Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

VIỆT NAM ƠI ! BIỂN ĐẢO GỌI QUÊ NHÀ


(Phản đối TQ thành lập 2 quận trên Hoàng Sa, Trường Sa)
Bao ngày qua trái tim ta uất nghẹn
Dâng trong lòng, một nỗi hận hờn căm
Phía Trung Quốc ngang ngược đã bao năm
Chiếm trọn Hoàng Sa, rồi Trường Sa cũng chiếm...
Cha ông ta đã bao lần ngã xuống
Máu nhuộm Gạc Ma, sóng đỏ thét gào
Nỗi hận ấy, ngày mỗi một dâng cao
Khi họ đưa tầu khoan trên thềm lục địa
Năm châu phản đối, bỏ ngoài tai mặc kệ
Vẽ đường lưỡi bò, muốn chiếm trọn biển đông
Bao người dân, bức xúc ở trong lòng
Tầu cá bị đâm chìm, khi ngư dân bám biển
Dân tộc Việt Nam không ngại gì chinh chiến
Sẵn sàng lên đường, giữ biển đảo quê hương
Nhưng tình người Việt Nam lan tỏa khắp bốn phương
Là yêu hòa bình, ghét chiến tranh máu đổ...
Ta nhún nhường, họ càng không hiểu rõ
Ngang ngược xây sân bay, thành lập quận" Nam Sa"
Rồi cả quận "Tây Sa" trên biển đảo quê ta
Biển đảo đau thương, vang vọng tới quê nhà
Việt Nam ơi! Hoàng Sa, Trường Sa gọi
Mỗi người dân hãy góp thêm tiếng nói
Đấu tranh hòa bình! Đòi biển đảo quê hương.
Trung Quốc hãy dừng ngay tham vọng xâm lăng
Bởi mỗi tấc đất Lạc Long cha để lại
Con cháu Hùng Vương sẽ đời đời giữ mãi
Dẫu máu đào có phải đổ thành sông
Bao cuộc chiến chinh vệ quốc thật oai hùng
Mà cha ông, đã hiển danh sử sách
Kẻ thù đến, chúng ta cùng quét sạch
Trả lại chủ quyền cho đất mẹ thiêng liêng...
Vũ Tuấn
329
7 bình luận
21 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Freedom House lại xuyên tạc tình hình dân chủ ở Việt Nam

 Ngày 2/6 vừa qua, tổ chức Freedom House tung ra cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong”. Nội dung của báo cáo có nhiều thông tin bịa đặt, sai trái về tình hình thực tế tại Việt Nam.

Freedom House không còn là cái tên xa lạ. Theo tuyên bố được đưa ra, mục đích hoạt động của Freedom House là ủng hộ sự tiến bộ và thúc đẩy, mở rộng tự do, dân chủ trên toàn thế giới. Hằng năm, tổ chức này xây dựng và công bố các báo cáo như: Báo cáo tự do trên thế giới, báo cáo tự do trên mạng, báo cáo tự do và truyền thông… Tuy nhiên, nhiều năm qua, những thông tin mà tổ chức này nêu ra liên quan đến nhiều nước, trong đó có Việt Nam lại sai lệch thực tế, mang động cơ tiêu cực về chính trị.

Vẫn như thường lệ, nội dung của cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” được Freedom House tung ra hôm 2/6 tiếp tục là những thông tin sai sự thật, vu cáo về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Tổ chức này vu cáo rằng, Việt Nam là một trong số các quốc gia “thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”; “quấy rối, cấm xuất cảnh hoặc bị tịch thu hộ chiếu đối với các “nhà dân chủ” chỉ vì họ báo cáo vi phạm nhân quyền của Chính phủ lên các cơ chế nhân quyền Liên hiệp quốc”?!…

Ngay sau đó, một số trang báo nước ngoài có tư tưởng thù địch hoặc cái nhìn thiếu thiện cảm với Việt Nam cùng các kênh truyền thông do các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đã nhanh chóng khai thác, lan truyền những nội dung sai lệch trên để làm nhiễu loạn thông tin, bóp méo sự thật, tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Thực ra, đây là chiêu trò cũ lặp lại của Freedom House. Tổ chức này liên tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có quyền tự do, dân chủ. Việc đánh giá, xếp hạng của Freedom House không căn cứ vào những tài liệu chính thống, không dựa vào tình hình đời sống thực tế của người dân ở Việt Nam.

Thay vào đó, tổ chức này bắt tay với các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị người Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng các cá nhân, tổ chức nước ngoài có định kiến với Việt Nam để tiến hành phỏng vấn, thu thập thông tin, từ đó vu khống Việt Nam xâm phạm các quyền tự do, dân chủ.

Hoạt động của Freedom House thể hiện rõ sự định kiến, thù địch đối với Việt Nam. Tổ chức này luôn luôn đánh đồng, quy chụp rằng trong chế độ chính trị một đảng lãnh đạo là không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền. Không riêng Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng liên tục bị Freedom House cho vào “tầm ngắm”.

Mục đích của tổ chức này là thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền để tấn công, can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Trong một bài trả lời phỏng vấn VTV, ông Yerlan Baizhanov – Đại sứ Kazakhstan tại Việt Nam đã đánh giá: “Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như Freedom House mà Nhà nước của chúng ta hoạt động để người dân có cuộc sống tốt lên trên thực tế. Đó mới là điều quan trọng nhất”.

Phải khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của người dân. Các chính sách phát triển con người được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, từ xoá đói giảm nghèo đến phát triển giáo dục, y tế, lao động, việc làm.

Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để tất cả mọi người trong xã hội tiếp tục thừa hưởng, thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, có chất lượng, thực chất và hiệu quả hơn. Không chỉ riêng Việt Nam mà với tất cả các nước trên thế giới, nếu muốn đánh giá về sự tự do, dân chủ, nhân quyền thì chắc chắn phải dựa vào ý kiến của đại đa số người dân của đất nước đó.

Việc một số cá nhân, tổ chức như Freedom House không ở Việt Nam, không nhìn nhận bằng các khảo sát khách quan nhưng lại liên tục đưa ra đánh giá, phán xét về Việt Nam với gam màu xám cho thấy rõ chiêu trò quy chụp, và vì thế hiển nhiên không đủ độ tin cậy.

Hiện nay Việt Nam là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thế giới với khoảng 70 triệu người dùng (chiếm gần 70% dân số). Vì vậy, nếu không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền thì chính người dân Việt Nam sẽ lên tiếng, đấu tranh bảo vệ các quyền của bản thân. Người dân Việt Nam không cần sự “ban phát tự do, nhân quyền” của Freedom House hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

Với những cáo buộc của Freedom House khi cho rằng Việt Nam không có tự do, chính quyền đang tiến hành “tấn công mạng”, “đàn áp xuyên biên giới”, rõ ràng đây là những luận điệu phi lý, xuyên tạc một cách trắng trợn. Những dẫn chứng được tổ chức này đưa ra là hết sức kệch cỡm. Trong danh sách “nạn nhân” của “đàn áp xuyên biên giới” được Freedom House lấy làm ví dụ như A Ga và tổ chức VOICE, đây đều là thành phần chống phá đất nước, có nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam. Về A Ga, đây là đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai truy nã về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”.

Tháng 9/2020, A Ga chính thức thành lập cái gọi là “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” – một tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Thông tin về tổ chức này đã được Công an tỉnh Đắk Lắk công bố trên mạng Internet. Đối với cái gọi là “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại” – VOICE, đây thực chất là tổ chức phản động ngoại vi của Việt Tân.

Các cơ quan báo chí đã nhiều lần vạch trần bản chất của tổ chức này. Trong đó có thể kể đến như: bài báo “Về Trịnh Hội và tổ chức VOICE” đăng ngày 27/7/2015 trên Báo Nhân dân; loạt bài “Bản chất của các tổ chức “xã hội dân sự” – tổ chức ngoại vi của Việt Tân” đăng trên Báo CAND tháng 1/2022…

Rõ ràng, Freedom House và các đối tượng chống đối đã diễn một “màn kịch dân chủ” hết sức vụng về nhằm mục đích tấn công chống phá Việt Nam. Các hoạt động của Freedom House ngày càng khẳng định rõ bộ mặt gian trá, lợi dụng danh nghĩa thúc đẩy tự do, dân chủ để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là hoạt động lợi dụng dân chủ, vi phạm quy định của pháp luật quốc tế, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân Việt Nam.

CẢNH GIÁC VỚI MƯU ĐỒ BÔI ĐEN HIỆN THỰC, CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT QUÂN-DÂN!

 Trước sự ra đi của một quân nhân thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc khi tuổi đời còn quá trẻ, khi mà tương lai tốt đẹp đang chờ đợi em ở phía trước thì hết thảy mọi người đều đau lòng, đều thương xót. Mọi người đều mong muốn được biết tận cùng về sự thật. Chắc chắn trong mỗi chúng ta không ai có thể ngay lập tức chấp nhận được một thực tế quá đau lòng này.

Khi mà sự thật chưa được làm sáng tỏ thì chúng ta đều ít nhiều có những phân tích, suy luận và đánh giá về sự việc theo quan điểm và cách nghĩ của mỗi cá nhân, nhưng hết thảy chúng ta đều là những người ngoài cuộc, tư duy, suy luận của chúng ta không có đầy đủ các dữ liệu, chứng cứ để đưa ra một kết luận hoàn toàn khánh quan chính xác. Để khắc phục hạn chế đó chúng ta đã có những cơ quan chuyên trách, có chuyên môn, có nghiệp vụ, chịu trách nhiệm trước Nhân dân, trước Đảng, trước Nhà nước và quân đội khi thực thi chức trách nhiệm vụ này.

Quân đội là một xã hội thu nhỏ, mọi việc xảy ra ngoài xã hội cũng có thể xảy ra trong quân đội. Có lẽ quân đội nào trên thế giới cũng có việc các quân nhân mâu thuẫn, xíc mích, mất đoàn kết đặc biệt là ở một môi trường các quân nhân đang trong lứa tuổi học tập, rèn luyện để hoàn thiện về nhân cách, cũng có thể có những sự việc đáng tiếc xảy ra nhưng mỗi sự việc là một nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh và kết quả khác nhau không có bất cứ sự việc nào giống sự việc nào và chúng ta không thể lấy sự việc này để kết luận thay cho sự việc khác.

Nếu mỗi chúng ta đều cho mình một cái quyền là cơ quan chức năng, là chuyên gia pháp y… khi gần như không có kiến thức chuyên môn liệu chúng ta có tránh khỏi những kết luận vội vàng.

Thương xót đồng loại, người thân là một trạng thái tâm lý, đạo đức tích cực nó làm cho mỗi chúng ta trở thành con người theo đúng nghĩa hơn, nhưng không có nghĩa như thế là chúng ta có quyền phán xét hay đưa ra những kết luận về một sự việc vốn cần có chứng kiến, hiểu biết đầy đủ về diễn tiến và hơn hết là một chuyên môn khoa học.

Về tình cảm có lúc ai cũng trải qua những cảm xúc và cũng tự đặt ra những câu hỏi, cũng có lúc ít nhiều có hoài nghi như rất nhiều người. Nhưng không vì suy nghĩ của chúng ta mà cơ quan chức năng lại đưa ra một kết luận về một sự việc nếu nó không tồn tại và không xảy ra như vậy. Chúng ta không thể kết luận và quy tội với một cá nhân hay một tổ chức là có tội nếu họ vốn không có tội. Và chúng ta cũng hoàn toàn tin tưởng rằng cá nhân, tập thể nào vi phạm chắc chắn đều không thể tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật.

Khi sự việc chưa có một kết luận cuối cùng của cơ quan chức năng, mỗi chúng ta nên hãy bình tĩnh để chờ đợi, đừng suy diễn, đừng tự làm chuyên gia pháp y, hay thẩm phán, quan tòa. Đặc biệt là chúng ta không để sự việc này là cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng để chia rẽ truyền thống gắn bó cá- nước của quân và dân.

Việc đâu có đó, sự thật sẽ được công bố, nếu có sai phạm chắc chắn sẽ được xử lý nghiêm.

Nếu ai đó đang kêu gọi thanh niên không thực hiện nghĩa vụ quân sự, xin hãy bình tâm nghĩ lại nếu không có sức mạnh quân đội liệu đất nước có được hòa bình. Rất nhiều thế lực thù địch đang mong chờ vào điều đó. Hơn lúc nào hết chúng ta cần bình tĩnh, tin vào Nhà nước, tin vào công lý, và tin vào Quân đội. Chỉ có đoàn kết, thống nhất mới giúp Dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn.

Cả hệ thống chính trị, Chính phủ và nhân dân ta chống dịch và phát triển kinh tế trong thời điểm khó khăn này cũng đủ vất vả lắm rồi. Xin chúng ta đừng tự làm chúng ta khó khăn hơn nữa.

VÌ SAO CÁC "NHÀ" DÂN CHỦ TRONG NƯỚC SỢ "DÍNH" ĐẾN VIỆT TÂN?

 Đây không chỉ còn là quy kết của chính quyền, công an. Chính đám dân chủ cũng rất sợ bị khẳng định “dính” đến Việt tân. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn và đám tay chân VOICE, số cầm đầu cốt cán NO-U, Con đường Việt Nam…đều nhiều lần công khai phủ nhận mình bị chi phối hoạt động bởi Việt tân, cho dù chúng biết rõ kẻ đang điều hành hoạt động của chúng là VOICE, Dân làm báo…đều là tổ chức ngoại vi của Việt tân. Vì sao họ sợ “mang tiếng” là dính đến Việt tân như vậy?

Thứ nhất, là họ sợ truyền thống khủng bố, manh động, liều lĩnh của Việt tân. Dính đến Việt tân đã bị Bộ Công an Việt Nam kết luận là tổ chức khủng bố, đồng nghĩa với việc dân chúng, dư luận quốc tế sẽ có cái nhìn “thiếu thiện cảm” về họ. Thêm nữa, nếu họ phản bội băng đảng này thì tương lai vô cùng u ám khi bị đám công đồ số đông đó khủng bố hàng ngày bằng truyền thông. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là bằng chứng rõ nét nhất, sau khi bị bội bạc với người tình Việt tân, Quỳnh chống Việt tân quyết liệt nên luôn bị dàn đệ tử cuồng Việt tân cả trong và ngoài nước tấn công hàng ngày, nay sang Mỹ còn thảm hơn.

Thứ hai, Việt tân có truyền thống đẩy tay chân trong nước vào tù.

Tổ chức khủng bố Việt Tân được đại diện bởi đối tượng Đỗ Hoàng Điềm và một số thành viên vệ tinh được bầu chọn làm kẻ cầm đầu của tổ chức. Việt Tân đã đẩy các thành viên của chính tổ chức này vào con đường tù tội bằng những hành vi khủng bố, phá hoại. Rõ ràng, để chống phá Việt Nam, các thành viên của tổ chức này phải chứng minh bằng hành động như tuyên truyền chống phá, khủng bố phá hoại, đào tạo huấn luyện... và đó chính là mối quan hệ giữa “nguyên nhân” và “kết quả” khi các đối tượng rơi vào vòng lao lý. Các thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam, mà còn vi phạm pháp luật quốc tế về các hành vi xuất, nhập cảnh trái phép, khủng bố phá hoại...

Thời gian qua, cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã bắt giữ và đưa ra điều tra, xét xử nhiều đối tượng liên quan đến tổ chức khủng bố Việt Tân, như: Nguyễn Quốc Quân, Trương Leon, Mai Hữu Bảo, Lương Văn Mỹ, Nguyễn Thị Thanh Vân... và các đối tượng đều nhận các bản án thích đáng trước pháp luật, là hậu quả do chính họ đã dấn thân vào Việt tân.

Chính đám tay chân trong nước đã tổng kết quy trình của Việt tân sau khi đẩy đồng bọn vào tù là dùng họ để truyền thông quảng bá ảnh hưởng của tổ chức, lấy họ làm “bằng chứng” để ngoại giao với thế giới để tố cáo Việt Nam, dùng họ để gây quỹ và lòe bịp kiều bào thu tiền…

Chẳng hạn, trường hợp Châu Văn Khảm sau khi bị xét xử, đồng loạt các tổ chức, cá nhân chống phá Việt Nam ở trong nước, nước ngoài, trong đó “chủ công” là tổ chức khủng bố Việt Tân đã đưa thông tin lên mạng suy tôn hành vi của đối tượng là một “hoạt động cải cách Việt Nam”, đồng thời kêu gọi các nhà nước can thiệp để Việt Nam thả tự do cho Khảm và đồng bọn. Ngày ngày, Việt Tân nghĩ ra đủ chiêu trò khai thác hỉnh ảnh Châu Văn Khảm để nuôi dưỡng truyền thông, nào là “chúc mừng sinh nhật tù nhân lương tâm Châu Văn Khảm”; nào là kêu gọi cộng đồng cùng tham gia ký kiến nghị thư để đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm, nào là vận động chính giới, dân biểu Mỹ, EU can thiệp, bảo trợ cho Châu Văn Khảm...

Mượn chính thành viên đã bị kết án để chống phá Nhà nước, đó là cách mà Việt Tân đã khôn ngoan lựa chọn, dụng ý với những thủ đoạn thâm hiểm mà chính những thành viên tham gia vào tổ chức khủng bố này không hay biết. Tổ chức khủng bố Việt Tân tự đẩy sự việc đi xa, định hướng dư luận bằng luồng thông tin không chính xác về Châu Văn Khảm. Và chính những nguồn tin này đã gây ra “điểm mù” khi vẫn còn nhiều người thiếu nhãn quan chính trị, sự khách quan, thấu đáo và thận trọng trong đánh giá vụ việc.

Thứ ba, việc dính đến Việt tân đồng nghĩa vỏ bọc đấu tranh ôn hòa, bất bạo động, cơ hội thành “chính khách” càng xa vời bởi “lý lịch” quá đen tối, bẩn thỉu của Việt tân, khiến chính kiều bào phải tố cáo, những người nước ngoài có lương tri phải ghê sợ.

Việt Tân đã lộ rõ bản chất chống phá Việt Nam, mặc dù chúng vẫn rêu rao các hoạt động vì Tổ quốc, vì người dân Việt Nam. Nếu xét thấu đáo thì mọi hành vi của chúng đều hướng đến mục đích cá nhân, bởi vậy, các thông tin nhào nặn, tuyên truyền tạo nên tâm lý hoài nghi, dao động, tăng cường kêu gọi sự can thiệp của bên ngoài vào Việt Nam về vấn đề “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”... thực chất là phục vụ các thế lực phản động quốc tế đang dung dưỡng chúng. Truyền thống và hiện thực đã quá đủ để cảnh báo bất cứ thuộc hạ, đám a dua nào dây dưa đến Việt tân.

Trăm lần nghe không bằng một lần thấy

 

Trăm lần nghe không bằng một lần thấy

Thực tế công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân của Đảng đang gặp những khó khăn nhất định. Do sự phát triển của “mạng xã hội” Chúng thường sử dụng các trang mạng xã hội, tạo dựng các sự kiện giả giống thật, để làm lẫn lộn thật, giả, gây hậu quả khó phân biệt đúng, sai dẫn đến Nhân dân từ mơ hồ đến mất lòng tin vào Đảng. Vì vậy, chúng ta phải tích cực phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, để Nhân dân nhận thức đúng, sớm hiểu cái mới. Khi dân hiểu và thừa nhận Đảng là của dân, là Dân tin và trực tiếp tham gia đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Sự đồng hành của Nhân dân cùng toàn bộ hệ thống chính trị và lực lượng chuyên trách là cơ sở để xây dựng một mạng lưới đấu tranh mạnh mẽ, là điều kiện để đánh tan âm mưu chống phá của bọn phản động trên môi trường không gian mạng. st/4647

THẾ NÀO LÀ "CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HOANG TƯỞNG"?

 Xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội là những luận điệu từ trước đến nay các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn luôn tiến hành, đặc biệt là những thời điểm có tính quyến định về đường hướng phát triển của đất nước. Chúng cho rằng “Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đi theo vết xe đổ của Liên Xô”, “Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản là trái quy luật, là duy ý chí nên thất bại”, “Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa”.

Hay gần đây trang mạng “Dân làm báo” vừa đăng tải bài viết “Việt cộng lải nhải chủ nghĩa xã hội hoang tưởng và quảng cáo dân chủ giả hiệu là do dốt nát hay điếm đàng?”. Vậy thực tế có phải chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước xã hội chúng ta đã và đang lựa chọn là “chế độ xã hội hoang tưởng” như những gì “Dân làm báo” đã đăng tải?

Thứ nhất, chúng ta phải nhận thấy rõ việc Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội là hợp quy luật phát triển của lịch sử. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, ngay từ Chánh cương vắn tắt được thông qua tại Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng đã xác định làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đến Cương lĩnh năm 1991, Đảng đã xác định “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội và đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa khẳng định “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”, “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Thứ hai, thực tiễn phát triển của cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đã xác định: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn. Lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã ội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Những thành tựu của 35 năm thực hiện cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Vậy nên những gì mà Dân làm báo hay những kẻ chống phá đất nước xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta hay về cái gọi là "chủ nghĩa xã hội hoang tưởng"... là hoàn toàn sai sự thật và đó là luận điệu của những kẻ lạc lõng trong gần 100 triệu người dân Việt Nam mà thôi.

 PHÍA SAU ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH LÀ MỘT TẦM NHÌN

Năm 2002, Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ (NSA) công bố một báo cáo dày 500 trang có tựa đề “Spartans in darkness” (tạm dịch là Chiến binh trong bóng tối), kể về những bí mật được hé lộ của cuộc chiến tranh Đông Dương từ năm 1954 đến 1975. Tác giả Robert J. Hanyok, sử gia của NSA đã có một chương dành riêng cho đường mòn Hồ Chí Minh, trong đó có câu nguyên văn như sau: “The Ho Chi Minh Trail is one of the great achievements in military engineering of the twentieth century.” – Tạm dịch: “Đường Hồ Chí Minh là một trong những thành tựu vĩ đại của nền kỹ thuật quân sự ở thế kỷ 20”.
Báo cáo viết: “Như đã đề cập ở phần đầu của chương, Đường mòn Hồ Chí Minh còn hơn cả một con đường đơn giản nối từ Bắc vào Nam Việt Nam. Con đường này là một công trình kỹ thuật quân sự mà miền Bắc Việt Nam đã liên tục mở rộng và cải tiến cho đến khi nó trở thành một mạng lưới rộng khắp và bao trùm. Đến năm 1974, tức là tròn 15 năm kể từ khi mở ra con đường này, nó đã đưa khoảng một triệu binh lính và cán bộ chính trị ở miền Bắc đến tiếp liệu cho Miền Nam.”
Nhắc đến đường mòn Hồ Chí Minh, thì tướng Đồng Sỹ Nguyên là người nổi tiếng nhất, dấu ấn nhiều nhất với 10 năm làm Tư lệnh Trường Sơn. Cái bóng của tướng Đồng Sỹ Nguyên quá lớn nên ít ai biết đến cái tên Võ Bẩm – người “khai sơn phá thạch” đường Trường Sơn, vị tư lệnh đầu tiên. Và còn một nhân vật vĩ đại nữa phía sau con đường này!
Ngày 19/5/1959, Đoàn 559 tức Binh Đoàn Trường Sơn được thành lập, bổ nhiệm Thượng tá Võ Bẩm giữ chức vụ Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 559. Trách nhiệm của Đoàn 559 rất rõ ràng: mở một mạng lưới giao thông quân sự chạy dọc dãy Trường Sơn, từ miền Bắc qua miền Trung, hạ Lào và Campuchia để vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật, lương thực, thực phẩm, đưa đón cán bộ chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam.
"Cuối tháng 5-1959, đơn vị lên tàu ở ga Tiên Kiên, một ga nhỏ trên tuyến đường Hà Nội - Lào Cai. Không có ai tiễn đưa, cảnh ra đi đơn giản như một cuộc chuyển quân bình thường về hậu phương. Về Hà Nội, chỉ đứng lại ga Hàng Cỏ mấy tiếng đợi tàu rồi đi luôn vào Thanh Hóa, rồi đi ôtô từ đó vào Khe Hó, một khu rừng đại ngàn ở tây Vĩnh Linh". (trích)
Họ không biết rằng hành trình đơn giản như một chuyến đi hành quân bình thường ấy sẽ mở ra một con đường vĩ đại, nơi ghi dấu những chiến công vĩ đại và cả những đau thương vĩ đại, nơi một công trình xứng đáng là kỳ quan quân sự sẽ mở ra một chiến thắng quan trọng diễn ra sau đó 16 năm.
Ban đầu tuyến đường này chỉ như một sự kế thừa từ những con đường thời Pháp, nên vận tải ban đầu cũng là gùi cõng trên vai và đi bộ. Nhưng sự thô sơ ấy cũng đủ để đi 8 chuyến hàng, tạo thêm 3, 4 nhánh mới, và đặt nền móng đầu tiên cho đường mòn Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, tướng Võ Bẩm không phải là nhân vật chính trong câu chuyện hôm nay. Nhân vật chính trong câu chuyện hôm nay là Bác Hồ.
“Giá trị của đường mòn Hồ Chí Minh như đã biết là còn lớn hơn một con đường cắt qua trung tâm của Đông Dương. Về bản chất, nó là trái tim, là mạch máu của những người cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến tranh này. Con đường này bao trùm toàn bộ mạng lưới cung cấp tiếp tế nhân lực, tài lực, khí lực chạy từ các điểm ở Bắc Việt Nam đến Nam Việt Nam thôn qua một hệ thống các tuyến đường, đường mòn, lối đi và các trụ sở liên lạc. Miền Bắc đã nỗ lực rất nhiều, tiêu tốn cũng rất nhiều để giữ cho nó hoạt động. Và ngược lại, Mỹ và quân đồng minh cũng bỏ rất nhiều tiền bạc, bom đạn, quân lực để quyết tâm đóng cửa cho được con đường này.” (Trích từ “Spartans in darkness”)
“Để ngăn chặn tuyến đường này, Mỹ đã đưa vào đó 2 chiến dịch ném bom với hơn 733.000 chuyến máy bay, đánh phá khoảng 152.000 trận, ném xuống các tuyến đường Trường Sơn gần 4 triệu tấn bom đạn, gần 1 triệu galông chất độc hoá học, và thiết lập một hệ thống máy móc trinh sát điện tử, được gọi là Hàng rào Điện tử McNamara.”
Vâng, khi đối thủ nói như thế thì cần hiểu đường Hồ Chí Minh quan trọng và tầm vóc lớn lao thế nào. Bởi không có lời ca ngợi nào tuyệt vời hơn là đến từ chính kẻ thù. Cũng chẳng có thống kê nào giá trị hơn về chính bạn khi nghe những gì người ta đã làm để ngăn chặn bạn.
Câu hỏi vì thế xin được đặt ra ở đây: Ai là tác giả của đường mòn Hồ Chí Minh? Ai là kiến trúc sư với tầm nhìn trước 16 năm? Ai là người đã làm tất cả để đường mòn Hồ Chí Minh trở thành con át chủ bài cho chiến thắng về sau của Miền Bắc? Ai là người đủ kinh nghiệm lịch sử và tầm nhìn để có thể tạo ra con đường này từ những ngày đầu khi chiến tranh còn chưa leo thang?
Chỉ có thể là duy nhất một người, một người đủ tất cả mọi kinh nghiệm, khả năng, vị trí quyền lực để quyết định nhân sự và vạch ra đường hướng lựa chọn con đường này, có đủ các phương tiện ngoại giao và mối quan hệ ngoại giao để bảo vệ con đường này. Người đó chính là Hồ Chí Minh.
Có 3 điều để chứng minh cho nhận định này:
1/ Trong Hồi ký “Những nẻo đường kháng chiến” của Thiếu tướng Võ Bẩm có kể hai chi tiết sau:
“Một buổi trưa trước khi lên đường mấy ngày, tôi vào Văn phòng Quân ủy Trung ương thì sững người khi thấy Bác Hồ đang nói chuyện với Thượng tướng Văn Tiến Dũng. Thấy tôi, Bác Hồ bảo: “Chú Bẩm đấy à, nghe nói chú vào Nam ra Bắc như thoi, vậy anh em chiến sĩ miền Nam thế nào, đồng bào dân tộc trên Trường Sơn có đủ cơm ăn hay không, quan hệ giữa ta và nước bạn Lào ra sao?”. Tôi mở cặp ra dùng bản đồ báo cáo chi tiết tuyến Đông và Tây Trường Sơn, từng trục dùng cho xe đạp thồ, các cung đường giao liên… cho Bác Hồ nghe, Người bảo: “Các chú phải tận dụng “thiên thời địa lợi, nhân hòa” để phát triển đường Tây Trường Sơn. Sắp tới phải đưa cả ô tô đi vào Nam. Nhưng cũng phải chủ động phát triển đường Đông Trường Sơn phòng khi tình hình ở Lào (Tây Trường Sơn) không thuận lợi”.
“Vào đầu tháng 5-1959, lúc đó tôi đang là ở Cục Nông trường Quân đội thì nhận được điện của cấp trên yêu cầu đến gặp Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Khi giao nhiệm vụ cho tôi, thứ trưởng Vịnh nói: “Đây không phải là lệnh của Bộ Quốc phòng mà là quyết định của Bộ Chính trị, là việc lớn rất khó khăn và tuyệt mật. Bộ Chính trị chỉ cho phép chuyển vũ khí, bộ đội từ miền Bắc đến bờ sông Bến Hải nơi vĩ tuyến 17 cắt ngang (nay thuộc huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị). Còn sang đến bờ bên kia sông (Gio Linh, Quảng Trị), các anh tập trung mở đường và tổ chức vận chuyển”.
Điều đó có nghĩa là quyết định làm đường Trường Sơn là đến từ bộ chính trị, không phải của bộ quốc phòng. Trong bộ chính trị trước năm 1960, người quyết định quan trọng nhất và người quyết định cuối cùng là Hồ Chủ Tịch. Và chi tiết Hồ Chủ Tịch soi bản đồ, lựa chọn ông Võ Bẩm cho vai trò tư lệnh đầu tiên đã cho thấy sự quan tâm quan trọng này.
2/ Một con đường đòi hỏi lịch sử và kinh nghiệm:
Như đã biết, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đất nước ta đã bị chia đôi trong hiệp định Geneve 1954. Vị trí chia cắt là con sống Bến Hải và vĩ tuyến 17. Hiệp định nói rằng năm 1956 sẽ có cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Nhưng Hà Nội biết rằng sẽ không có điều đó xảy ra. Bên phía chính quyền Ngô Đình Diệm cũng nhìn rõ khoảng cách của hai bên, cũng không tin vào cái gọi là tổng tuyển cử ấy có thể đem lại chiến thắng cho dòng họ ông. Hoàn cảnh này đòi hỏi Hà Nội phải hành động trong việc đưa ra ý tưởng về việc mở một con đường để chuyển vũ khí, lương thực, và quân đội vào Miền Nam. Chỉ có 3 con đường để xâm nhập vào miền Nam: thứ nhất là đi đường biển (sau này đã có đường mòn Hồ Chí Minh trên biển), thứ hai là đánh thẳng vào biên giới vĩ tuyến 17, và thứ ba chính là con đường trong bài viết này của chúng ta: đi men theo biên giới Lào-Việt, và vượt dãy Trường Sơn để vào Nam.
Con đường thứ 3 đã được lựa chọn vì tính lịch sử của nó. Đường mòn Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn không phải tự nhiên mà sinh ra. Cũng không phải do người Pháp tìm thấy. Bản thân nó đã có dấu chân của vua Hàm Nghi trên hành trình của phong trào Cần Vương từ cuối thế kỷ 19. Vua Hàm Nghi đã đi và đã luồn lách cực khổ ở các huyện miền núi Minh Hóa, Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Một con đường đã có sự định hình từ trước.
Hồ Chí Minh, một người đã đi khắp thế giới và Việt Nam từ khi còn trẻ chính là người hiểu rõ nhất con đường này. Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân từ vùng miền núi Nghệ An (sau đó Nghệ An trở thành điểm đặt km số 0 của đường Hồ Chí Minh), rồi vào Huế, đến Phan Thiết, rồi vào Sài Gòn. Đấy là hành trình và lựa chọn của kinh nghiệm thực tiễn về địa lý hơn là kiểu bàn giấy.
3/ Các quyết sách ngoại giao có tính chiến lược:
Chi tiết thứ ba là liên quan đến một vùng đất có tính chất tồn vong cho con đường mòn Hồ Chí Minh, đấy là Lào. Cuộc đấu xung quanh con đường này còn là một cuộc đấu chính trị ở chính trong lòng nước Lào – là quốc gia có vai trò quan trọng nhất trong sự tồn tại và phát triển của con đường này.
Một tướng lãnh Pháp từ thời còn đô hộ Đông Dương đã từng nói: “Qui tient Boloven, tiendra L’Indochine” (Ai chiếm được Hạ Lào là chiếm được Đông Dương) nên Lào cũng trở thành điểm giành giật ảnh hưởng của VNCH và VNDCCH. Nhưng không ai quyết liệt bảo vệ Lào và “chăm sóc” Pathet Lào kỹ càng như cách Miền Bắc Việt Nam làm thời điểm đó.
Vào thập niên 50, Đông Dương không chỉ náo loạn vì cuộc chiến tranh Việt Nam mà trong lòng nước Lào cũng có một cuộc chiến giữa Vương Quốc Lào (nằm dưới sự yểm trợ của Hoa Kỳ), và Pathet Lào (nằm dưới sự yểm trợ của VNDCCH và các nước cộng sản). Trước đó cũng như Việt Nam và Campuchia, ba quốc gia Đông Dương này nằm dưới sự đô hộ của Pháp. Khi Pháp bị Nhật hất cẳng, rồi Nhật bại trận sau thế chiến II và Võ Nguyên Giáp “thịt luộc” luôn Pháp ở Điện Biên Phủ, thì Lào cũng nhân đó độc lập. Hiệp định Geneve giúp chính phủ Hoàng gia Lào do Hoàng thân Souvanna Phouma đứng đầu được thành lập. Tuy nhiên trong lòng chính phủ Lào cũng có nhiều sự chia rẽ. Bản thân Lào muốn trung lập trong cái thế Đông Dương như lò lửa ấy cũng không xong. Những người Cộng sản Lào là hậu nhân của thế hệ Đảng Cộng Sản Đông Dương, những người từng chiến đấu kháng Pháp trong thời kỳ được đã không chấp nhận chính phủ mới, và một lực lượng có tên là Pathet Lào được hình thành.
Và ở đây, ta hãy nói đến vai trò của Hồ Chí Minh, một trong những người Cộng Sản đầu tiên từ trong tổ chức Cộng Sản Đông Dương. Hãy nhớ một câu văn trong “Chương VII: Bóc lột người bản xứ”, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Hồ Chí Minh viết câu này: “Ở Luông Prabăng, nhiều phụ nữ nghèo khổ thảm thương phải mang xiềng đi quét đường chỉ vì một tội không nộp nổi thuế.” (Luang – Prabang là cố đô Lào). Khi nắm quyền, Hồ Chí Minh là người chủ trương “Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào”. Trong điếu văn đọc tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức ngày 5-9-1969 tại Sam Neua, vùng giải phóng Lào, Tổng bí thư Đảng Nhân dân Lào nói: “Đối với cách mạng Lào chúng ta, đồng chí Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo cho Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tại Lào trước đây, cũng như sau này cho Đảng Nhân dân Lào khi Đảng đã được thành lập. Chủ tịch trực tiếp giúp cho chúng ta những ý kiến quan trọng về chiến lược, sách lược, về phương thức hoạt động.”
Tổng hợp từng đó yếu tố, có thể nói góc nhìn của Hồ Chí Minh khác hẳn và trên tầm so với các lãnh tụ ở Miền Nam. Hồ Chí Minh nhìn là toàn cảnh Đông Dương chứ không phải chỉ mỗi một Việt Nam. Và cách mạng mà chủ tịch thực hiện là xác định cho cả Đông Dương. Chính vì vậy Pathet Lào trở thành một “người con” mà Miền Bắc đã chăm bẵm, viện trợ, để biến từ một lực lượng phiến quân nhỏ trở thành một lực lượng đối kháng mạnh, phát triển thành một chính phủ và cuối cùng có được cả vùng đất Lào. Đổi lại là gì đây? Pathet Lào dành cho Việt Nam nguyên một dải tự do ở bờ Trường Sơn, để từ đó phát triển con đường mòn Hồ Chí Minh.
Ngược lại với tầm nhìn bao quát và rộng khắp của Hồ Chí Minh thì chính quyền của Ngô Đình Diệm lại rất non nớt. Dù là phía có được ảnh hưởng với chính phủ Hoàng Gia Lào trực tiếp hơn, nhưng lại có thái độ quan lại kẻ cả với phía Lào. Sau khi Hoàng thân Souvanna Phouma công nhận VNDCCH ở miền Bắc thì anh em Diệm-Nhu lại chọn cách phản ứng là gì? Bãi bỏ tòa Đại sứ VNCH tại Lào. Hành động ‘dỗi’ này chẳng mang lại tác dụng gì cho những quyết sách có tính quốc gia cả, vì với hành động này, VNCH mất đi một mạng lưới tình báo theo dõi ở quốc gia có tính “môi hở răng lạnh” với phía Việt Nam. Và đó là cơ hội để phía Miền Bắc tha hồ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.
Từ điều 1, 2, 3, ta có thể khẳng định chính chủ tịch Hồ Chí Minh là kiến trúc sư của con đường mang tên mình. Đây là con át chủ bài cho chiến thắng ngày 30/4. Con đường này đứng cao hơn tất cả các chiến lược khác.
Sau này, VNCH đã nhận thức rõ sai lầm của mình, thấy được sinh mạng Miền Nam liên hệ mật thiết với Lào như thế nào nên họ đã thực hiện cuộc hành quân nổi tiếng mang tên Lam Sơn 719. Đây là cuộc tấn công rất hay, nếu thành công thì không chỉ phá được con đường mòn Hồ Chí Minh, mà còn làm bàn đạp tấn công vào Thanh-Nghệ. Mất Thanh-Nghệ thì sinh mạng của Hà Nội chỉ như “mành treo chuông”, và lịch sử có khi đã đổi ngược bên thắng cuộc. Tuy nhiên chiến dịch này đã gặp phải thất bại bởi hai con người xuất chúng khác mà Miền Bắc đã sản sinh ra. Người đầu tiên là thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn và người thứ hai là vị tướng đánh trận hay nhất của Miền Bắc khi ấy: đại tướng Lê Trọng Tấn. Bằng khả năng quan sát và suy luận của mình, Phạm Xuân Ẩn nhận thấy một số tướng lĩnh của VNCH biến mất và xuất hiện sau đó vài tuần với khuôn mặt đen đúa cháy nắng. Ông không có gì trong tay nhưng sự thông minh nhạy bén đã nảy ra suy luận đó chỉ có thể là mới từ Lào về, và có nghĩa đang có một cuộc hành quân qua Lào sắp được diễn ra. Vâng, quá tuyệt vời! Phạm Xuân Ẩn gửi thông tin này ra Hà Nội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận được tin và lập tức cử ngay cánh tay phải của mình là tướng Lê Trọng Tấn qua Lào. Tháng 2/1971, trung tướng Hoàng Xuân Lãm đưa 17.000 quân VNCH vượt biên giới hành quân qua Lào. Nhưng họ không biết đại tướng Lê Trọng Tấn đã dàn sẵn xe tăng và lực lượng “đón lỏng” họ ở trong rừng. Những gì sau đó chỉ có thể miêu tả bằng mấy chữ: "đưa dê vào miệng hổ".
Lời kết:
Hồ Chí Minh có trong tay những con người như thế nên không có gì bất ngờ trong chiến thắng của VNDCCH trước VNCH. Dù bạn có yêu hay ghét, dù bạn có tô hồng quá đáng hay vấy bùn quá đáng, có phủ nhận hay không phủ nhận, thì với những con người và các chi tiết lịch sử như tôi phân tích ở trên đây, thì chiến thắng của miền Bắc là hợp lý. Và cốt lõi cho chiến thắng ấy chính là tầm nhìn của Hồ Chủ Tịch từ tháng 5/1959 khi khai phá con đường mòn Hồ Chí Minh từ thời điểm chiến tranh còn chưa leo thang.
Tướng Đỗ Mậu, một người Quảng Bình, quân sư của Hội đồng tướng lĩnh, người đã vạch ra kế hoạch đảo chính Diệm-Nhu ngày 1/11/1963 đã viết những dòng này vào trong cuốn Hồi ký nổi tiếng “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” của mình: “VHCH không phải bị người ta chôn sống vào ngày 30/4/1975, cũng không phải từ ngày chế độ Nguyễn Văn Thiệu biến tham nhũng thành quốc sách, mà phải tính từ ngày người cán binh Cộng Sản Hà Nội cuốc miếng đất đầu tiên khai mở đường mòn Hồ Chí Minh.”
Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 2 tháng 9 năm 1969, người mãi mãi không thể chứng kiến được ngày chiến thắng và non sông liền một mối. Nhưng chính việc đặt quyết định mở ra con đường mòn Trường Sơn ấy là tiền đề của tất cả chiến thắng. Một sự vĩ đại và trên tầm trong thế kỷ 20 đầy biến động của đất nước hình chữ S.

KẺ CƠ HỘI KHÔNG TỪ THỦ ĐOẠN NÀO ĐỂ CHỬI BỚI !

 Nhân tháng 6 được coi là tháng kỷ niệm của đội ngũ nhà báo Việt Nam đang hành nghề trên mọi miền tổ quốc thật “vinh dự” khi được “nhà dân chủ” Phạm Trần hạ cố viết bài “Báo chí làm tay sai thì xã hội suy thoái” tung lên mạng xã hội với ý đồ quy chụp “báo chí làm tay sai”…

Thực ra những luận điệu trong bài viết này không có gì mới mà vẫn chỉ là những thông tin thể hiện thủ đoạn tinh vi của những kẻ tự nhận mình là “trí thức” hòng lập lờ đánh lận giữa các khái niệm liên quan đến tự do ngôn luận, tự do báo chí. Có thể khẳng định rằng từ khi Nhà nước ta ra đời đến nay, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được tôn trọng, bảo đảm và ngày càng được thực thi có hiệu quả trong mọi mặt đời sống. Điều này tạo điều kiện cho người dân được nói lên tiếng nói của mình, đóng góp tài năng, trí tuệ, công sức của mình vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Theo thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam hiện có hơn 50.000 nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gần 1000 cơ quan báo chí các loại hình (báo viết, báo nói, báo hình, đa phương tiện…). Việt Nam còn được ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng Internet nằm trong tốp cao nhất trên thế giới. Đặc biệt là mạng xã hội đang phát triển ở mức cao độ và sử dụng rộng rãi trong đời sống của người dân Việt Nam.

Đây là thời kỳ của cách mạng công nghiệp 4.0, báo chí cách mạng Việt Nam trong 96 năm hình thành và phát triển luôn luôn là công cụ phục vụ đất nước và nhân dân. Phải khăng định báo chí là một bộ phận, là cánh tay nối dài của Đảng và Nhà nước đi sâu và phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội, có trách nhiệm và vai trò rõ ràng trong phê phán, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, chống tham nhũng lãng phí, những thói hư tật xấu trong xã hội; đấu tranh chống các quan điểm sai trái, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động thù địch; bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc.

Báo chí là cầu nối quan trọng, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị hợp tác với nhân dân các nước, góp phần nâng cao vai trò, vị thế Việt Nam trong cộng đồng thế giới. Báo chí còn là diễn đàn tin cậy, thể hiện ý chí, tình cảm, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân, tham gia đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Cụ thể, trong những ngày qua khi đại dịch Covid-19 hoành hành khắp trên thế giới và đặc biệt ở đất nước Việt Nam, vai trò và nhiệm vụ của báo chí ngày càng nổi bật hơn khi đã bám sát cuộc chiến chống dịch bệnh quyết liệt chưa từng có với nhiệm vụ thông tin tuyên truyền để người dân hiểu biết về dịch bệnh; tuân thủ chỉ đạo, hướng dẫn của các cơ quan chức năng; động viên tinh thần quả cảm của các lực lượng tham gia chống dịch. Việt Nam đang kiểm soát tốt dịch bệnh, và nổi lên như điểm sáng, bài học quý cho thế giới trong trận chiến chống dịch Covid-19 là nỗ lực lớn của cả nước, trong đó có sự đóng góp quan trọng và rất đáng tự hào của báo chí.

Ở bất cứ tổ chức, đoàn thể hay một ngành nghề nào đó đều còn tồn tại những mặt mạnh, mặt yếu, báo chí cũng không hề ngoại lệ. Cũng không phủ nhận một vài điều mà ông Phạm Trần nêu trong “bài văn tế” dài dằng dặc mấy ngàn chữ như tình trạng tha hóa ở một số cá nhân nhà báo, những việc làm sai trái với đạo đức nghề báo, thậm chí trái pháp luật là có. Đây cũng là điều đau xót khi trong hàng ngũ những người làm báo vẫn tồn tại những cá nhân, “những con sâu làm rầu nồi canh”. Nhưng không thể vì thế mà Phạm Trần lại quy chụp, phủ nhận những đóng góp rất lớn của báo chí cách mạng Việt Nam trong 96 năm qua đặc biệt là thời kỳ đổi mới gần đây.

Có thể thấy những kẻ như Phạm Trần từ chỗ xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế xã hội nhân quyền, giờ đây lại lợi dụng tạo cớ, suy diễn, mạt sát báo chí, tình hình tự do ngôn luận. Mục đích cuối cùng của Phạm Trần và đồng bọn đương nhiên là phê phán, kích động tiến tới xóa bỏ vai trò của Đảng và Nhà nước, đi ngược lại tiến trình phát triển của đất nước, của dân tộc. Rõ ràng, những kẻ này khi đã mang tâm địa độc ác, tư duy cực đoan thì không từ bất cứ thủ đoạn nào để chống phá.

Dựa vào dân – thời nào cũng thế

 Dựa vào dân – thời nào cũng thế

Cuộc sống đang mới lên, chúng ta đang tiến lên bằng những đôi giày vạn dặm, chúng ta đang xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu, mạnh. Chúng ta đang tiến công vào khoa học và thực hiện một nhiệm vụ khó khăn nhất trong lịch sử là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà. Chúng ta đang thay đổi bộ mặt của đất nước và đời sống con người. Tất cả những người bình thường đang xây dựng cuộc sống mới đều là những người anh hùng, có phẩm chất cao quý, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta phải đoàn kết và phát huy những nguyên nhân tạo nên sức mạnh vô song của dân tộc, để viết tiếp những thiên anh hùng ca vĩ đại của cách mạng Việt Nam… Phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, biết dựa vào dân và tăng cường sự tham gia của Nhân dân lấy đó là việc làm thường xuyên để phát triển đất nước từng bước nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. st/6447

MẸ SUỐT

 

MẸ SUỐT

Một tay lái chiếc đò ngang

Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày

Sợ chi sóng gió tàu bay

Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!

Kể chi tuổi tác già nua

Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng!

Ngẩng đầu, mái tóc mẹ rung

Gió lay như sóng biển tung, trắng bờ...

TỐ HỮU

(Tập Đọc lớp 2-1977).

Thế hệ của chúng tôi; đã 40 năm rồi vẫn còn thuộc và nhớ những bài thơ

mà khi đó có khi mẹ còn phải đi mượn sách…St4647

Người đảng viên Đảng Cộng sản chân chính

 

Người đảng viên Đảng Cộng sản chân chính

Người ấy đã và đang là: Ủy viên Trung ương Đảng 6 khóa (hơn 26 năm); Đại biểu Quốc hội 4 khóa (hơn 18 năm); Ủy viên Bộ Chính trị 5 khóa (hơn 22 năm); đã và đang đảm nhiệm 03 trong 4 chức vụ cao nhất của Đất nước.

Ông ấy chính là hiện thân của một người đảng viên Đảng Cộng sản chân chính. Cả dân tộc Việt Nam luôn tin tưởng, ủng hộ và đồng hành cùng ông.

Liệu ông có xứng đáng được gọi là vĩ nhân của dân tộc Việt Nam thế kỷ XXI.

Bác Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu; danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất. st/4647