Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2022
EU BẮT ĐẦU RƠI VÀO KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ !
Chúng ta phải luôn tỉnh táo, chủ động, nhận diện đấu tranh phòng, chống thông tin xấu độc trên không gian mạng hiện nay
Việt Nam ủng hộ một nước Campuchia độc lập hòa bình, trung lập và phát triển
Việt
Nam ủng hộ một nước Campuchia độc lập hòa bình, trung lập và phát triển
Phó Thủ tướng Lê Minh Khái khẳng
định: Chủ trương nhất quán của Việt Nam là ủng hộ một nước Campuchia độc lập
hòa bình trung lập và phát triển.
Sáng
nay (24/6), Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ kỷ niệm 55 năm Ngày
thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Campuchia (24/6/1967 – 24/6/2022).
Tham
dự Lễ kỷ niệm về phía Việt Nam có: Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư
Võ Văn Thưởng, Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia Năm Hữu nghị Việt Nam - Campuchia
2022, Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng; Bí thư Trung
ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến;
Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa; Bí
thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái cùng các lãnh đạo,
nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đại diện các bộ, ngành. Về phía Campuchia có:
Bà Men Sam An, Phó Thủ tướng Vương quốc Campuchia, Chủ tịch Hội Hữu nghị
Campuchia - Việt Nam, Trưởng đoàn đại biểu Vương quốc Campuchia; ông Chay
Navuth, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Campuchia tại Việt Nam cùng các
thành viên Đại sứ quán, đại diện công dân và lưu học sinh Campuchia đang sinh
sống, công tác và học tập tại Việt Nam.
Cách
đây 55 năm, vào ngày 24/6/1967, Việt Nam và Campuchia đã chính thức thiết lập
quan hệ ngoại giao. Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu trang sử mới trong quan
hệ hai nước.
Trước
đó một ngày, trong bức điện gửi tới Quốc trưởng Campuchia Norodom Sihanouk ngày
23/6/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Việc đặt quan hệ ngoại giao giữa hai
nước chúng ta là biểu hiện rực rỡ của mối tình hữu nghị thân thiết và đoàn kết
chiến đấu. Đó là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia,
một nhân tố tích cực trong việc gìn giữ hòa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á”.
Phát
biểu tại Lễ kỷ niệm, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái nhấn mạnh: Khi dân tộc
Campuchia đứng trước thảm họa diệt chủng Pol Pot, mặc dù Việt Nam còn chưa
kịp khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, Việt Nam tiếp tục sát cánh cùng
các lực lượng yêu nước và nhân dân Campuchia, làm nên chiến thắng ngày 7/1/1979,
giải phóng đất nước và nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt vong, mang
lại hồi sinh cho đất nước chùa Tháp.
"Nhìn
lại một thời kỳ lịch sử đã qua, chúng ta càng ý thức sâu sắc hơn về tầm quan
trọng của chiến thắng ngày 7 tháng 1 và thêm trân trọng, biết ơn công lao to
lớn của quân đội và nhân dân hai nước, đặc biệt là các anh hùng liệt sỹ, thương
binh, các cụ cán bộ, chuyên gia quân tình nguyện Việt Nam từng tham gia phục vụ
chiến đấu và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả tại Campuchia đã không quản ngại
gian nan, hy sinh máu xương, chiến đấu vì hòa bình và tự do của nhân dân
Campuchia, vì tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc Việt Nam
Campuchia anh em", Phó Thủ tướng nói.
Việt
Nam và Campchia là hai nước láng giềng gần gũi và có mối quan hệ truyền thống,
gắn bó từ lâu đời. Mối quan hệ này đã được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân
hai nước dày công vun đắp bằng công sức và xương máu của nhiều thế hệ người
Việt Nam và Campuchia và là tài sản chung vô giá của hai dân tộc.
Trong
những năm qua, quan hệ Việt Nam-Campuchia không ngừng được củng cố và phát
triển trên mọi lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước,
đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực và trên thế
giới.
Quan
hệ chính trị giữa hai nước tiếp tục phát triển tốt đẹp. Lãnh đạo cấp cao hai
nước duy trì các chuyến thăm, tiếp xúc và trao đổi dưới nhiều hình thức, kể cả
khi dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp. Hợp tác giữa các Bộ, ngành, địa
phương với các cơ chế hợp tác thiết thực được triển khai ngày càng hiệu quả, đi
vào chiều sâu.
Phó
Thủ tướng Lê Minh Khái nhấn mạnh, là một trong những trụ cột quan trọng trong
quan hệ hai nước, hai bên khẳng định không cho phép bất kỳ một thế lực thù địch
nào sử dụng lãnh thổ của mình để gây phương hại tới an ninh của nước kia.
Nhìn
lại chặng đường 55 năm qua, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái khẳng định, mặc dù trải
qua biết bao khó khăn, thử thách cùng với những thăng trầm của lịch sử nhưng
tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và quan hệ hợp tác toàn diện, tốt đẹp
giữa Việt Nam-Campuchia đã và đang không ngừng được củng cố, phát triển,
đóng góp thiết thực cho công cuộc xây dựng, phát triển phồn vinh của hai nước.
Chủ
trương nhất quán của Việt Nam là ủng hộ một nước Campuchia độc lập hòa bình
trung lập và phát triển. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hết sức coi trọng
và dành ưu tiên cao cho mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống,
hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài với Campuchia.
Tại
lễ kỷ niệm, bà Men Sam An, Phó Thủ tướng Vương quốc Campuchia, Chủ tịch Hội Hữu
nghị Campuchia - Việt Nam, Trưởng đoàn đại biểu Vương quốc Campuchia bày tỏ sự
cảm ơn sâu sắc vì sự giúp đỡ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã dành
nhân dân Campuchia trong việc khôi phục và kiến thiết đất nước để có được sự
phát triển như ngày nay. Bà nhắc lại câu nói của Thủ tướng Hun Sen: Một bữa cơm
mà người dân Việt Nam dành cho Thủ tướng Hun Sen trong thời điểm khó khăn nhất
bằng hàng trăm, hàng nghìn tấn gạo trong thời điểm hiện nay,
Campuchia
- Việt Nam, Trưởng đoàn đại biểu Vương quốc Campuchia.
Bà
Men Sam An đặc biệt nhấn mạnh công ơn quý giá và sự hy sinh to lớn của bộ đội
tình nguyện Việt Nam thực hiện nghĩa vụ quốc tế giúp giải phóng nhân dân
Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot vào ngày 7/1/1979.
Bày
tỏ sự trân trọng, lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với sự giúp đỡ,
công ơn của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã luôn giúp đỡ
và đồng cam cộng khổ với nhân dân Campuchia, Phó Thủ tướng Men Sam An khẳng
định, sự ủng hộ và giúp đỡ của Việt Nam đã góp phần đưa Campuchia phát triển từ
một dân tộc đau khổ và chia ly do chiến tranh trở thành quốc gia thống nhất với
hòa bình trọn vẹn và phát triển trên mọi lĩnh vực.
Dự
lễ kỷ niệm, nhiều cựu chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam giúp cách mạng
Campuchia đã chia sẻ về những năm tháng giúp đỡ bạn và kỳ vọng tiếp tục vun đắp
tình hữu nghị giữa hai dân tộc ngày càng đơm hoa kết trái.
Phát
biểu tại buổi lễ, Đại tá Nguyễn Dĩnh, đại diện quân tình nguyện Việt Nam tại
Campuchia bày tỏ: “Tôi cảm thấy mình cũng rất vinh dự, tự hào giúp đỡ được nước
bạn là một trong những quân nhân của Việt Nam mình sang đất nước bạn để giải
phóng khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt, bảo vệ cho nhân dân”.
Đại
tá Nguyễn Dĩnh cho biết Chương trình ươm mầm hữu nghị do Hội Hữu nghị Việt Nam,
Campuchia phát động từ 10 năm qua đã bước đầu cho những trái ngọt đầu tiên.
Hiện nay chương trình đã đỡ đầu hơn 300 sinh viên sang học tập tại các trường
Đại học tại Việt Nam. Đây sẽ là nhân tố góp phần làm cho nhân dân, thế hệ trẻ
hai nước hiểu biết hơn về truyền thống hữu nghị giữa Việt Nam – Campuchia.
Sinh
viên Păn-Chiêu-Vây, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, quá trình học tập tại
Việt Nam là điều kiện tốt để anh và nhiều sinh viên Campuchia mở rộng hiểu
biết. Nhờ học tiếng Việt mà anh cũng hiểu hơn về văn hóa, truyền thống của Việt
Nam.
Đại
diện thế hệ trẻ Campuchia bày tỏ: “Giống như Việt Nam, tục ngữ Campuchia
cũng có câu “uống nước nhớ nguồn”. Thế hệ của chúng tôi không bao giờ quên công
lao của thế hệ cha anh Việt Nam và Campuhia – những người đã giúp chúng tôi có
cuộc sống như ngày hôm nay”.
Đại
diện cho thế hệ trẻ Việt Nam, bạn Lê Thùy Trang, Đại học Công nghiệp Hà
Nội phát biểu cùng khẳng định sứ mệnh của thế hệ trẻ trong việc chung tay
vun đắp tình hữu nghị truyền thống Việt Nam – Campuchia.
“Có ông ngoại là chiến sỹ tình nguyện tham gia
chống nạn diệt chủng Polpot tại Campuchia vào năm 1979, nên tôi càng hiểu rõ về
giá trị của việc được sống và học tập trong hòa bình. Vì vậy, là những người
con may mắn được sống trong hòa bình, độc lập chúng tôi nhận thức rõ trách
nghiệm của mình, phải dùng sức trẻ để góp phần xây dựng đất nước, tiếp tục là
cầu nối hữu nghị của Việt Nam và Campuchia” – đại diện thế hệ trẻ Việt Nam
khẳng định./.
Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022
Việt Nam kiên quyết phản đối Trung Quốc tập trận trên Biển Đông
Việt Nam kiên quyết phản đối Trung Quốc tập trận trên
Biển Đông
Tại buổi họp báo chiều
23.6, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã nhấn mạnh quan
điểm của Việt Nam trước thông tin Trung Quốc tổ
chức tập trận trên trên Biển Đông và vấn đề hợp tác với các quốc gia khác trên
Biển Đông.
Cuộc
tập trận của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam
Trả lời câu hỏi của phóng viên Báo
Thanh Niên trước việc Cục Hải sự tỉnh Hải Nam thông báo tập trận quân sự ngày
19.6 tại khu vực nằm trong lãnh hải 12 hải lý của đảo Phú Lâm, thuộc quần
đảo Hoàng Sa của
Việt Nam.
Trước câu hỏi trên, Người phát
ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định việc Trung
Quốc tiến hành tập trận ở khu vực quần đảo Hoàng Sa đã vi phạm nghiêm trọng
chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này.
Đồng thời, việc Trung Quốc tập trận
cũng đã đi ngược lại tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông
(DOC), gây phức tạp tình hình, không có lợi cho quá trình đàm phán hiện nay
giữa Trung Quốc và ASEAN về Bộ quy tắc ứng xử giữa các bên trên Biển Đông (COC)
và việc duy trì môi trường hoà bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông.
"Việt Nam kiên quyết phản đối
và yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa và không tái diễn vi phạm tương tự", bà Hằng nhấn mạnh
Trước đó, thông báo mới được
đăng trên website của Cục Hải sự
Trung Quốc (MSA) nói rằng cuộc tập trận diễn ra ở Biển Đông vào
ngày 19.6. Thông báo được đăng tải trước đó vào ngày 13.6.
Theo thông báo, khu vực tập trận
được giới hạn bởi 5 điểm lần lượt có tọa độ: 16°55’687 vĩ bắc/112°23’706 kinh
đông; 16°59’674 vĩ bắc/112°28’395 kinh đông; 16°55’035 vĩ bắc/112°32'327 kinh
đông; và 16°51’055 vĩ bắc/112°27’651 kinh đông.
Các
vấn đề Biển Đông cần giải quyết trên cơ sở luật pháp quốc tế
Cũng trong cuộc họp báo, Người phát
ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị
Thu Hằng cũng đã trả lời câu hỏi của các phóng viên về vấn đề
truyền thông Nhật Bản đưa tin, Trung Quốc có ý định biến Biển Đông thành vùng
nội thủy và chính phủ Nhật Bản đã kháng nghị lên Ủy ban Ranh giới, thềm lục địa
của Liên Hiệp Quốc. Nhật Bản muốn sát cánh cùng các nước Đông Nam Á, châu Âu,
Mỹ trong vấn đề Biển Đông và Việt Nam có sẵn sàng hợp tác?
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị
Thu Hằng thông tin, lập trường của Việt Nam đã được thể hiện rõ ràng và đầy đủ
trong công hàm số 22/2020 ngày 30.3.2020 lưu hành tại Liên Hợp Quốc.
Theo đó, Việt Nam khẳng định chủ
quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế
cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam đối
với các vùng biển được xác định phù hợp với Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật
Biển (UNCLOS) 1982.
"Việt Nam cho rằng, các nước
đều chia sẻ nguyện vọng và mục tiêu chung là duy trì và thúc đẩy hòa bình, ổn
định, hợp tác và phát triển tại Biển Đông, giải quyết các tranh chấp trên cơ sở
luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982. Việt Nam luôn
đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào quá trình này", bà Hằng cho biết.
Việt Nam, Thái Lan thúc đẩy hợp tác trong nhiều lĩnh vực
Việt Nam, Thái Lan
thúc đẩy hợp tác trong nhiều lĩnh vực
Trong khuôn khổ tham dự Hội nghị Thượng đỉnh
Phụ nữ toàn cầu tại Bangkok, Thái Lan, ngày 23/6, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh
Xuân đã có cuộc gặp Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan; tiếp Chủ tịch
Hội Hữu nghị Việt Nam-Thái Lan và lãnh đạo các Tập đoàn: AMATA, Siam Piwat,
Central.
Tại cuộc gặp Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Don
Pramudwinai, hai bên vui mừng
nhận thấy quan hệ đối tác chiến lược tăng cường ngày càng phát triển trên mọi
lĩnh vực.
Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đánh giá cao nỗ lực của
Thái Lan tổ chức hội nghị phụ nữ ở cấp quốc tế, thu hút được sự tham gia của
nhiều quốc gia; khẳng định sự hiện diện của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao
Thái Lan tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam-Thái Lan thể hiện sự coi trọng của
Chính phủ Thái Lan đối với hợp tác thương mại, đầu tư song phương cũng như vai
trò và đóng góp của doanh nghiệp nữ trong phát triển kinh tế, xã hội, nhất là
trong quá trình phục hồi và phát triển sau dịch COVID-19.
Phó Thủ tướng Don Pramudwinai đánh giá cao sự tham dự của Việt
Nam ở cấp cao tại Hội nghị Thượng đỉnh Phụ nữ toàn cầu tại Thái Lan lần này,
thể hiện sự ủng hộ của Việt Nam đối với vai trò chủ nhà của Thái Lan, sự coi
trọng công tác bình đẳng giới, đóng góp quan trọng cho thành công của Hội nghị.
Trao đổi về phương hướng làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hai nước
các lĩnh vực trong thời gian tới, hai bên nhất trí tăng cường phối hợp, triển
khai hiệu quả các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao, trong đó có thúc đẩy các
hoạt động trao đổi đoàn cấp cao và các cấp, các cơ chế hợp tác song phương,
tăng cường kết nối kinh tế, cơ sở hạ tầng và chuỗi cung ứng; tạo thuận lợi cho
doanh nghiệp hai nước sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy giao lưu nhân dân.
Hai bên cũng nhất trí tăng cường phối hợp chặt chẽ trong các cơ
chế hợp tác khu vực và tiểu vùng như ASEAN, Mekong, đóng góp vào hòa bình, phát
triển và thịnh vượng chung của khu vực.
kiêm Chủ tịch Phòng Thương mại Thái Lan Sanan Angubolkul - Ảnh:
BNG
Tiếp Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam-Thái Lan kiêm Chủ tịch Phòng
Thương mại Thái Lan Sanan Angubolkul, Phó Chủ tịch nước vui mừng nhận thấy hợp tác văn hóa, giao lưu
nhân dân giữa hai nước ngày càng được mở rộng và được Chính phủ hai nước coi là
một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường
Việt Nam-Thái Lan.
Phó Chủ tịch nước đánh giá cao và đề nghị Hội Hữu nghị Thái
Lan-Việt Nam tiếp tục triển khai các hoạt động phong phú trên các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội và kỹ thuật, đóng góp hiệu quả cho việc tăng cường quan hệ
giao lưu giữa nhân dân hai nước, nhất là những hoạt động kết nối, tạo điều kiện
cho doanh nghiệp hai nước gặp gỡ, tìm kiếm cơ hội hợp tác và đầu tư.
Phó Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận
lợi để Hội Hữu nghị Việt Nam-Thái Lan đẩy mạnh các hoạt động hợp tác với Hội
Hữu nghị Thái Lan-Việt Nam, tiếp tục thúc đẩy sự kết nối doanh nghiệp vừa và
nhỏ hai nước, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng
của Thái Lan và ngày càng có nhiều người dân Thái Lan đi du lịch Việt Nam.
Ông Sanan Angubolkul cho biết Thái Lan luôn coi trọng vai trò
của người Thái gốc Việt. Hội Hữu nghị Thái Lan-Việt Nam luôn hoạt động tích
cực, được lãnh đạo Thái Lan quan tâm và từng nhiều lần trực tiếp làm lãnh đạo
Hội.
Lãnh đạo Hội Hữu nghị Thái Lan-Việt Nam cho biết sắp tới, Hội sẽ
có nhiều hoạt động trao đổi đoàn, tăng cường hợp tác văn hóa, giáo dục, thể
thao, hợp tác địa phương… để đẩy mạnh giao lưu sau khi dịch COVID-19 đã làm
ngắt quãng nhiều hoạt động hợp tác.
Tiếp đại diện lãnh đạo Tập đoàn AMATA, Tập đoàn Siam Piwat, Tập
đoàn Central, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đánh giá cao thành công và
những hoạt động của các Tập đoàn tại Việt Nam thời gian qua.
Phó Chủ tịch nước cho biết Việt Nam đã ban hành Chiến lược thu
hút FDI giai đoạn 2021-2030 và hiện đang từng bước phục hồi kinh tế sau
COVID-19, là điểm đến đầu tư đầy tiềm năng cho các tập đoàn nước ngoài, trong
đó có các tập đoàn của Thái Lan như Siam Piwat đến đầu tư trong các lĩnh vực sử
dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, sử dụng đất
có hiệu quả.
Lãnh đạo các Tập đoàn đều đánh giá Việt Nam là một trong những
điểm đến hấp dẫn của khu vực, khẳng định rất coi trọng và quan tâm mở rộng đầu
tư vào Việt Nam. Các Tập đoàn mong muốn Việt Nam tiếp tục tạo điều kiện để mở
rộng đầu tư trong thời gian tới, tìm kiếm đối tác phát triển dự án chất lượng
cao tại Việt Nam trong lĩnh vực là thế mạnh của mình.
Philippines rút khỏi đàm phán với Trung Quốc về khai thác dầu khí ở Biển Đông
Philippines rút khỏi
đàm phán với Trung Quốc về khai thác dầu khí ở Biển Đông
Ngoại trưởng Philippines Teodoro
Locsin Jr. cho biết, nước này đã rút khỏi các cuộc đàm phán với Trung Quốc về
việc thăm dò và khai thác các mỏ dầu và khí đốt ở Biển Đông.
Hãng tin ABS-CBN dẫn lời ông Locsin ngày 23/6 cho biết, động
thái của Philippines nhằm tránh rơi vào "khủng hoảng hiến pháp".
Trong bài phát biểu nhân kỷ niệm 124 năm thành lập Bộ Ngoại giao
Philippines, ông Locsin tiết lộ thêm, việc chấm dứt hoàn toàn quá trình đàm
phán với Trung Quốc được thực hiện theo chỉ đạo của Tổng thống Rodrigo Duterte.
Tuy nhiên, quan chức này không đề cập đến thời điểm chấm dứt thương lượng giữa
hai nước.
"Tổng thống đã lên tiếng. Tôi đã thực hiện chỉ thị của ông
ấy, chấm dứt hoàn toàn các cuộc thảo luận về thăm dò và khai thác dầu khí.
Không có gì đang chờ được xử lý. Mọi thứ đều kết thúc. Ba năm trôi qua và chúng
ta đã không đạt được mục tiêu phát triển các nguồn tài nguyên dầu khí rất quan
trọng đối với Philippines, nhưng (chúng ta) không phải trả giá bằng chủ quyền,
dù chỉ là chút ít", ông Locsin nhấn mạnh.
Vào thời điểm sắp mãn nhiệm, ông Locsin bày tỏ sự tự hào về
những thành tựu chính sách đối ngoại đã đạt được dưới thời Tổng thống Duterte,
bao gồm cả việc duy trì các quy định luật pháp và giữ vững Công ước Liên Hợp
Quốc về Luật Biển (UNCLOS) cũng như phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực
năm 2016. Ông mô tả đây là "các mỏ neo cho lập trường của Philippines về
Biển Đông".
Vị ngoại trưởng sắp mãn nhiệm cũng đề cập đến việc Philippines
đã nhiều lần gửi công hàm ngoại giao phản đối "bất kỳ sự xâm phạm
nào" trong vùng biển. Ông Locsin đồng thời tái kêu gọi đàm phán về
một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông.
Việt Nam đóng góp thực chất vào các nỗ lực nhân đạo của Liên hợp quốc
Việt Nam đóng góp thực
chất vào các nỗ lực nhân đạo của Liên hợp quốc
Phiên họp 3 ngày về
các vấn đề nhân đạo do Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) tổ chức
đã khép lại ngày 23/6 với cam kết của các nước sẽ tiếp tục tăng cường nỗ lực
nhân đạo trên toàn cầu. Tại đây, Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của các nỗ
lực nhân đạo quốc tế và luôn mong muốn đóng góp thực chất vào các hoạt động
này.
Khai mạc phiên họp với chủ đề “Tăng cường hỗ trợ nhân đạo: thực
tiễn tốt và hành động thực hiện luật nhân đạo quốc tế, phục hồi sau đại dịch
COVID-19 và ứng phó với khủng hoảng về khí hậu”, Tổng Thư ký Liệp hợp quốc
(LHQ) Antonio Guterres cho rằng thế giới đang phải đối mặt với đại khủng hoảng
với các cuộc xung đột, biến đổi khí hậu, nạn đói và giá cả tăng cao.
Trong bối cảnh đó, các cơ quan nhân đạo của LHQ và các đối tác vẫn
đang nỗ lực triển khai các hoạt động để hỗ trợ người dân. Để đối phó với các
thách thức trước mắt, Tổng Thư ký LHQ nhấn mạnh cần xây dựng một hệ thống nhân
đạo linh hoạt, đủ nguồn lực và mạnh mẽ để có thể tiếp cận và bảo vệ những người
dễ bị tổn thương nhất.
Chủ tịch ECOSOC Colin Vixen Kelapile nhấn mạnh phụ nữ và trẻ em
gái bị ảnh hưởng nặng nề hơn trong khủng hoảng nhân đạo, như bị bạo lực trên cơ
sở giới, hạn chế tiếp cận với giáo dục và cơ hội phát triển. Chủ tịch ECOSOC
kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ nhân đạo và đoàn kết với những người bị ảnh
hưởng trong khủng hoảng nhân đạo, cùng rút ra các bài học, đổi mới sáng tạo để
tối đa hóa hiệu quả các hoạt động hỗ trợ nhân đạo.
Các nước nhất trí, chia sẻ các thách thức nhân đạo lớn mà thế giới
đang phải đối mặt. Về biện pháp giải quyết, các nước nhấn mạnh cần đảm bảo tôn
trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là luật nhân đạo quốc tế, bảo đảm và tăng
cường tài chính, thực hiện các cam kết về biến đổi khí hậu, ứng phó với đại
dịch COVID-19, tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quan LHQ để kịp thời hỗ
trợ người dân ở các khu vực đang đối mặt với khủng hoảng.
Phát biểu tại Phiên họp, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn
thường trực Việt Nam tại LHQ, nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động hỗ trợ
nhân đạo và vai trò của các cơ quan LHQ trong lĩnh vực này. Ở cấp độ toàn cầu,
Việt Nam đã ủng hộ 500.000 USD trong năm 2022 cho các Quỹ nhân đạo của LHQ và 1
triệu USD cho cơ chế COVAX. Trong khu vực, Việt Nam cũng đang cùng các nước
thành viên ASEAN thông qua Trung tâm điều phối ASEAN về Hỗ trợ nhân đạo và quản
lý thảm họa (AHA) và các cơ quan LHQ hỗ trợ nhân đạo cho người dân
Myanmar.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang khẳng định hòa bình và ổn định là điều
kiện tiên quyết để đảm bảo tiếp cận nhân đạo an toàn và không bị gián đoạn cho
những người cần hỗ trợ. Các hoạt động nhân đạo cần dựa trên nguyên tắc trung
lập, không thiên vị và độc lập, đề cao Hiến chương LHQ và luật nhân đạo quốc
tế, phù hợp với điều kiện, nhu cầu và hoàn cảnh của từng nước.
Về trách nhiệm của quốc gia, Đại sứ Việt Nam cho rằng các quốc gia
có vai trò và trách nhiệm quan trọng nhất, theo đó cần giải quyết các nguyên
nhân gốc rễ của xung đột và khủng hoảng nhân đạo một cách toàn diện. Bên cạnh
đó, các quốc gia cũng cần tăng cường năng lực ngăn ngừa dịch bệnh, giảm thiểu
rủi ro về khí hậu và môi trường, tăng cường hệ thống cảnh báo sớm và khả năng
sẵn sàng ứng phó, tăng cường tài chính cho thích ứng và khả năng chống chịu.
Đại sứ cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường điều phối, xây
dựng lòng tin giữa các cơ quan LHQ với các Chính phủ và các bên liên quan trong
hành động, tài chính và chia sẻ dữ liệu để kịp thời ứng phó với các thách thức
nhân đạo toàn cầu đang nổi lên. Đại sứ gửi lời chia buồn sâu sắc đến những
người dân Afghanistan chịu ảnh hưởng của trận động đất mạnh tại tỉnh Paktika
ngày 22/6 vừa qua.
TUYÊN BỐ NHÂN QUYỀN CỦA VIỆT NAM!!
CÒN HƠN CẢ CHÍ PHÈO!
Quyết tâm hiện thực hóa “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của dân tộc ta trong thời gian tới
Một là, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” đã được Văn kiện Đại hội XIII thể chế hóa thành các mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, kế hoạch cụ thể, với lộ trình và bước đi phù hợp với điều kiện thực tế.
Có thể nói, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” vừa là động lực, vừa là mục tiêu chiến lược, cao đẹp, xuyên suốt và lâu dài của Đảng, của cả dân tộc ta. Tất nhiên, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đó không phải là công việc giản đơn, có thể hoàn thành trong “một sớm một chiều”. Nhưng quán triệt nguyên tắc bảo đảm tính khoa học và thực tiễn, kế thừa và bổ sung cho phù hợp với những biến đổi trong từng giai đoạn phát triển của đất nước và có sự nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước; đồng thời, trên cơ sở phân tích, dự báo kỹ lưỡng những thời cơ, tỉnh táo cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức bên ngoài, những yếu kém, trở ngại bên trong,... Văn kiện Đại hội XIII đã xác định khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không chỉ được thể hiện, thực hiện trong nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng, mà còn “hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới: Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(7). Và điều này cũng nhất quán với khẳng định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 10 khóa XII: Nói Đại hội XIII không phải chỉ cho đến năm 2026 (giai đoạn 2021 - 2026) mà phải có tầm nhìn chiến lược dài hơn, nhìn lại cả quá khứ và hướng tới tương lai.
Như vậy, việc thể chế hóa, cụ thể hóa “khát vọng phát triển đất nước” thành các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, chương trình hành động, kế hoạch, lộ trình thực hiện mang tính tổng thể, thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta cũng như những diễn biến của tình hình thế giới,... là một trong những phương cách khả thi nhất để góp phần hiện thực hóa khát vọng này. Nếu mục tiêu, chỉ tiêu của từng thời kỳ, từng giai đoạn được thực hiện thắng lợi, thì sẽ trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu chiến lược, tức là hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đã được xác định.
Hai là, Văn kiện Đại hội XIII đã vạch ra định hướng và xác định hệ giải pháp cơ bản để hiện thực hóa “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.
Đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc là cả một quá trình cải biến xã hội mang tính toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa sự chuyển hóa về lượng và biến đổi về chất,... của hệ thống các nhân tố tham gia. Nói cách khác, đó là sự nghiệp cách mạng to lớn, mặc dù rất vẻ vang nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách, nhiều cam go, phức tạp. Vì vậy, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp vĩ đại này, Văn kiện Đại hội XIII xác định phải huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Theo đó, một mặt, Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ, cần tăng cường tuyên truyền, giác ngộ, truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, với sự sinh động, phong phú, thiết thực và hiệu quả bằng các hình thức, phương pháp khác nhau. Trọng tâm là “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc”(8). Chú trọng hun đúc tình cảm và bầu nhiệt huyết cách mạng, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trách nhiệm công dân và nghĩa đồng bào của quần chúng nhân dân. Làm cho khát vọng phát triển đất nước trở thành niềm vinh dự, tự hào, phương châm, lẽ sống và hành động, là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi người dân Việt Nam. Khơi dậy ở đội ngũ thanh niên Việt Nam tinh thần chủ động, dấn thân, xung kích, sáng tạo và lòng khát khao cống hiến cho sự phát triển của đất nước. Đảng ta nhấn mạnh: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội”(9).
Mặt khác, Văn kiện Đại hội XIII còn nhấn mạnh tới việc cần chủ động tạo lập các yếu tố, điều kiện và môi trường xã hội thuận lợi làm cơ sở, động lực để khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước ở mỗi con người Việt Nam. Bởi một điều dễ nhận thấy là, một khi mỗi người dân đã hiểu rõ được những gì họ cần làm để thể hiện lòng yêu nước, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước; thì khi đó, cần tạo những điều kiện, cơ chế, chính sách và môi trường thuận lợi cho mỗi người dân thể hiện lòng yêu nước của mình. Tức là, phải “Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam”(10). Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, từng bước hoàn thiện các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp, để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân. Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tốt tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống, quan tâm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc của người dân; giải quyết tốt vấn đề việc làm, thu nhập của người lao động.
Bên cạnh đó, cần thực hành triệt để dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực chất quyền làm chủ của nhân dân, coi trọng “ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(11). Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia vào các công việc chung của đất nước. Thực hiện đầy đủ, triệt để và thực chất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đẩy lùi nạn tham nhũng, giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Đồng thời, thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước. Tạo lập và phát huy sức mạnh đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, cụ thể hóa phương thức biểu hiện “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” - một biện pháp mang tính đột phá của Văn kiện Đại hội XIII.
Trên thực tế, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không phải là cái gì xa vời, khó hiểu, khó định lượng, bởi Văn kiện Đại hội XIII đã cụ thể hóa thành những phương thức biểu hiện rõ ràng, gắn với yêu cầu về hành động, việc làm thiết thực của mỗi người dân Việt Nam. Trong đó, từ góc độ kinh tế, khát vọng phát triển đất nước được thể hiện chủ yếu ở tinh thần vươn lên xóa bỏ cái “biệt danh” nước nghèo, chậm phát triển. Mặc dù công cuộc đổi mới đất nước sau hơn 35 năm của chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới; tuy nhiên, “dù đạt được những thành tựu rất quan trọng, rất đáng tự hào, nhưng đất nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và hạn chế”(12). Vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ, khát vọng phát triển đất nước hiện nay chính là ý thức lao động hăng say và sáng tạo, nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng của mỗi người dân; nhất là sự cố gắng phấn đấu của thanh niên nước nhà “trong học tập, lao động sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp”(13).
Từ góc độ chính trị - xã hội, một mặt, khát vọng phát triển đất nước là niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần lạc quan về tương lai tươi sáng của đất nước, tiền đồ tốt đẹp của dân tộc; khắc phục triệt để tâm lý tự ti, nhược tiểu. Kiên định, kiên trì, nhất quán mục tiêu, lý tưởng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao ý thức tự giác và gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đó còn là tinh thần đoàn kết, kiên quyết đấu tranh chống lại những thói hư tật xấu, cái bảo thủ trì trệ trong tư duy, suy nghĩ và cách làm; nghiêm khắc lên án, đấu tranh quyết liệt với các hiện tượng tiêu cực xã hội, nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bảo vệ sự trong sạch của bộ máy đảng và nhà nước.
Mặt khác, hiện nay hội nhập quốc tế đã trở thành một vấn đề có tính quy luật, là một tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia - dân tộc; do đó, để phát triển đất nước, tất yếu chúng ta phải mở cửa, hội nhập quốc tế. Mặc dù vậy, hội nhập quốc tế luôn chứa đựng cả thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen nhau. Vì thế, để tận dụng thời cơ, phát huy những yếu tố thuận lợi; khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải kiên định nguyên tắc chiến lược đi đôi với thực hiện sách lược mềm dẻo, linh hoạt trong hội nhập quốc tế; lấy phương châm độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường làm chủ đạo; đồng thời, phát huy tối đa các nhân tố bên ngoài có lợi, tích cực, chủ động mở rộng hợp tác quốc tế. Chúng ta hội nhập với thế giới để phát triển nhưng không để bị “hòa tan”, không “đánh mất mình”; trái lại, phải giữ vững nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(14).
Từ góc độ khoa học và tri thức, đã như một chân lý - muốn đi xa, hành trang phải đầy đủ, vì vậy, để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước rất cần những con người có tri thức, đủ năng lực và trình độ để thực hiện khát vọng đó. Đặc biệt, để phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực chủ động hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư,... càng không thể thiếu vai trò to lớn, động lực then chốt của khoa học, công nghệ và tri thức. Do vậy, Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ, thế hệ trẻ nước nhà hiện nay cần thể hiện khát vọng phát triển đất nước của mình bằng hành động xung kích nơi “trận tuyến” tri thức, khoa học và công nghệ; dám nghĩ, dám làm, năng động, nhạy bén và sáng tạo, “làm chủ các kiến thức khoa học, công nghệ hiện đại”(15); đi tắt, đón đầu trong nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ của khoa học, công nghệ vào sản xuất, đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, giá thành hạ.
Văn kiện Đại hội XIII và quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện càng khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cách mạng bao nhiêu thì lại càng vấp phải sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch bấy nhiêu. Việc các thế lực thù địch, phản động ra sức công kích, bài bác và phủ nhận Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ càng chứng tỏ tính đúng đắn và giá trị của đường lối, chủ trương mà Đảng đã hoạch định, được nhân dân kỳ vọng, tin tưởng, ủng hộ, đồng tình./.
Phê phán các luận điệu sai trái, xuyên tạc vấn đề “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
Nhận diện một cách đầy đủ và đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với âm mưu, ý đồ, thủ đoạn của các đối tượng chống phá, xuyên tạc là góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức tự đề kháng, củng cố niềm tin của mỗi người cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; qua đó, khơi dậy sự chung sức, đồng lòng của toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”
Một trong những điểm mới và quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIII là lần đầu tiên Đảng ta xác định “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(1). Đây cũng là bước đột phá trong tư duy của Đảng về sức mạnh nội sinh và phương thức phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Ấy vậy mà các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị, phản động, chống đối, lại đang rêu rao, xuyên tạc rằng, đó là quan điểm duy tâm chủ quan, một khẩu hiệu trống rỗng, phi thực tế, phản khoa học,... hòng thực hiện mưu đồ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta.
Chúng lý sự rằng, “khát vọng” là yếu tố tinh thần, là mặt tinh thần của đời sống xã hội; do đó, khi Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần đề cập và nhấn mạnh đến thành tố “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII (từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược) thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần và lấy nó làm cơ sở, nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nên rõ ràng là một quan điểm duy tâm chủ quan; đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin (?!).
Xét bản chất, dựa trên lý luận của triết học Mác - Lê-nin về tính độc lập tương đối của ý thức và vai trò, sức mạnh to lớn của tinh thần con người, chúng ta có đủ luận cứ, luận chứng khoa học để phản bác các luận điệu sai trái, nhưng hết sức tinh vi, xảo quyệt nói trên của các thế lực thù địch. Đó là, tuy khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, nhưng các nhà kinh điển mác-xít cũng đồng thời nhấn mạnh, ý thức có tính độc lập tương đối với vật chất, có tính năng động, sáng tạo nên có thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Chính vì vậy, V.I. Lê-nin khẳng định: “Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan”(2). Đặc biệt, ý thức tiến bộ, cách mạng một khi được giáo dục, khơi dậy và phát huy đúng cách ở mỗi cá nhân sẽ trở thành sức mạnh tinh thần vĩ đại trong cải tạo xã hội. Đúng như C. Mác đã nói: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”(3).
Điều đó có nghĩa, ý thức, tư tưởng hay tinh thần của con người, trong đó có các khát vọng chính đáng, hợp lý, hoàn toàn không phải là sản phẩm tiêu cực, thụ động, mà luôn chứa đựng sức mạnh tiềm tàng rất to lớn. Và để hiện thực hóa sức mạnh ấy, để biến nó thành sức mạnh vật chất, đòi hỏi phải biết thường xuyên khơi dậy, bồi đắp và chuyển hóa nó thành các hành động cụ thể, các phong trào xã hội thiết thực. Như C. Mác đã viết: “tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”(4) và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý... Bổn phận của chúng ta là... phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”(5). Vì vậy, trong mỗi thời kỳ, ở mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, giá trị và sức mạnh của tinh thần yêu nước cũng như khát vọng phát triển đất nước luôn phụ thuộc rất lớn vào khả năng khơi dậy, phát huy và hiện thực hóa của các thế hệ.
Thực tiễn cũng đã chứng minh, trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sống, tồn tại và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Không hiếm dân tộc hay nền văn minh trên thế giới bị đồng hóa, bị tiêu diệt trong quá trình biến thiên lâu dài của lịch sử, khi không có sự đoàn kết toàn dân tộc, nhất là thiếu khát vọng độc lập, tự cường và phát triển. Đối với dân tộc Việt Nam, yếu tố này lại càng nổi bật và biểu hiện sinh động hơn hết. Như sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, không ngừng được đắp bồi và phát triển, tinh thần yêu nước cùng với khát vọng phát triển đất nước là những giá trị tiêu biểu, tạo nên sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Chính khát vọng cháy bỏng phải giành, bảo vệ cho được độc lập, tự do, thống nhất đất nước đã tạo nên sức mạnh phi thường để dân tộc ta trường tồn và phát triển. Trong lịch sử, ông cha ta đã đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của các đế quốc ngoại bang, giữ vững nền độc lập dân tộc không phải chủ yếu bằng tiềm lực quân sự, bằng sức mạnh vật chất, mà chủ yếu là bằng sức mạnh quật khởi vĩ đại của sự đoàn kết, của khát vọng về chủ quyền quốc gia.
Một mặt, với những lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động, dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực đầy đủ, cùng với tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược và nhạy bén chính trị, sự kiên định và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã rất đúng, rất trúng khi xác định một cách mạch lạc, đầy sức thuyết phục về khát vọng phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đó là động lực quan trọng, nguồn năng lượng nội sinh to lớn để đưa đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển, “cất cánh” trong kỷ nguyên mới. Văn kiện Đại hội XIII hoàn toàn không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước, mà xác định rất rõ đây là một trong những động lực để tạo thành “hợp lực” cho đổi mới, phát triển và hội nhập; là động lực tinh thần chứ không phải động lực vật chất; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất. Do đó, trước những luận điệu cho rằng quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII là duy tâm chủ quan, mỗi người có sự hiểu biết và tỉnh táo, khách quan đều thấy rõ đó chỉ là một sự non kém về kiến thức triết học và tri thức lịch sử,... hoặc là những ý đồ chính trị hết sức tinh vi và thâm độc, một dạng của thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung, vốn không được bất kỳ khoa học nào đánh giá cao.
Mặt khác, Văn kiện Đại hội XIII đã được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; được góp ý, chỉnh lý, sửa chữa nhiều lần (riêng Báo cáo chính trị là khoảng 30 lần); được nhiều nhà khoa học, nhà lý luận nghiên cứu, biên soạn một cách cẩn trọng, nghiêm túc, cân nhắc từng từ, từng câu, từng chữ. Văn kiện được đánh giá có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định và đổi mới, giữa kế thừa và phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc”(6). Văn kiện có văn phong trong sáng, súc tích, giản dị, từ ngữ chắt lọc, dễ nhớ, dễ thực hiện; mỗi nhận định, đánh giá, nội dung bổ sung đều có căn cứ xác đáng, nhất là những luận điểm mới như vấn đề “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Tất cả những điều đó chứng minh tính khoa học, khách quan của những đánh giá, các mục tiêu, nhiệm vụ trong Văn kiện Đại hội XIII.
Thế nhưng, các thế lực thù địch đã, đang lớn tiếng cho rằng, đó chẳng qua chỉ là một lời hiệu triệu, một ước vọng hão huyền, vì nó chỉ có ý nghĩa hô hào, mang tính chất khẩu hiệu thuần túy, trong khi không xác định được những chủ trương, không định vị rõ lộ trình, không đề ra biện pháp cụ thể để hiện thực hóa khát vọng đó. Vì tính quy chụp, xảo ngôn đó, những luận điệu này đã thể hiện một “tư duy thiển cận”, phiến diện, siêu hình và về thực chất, chỉ là một cái nhìn đầy định kiến, “sặc mùi” cơ hội chính trị và phản khoa học.
Bởi lẽ, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không những xác định rõ các chủ trương, chiến lược, sách lược đúng đắn, mà còn đề xuất phương hướng và hệ thống những giải pháp mang tính đồng bộ, khoa học, khả thi cao để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Điều này không chỉ thể hiện sự sáng tạo trong tư duy lý luận của Đảng, mà còn là cơ sở khoa học, là bằng chứng hùng hồn để phản bác lại những quan điểm sai trái, cố tình bóp méo, xuyên tạc Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta.
Một số giải pháp cần tập trung thực hiện để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian tới
Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, đồng thời để khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp:
Thứ nhất, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng, nâng cao nhận thức của người đứng đầu cấp ủy ở các cấp, các ngành về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã đề ra.
Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, ý thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, hình thành ý thức tự giác, thúc đẩy hành động tích cực trong việc bảo vệ, đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ ba, nhận diện và phân loại từng đối tượng, trên cơ sở xem xét ở nhiều mặt như động cơ, vai trò, nội dung các luận điệu, mức độ tác động… để đưa ra biện pháp đấu tranh thích hợp và có hiệu quả; tránh tình trạng hoặc xử lý thiếu kiên quyết, không triệt để hoặc cực đoan, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá.
Thứ tư, tăng cường các giải pháp về kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, sàng lọc, làm loãng, quản lý thông tin nhằm chủ động ngăn chặn sự lan truyền những luận điệu sai trái, thù địch và các trang mạng xấu, độc; xây dựng hệ bài viết có nội dung đấu tranh sắc bén và giàu tính chiến đấu, từng bước giành thế chủ động trên không gian mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, sắp xếp, kiện toàn bộ máy chỉ đạo, nhóm chuyên gia, lực lượng nòng cốt (từ Trung ương đến địa phương), đổi mới mô hình và phương thức hoạt động; đặc biệt, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, các cấp, các ban, ngành và phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ năm, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc, phản động phải đi liền với việc khẳng định và phát triển các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh; với việc rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, chú trọng nghiên cứu, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những vấn đề lớn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta qua hơn 35 năm đổi mới dưới sự soi sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng đanh thép, sống động và thuyết phục nhất để phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, đồng thời khẳng định giá trị, tính đúng đắn, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.