Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022
PHÁT HUY VAI TRÒ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG ĐỂ THỰC HIỆN TỐT NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ.
TIẾP TỤC NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA CÁC CẤP ỦY ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
TỪ BỎ TỔ CHỨC BẤT HỢP PHÁP DƯƠNG VĂN MÌNH
Hùng Lợi
là xã vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh
Tuyên Quang. Xã có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Thời gian qua, lợi
dụng nhận thức còn hạn chế của một bộ phận đồng bào Mông, các phần tử xấu đã
đến tuyên truyền những luận điệu sai trái, phi lý, lôi kéo người Mông tin theo
tổ chức này, gây mất an ninh, trật tự.
Trước
tình hình đó, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh
Tuyên Quang đã triển khai đồng bộ các giải pháp, kiên quyết đấu tranh, xóa bỏ
tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình.
Ông Ma
Văn Hùng, Bí thư Đảng ủy xã Hùng Lợi cho biết, xã hiện có 1.673 hộ dân, 97% là
đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Mông chiếm tỷ lệ cao nhất với 45%. Xã đang
có 8/16 thôn có đồng bào Mông tin theo tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình.
Nhằm xóa
bỏ tổ chức bất hợp pháp này, đầu năm 2022, chính quyền xã phối hợp với lực
lượng công an các cấp thành lập 8 tổ công tác với thành phần là cán bộ xã, Công
an xã, lực lượng an ninh phụ trách địa bàn, Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn.
Tổ công
tác đến từng hộ người Mông tuyên truyền, vận động, giúp các hộ hiểu rõ âm mưu
của thế lực thù địch, các luận điệu sai trái của tổ chức bất hợp pháp này; đồng
thời tuyên truyền, vận động để người dân hiểu và chấp hành tốt chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương.
Ông Ma
Văn Hùng chia sẻ thêm, đồng bào Mông trên địa bàn xã sống chủ yếu ở các thôn
vùng sâu, vùng xa, đi lại rất khó khăn. Kinh tế của bà con chủ yếu dựa vào
nông, lâm nghiệp. Ban ngày, đồng bào thường lên nương, rẫy, nên muốn gặp để tuyên truyền, vận
động, tổ công tác thường phải đến gặp bà con vào buổi tối, từ 18-21 giờ.
Không
chỉ tuyên truyền vận động các hộ đồng bào Mông đã và đang tin theo tổ chức bất
hợp pháp Dương Văn Mình, tổ công tác còn tuyên truyền, vận động tới các hộ dân
tộc Mông, nhằm kịp thời ngăn chặn các hộ dân đang có tư tưởng tin theo tổ chức
này. Trong quá trình vận động, tổ công tác cũng kịp thời nắm bắt, tăng cường vận
động các đối tượng cốt cán trong tổ chức. Khi các đối tượng này không còn tin
theo tổ chức Dương Văn Mình thì việc vận động các hộ dân khác sẽ thuận lợi hơn.
Cùng với
đó, chính quyền địa phương cũng thông qua các già làng, trưởng bản, những người
uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Mông để tuyên truyền,
vận động đồng bào không nghe theo kẻ xấu…
Ông
Tướng Văn Ba, Trưởng Công an xã Hùng Lợi cho biết, qua công tác trinh sát, nắm
tình hình, lực lượng Công an đã phát hiện, nắm rõ các đối tượng cốt cán trong
tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, từ đó thực hiện các biện pháp vô hiệu hóa
hoạt động của các đối tượng này.
Lực
lượng Công an cũng bám dân, bám bản, nắm chắc địa bàn, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân; kiên
quyết đấu tranh với các đối tượng có hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, gây
mất an ninh trật tự trên địa bàn…
Nhờ sự
vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, công tác xóa bỏ tổ chức bất hợp
pháp Dương Văn Mình ở Hùng Lợi bước đầu có kết quả tích cực. Trong 4
tháng đầu năm 2022, các tổ công tác đã tuyên truyền, vận động được 70 hộ dân từ
bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, tin theo Đảng, Nhà nước, tập trung phát
triển kinh tế, ổn định cuộc sống.
Chia sẻ
về các giải pháp xóa bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình trên địa bàn xã trong thời gian tới, ông Ma Văn
Hùng, Bí thư Đảng ủy xã Hùng Lợi cho biết, chính quyền địa phương, tổ công tác
sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để các hộ đồng bào Mông
hiểu rõ bản chất, thủ đoạn của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Minh là lợi dụng
lòng tin, uy hiếp, lừa đảo; tự nguyện cam kết với chính quyền từ bỏ tổ chức
này. Đồng thời, tổ công tác hướng dẫn bà con có nhu cầu tham gia sinh hoạt tín
ngưỡng, tôn giáo theo quy định pháp luật.
Cùng với
đó, xã tiếp tục phối hợp với các cấp, các ngành đẩy mạnh việc thực hiện các
chương trình, dự án hỗ trợ người Mông phát triển kinh tế-xã hội, ổn định cuộc
sống; hỗ trợ sửa nhà, làm nhà mới, hỗ trợ giống cây trồng, máy móc nông nghiệp;
hướng dẫn đồng bào Mông áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao thu
nhập.
Qua đó,
kết hợp lồng ghép việc tuyên truyền, vận động người dân từ bỏ tổ chức bất hợp
pháp Dương Văn Mình; hiểu rõ các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, không nghe theo kẻ xấu, không làm việc vi phạm pháp luật.
Đồng
thời, củng cố, phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao hiệu
quả hoạt động của Ban công tác mặt trận, các chi hội, chi đoàn ở thôn, bản có
đồng bào Mông; tạo thêm nền tảng, lực lượng trong công tác đấu tranh, loại bỏ
sự ảnh hưởng của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình…/.
NQR
CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM
Trước hết, các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai.
Thứ hai, xây dựng các tổ chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với
việc thiết lập các trang mạng xã hội như: Youtube, facebook, blog… để phát tán,
đăng tải các video, hình ảnh, bài viết với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích,
nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi
sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà
nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng
đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng hay tìm
mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người
không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút
lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị.
Thứ ba, các tôn giáo ở Việt Nam đều có mối quan hệ quốc tế
sâu sắc. Đây chính là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, sử
dụng mọi chiêu trò để vu khống Đảng, Nhà nước ta “xâm phạm quyền tự do, đàn áp
tôn giáo”; từ đó, kêu gọi các tổ chức, cộng đồng quốc tế lên tiếng, can thiệp.
Thứ tư, lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số linh mục, chức
sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã
tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp;
ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân
dân có đạo gây rối.
Thứ năm, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc song phát triển
không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống dân trí và các hoạt động xã hội
giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có đạo và không có
đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao,
địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Dựa
vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc
thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng để hình thành, phát triển những tôn
giáo cực đoan, dị dạng trái với các giá trị văn hóa của tôn giáo, đi ngược lại
thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó thúc đẩy kết hợp chống phá sự nghiệp cách
mạng cả về vấn đề dân tộc và tôn giáo.
Trước những vấn đề trên cần nhìn nhận như sau:
Một là, cần thấy rằng, trong lịch sử xã hội loài người, tôn
giáo có vị trí, vai trò lớn, có những đóng góp quan trọng vào giá trị văn hóa
nhân loại và ở Việt Nam cũng vậy. Trong tiến trình đi lên CNXH, tôn giáo luôn
được thừa nhận và bảo vệ theo đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước ta. Sinh thời
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tôn giáo, Người khẳng định mỗi tôn giáo
đều có những ý nghĩa tốt đẹp, trong đó: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái.
Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”. Đồng
bào các tôn giáo từ xưa đến nay là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng
các dân tộc Việt Nam. Năm 1952, trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 3 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, khi đề cập đến Tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết:“Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu
nước kháng chiến”. Hiện nay, các tôn giáo ở Việt Nam đã xây dựng đường hướng
hành đạo gắn bó với dân tộc. Các tổ chức tôn giáo tập hợp đông đảo tín đồ trong
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp,
như:“Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”của Phật giáo;“Sống phúc âm giữa
lòng dân tộc”của Công giáo;“Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc
và dân tộc”của đạo Tin lành;“Nước vinh, đạo sáng”của đạo Cao Đài;“Vì đạo pháp,
vì dân tộc”của Phật giáo Hòa Hảo...
Hai là, kế thừa tư tưởng đó của Người, trong quá trình lãnh
đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa quan tâm, chăm lo, bảo đảm quyền
tự do, tín ngưỡng tôn giáo, vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho
nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo
điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng
trong khuôn khổ pháp luật. Điều này thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng, chính
sách của Nhà nước ta.
Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
là một chính sách nhất quán của Đảng ta kể từ khi thành lập đến nay, là một nội
dung cốt lõi trong quan điểm, chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo.
Trong các giai đoạn cách mạng, quan điểm, nhận thức của Đảng về tín ngưỡng, tôn
giáo luôn có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thực
tiễn cách mạng Việt Nam, cũng như thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước.
Điều 24 Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được nhìn nhận là
quyền tự nhiên của con người - tức đã là con người, ai cũng được thụ hưởng, đó
là quyền bẩm sinh của con người, con người sinh ra đã có quyền đó. Một điểm nữa
để khẳng định rõ hơn chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo là việc có nhiều hơn những người theo tôn giáo được kết nạp Đảng.
Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: “Số đảng viên mới kết nạp
là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nữ, trí thức, học sinh, sinh
viên, dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, người lao động trong các thành
phần kinh tế và chủ doanh nghiệp tư nhân tăng hơn so với khóa trước”.
Ba là, tính tới nay, theo Cục An ninh Nội địa (Bộ Công an),
Việt Nam đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 60 cơ sở đào tạo với
55.000 chức sắc, 145.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự. Khoảng 95% dân số Việt
Nam có đời sống tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân
số cả nước; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham
gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Tính đến năm 2018, có 12
báo, tạp chí liên quan tôn giáo. Phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website
riêng.
Việc ra đời các tổ chức tôn giáo phản ánh sự quan tâm
của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo, đồng thời khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng,
tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh
hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được
công nhận.
Trong hơn 5 năm qua, hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo
được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ,
nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật
đản Vesak, 500 năm cải chính đạo Tin lành…Điều đáng nói, tự do tôn giáo các dân
tộc thiểu số luôn được bảo đảm: Năm 2017, Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển
khai xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ; ở Bình Phước và
Tây Nguyên có 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành đang sinh hoạt tại 304 chi hội
và hơn 1.300 điểm nhóm; ở Tây Bắc có 693 điểm nhóm Tin lành, 8 Hội thánh cơ sở
được thành lập; nhiều điểm nhóm của người dân tộc thiểu số theo Hội thánh
Lutheran, Hội Liên hữu Baptist Việt Nam đã đăng ký sinh hoạt tập trung...
Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở
nhà riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa
nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên
nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội, được Nhà nước tạo điều kiện
phát triển các quan hệ giao lưu quốc tế…Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công
nhận và cấp đăng ký hoạt động đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm
chất nhân văn tôn giáo và trách nhiệm với đất nước, dân tộc.
Phủ nhận quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước cũng
như những kết quả đạt được trong công tác tôn giáo - điều này xuất phát từ bản
chất, mục tiêu cao nhất của các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của
các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của họ, mà trước hết là các nước XHCN
bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.
NQR
ĐẤU TRANH ĐỊCH LỢI DỤNG TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao… Mặt khác, ngày nay vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này. Vì vậy, nhiều lúc tình hình trên biển có diễn biến căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục đích, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó, càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.
Tuy nhiên, trước những thông tin mới về tình hình Biển
Đông, các tổ chức, đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị,
số chống đối cực đoan trong nước triệt để lợi dụng tình hình phức tạp ở Biển
Đông để kích động biểu tình chống TQ và gây rối an ninh trật tự, qua đó tập hợp
lực lượng, kết hợp thúc đẩy phong trào “bất tuân dân sự, hiệp thông liên tôn”,
nhằm tập dượt cho cuộc “cách mạng đường phố” lật đổ chế độ. Các trung tâm phá
hoại tư tưởng và trang mạng phản động tán phát nhiều bài viết xuyên tạc về tình
hình Biển Đông, kích động tâm lý chống TQ; kích động tạo ra xung đột quân sự
trên Biển Đông; gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, kêu gọi mọi người tham gia phong
trào “bài xích người TQ, người Hoa”, đập phá trụ sở, nhà máy, xí nghiệp của TQ;
các đối tượng phản động, số đối tượng cực đoan, bất mãn trong và ngoài nước
tích cực sử dụng Internet, mạng xã hội như một phương tiện biểu đạt quyền tự do
cá nhân, quyền tự do ngôn luận, thường xuyên cập nhật, chia sẻ các tin, bài
viết tại các fanpage của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước như Việt Tân,
Nhật ký yêu nước, Con đường Việt Nam, BBC News Tiếng Việt, Chân Trời Mới Media;
đăng tải các bài viết trong các hội nhóm trên không gian mạng… để tuyên truyền
xuyên tạc về tình hình Biển Đông, chống phá Đảng và Nhà nước ta, kích động biểu
tỉnh, ủng hộ “Đảng Việt Tân”… Đồng thời, sử dụng xã hội làm phương tiện liên
lạc, tìm cách móc nối, liên kết các kênh, tổ chức, cá nhân phản động để đăng
tải, chia sẻ các tin, bài viết, video, clip ngắn… liên quan đến vấn đề Biển
Đông với luận điệu xuyên tạc, lừa bịp nhằm kích động hoạt động chống đối, biểu
tình, bạo loạn, nói xấu cán bộ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các cơ quan,
ban ngành, tuyên truyền, kêu gọi ủng hộ các tổ chức phản động…
Nhằm kiên quyết đấu tranh và làm thất bại âm mưu của
các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề Biển Đông chống phá Đảng và Nhà nước, các
cấp, các ngành cần phải tập trung thực hiện hiệu quả một số vấn đề sau:
Một là, tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh và làm thất bại âm mưu
của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề Biển Đông chống phá. Bảo vệ chủ quyền
quốc gia dân tộc nói chung, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, bảo vệ lợi ích
trên Biển Đông nói riêng là hoạt động có tổ chức của cả hệ thống chính trị và
toàn dân, do lực lượng chuyên trách làm nòng cốt và phải luôn được đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước
nhằm thực thi, giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Để
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong vấn đề này cân tập trung tăng
cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong công tác tuyên
truyền, phản bác các quan điểm tư tưởng sai trái, thù địch, lợi dụng vấn đề
Biển Đông để chống phá. Trong đó, phải thường xuyên củng cố lực lượng lãnh đạo,
chỉ đạo cũng như lực lượng trực tiếp triển khai công tác tuyên truyền. Cấp ủy,
chính quyền địa phương phải luôn đánh giá được hiệu quả và mục đích, yêu cầu
của công tác tuyên truyền về tình hình Biển Đông, quan điểm và chủ trương đường
lối xử lý của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề này; trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo
các lực lượng chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ trong vận động tuyên truyền, đấu
tranh xử lý các hoạt động lợi dụng vấn đề Biển Đông để chống phá trên địa bàn.
Hai là, tuyên
truyền sâu rộng đến quần chúng nhân dân trên địa bàn đường lối, chủ trương
chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng và Nhà nước ta là hoàn
toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế trong nước cũng như khu vực và
trên thế giới; giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những quy
định pháp lý về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Hiện nay, hòa bình, hợp tác
và phát triển vẫn là xu thế lớn, cạnh tranh giữa các nước lớn, xung đột, tranh
chấp chủ quyền biển, đảo xảy ra ở nhiều nơi, trong đó có khu vực Biển Đông.
Hiện nay, những điểm bất đồng giữa các quốc gia, dân tộc đều có xu hướng giải
quyết trên nền tảng hòa bình, đối thoại, cùng nhau tìm giải pháp chung và trên
nền tảng nguyên tắc nhất định của pháp luật quốc tế.
Trong bối cảnh Trung Quốc có các hành động vi phạm chủ
quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam,
Đảng và Nhà nước ta luôn giữ chủ trương :”Giải quyết mâu thuẫn thông qua thương
lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù
hợp với luật pháp quốc tế…”. Chúng ta kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, mọi
cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới; duy trì
thường xuyên lực lượng chuyên trách, sử dụng biện pháp đấu tranh hòa bình,
không để xảy ra xung đột vũ trang. Trước tình hình căng thẳng trên Biển Đông,
thông qua đường lối đúng đắn, chúng ta vẫn đảm bảo và bảo vệ được lợi ích quốc
gia dân tộc. điều này cho thấy, chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết
bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn phù hợp với xu
thế thời đại. Chính vì vậy, việc tuyên truyền những nội dung này đến quần chúng
nhân dân để nhân dân hiểu và nắm được chủ trương của Đảng và Nhà nước là việc
làm vô cùng cân thiết. Thông qua đó ta nâng cao nhận thức cho nhân dân trên địa
bàn nắm rõ, hiểu đúng, đầy đủ các nổ lực Đảng và Nhà nước đang triển khai nhằm
bảo vệ các quyền, lợi ích của ta trên biển, cũng như duy trì môi trường thuận
lợi cho phát triển đất nước. Nâng cao cảnh giác, tăng cường “sức đề kháng” cho
nhân dân góp phần đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, mang tính kích
động, thông tin xấu độc, gây chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch, phản
động.
Ba là, phát
hiện kịp thời các hoạt động lợi dụng vấn đề Biển Đông xuyên tạc chống phá Đảng,
Nhà nước; lợi dụng vấn đề này để kích động, lôi kéo một bộ phận người dân nhẹ
dạ, cả tin nhằm tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự để chủ động đấu
tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa các hoạt động này. Tăng cường lãnh đạo và quản lý
các hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình và Internet… không để thế lực
thù địch, phản động và số đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động phá hoại.
Đồng thời, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông, mạng xã hội, Internet
trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, chủ động phản bác
các thông tin sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.
Bốn là, thường
xuyên rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu, độc về tình hình Biển
Đông. Đẩy mạnh đấu tranh vô hiệu hóa các trang mạng xã hội có nội dung xấu, các
hội nhóm có đăng tải những nội dung xuyên tạc về tình hình Biển Đông; tăng
cường công tác đảm bảo an ninh mạng và quản lý đối với các trang mạng xã hội có
phạm vi hoạt động tại nước ta; chủ động triển khai công tác phát hiện, đấu
tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng Internet, mạng xã hội
đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên
tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề Biển Đông. Thiết
lập các trang mạng, tài khoản chính thống để huy động cán bộ, đảng viên và nhân
dân tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế
lực thù địch, phản động trên internet và mạng xã hội tạo thành thế trận liên
hoàn, sức mạnh tổng lực.
NQR
Phát triển mới trong tư duy và nhận thức về mục tiêu, lộ trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Kế thừa các quan điểm từ Đại hội XII về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới, Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung, phát triển, xác định rõ hơn mục tiêu, lộ trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam, cụ thể là: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại” với lộ trình “Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Đây là lần đầu tiên, Đảng xác định rõ mục tiêu và lộ trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam.
Việc Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu, lộ trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam là tư duy mới, phù hợp với xu thế, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cũng như tiềm lực của đất nước hiện nay. Cụ thể là:
Một là, về dự báo tình hình, Đại hội XIII của Đảng có những đánh giá: Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt... Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới... Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột... Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới rất hiện đại, công nghệ cao, các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp, khó lường. Trước tình hình đó, việc đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, hiện đại hóa quân đội là xu thế chung trên thế giới và nước ta không thể đứng ngoài cuộc.
Hai là, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đứng trước những yêu cầu, đòi hỏi mới, ngày càng nặng nề, phức tạp hơn. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ này, phải làm tốt công tác tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc (nhiệm vụ được Đảng ta xác định là trọng yếu, thường xuyên); chủ động xử lý có hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; vừa ngăn ngừa nguy cơ xung đột, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, vừa giữ vững chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Ba là, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đủ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc chính là cơ sở quan trọng để thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” theo kế sách “chủ động giữ nước từ khi nước chưa nguy”, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Sự vững mạnh của quân đội, công an và nền quốc phòng, an ninh là tiền đề để đất nước phát triển ổn định, bền vững, là điều kiện quan trọng mở rộng và thu hút đầu tư, du lịch, thúc đẩy kinh tế phát triển, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Bốn là, mục tiêu xây dựng Quân đội mà Đại hội XIII của Đảng xác định phù hợp với điều kiện của nước ta và hoàn toàn có tính khả thi khi kinh tế, xã hội của đất nước tiếp tục phát triển, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn 35 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực và chắc chắn sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; tiềm lực kinh tế và quốc phòng của nước ta có bước phát triển nhanh, có điều kiện đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đồng thời kết hợp mua sắm phương tiện, trang bị vũ khí hiện đại tăng cường sức mạnh cho quân đội, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn qua 10 năm thực hiện chủ trương “ưu tiên hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng” đã đạt được những kết quả quan trọng và thu được nhiều kinh nghiệm quý. Đây chính là cơ sở vững chắc để đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn quân và toàn dân ta, được triển khai thực hiện dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Trong quá trình xây dựng quân đội tiến lên hiện đại, phải thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng: Quân đội ta tiến lên hiện đại dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống dân tộc, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam phải bắt đầu trước hết là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; thực hiện “người trước, súng sau”. Mục đích xây dựng quân đội vững mạnh là để phòng thủ và sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, hóa giải nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.
Để triển khai thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân và mục tiêu, lộ trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân, trước hết là cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải quán triệt thật sâu sắc và đề cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII ở cơ quan, đơn vị theo đúng sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Duy trì thực hiện nghiêm nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật; tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh, toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Bảo đảm thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải pháp đã xác định trong định hướng giai đoạn 2021 - 2025 xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại. Đặc biệt, các quân chủng, binh chủng, lực lượng được xác định tiến thẳng lên hiện đại phải thực sự nỗ lực phấn đấu rất cao để hiện đại hóa đồng bộ cả về con người, tổ chức lực lượng, vũ khí, trang bị, phương thức và trình độ tác chiến cùng các mặt bảo đảm khác, đáp ứng tốt các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
PHAO
Phát triển mới trong tư duy và nhận thức về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân.
Thế trận là một trong những nội dung cơ bản của xây dựng nền quốc phòng toàn dân, của nghệ thuật quân sự. Trong điều kiện thời bình, chúng ta có điều kiện xây dựng, bố trí thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận phòng thủ chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng chuyển hóa thế trận chiến tranh nhân dân khi có nguy cơ xảy ra chiến tranh xâm lược. Thế trận quốc phòng được xây dựng cả thế trận trong nước và thế trận ở ngoài nước, nhất là các địa bàn trọng điểm chiến lược; liên kết chặt chẽ nội địa với biên giới, đất liền với biển, đảo; biển, đảo gần bờ với xa bờ. Thế trận quốc phòng phải được tổ chức toàn diện bao gồm cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao và “thế trận lòng dân”. Liên quan đến xây dựng thế trận quốc phòng, Đại hội XIII của Đảng có những phát triển mới về nhận thức và tư duy gồm:
Một là, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Xây dựng “thế trận lòng dân” là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng Việt Nam; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và cả hệ thống chính trị.
“Thế trận lòng dân” là nhân tố luôn được Đảng quan tâm trong xây dựng nền quốc phòng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, “thế trận lòng dân”. Kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Đại hội XII của Đảng xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh vững chắc;... Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền an ninh nhân dân. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(5).
Xây dựng thế trận quốc phòng được tiến hành toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, song phải lấy xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là then chốt. Mặt khác, bên cạnh tiếp tục coi trọng việc xây dựng “thế trận lòng dân”, thì Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung yêu cầu phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Điều này cho thấy Đảng ta đặc biệt coi trọng xây dựng nhân tố “thế trận lòng dân” và cần phát huy mạnh mẽ nhân tố này vào thực tiễn xây dựng tiềm lực quốc phòng.
Hai là, tư duy mới trong kết hợp mối quan hệ giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Nghị quyết Đại hội XII xác định: Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã có sự phát triển tư duy mới về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Trong đó, nội dung “đối ngoại” không còn tách riêng mà được đặt cùng với “kinh tế, văn hóa, xã hội”. Việc kết hợp này thể hiện tư duy, yêu cầu đòi hỏi hiện nay để phù hợp với vị thế của Việt Nam cũng như xu thế hợp tác quốc tế. Đại hội XIII của Đảng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn, không chỉ “kết hợp chặt chẽ” như Đại hội XII của Đảng đặt ra mà còn phải “kết hợp hiệu quả”. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể”(6). Điều này thể hiện tư duy, tầm nhìn vừa chiến lược, toàn diện, vừa cụ thể, thực tiễn để bảo đảm sự kết hợp có hiệu quả.
PHAO
CẢNH GIÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TỪ THIỆN ĐỂ LỪA ĐẢO
Theo Bộ Công an, thời gian gần đây, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội
phạm sử dụng công nghệ cao Bộ Công an liên tiếp phát hiện một số đối tượng có
hành vi tạo lập các trang mạng xã hội với danh nghĩa hoạt động từ thiện để lừa
đảo, chiếm đoạt tài sản của các nhà hảo tâm. Số tiền các đối tượng đã chiếm
đoạt lên đến hàng chục tỷ đồng.
Thủ đoạn mà các đối tượng sử dụng là: Tạo lập các trang mạng xã hội (chủ
yếu trên Facebook), sau đó đăng tải các bài viết, tạo dựng những nội dung không
có thật về một số hoàn cảnh đang gặp khó khăn, hoạn nạn cần được giúp đỡ; hoặc
giả mạo các trang mạng xã hội chuyên làm từ thiện được Nhà nước cho phép, rồi
đăng tải các bài viết kêu gọi cộng đồng mạng giúp đỡ.
Tinh vi hơn, một số đối tượng còn sử dụng các bài báo viết về các hoàn cảnh
khó khăn đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để dẫn nguồn
trên Fanpage Facebook, rồi xen cài số tài khoản ngân hàng tiếp nhận từ thiện do
các đối tượng tự tạo lập quản lý, để tiếp nhận nguồn tiền ủng hộ.
Các bài viết được các đối tượng đăng tải trên các trang mạng xã hội
đã thu hút hàng chục nghìn người quan tâm theo dõi, gửi tiền ủng hộ từ 50.000
đồng đến 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi tiếp nhận số tiền được các nhà hảo
tâm chuyển đến, các đối tượng không bàn giao tiền từ thiện cho các gia đình gặp
hoàn cảnh khó khăn mà sử dụng hết vào mục đích cá nhân; hoặc chỉ chuyển một
phần rất nhỏ để làm hình ảnh nhằm tiếp tục “kêu gọi từ thiện”...
Từ đầu năm 2021 đến nay, lực lượng công an trong cả nước liên tiếp phát
hiện, xử lý các đối tượng quản trị các trang fanpage facebook hoạt động lừa đảo
chiếm đoạt tài sản với thủ đoạn tương tự như trên. Điển hình như Fanpage “Chia
sẻ vì người nghèo”, “Hỗ trợ trẻ em”, “Quỹ bảo trợ trẻ em”, “Phật tại tâm”,
“Chia sẻ yêu thương”, “Kết nối yêu thương”, “Quan Thế âm Bồ tát”...
Trước thực trạng trên, đề nghị người dân nâng cao cảnh giác trước các thủ
đoạn kêu gọi ủng hộ từ thiện để lừa đảo trên mạng xã hội.
NQR
Ứng phó với các luận điệu xuyên tạc
Chủ động xây dựng kế hoạch
chuẩn bị nhiều kịch bản ứng phó với các vụ việc như tụ tập đông người dẫn đến
các hành vi biểu tình mang tính bạo động, vi phạm pháp luật nghiêm trọng… Khi
vụ việc xảy ra, cần linh hoạt các hình thức tuyên truyền, định hướng dư luận
(như sử dụng tin nhắn với các nội dung ngắn gọn, súc tích, kêu gọi nhân dân
không nghe theo các luận điệu xuyên tạc, không tham gia biểu tình…). Thứ năm,
sau khi vụ việc đã được xử lý, cần phối hợp với các cơ quan chức năng nhanh
chóng đưa đời sống cộng đồng trở lại bình thường, giải quyết kịp thời những
vướng mắc có liên quan, tạo tiền đề cho sự phát triển mới.
TRƯỜNG TỒN