn vị. Theo chức năng, nhiệm vụ, Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ định kỳ tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác tuyên truyền miệng, cập nhật kiến thức cho đội ngũ báo cáo viên trung ương, lãnh đạo ban tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.
Việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác báo cáo viên, tuyên truyền miệng sẽ góp phần tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, đóng góp xứng đáng vào những thành tích chung về phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị, hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.
Thứ năm, ban tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện nghiêm túc Quy chế hoạt động Báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng; định kỳ, thường xuyên khảo sát kiểm tra công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên. Kịp thời động viên, khen thưởng xứng đáng những tập thể, cá nhân có thành tích nổi bật, đồng thời đồng thời nhắc nhở, phê bình những đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ. Ban Tuyên giáo các cấp chủ động tham mưu cho cấp ủy xây dựng kế hoạch khảo sát, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên của cấp mình và của các tổ chức đảng trực thuộc.

TỪ BỎ TỔ CHỨC BẤT HỢP PHÁP DƯƠNG VĂN MÌNH

 


Hùng Lợi là xã vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Xã có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Thời gian qua, lợi dụng nhận thức còn hạn chế của một bộ phận đồng bào Mông, các phần tử xấu đã đến tuyên truyền những luận điệu sai trái, phi lý, lôi kéo người Mông tin theo tổ chức này, gây mất an ninh, trật tự.

Trước tình hình đó, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã triển khai đồng bộ các giải pháp, kiên quyết đấu tranh, xóa bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình.

Ông Ma Văn Hùng, Bí thư Đảng ủy xã Hùng Lợi cho biết, xã hiện có 1.673 hộ dân, 97% là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Mông chiếm tỷ lệ cao nhất với 45%. Xã đang có 8/16 thôn có đồng bào Mông tin theo tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình.

Nhằm xóa bỏ tổ chức bất hợp pháp này, đầu năm 2022, chính quyền xã phối hợp với lực lượng công an các cấp thành lập 8 tổ công tác với thành phần là cán bộ xã, Công an xã, lực lượng an ninh phụ trách địa bàn, Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn.

Tổ công tác đến từng hộ người Mông tuyên truyền, vận động, giúp các hộ hiểu rõ âm mưu của thế lực thù địch, các luận điệu sai trái của tổ chức bất hợp pháp này; đồng thời tuyên truyền, vận động để người dân hiểu và chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương.

Ông Ma Văn Hùng chia sẻ thêm, đồng bào Mông trên địa bàn xã sống chủ yếu ở các thôn vùng sâu, vùng xa, đi lại rất khó khăn. Kinh tế của bà con chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp. Ban ngày, đồng bào thường lên nương, rẫy, nên muốn gặp để tuyên truyền, vận động, tổ công tác thường phải đến gặp bà con vào buổi tối, từ 18-21 giờ.

Không chỉ tuyên truyền vận động các hộ đồng bào Mông đã và đang tin theo tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, tổ công tác còn tuyên truyền, vận động tới các hộ dân tộc Mông, nhằm kịp thời ngăn chặn các hộ dân đang có tư tưởng tin theo tổ chức này. Trong quá trình vận động, tổ công tác cũng kịp thời nắm bắt, tăng cường vận động các đối tượng cốt cán trong tổ chức. Khi các đối tượng này không còn tin theo tổ chức Dương Văn Mình thì việc vận động các hộ dân khác sẽ thuận lợi hơn.

Cùng với đó, chính quyền địa phương cũng thông qua các già làng, trưởng bản, những người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Mông để tuyên truyền, vận động đồng bào không nghe theo kẻ xấu…

Ông Tướng Văn Ba, Trưởng Công an xã Hùng Lợi cho biết, qua công tác trinh sát, nắm tình hình, lực lượng Công an đã phát hiện, nắm rõ các đối tượng cốt cán trong tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, từ đó thực hiện các biện pháp vô hiệu hóa hoạt động của các đối tượng này.

Lực lượng Công an cũng bám dân, bám bản, nắm chắc địa bàn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân; kiên quyết đấu tranh với các đối tượng có hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn…

Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, công tác xóa bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình ở Hùng Lợi bước đầu có kết quả tích cực. Trong 4 tháng đầu năm 2022, các tổ công tác đã tuyên truyền, vận động được 70 hộ dân từ bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, tin theo Đảng, Nhà nước, tập trung phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống.

Chia sẻ về các giải pháp xóa bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình trên địa bàn xã trong thời gian tới, ông Ma Văn Hùng, Bí thư Đảng ủy xã Hùng Lợi cho biết, chính quyền địa phương, tổ công tác sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để các hộ đồng bào Mông hiểu rõ bản chất, thủ đoạn của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Minh là lợi dụng lòng tin, uy hiếp, lừa đảo; tự nguyện cam kết với chính quyền từ bỏ tổ chức này. Đồng thời, tổ công tác hướng dẫn bà con có nhu cầu tham gia sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định pháp luật.

Cùng với đó, xã tiếp tục phối hợp với các cấp, các ngành đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ người Mông phát triển kinh tế-xã hội, ổn định cuộc sống; hỗ trợ sửa nhà, làm nhà mới, hỗ trợ giống cây trồng, máy móc nông nghiệp; hướng dẫn đồng bào Mông áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao thu nhập.

Qua đó, kết hợp lồng ghép việc tuyên truyền, vận động người dân từ bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình; hiểu rõ các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không nghe theo kẻ xấu, không làm việc vi phạm pháp luật.

Đồng thời, củng cố, phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban công tác mặt trận, các chi hội, chi đoàn ở thôn, bản có đồng bào Mông; tạo thêm nền tảng, lực lượng trong công tác đấu tranh, loại bỏ sự ảnh hưởng của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình…/.

NQR

 

CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Trước hết, các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai.

Thứ hai, xây dựng các tổ chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với việc thiết lập các trang mạng xã hội như: Youtube, facebook, blog… để phát tán, đăng tải các video, hình ảnh, bài viết với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị.

Thứ ba, các tôn giáo ở Việt Nam đều có mối quan hệ quốc tế sâu sắc. Đây chính là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng mọi chiêu trò để vu khống Đảng, Nhà nước ta “xâm phạm quyền tự do, đàn áp tôn giáo”; từ đó, kêu gọi các tổ chức, cộng đồng quốc tế lên tiếng, can thiệp.

Thứ tư, lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số linh mục, chức sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối.

Thứ năm, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc song phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có đạo và không có đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng để hình thành, phát triển những tôn giáo cực đoan, dị dạng trái với các giá trị văn hóa của tôn giáo, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó thúc đẩy kết hợp chống phá sự nghiệp cách mạng cả về vấn đề dân tộc và tôn giáo.

Trước những vấn đề trên cần nhìn nhận như sau:

Một là, cần thấy rằng, trong lịch sử xã hội loài người, tôn giáo có vị trí, vai trò lớn, có những đóng góp quan trọng vào giá trị văn hóa nhân loại và ở Việt Nam cũng vậy. Trong tiến trình đi lên CNXH, tôn giáo luôn được thừa nhận và bảo vệ theo đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước ta. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tôn giáo, Người khẳng định mỗi tôn giáo đều có những ý nghĩa tốt đẹp, trong đó: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”. Đồng bào các tôn giáo từ xưa đến nay là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Năm 1952, trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, khi đề cập đến Tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:“Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước kháng chiến”. Hiện nay, các tôn giáo ở Việt Nam đã xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc. Các tổ chức tôn giáo tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp, như:“Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”của Phật giáo;“Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”của Công giáo;“Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc”của đạo Tin lành;“Nước vinh, đạo sáng”của đạo Cao Đài;“Vì đạo pháp, vì dân tộc”của Phật giáo Hòa Hảo...

Hai là, kế thừa tư tưởng đó của Người, trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa quan tâm, chăm lo, bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo, vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Điều này thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta.

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán của Đảng ta kể từ khi thành lập đến nay, là một nội dung cốt lõi trong quan điểm, chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong các giai đoạn cách mạng, quan điểm, nhận thức của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo luôn có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thực tiễn cách mạng Việt Nam, cũng như thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước.

Điều 24 Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được nhìn nhận là quyền tự nhiên của con người - tức đã là con người, ai cũng được thụ hưởng, đó là quyền bẩm sinh của con người, con người sinh ra đã có quyền đó. Một điểm nữa để khẳng định rõ hơn chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là việc có nhiều hơn những người theo tôn giáo được kết nạp Đảng.

Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: “Số đảng viên mới kết nạp là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nữ, trí thức, học sinh, sinh viên, dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, người lao động trong các thành phần kinh tế và chủ doanh nghiệp tư nhân tăng hơn so với khóa trước”.

Ba là, tính tới nay, theo Cục An ninh Nội địa (Bộ Công an), Việt Nam đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 60 cơ sở đào tạo với 55.000 chức sắc, 145.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự. Khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Tính đến năm 2018, có 12 báo, tạp chí liên quan tôn giáo. Phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.

Việc ra đời các tổ chức tôn giáo phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Trong hơn 5 năm qua, hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản Vesak, 500 năm cải chính đạo Tin lành…Điều đáng nói, tự do tôn giáo các dân tộc thiểu số luôn được bảo đảm: Năm 2017, Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ; ở Bình Phước và Tây Nguyên có 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành đang sinh hoạt tại 304 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm; ở Tây Bắc có 693 điểm nhóm Tin lành, 8 Hội thánh cơ sở được thành lập; nhiều điểm nhóm của người dân tộc thiểu số theo Hội thánh Lutheran, Hội Liên hữu Baptist Việt Nam đã đăng ký sinh hoạt tập trung...

Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội, được Nhà nước tạo điều kiện phát triển các quan hệ giao lưu quốc tế…Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm chất nhân văn tôn giáo và trách nhiệm với đất nước, dân tộc.

Phủ nhận quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước cũng như những kết quả đạt được trong công tác tôn giáo - điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu cao nhất của các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của họ, mà trước hết là các nước XHCN bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.

NQR

ĐẤU TRANH ĐỊCH LỢI DỤNG TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao… Mặt khác, ngày nay vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này. Vì vậy, nhiều lúc tình hình trên biển có diễn biến căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục đích, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó, càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Tuy nhiên, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, các tổ chức, đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị, số chống đối cực đoan trong nước triệt để lợi dụng tình hình phức tạp ở Biển Đông để kích động biểu tình chống TQ và gây rối an ninh trật tự, qua đó tập hợp lực lượng, kết hợp thúc đẩy phong trào “bất tuân dân sự, hiệp thông liên tôn”, nhằm tập dượt cho cuộc “cách mạng đường phố” lật đổ chế độ. Các trung tâm phá hoại tư tưởng và trang mạng phản động tán phát nhiều bài viết xuyên tạc về tình hình Biển Đông, kích động tâm lý chống TQ; kích động tạo ra xung đột quân sự trên Biển Đông; gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, kêu gọi mọi người tham gia phong trào “bài xích người TQ, người Hoa”, đập phá trụ sở, nhà máy, xí nghiệp của TQ; các đối tượng phản động, số đối tượng cực đoan, bất mãn trong và ngoài nước tích cực sử dụng Internet, mạng xã hội như một phương tiện biểu đạt quyền tự do cá nhân, quyền tự do ngôn luận, thường xuyên cập nhật, chia sẻ các tin, bài viết tại các fanpage của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước như Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Con đường Việt Nam, BBC News Tiếng Việt, Chân Trời Mới Media; đăng tải các bài viết trong các hội nhóm trên không gian mạng… để tuyên truyền xuyên tạc về tình hình Biển Đông, chống phá Đảng và Nhà nước ta, kích động biểu tỉnh, ủng hộ “Đảng Việt Tân”… Đồng thời, sử dụng xã hội làm phương tiện liên lạc, tìm cách móc nối, liên kết các kênh, tổ chức, cá nhân phản động để đăng tải, chia sẻ các tin, bài viết, video, clip ngắn… liên quan đến vấn đề Biển Đông với luận điệu xuyên tạc, lừa bịp nhằm kích động hoạt động chống đối, biểu tình, bạo loạn, nói xấu cán bộ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các cơ quan, ban ngành, tuyên truyền, kêu gọi ủng hộ các tổ chức phản động…

Nhằm kiên quyết đấu tranh và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề Biển Đông chống phá Đảng và Nhà nước, các cấp, các ngành cần phải tập trung thực hiện hiệu quả một số vấn đề sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề Biển Đông chống phá. Bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc nói chung, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, bảo vệ lợi ích trên Biển Đông nói riêng là hoạt động có tổ chức của cả hệ thống chính trị và toàn dân, do lực lượng chuyên trách làm nòng cốt và phải luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước nhằm thực thi, giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong vấn đề này cân tập trung tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền, phản bác các quan điểm tư tưởng sai trái, thù địch, lợi dụng vấn đề Biển Đông để chống phá. Trong đó, phải thường xuyên củng cố lực lượng lãnh đạo, chỉ đạo cũng như lực lượng trực tiếp triển khai công tác tuyên truyền. Cấp ủy, chính quyền địa phương phải luôn đánh giá được hiệu quả và mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền về tình hình Biển Đông, quan điểm và chủ trương đường lối xử lý của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề này; trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ trong vận động tuyên truyền, đấu tranh xử lý các hoạt động lợi dụng vấn đề Biển Đông để chống phá trên địa bàn.

Hai là, tuyên truyền sâu rộng đến quần chúng nhân dân trên địa bàn đường lối, chủ trương chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế trong nước cũng như khu vực và trên thế giới; giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những quy định pháp lý về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, cạnh tranh giữa các nước lớn, xung đột, tranh chấp chủ quyền biển, đảo xảy ra ở nhiều nơi, trong đó có khu vực Biển Đông. Hiện nay, những điểm bất đồng giữa các quốc gia, dân tộc đều có xu hướng giải quyết trên nền tảng hòa bình, đối thoại, cùng nhau tìm giải pháp chung và trên nền tảng nguyên tắc nhất định của pháp luật quốc tế.

Trong bối cảnh Trung Quốc có các hành động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn giữ chủ trương :”Giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế…”. Chúng ta kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, mọi cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới; duy trì thường xuyên lực lượng chuyên trách, sử dụng biện pháp đấu tranh hòa bình, không để xảy ra xung đột vũ trang. Trước tình hình căng thẳng trên Biển Đông, thông qua đường lối đúng đắn, chúng ta vẫn đảm bảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia dân tộc. điều này cho thấy, chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn phù hợp với xu thế thời đại. Chính vì vậy, việc tuyên truyền những nội dung này đến quần chúng nhân dân để nhân dân hiểu và nắm được chủ trương của Đảng và Nhà nước là việc làm vô cùng cân thiết. Thông qua đó ta nâng cao nhận thức cho nhân dân trên địa bàn nắm rõ, hiểu đúng, đầy đủ các nổ lực Đảng và Nhà nước đang triển khai nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích của ta trên biển, cũng như duy trì môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước. Nâng cao cảnh giác, tăng cường “sức đề kháng” cho nhân dân góp phần đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, mang tính kích động, thông tin xấu độc, gây chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động.

Ba là, phát hiện kịp thời các hoạt động lợi dụng vấn đề Biển Đông xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; lợi dụng vấn đề này để kích động, lôi kéo một bộ phận người dân nhẹ dạ, cả tin nhằm tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự để chủ động đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa các hoạt động này. Tăng cường lãnh đạo và quản lý các hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình và Internet… không để thế lực thù địch, phản động và số đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động phá hoại. Đồng thời, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông, mạng xã hội, Internet trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, chủ động phản bác các thông tin sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Bốn là, thường xuyên rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu, độc về tình hình Biển Đông. Đẩy mạnh đấu tranh vô hiệu hóa các trang mạng xã hội có nội dung xấu, các hội nhóm có đăng tải những nội dung xuyên tạc về tình hình Biển Đông; tăng cường công tác đảm bảo an ninh mạng và quản lý đối với các trang mạng xã hội có phạm vi hoạt động tại nước ta; chủ động triển khai công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng Internet, mạng xã hội đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề Biển Đông. Thiết lập các trang mạng, tài khoản chính thống để huy động cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động trên internet và mạng xã hội tạo thành thế trận liên hoàn, sức mạnh tổng lực.

NQR

Phát triển mới trong tư duy và nhận thức về mục tiêu, lộ trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.

         Kế thừa các quan điểm từ Đại hội XII về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới, Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung, phát triển, xác định rõ hơn mục tiêu, lộ trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam, cụ thể là: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại” với lộ trình “Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Đây là lần đầu tiên, Đảng xác định rõ mục tiêu và lộ trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam.

Việc Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu, lộ trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam là tư duy mới, phù hợp với xu thế, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cũng như tiềm lực của đất nước hiện nay. Cụ thể là:

        Một là, về dự báo tình hình, Đại hội XIII của Đảng có những đánh giá: Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt... Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới... Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột... Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới rất hiện đại, công nghệ cao, các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp, khó lường. Trước tình hình đó, việc đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, hiện đại hóa quân đội là xu thế chung trên thế giới và nước ta không thể đứng ngoài cuộc.

        Hai là, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đứng trước những yêu cầu, đòi hỏi mới, ngày càng nặng nề, phức tạp hơn. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ này, phải làm tốt công tác tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc (nhiệm vụ được Đảng ta xác định là trọng yếu, thường xuyên); chủ động xử lý có hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; vừa ngăn ngừa nguy cơ xung đột, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, vừa giữ vững chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

        Ba là, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đủ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc chính là cơ sở quan trọng để thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” theo kế sách “chủ động giữ nước từ khi nước chưa nguy”, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Sự vững mạnh của quân đội, công an và nền quốc phòng, an ninh là tiền đề để đất nước phát triển ổn định, bền vững, là điều kiện quan trọng mở rộng và thu hút đầu tư, du lịch, thúc đẩy kinh tế phát triển, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

        Bốn là, mục tiêu xây dựng Quân đội mà Đại hội XIII của Đảng xác định phù hợp với điều kiện của nước ta và hoàn toàn có tính khả thi khi kinh tế, xã hội của đất nước tiếp tục phát triển, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn 35 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực và chắc chắn sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; tiềm lực kinh tế và quốc phòng của nước ta có bước phát triển nhanh, có điều kiện đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đồng thời kết hợp mua sắm phương tiện, trang bị vũ khí hiện đại tăng cường sức mạnh cho quân đội, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn qua 10 năm thực hiện chủ trương “ưu tiên hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng” đã đạt được những kết quả quan trọng và thu được nhiều kinh nghiệm quý. Đây chính là cơ sở vững chắc để đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

        Xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn quân và toàn dân ta, được triển khai thực hiện dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Trong quá trình xây dựng quân đội tiến lên hiện đại, phải thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng: Quân đội ta tiến lên hiện đại dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống dân tộc, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam phải bắt đầu trước hết là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; thực hiện “người trước, súng sau”. Mục đích xây dựng quân đội vững mạnh là để phòng thủ và sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, hóa giải nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.

        Để triển khai thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân và mục tiêu, lộ trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân, trước hết là cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải quán triệt thật sâu sắc và đề cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII ở cơ quan, đơn vị theo đúng sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Duy trì thực hiện nghiêm nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật; tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh, toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Bảo đảm thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải pháp đã xác định trong định hướng giai đoạn 2021 - 2025 xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại. Đặc biệt, các quân chủng, binh chủng, lực lượng được xác định tiến thẳng lên hiện đại phải thực sự nỗ lực phấn đấu rất cao để hiện đại hóa đồng bộ cả về con người, tổ chức lực lượng, vũ khí, trang bị, phương thức và trình độ tác chiến cùng các mặt bảo đảm khác, đáp ứng tốt các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

PHAO

Phát triển mới trong tư duy và nhận thức về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân.

        Thế trận là một trong những nội dung cơ bản của xây dựng nền quốc phòng toàn dân, của nghệ thuật quân sự. Trong điều kiện thời bình, chúng ta có điều kiện xây dựng, bố trí thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận phòng thủ chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng chuyển hóa thế trận chiến tranh nhân dân khi có nguy cơ xảy ra chiến tranh xâm lược. Thế trận quốc phòng được xây dựng cả thế trận trong nước và thế trận ở ngoài nước, nhất là các địa bàn trọng điểm chiến lược; liên kết chặt chẽ nội địa với biên giới, đất liền với biển, đảo; biển, đảo gần bờ với xa bờ. Thế trận quốc phòng phải được tổ chức toàn diện bao gồm cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao và “thế trận lòng dân”. Liên quan đến xây dựng thế trận quốc phòng, Đại hội XIII của Đảng có những phát triển mới về nhận thức và tư duy gồm:

        Một là, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Xây dựng “thế trận lòng dân” là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng Việt Nam; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và cả hệ thống chính trị.

“Thế trận lòng dân” là nhân tố luôn được Đảng quan tâm trong xây dựng nền quốc phòng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, “thế trận lòng dân”. Kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Đại hội XII của Đảng xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh vững chắc;... Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền an ninh nhân dân. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(5).

Xây dựng thế trận quốc phòng được tiến hành toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, song phải lấy xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là then chốt. Mặt khác, bên cạnh tiếp tục coi trọng việc xây dựng “thế trận lòng dân”, thì Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung yêu cầu phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Điều này cho thấy Đảng ta đặc biệt coi trọng xây dựng nhân tố “thế trận lòng dân” và cần phát huy mạnh mẽ nhân tố này vào thực tiễn xây dựng tiềm lực quốc phòng.

        Hai là, tư duy mới trong kết hợp mối quan hệ giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Nghị quyết Đại hội XII xác định: Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã có sự phát triển tư duy mới về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Trong đó, nội dung “đối ngoại” không còn tách riêng mà được đặt cùng với “kinh tế, văn hóa, xã hội”. Việc kết hợp này thể hiện tư duy, yêu cầu đòi hỏi hiện nay để phù hợp với vị thế của Việt Nam cũng như xu thế hợp tác quốc tế. Đại hội XIII của Đảng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn, không chỉ “kết hợp chặt chẽ” như Đại hội XII của Đảng đặt ra mà còn phải “kết hợp hiệu quả”. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể”(6). Điều này thể hiện tư duy, tầm nhìn vừa chiến lược, toàn diện, vừa cụ thể, thực tiễn để bảo đảm sự kết hợp có hiệu quả.

PHAO

CẢNH GIÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TỪ THIỆN ĐỂ LỪA ĐẢO

 


Theo Bộ Công an, thời gian gần đây, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Bộ Công an liên tiếp phát hiện một số đối tượng có hành vi tạo lập các trang mạng xã hội với danh nghĩa hoạt động từ thiện để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của các nhà hảo tâm. Số tiền các đối tượng đã chiếm đoạt lên đến hàng chục tỷ đồng.

Thủ đoạn mà các đối tượng sử dụng là: Tạo lập các trang mạng xã hội (chủ yếu trên Facebook), sau đó đăng tải các bài viết, tạo dựng những nội dung không có thật về một số hoàn cảnh đang gặp khó khăn, hoạn nạn cần được giúp đỡ; hoặc giả mạo các trang mạng xã hội chuyên làm từ thiện được Nhà nước cho phép, rồi đăng tải các bài viết kêu gọi cộng đồng mạng giúp đỡ.

Tinh vi hơn, một số đối tượng còn sử dụng các bài báo viết về các hoàn cảnh khó khăn đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để dẫn nguồn trên Fanpage Facebook, rồi xen cài số tài khoản ngân hàng tiếp nhận từ thiện do các đối tượng tự tạo lập quản lý, để tiếp nhận nguồn tiền ủng hộ.

 Các bài viết được các đối tượng đăng tải trên các trang mạng xã hội đã thu hút hàng chục nghìn người quan tâm theo dõi, gửi tiền ủng hộ từ 50.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi tiếp nhận số tiền được các nhà hảo tâm chuyển đến, các đối tượng không bàn giao tiền từ thiện cho các gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn mà sử dụng hết vào mục đích cá nhân; hoặc chỉ chuyển một phần rất nhỏ để làm hình ảnh nhằm tiếp tục “kêu gọi từ thiện”...

Từ đầu năm 2021 đến nay, lực lượng công an trong cả nước liên tiếp phát hiện, xử lý các đối tượng quản trị các trang fanpage facebook hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản với thủ đoạn tương tự như trên. Điển hình như Fanpage “Chia sẻ vì người nghèo”, “Hỗ trợ trẻ em”, “Quỹ bảo trợ trẻ em”, “Phật tại tâm”, “Chia sẻ yêu thương”, “Kết nối yêu thương”, “Quan Thế âm Bồ tát”...

Trước thực trạng trên, đề nghị người dân nâng cao cảnh giác trước các thủ đoạn kêu gọi ủng hộ từ thiện để lừa đảo trên mạng xã hội.

NQR

Ứng phó với các luận điệu xuyên tạc

 


Chủ động xây dựng kế hoạch chuẩn bị nhiều kịch bản ứng phó với các vụ việc như tụ tập đông người dẫn đến các hành vi biểu tình mang tính bạo động, vi phạm pháp luật nghiêm trọng… Khi vụ việc xảy ra, cần linh hoạt các hình thức tuyên truyền, định hướng dư luận (như sử dụng tin nhắn với các nội dung ngắn gọn, súc tích, kêu gọi nhân dân không nghe theo các luận điệu xuyên tạc, không tham gia biểu tình…). Thứ năm, sau khi vụ việc đã được xử lý, cần phối hợp với các cơ quan chức năng nhanh chóng đưa đời sống cộng đồng trở lại bình thường, giải quyết kịp thời những vướng mắc có liên quan, tạo tiền đề cho sự phát triển mới.

TRƯỜNG TỒN