Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Bác bỏ luận điệu sai trái về mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

    Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam, trong đó mục tiêu phát triển văn hoá và con người là một trong những nội dung mà chúng tập trung chống phá. Do đó, việc nhận diện và đấu tranh bác bỏ các luận điệu sai trái về mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam từ góc nhìn phát triển văn hoá và con người là vấn đề cấp thiết hiện nayCNXH33333

Có nhiều quan niệm khác nhau về CNXH, nhưng theo nghĩa chung nhất, CNXH từ chỗ là một trào lưu tư tưởng đã trở thành một phong trào hiện thực, bắt đầu từ khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công. Đó là chế độ xã hội mới, dựa trên sự công bằng, tiến bộ về mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, nhằm giải phóng triệt để con người khỏi áp bức, bóc lột bất công.

 

Những năm đầu thế kỉ XX, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc. Đi theo con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh xác lập, là thực hiện “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đây là con đường với hai giai đoạn liên tục, kế tiếp nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau, trong đó đi lên CNXH được tiến hành sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, và CNXH là mục tiêu, là cơ sở để bảo đảm cho độc lập dân tộc bền vững.


Chính nhờ kiên định con đường đi lên CNXH, mà cách mạng Việt Nam ngày càng thu được nhiều thắng lợi, tạo tiền đề để tiếp tục quá độ lên CNXH. Tuy vậy, lợi dụng vào Internet và mạng xã hội, trang blog của Dân làm báo đăng tải bài viết của blogger Nguyễn Dân với tiêu đề “Đường đi không đến” để đưa ra các thông tin mù mờ, với luận điệu phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta. Không chỉ vậy, một số facebooker, blogger khác cũng hùa vào công kích con đường đi lên CNXH, nhất là mục tiêu phát triển văn hoá và con người Việt Nam, họ lớn tiếng vu cáo Chính phủ Việt Nam đàn áp tự do, dân tộc, tôn giáo, vi phạm nhân quyền; cổ suý lối sống thực dụng, vô cảm;... Sự thật có đúng như họ tuyên truyền hay không?

 

Có thể khẳng định rằng, mục tiêu xây dựng văn hoá và con người Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác lập được dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH là sự lựa chọn đúng đắn; đồng thời mục tiêu này còn xuất phát từ chính thực tiễn quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, theo Bác: Chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa là bốn vấn đề cần được coi trọng ngang nhau. Đến nay, quan điểm của Đảng ta về phát triển văn hóa và con người trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ngày càng hoàn chỉnh, được thể hiện sâu sắc trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá XI và trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.

 

Từ thực tiễn thực hiện mục tiêu phát triển văn hoá và con người ở Việt Nam qua hơn 35 năm đổi mới đất nước, chúng ta thấy rằng thành tựu nổi bật của sự nghiệp phát triển văn hoá, con người Việt Nam được minh chứng thông qua các số liệu cụ thể về phát triển văn hoá, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng: Nhận thức về văn hoá ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn; sản phẩm và loại hình văn hoá ngày càng đa dạng, phong phú; nhiều giá trị văn hoá được bảo tồn, phát huy cùng với những giá trị văn hoá mới, tiến bộ được xác lập; phát triển toàn diện con người luôn là trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; giảm nghèo bền vững, chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc nhóm cao của thế giới; hệ thống điện, đường, trường, trạm được quan tâm xây dựng; tỉ lệ người dân sử dụng Internet thuộc top cao nhất thế giới; quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội cho các đối tượng người yếu thế trong xã hội, người có công với cách mạng có chuyển biến rõ rệt; tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng tăng; bảo đảm và thực thi quyền con người, quyền công dân trên tất cả các mặt về quyền dân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội được coi trọng theo công pháp quốc tế.

 

Các thành tựu nói trên là minh chứng không thể phủ nhận về sự chuyển biến của việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân thông qua thực hiện mục tiêu phát triển văn hoá và con người của con đường quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. Qua đó, chúng ta càng thấy rõ việc Đảng ta khẳng định nhất quán con đường quá độ đi lên CNXH là vấn đề tất yếu khách quan; là sự lựa chọn của lịch sử đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa của các dân tộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử, không ai ngăn cản nổi”. Không chỉ vậy, những kết quả nói trên cùng với việc hoạch định đúng mục tiêu phát triển văn hoá và con người, đang tạo ra nguồn lực nội sinh to lớn của dân tộc, khẳng định uy tín, vị thế của nước ta trên trường quốc tế như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Do đó, mọi luận điệu xuyên tạc về mục tiêu phát triển văn hoá và con người của con đường quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam đều phi lý, không có cơ sở khoa học và thực tiễn, hoàn toàn mang tính áp đặt, chủ quan và chỉ là mưu đồ đòi xoá bỏ chế độ XHCN mà Đảng, Nhà Nước và Nhân dân ta đã dày công xây dựng.

 

Mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam từ góc nhìn phát triển văn hóa và con người vừa là thành quả, vừa là một nội dung cơ bản, xuyên suốt trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nội dung phản ánh tư duy lý luận khoa học, cách mạng và tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong hơn 90 năm qua. Đồng thời mục tiêu này còn là con đường tất yếu của lịch sử, bởi nó phù hợp với quy luật vận động của cách mạng Việt Nam, đáp ứng khát vọng của nhân dân Việt Nam về cuộc sống trong hoà bình, độc lập, ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam sẽ bị chính thực tiễn lịch sử của cách mạng nước ta phủ nhận.

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Quân đội đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nắm chắc, đánh giá đúng tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước có quyết sách đúng đắn, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng – an ninh trên biên giới và nội địa  không để bị động, bất ngờ; chủ động ứng phó kịp thời với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự xảy ra ở một số địa phương; đồng thời, tích cực đấu tranh phòng chống có hiệu quả các loại tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội .

Cấp ủy đảng, chỉ huy các đơn vị đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức nhiều hội nghị để bàn chủ trương, biện pháp giải quyết những vấn đề liên quan đến dân tộc, tôn giáo. Các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn đã chủ động làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng các phương án tác chiến trị an, xây dựng phương án và kế hoạch tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc tôn giáo, tín đồ tôn giáo, nhất là trong giải quyết các vụ việc phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo. Thường xuyên chăm lo, củng cố quốc phòng – an ninh, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ động tham gia giải quyết các vụ phức tạp vùng đồng bào dân tộc tôn giáo, đồng bào theo đạo, phát hiện, ngăn chặn kịp thời hiện tượng truyền đạo, sinh hoạt đạo trái pháp luật. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, đủ số lượng, chất lượng chính trị cao, đúng cơ cấu thành phần, trình độ quân sự, chuyên môn, tạo cơ sở để phát triển lực lượng khi cần thiết; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, chất lượng cao, đổi mới mô hình tổ chức, huấn luyện, hoạt động, tập trung xây dựng dân quân thường trực biên giới, địa bàn trọng điểm và dân quân tự vệ biển; tổ chức huấn luyện, diễn tập thiết thực, hiệu quả, gắn với bảo vệ địa bàn, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở./.

vubao5

 

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Quân đội đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nắm chắc, đánh giá đúng tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước có quyết sách đúng đắn, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng – an ninh trên biên giới và nội địa  không để bị động, bất ngờ; chủ động ứng phó kịp thời với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự xảy ra ở một số địa phương; đồng thời, tích cực đấu tranh phòng chống có hiệu quả các loại tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội .

Cấp ủy đảng, chỉ huy các đơn vị đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức nhiều hội nghị để bàn chủ trương, biện pháp giải quyết những vấn đề liên quan đến dân tộc, tôn giáo. Các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn đã chủ động làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng các phương án tác chiến trị an, xây dựng phương án và kế hoạch tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc tôn giáo, tín đồ tôn giáo, nhất là trong giải quyết các vụ việc phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo. Thường xuyên chăm lo, củng cố quốc phòng – an ninh, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ động tham gia giải quyết các vụ phức tạp vùng đồng bào dân tộc tôn giáo, đồng bào theo đạo, phát hiện, ngăn chặn kịp thời hiện tượng truyền đạo, sinh hoạt đạo trái pháp luật. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, đủ số lượng, chất lượng chính trị cao, đúng cơ cấu thành phần, trình độ quân sự, chuyên môn, tạo cơ sở để phát triển lực lượng khi cần thiết; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, chất lượng cao, đổi mới mô hình tổ chức, huấn luyện, hoạt động, tập trung xây dựng dân quân thường trực biên giới, địa bàn trọng điểm và dân quân tự vệ biển; tổ chức huấn luyện, diễn tập thiết thực, hiệu quả, gắn với bảo vệ địa bàn, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở./.

vubao4

 

QUÂN ĐỘI TÍCH CỰC THAM GIA PHÒNG CHỐNG CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI Những năm tới, vấn đề dân tộc và tôn giáo có xu hướng gắn với nhau và là những vấn đề nhạy cảm. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá với nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, như gây sức ép về kinh tế-tài chính, tấn công mạng thông tin; triệt để sử dụng các trang mạng xã hội trên internet và vai trò của các tổ chức phi chính phủ để xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân và Quân đội; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gieo mầm, thúc đẩy "xã hội dân sự", kích động phản kháng của các phần tử chống đối ở trong nước biểu tình, phản đối, lật đổ chế độ chính trị. Đặc điểm này đặt ra Quân đội phải đấy mạnh nghiên cứu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giảo” chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của Đảng.

 

x

Những năm tới, vấn đề dân tộc và tôn giáo có xu hướng gắn với nhau và là những vấn đề nhạy cảm. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá với nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, như gây sức ép về kinh tế-tài chính, tấn công mạng thông tin; triệt để sử dụng các trang mạng xã hội trên internet và vai trò của các tổ chức phi chính phủ để xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân và Quân đội; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gieo mầm, thúc đẩy "xã hội dân sự", kích động phản kháng của các phần tử chống đối ở trong nước biểu tình, phản đối, lật đổ chế độ chính trị.

Đặc điểm này đặt ra Quân đội phải đấy mạnh nghiên cứu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giảo” chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của Đảng.

 

NÂNG CAO CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

 


Triển khai thực hiện nghiêm túc các chế độ, chính sách cho quân nhân là người đồng bào dân tộc thiểu số, quân nhân theo đạo; gắn giáo dục, quản lý, rèn luyện với nắm tư tưởng, đặc điểm của từng quân nhân, chú trọng phát triển đảng viên, đoàn viên; công tác tuyển sinh, cử tuyển quân nhân là người dân tộc thiểu số, theo đạo đi đào tạo các trường trong quân đội, đào tạo sĩ quan dự bị, xây dựng nguồn cho các địa phương đào tạo y tá thôn, buôn, trung cấp y; lái xe ô tô là người dân tộc thiểu số, người theo đạo.

Quá trình tuyên truyền, cần tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của các già làng, trưởng thôn, buôn, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, các chức sắc, chức việc tôn giáo; phối hợp các han ngành, đoàn thể, lực lượng trên địa bàn; kết hợp với các hình thức hoạt động công tác dân vận: kết nghĩa, huấn luyện dã ngoại, công tác dân vận tập trung và tổ, đội công tác. Kết hợp tuyên truyền chung (sinh hoạt cộng đồng, họp thôn, bản, khu dân cư với tuyên truyền riêng gặp gỡ, trao đổi, đối thoại.

Tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho già làng trưởng bản, chức sắc, chức việc tôn giáo để họ nhận thức sâu sắc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, công tác dân tộc, tôn giáo gắn với quốc phòng an ninh, tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; chủ động phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, các lực lượng để tuyên truyền. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, tivi, panô, áp pích, khẩu hiệu, thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, lễ hội truyền thống, thực hiện các cuộc vận động để tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số không nghe, không tin theo các tà đạo, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá của các thế lực thù địch./.

vubao2

 

Phòng, chống “diễn biến hòa bình” về văn hóa trên không gian mạng

Việc chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội cần sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và của quần chúng nhân dân.

Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ và phát triển như vũ bão hiện nay, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng thì mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Vì vậy, việc chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội cần sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và của quần chúng nhân dân.

“Diễn biến hòa bình” là một dạng thức hoạt động cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản cầm quyền, làm sụp đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa mà không cần phát động chiến tranh vũ trang”.

Việt Nam là nước có vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn 35 năm qua, Việt Nam đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của mình trên trường quốc tế. Song song với công cuộc phát triển và xây dựng đất nước, chúng ta cũng không ngừng đẩy mạnh việc phòng, chống các âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đã và đang điên cuồng tấn công ta trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa. Chúng coi đây là mặt trận hàng đầu, là mũi nhọn đột phá, thọc sâu, vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển các lực lượng và phương tiện ở trong nước, tạo ra sự chống đối mạnh mẽ từ nội bộ Đảng, nội bộ xã hội ta, từng bước làm cho nhân tố chống đối bên trong phát triển để phá ta từ bên trong. Âm mưu sâu xa của chúng là thông qua xâm nhập phá hoại tư tưởng văn hóa để dẫn dắt, làm nảy sinh biến động về chính trị của xã hội ta, từ đó làm rối loạn về tư tưởng chính trị và niềm tin cách mạng của nhân dân ta.

Nấp dưới vỏ “văn hóa”, các thế lực thù địch xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống trong đời sống xã hội ta, đồng thời tuyên truyền quảng bá văn hóa, lối sống phương Tây. Chúng kích động khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ hoạt động độc lập với chính trị, không chịu sự quản lý của nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa; lôi kéo văn nghệ sĩ sáng tác theo các trường phái khác lạ theo kiểu phương Tây, coi rẻ truyền thống văn hóa dân tộc, làm phai mờ các giá trị văn hóa truyền thống và cách mạng, gieo rắc lối sống phản động, lạc hậu, suy đồi, biến Việt Nam thành “thuộc địa văn hóa” của ngoại bang. Chúng cổ xúy cho lối sống vị kỷ, bản năng, thực dụng làm con người Việt Nam mất gốc, làm thay đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu. Chúng trắng trợn xuyên tạc lịch sử, chống phá nền tảng tư tưởng văn hóa - xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; bài xích, bác bỏ văn hóa, đạo đức, lối sống truyền thống dân tộc, văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa.

Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ của công nghệ cao, các thế lực thù địch đang sử dụng triệt để các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, đặc biệt là mạng xã hội để thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta. Vì, mạng xã hội đang là một trong những phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh, tiếp cận nhiều đối tượng công chúng.

Thực tế ở nước ta những năm qua xuất hiện nhiều các website, blog, fanpage, dịch vụ thư điện tử (e-mail) và các trang mạng xã hội (Facebook), Zalo (các dịch vụ chat, nhắn tin, hội thoại), truyền thoại (VoIP), diễn đàn (forum), Twitter, Youtube, MySpace… phát tán dày đặc với tần suất lớn những thông tin, quan điểm trái chiều, xuyên tạc, chống phá Đảng và nhà nước ta. Dựa vào một số sự kiện đã hoặc sắp diễn ra, các thế lực thù địch đã nhào nặn hàng loạt tin, bài “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những số liệu không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh để cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin câu khách; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện chiến lược “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc dẫn đến “tự diễn biến” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay. Chúng lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ, việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, qua đó kích động xã hội phản đối chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng; thúc đẩy lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân (nhất là thế hệ trẻ) làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội...

Do tầm quan trọng đặc biệt của công tác đấu tranh tư tưởng và những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp, nên Đảng, nhà nước ta luôn coi trọng, tập trung chỉ đạo và triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nhấn mạnh: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt” Đại hội XIII của Đảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục sử dụng không gian mạng nói chung, mạng xã hội nói riêng để chống phá ta trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa, do đó cần tập trung vào một số vấn đề sau:

Một là, giáo dục nâng cao nhận thức, sự đồng thuận, nhất trí cao của các tổ chức, lực lượng phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa nhận thức rõ vai trò của văn hóa trên mặt trận tư tưởng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hai là, xác định đúng nội dung, đa dạng hóa hình thức, biện pháp phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa trên mạng xã hội. Về nội dung, tập trung vào việc nâng cao nhận thức lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống dân tộc, quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa xã hội chủ nghĩa. Tạo sự thống nhất, đồng thuận về sự cần thiết phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Về hình thức, biện pháp, đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa trên không gian mạng.

Ba là, xây dựng và phát huy vai trò của các cơ quan, lực lượng chuyên trách phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa.

Bốn là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên không gian mạng. Tăng cường công tác kiểm soát, định hướng tư tưởng và dư luận xã hội trên không gian mạng, chủ động thiết kế xây dựng chủ đề để dẫn dắt dư luận; lựa chọn chủ đề tăng tính tương tác, cần “phân loại” công chúng trên cộng đồng mạng để xác định, lựa chọn cách thức, phương pháp dẫn dắt thông tin định hướng tư tưởng, dư luận trên mạng xã hội.

Năm là, các cơ quan tuyên truyền, các loại hình báo chí, nhất là các báo mạng điện tử, các trang mạng xã hội cần phát huy tốt vai trò đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, các luận điệu tuyên truyền, lừa mị về văn hóa của các thế lực thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa.

ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA ĐỊCH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

 


Lợi dụng vấn đề dân tộc là một trọng điểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định, tạo dựng lực lượng chính trị đối lập. Kết hợp với can thiệp, trợ lực từ bên ngoài để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị của nước ta.

Hỗ trợ, chỉ đạo bọn phản động người dân tộc sống ở nước ngoài xây dựng các tổ chức để tập hợp lực lượng, tổ chức xâm nhập, phá hoại trên các địa bàn chiến lược, nhạy cảm. “Nuôi dưỡng, chỉ đạo bọn phản động trong các dân tộc ở nước ngoài và mua chuộc, lôi kéo, hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước, tạo dựng "ngọn cờ", hình thành các tổ chức phản động để tập hợp lực lượng phá hoại cách mạng Việt Nam. Chúng ráo riết xây dựng các tổ chức phản động ở vùng dân tộc thiểu số và đẩy mạnh xây dựng các tổ chức, lực lượng phản động lưu vong người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời liên kết chặt chẽ với các tổ chức phản động ở nước ngoài và lực lượng ngụy quân, ngụy quyền cũ, như: "Mặt trận giải phóng Khmer Krôm", "Mặt trận Chămpa", "Mặt trận thống nhất đấu tranh của các chủng tộc bị áp bức"... Đây là những tổ chức phản động lưu vong được các thế lực phản động nước ngoài hậu thuẫn trên mọi phương diện.

Chúng thúc đẩy hoạt động của các tổ chức ở nước ngoài, như "Hội người Mông quốc tế", "Liên hiệp người Mông tự trị", "Văn phòng Chămpa quốc tế", "Liên minh người Chăm tị nạn", "Hội người Khmer Krôm"... Các tổ chức này vừa tập hợp, phát triển lực lượng là người các dân tộc thiểu số ngoài nước, vừa hỗ trợ móc nối, phát triển lực lượng ở trong nước ta; đồng thời, tìm cách gây áp lực với các tổ chức quốc tế có uy tín như Liên hợp quốc hoặc chính phủ của một số nước nhằm "quốc tế hóa" vấn đề dân tộc của nước ta, gây khó khăn cho Nhà nước Việt Nam.

vubao1

 

Học viện Quốc phòng nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”

Trên cơ sở nhận thức rõ, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và được tiến hành song song, không tách rời công tác giáo dục, đào tạo, những năm qua, Học viện Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả nhiệm vụ này, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Học viện.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và hướng dẫn của cơ quan chức năng, thời gian qua, Học viện Quốc phòng đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cùng với những cách thức tiến hành đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” sát đúng, phù hợp; trong đó có nhiều giải pháp mang tính đột phá, sáng tạo, làm cho hoạt động đấu tranh ngày càng đi vào chiều sâu, vững chắc. Nhờ đó, 100% cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ ngày càng nhận thức sâu sắc hơn nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; có khả năng “miễn dịch” trước những tác động tiêu cực từ các luận điệu xuyên tạc, phản động; nhạy bén, sắc sảo trong nhận diện và vận dụng các hình thức đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; chấp hành nghiêm quy định về sử dụng công nghệ thông tin, bảo đảm an toàn thông tin, không để lộ, lọt bí mật ảnh hưởng đến chính trị nội bộ. Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Học viện thực hiện tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng nòng cốt cùng đội ngũ cán bộ, giảng viên tích cực tham gia viết bài tuyên truyền về bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội. Đồng thời, đấu tranh, vạch trần thủ đoạn và những luận điệu xuyên tạc, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đạt được kết quả đó là do Nhà trường đã thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp và cơ quan chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Bởi, đó là công việc khó khăn, phức tạp, nhạy cảm;  phải vận dụng, viện dẫn nhiều vấn đề cả lý luận và thực tiễn, nhằm đấu tranh, phản bác những “chiêu trò” xuyên tạc, hướng lái dư luận,… hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch và nếu không nêu cao trách nhiệm, quyết tâm, nhiệt huyết thì không thể hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Học viện đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt việc quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của trên, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; Chỉ thị số 47/CT-CT, ngày 08/01/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về “Tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội”. Qua đó, làm cho cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị luôn có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tính chất quan trọng, những vấn đề cơ bản của công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; cụ thể hóa thành chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của đơn vị mình, không chung chung, hình thức; lấy hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và trình độ, năng lực tổ chức, chỉ đạo thực tiễn của cán bộ chủ trì các cấp. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Học viện luôn chủ động nghiên cứu tình hình, tổng hợp đánh giá kết quả đấu tranh và diễn biến âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch; trên cơ sở đó, tham mưu, đề xuất những chủ trương, biện pháp, nội dung, cách thức tiến hành đấu tranh phù hợp, theo đúng định hướng của trên, bảo đảm kịp thời, đạt hiệu quả cao.

Thứ hai, chú trọng bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch có đạt được mục đích hay không phụ thuộc rất lớn vào bản lĩnh chính trị, sự hiểu biết và “sức đề kháng” của mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng trước “ma trận” thông tin thật giả, đúng sai lẫn lộn. Bởi vậy, Thường vụ Đảng ủy Học viện xác định: quá trình giáo dục, đào tạo không chỉ rèn luyện nhân cách, trang bị tri thức, kỹ năng, tay nghề mà còn phải bồi dưỡng, nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Để làm được điều này, Học viện đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần cảnh giác, ý chí quyết tâm cho mọi quân nhân; trong đó, tập trung giáo dục những vấn đề căn cốt nhất của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, làm cơ sở để xây dựng niềm tin vững chắc và nâng cao khả năng đấu tranh chống lại các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng môi trường văn hóa, tham gia mạng xã hội lành mạnh, trong sạch để nâng cao “sức đề kháng” cho bộ đội trước những thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi, thâm độc trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch. Gắn bồi dưỡng nâng cao năng lực đấu tranh với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Cùng với đó, Học viện thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, mời những chuyên gia có kinh nghiệm để bồi dưỡng, hướng dẫn về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cho lực lượng tham gia đấu tranh. Các đơn vị trực thuộc Nhà trường tiến hành bồi dưỡng thường xuyên, ít nhất mỗi quý một lần, do bí thư cấp ủy, chính trị viên trực tiếp tiến hành. Đây là một trong những biện pháp hiệu quả mà Nhà trường đã, đang và tiếp tục đẩy mạnh, nhằm không ngừng nâng cao năng lực nhận diện luận điệu sai trái, thù địch, khả năng viết bài cho các lực lượng tham gia đấu tranh.

Thứ ba, đề cao tính “chủ động” trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Thực tiễn hiện nay cho thấy, thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động, thù địch ngày càng tinh vi, đa dạng, phức tạp với cường độ cao, đòi hỏi công tác đấu tranh phải có tính “chủ động” ở mọi nơi, mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Học viện thường xuyên chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35 hướng dẫn các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động nghiên cứu, dự báo sát âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đồng thời, xác định chủ trương, biện pháp, cách thức tiến hành đấu tranh với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, linh hoạt, kịp thời phản bác, vạch trần bản chất, luận điệu xuyên tạc nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng của các thế lực thù địch. Trong tổ chức thực hiện luôn chú trọng cung cấp thông tin mới, chính thống thông qua sinh hoạt chính trị tư tưởng, thông báo thời sự, học tập, công tác, để lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh cập nhật kịp thời, không để “khoảng trống” và “độ trễ” thông tin, làm mất thời cơ đấu tranh. Cùng với đó, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để lộ, lọt bí mật quân sự; quán triệt chấp hành nghiêm quy định bảo mật thông tin và kỷ luật phát ngôn. Phát huy trí tuệ của những nhà khoa học để luận giải thuyết phục, thấu đáo những vấn đề mới nảy sinh, định hướng tư tưởng kịp thời, đúng đắn cho mọi đối tượng, nhất là lực lượng nòng cốt đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Học viện chỉ đạo các đơn vị tích cực triển khai thiết lập các website, blog, các trang, nhóm trên nền tảng Facebook, Zalo; nghiên cứu, tham mưu đề xuất phát triển các ứng dụng trên nền tảng chuyển đổi số của Học viện để tiếp tục mở rộng phạm vi đấu tranh trên không gian mạng; đồng thời, biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo,… làm nội dung tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cho các lực lượng. Lực lượng nòng cốt của Học viện luôn chủ động nghiên cứu các bài viết chính luận, trang bị kiến thức vững vàng, tham gia bình luận, thể hiện quan điểm đúng đắn và chia sẻ rộng rãi trên không gian mạng, tạo thành diễn đàn, thu hút nhiều người cùng tham gia chống các quan điểm sai trái, thù địch; kịp thời báo xấu khi phát hiện các nội dung tiêu cực, phản động; thông tin để cán bộ, đảng viên, quần chúng nêu cao cảnh giác, không chia sẻ, bình luận, tạo thành vấn đề nóng trong dư luận xã hội.

Thứ tư, phát huy trách nhiệm của mọi lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Quán triệt quan điểm của Đảng, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa là trách nhiệm của các cấp, ngành, lực lượng, của cả hệ thống chính trị và toàn dân; trong đó, cán bộ, đảng viên, bộ phận chuyên trách là lực lượng nòng cốt. Học viện đã có nhiều biện pháp nhằm phát huy trách nhiệm của mọi lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, như: thường xuyên kiện toàn và phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách; tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và thời gian để huy động các tổ chức, các lực lượng, của mọi cán bộ, đảng viên tham gia đấu tranh. Kết hợp các hình thức tuyên truyền, giáo dục nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng, tạo hiệu ứng tích cực để cán bộ, đảng viên chủ động đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch. Khuyến khích cán bộ, giảng viên có trình độ, kinh nghiệm nghiên cứu viết bài đăng trên website, Tạp chí Khoa học quân sự…; xét vận dụng để công nhận những bài viết đấu tranh trên không gian mạng có chất lượng, đăng kỷ yếu hội thảo và công nhận là một trong những tiêu chí được tính cường độ khoa học hằng năm. Đảng ủy Học viện chỉ đạo Hội đồng Thi đua khen thưởng, tổ thi đua các cấp tính điểm thưởng cho các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị và cá nhân có bài viết đấu tranh được đăng tải trên các phương tiện thông tin, các trang mạng, diễn đàn; lấy đó là một trong những tiêu chí để bình xét thi đua khen thưởng, đánh giá phân loại cán bộ, đảng viên, xét giảng viên giỏi, v.v. Nhờ đó, hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Nhà trường luôn được cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ hưởng ứng, tham gia nhiệt tình, đông đảo.

Những kết quả trên là cơ sở quan trọng để, Học viện Quốc phòng tiếp tục nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, góp phần làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, xứng đáng là lá cờ đầu của toàn quân về đấu tranh phòng chống các qaun điểm sai trái trêm không gian mạng.

KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA NGÀNH DẦU KHÍ

Sáng 25/6, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt người lao động Dầu khí tiêu biểu trong phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” giai đoạn 2017-2022.

“Tự do báo chí” không phải là tự do tuyệt đối

Báo chí có vai trò là phương tiện để công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình. Quyền tự do báo chí là quyền của công dân được sáng tạo tác phẩm báo chí, tiếp cận, cung cấp và phản hồi thông tin trên báo chí… Ở Việt Nam những năm qua, tự do báo chí, tự do ngôn luận được Nhà nước bảo đảm, thể hiện rõ trên cả khía cạnh pháp lý và thực tiễn. Song, lợi dụng chiêu bài “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”, vấn đề “nhân quyền”, các thế lực thù địch đã và đang ra sức tiến hành diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng nhằm thao túng dư luận, gây rối loạn xã hội, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Về mặt thủ đoạn, các đối tượng chống phá sử dụng chiêu bài xuyên tạc khái niệm tự do báo chí; lôi kéo đội ngũ người làm báo theo hướng phục tùng mưu đồ của chúng; viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về tự do báo chí nhưng cố tình lờ đi những quy định pháp luật về tự do báo chí, tự do ngôn luận rồi tán phát qua Internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng “tự do báo chí” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào. Thậm chí, Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF) đã đưa ra những đánh giá thiên lệch, thiếu khách quan và hoàn toàn không có cơ sở khi xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia “ít có tự do báo chí”.

Những kẻ chống phá dường như cố tình quên rằng việc đảm bảo mọi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan đồng thời được triển khai thực hiện trong thực tế. Nhiều năm qua, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thúc đẩy và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyềntự do báo chí. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 11, Luật Báo chí sửa đổi (2016) quy định rõ: Công dân có quyền: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân".

Tính đến 4/2022, cả nước có 816 cơ quan báo chí, trong đó 115 báo thực hiện 2 loại hình (in và điện tử): 116 tạp chí thực hiện 2 loại hình; 29 báo và tạp chí điện tử chỉ có loại hình điện tử; 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh-truyền hình;  khoảng 41.600 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, Cả nước hiện có 17.161 người được cấp thẻ nhà báo 2021-2025 (tính đến 15/8/2021)…

Yếu tố hạ tầng thông tin cũng là một điểm nhấn trong thực hiện quyền tự do báo chí ở Việt Nam. Những năm qua, Việt Nam đang thực hiện mục tiêu “Chuyển đổi số quốc gia”, hướng tới mỗi người dân có một điện thoại thông minh; mỗi hộ gia đình có một đường Internet cáp quang tốc độ cao… Đó là nỗ lực của chính phủ Việt Nam nhằm tôn trọng quyền được tiếp cận Internet của tất cả mọi người; được bày tỏ chính kiến trên không gian mạng, được bảo đảm quyền tự do ngôn luận. Thông qua các thể loại báo viết, báo ảnh, báo điện tử, Việt Nam tôn trọng và phát huy quyền tự do báo chí của công dân, khi mà mọi chủ trương đường lối, dự thảo luật đều được lấy ý kiến từ nhân dân thông qua chương trình truyền hình, trang ý kiến đóng góp… Việt Nam không cấm tự do báo chí, tự do ngôn luận, mà chỉ nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do ấy để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cản trở sự phát triển của đất nước.

Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948) khẳng định: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung”. Thực tiễn thế giới cũng cho thấy, không chỉ ở Việt Nam mà tại nhiều nước như Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Singapore… đều có chế tài, điều khoản luật xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng tự do báo chí để vi phạm pháp luật. Nói cách khác, tự do báo chí, ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải gắn với chế độ chính trị, điều kiện xã hội, nền tảng đạo đức, pháp lý trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể…

Cũng không có quốc gia nào để bảo vệ chế độ, chủ quyền quốc gia mà cho phép những kẻ lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền xuyên tạc, chống phá tùy tiện. Nếu 43 nhà báo bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý trong năm 2021 thì đó chính là những kẻ đang cố tình bóp méo sự thật, vi phạm Luật Báo chí của Việt Nam. Những kẻ bị bắt không phải vì họ làm nghề viết báo, cũng không phải Việt Nam không cho phép họ làm báo, mà vì họ vi phạm pháp luật, tung tin giả, tin xấu độc xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Việc xử lý theo pháp luật những kẻ vi phạm đó cũng đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền tiếp cận những thông tin chính xác, khách quan của công dân.

Như vậy, ở Việt Nam, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí nhưng việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định, không ai được lạm dụng quyền các quyền đó để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân, nghĩa là tự do trong khuôn khổ pháp luật chứ không phải là tự do tuyệt đối. Những chiêu bài rao rằng ở Việt Nam “ít có tự do báo chí”;“Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do Internet” là xuyên tạc sự thật, bộc lộ rõ mưu đồ chống phá, tham vọng thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam của các thế lực phản động.

CHUYẾN CÔNG DU NƯỚC NGOÀI ĐẦU TIÊN

Ngày 26/6, truyền thông Nga đưa tin Tổng thống nước này Vladimir Putin sẽ tới Trung Á vào tuần tới, chuyến công du nước ngoài đầu tiên kể từ tháng 2.

GIỮ MÌNH, CHỈN CHU, KỸ LƯỠNG HƠN

Sáng 25/6, Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị gặp mặt các đồng chí Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất giải pháp, nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ được phân công.

Cần những đánh giá khách quan về sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

Tháng 5/2022 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó có những thông tin sai lệch về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam với các góc nhìn phiến diện, dẫn chứng thiếu khách quan. Với 52 trang, bên cạnh sự ghi nhận những mặt tích cực của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền trong năm qua, báo cáo cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, tra tấn, tước đoạt mạng sống của người dân một cách tùy tiện”; “can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân”; “hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet”... Trong đó, báo cáo nói đến tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, đồng thời đưa ra các chỉ trích chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử người dân theo đạo và không theo đạo.

Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề dân tộc, tôn giáo không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm chí, báo cáo đưa ra những cái nhìn lệch lạc như “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”. Cho rằng Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng trên thực tế “không thực hiện”… Có thể thấy, đây không phải là lần đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố các báo cáo có nội dung sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều lần, trong các báo cáo đều có nội dung nói rằng, Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ “vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu”.

Với số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét thiếu khách quan về việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đối với các luận điệu cho rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm đoán các tổ chức tôn giáo hoạt động, đây là những vu cáo vô căn cứ.

Như vậy, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Một điều dễ nhận thấy, đánh giá sai lệch vì những lý do khác nhau vẫn ẩn sau ngọn cờ tôn giáo. Đối với Việt Nam, các thế lực cực đoan, chống đối luôn tìm mọi thủ đoạn để tách rời tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, cốt để dễ dàng lợi dụng các tôn giáo vào những mục đích chống phá. Thực tế cho thấy, việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây thường xuyên tổ chức các cuộc điều trần về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ nhằm mục đích tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Hơn nữa, cần phải thấy rằng, không thể có tự do tôn giáo tuyệt đối. Bởi xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Các tôn giáo cũng phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật và điều này hoàn toàn phù hợp với khoản 3, Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Do đó, việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới.

Chính vì vậy, những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

Sự thật về tình hình sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề.

Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1 triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1 triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo 80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…).

Ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú.

Hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất định trong việc tập hợp và vận động quần chúng theo đạo - một lực lượng quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc - tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức ngày càng trang nghiêm, quy mô hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng. Các lễ hội như lễ Phật đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo Tin Lành, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo…  được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Lễ hội của mọi tôn giáo đều trở thành hội lễ chung vui của toàn dân tộc như Lễ hội Đền Hùng, lễ Noel, lễ hội La Vang.

Đặc biệt lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội mang tính thế tục được dư luận quan tâm đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2005; Đại hội hành hương La Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể” với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức năm 2005…

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, trong 16 năm (2001-2017), số tín đồ của các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 6% trong dân số. Đó là chưa kể các tôn giáo nhóm nhỏ (chủ yếu là các nhóm Tin lành tư gia) chưa được công nhận và các hiện tượng tôn giáo mới rất khó thống kê số lượng người theo. Số lượng tín đồ các tôn giáo đều tăng lên, trong đó tăng nhanh nhất là tín đồ đạo Tin lành, từ 670.000 người năm 2004 đã tăng lên tới trên 1,2 triệu tín đồ năm 2015, tức là tăng gấp gần 2 lần trong 10 năm. Sự phát triển có tính chất đột biến của đạo Tin lành diễn ra chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đây cũng là hai địa bàn có sự chuyển đổi đức tin tôn giáo diễn ra mạnh mẽ nhất trong thời kỳ đổi mới.

Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề dân tộc, tôn giáo không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm chí, báo cáo đưa ra những cái nhìn lệch lạc như “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”. Cho rằng Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng trên thực tế “không thực hiện”… Có thể thấy, đây không phải là lần đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố các báo cáo có nội dung sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều lần, trong các báo cáo đều có nội dung nói rằng, Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ “vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu”.

Với số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét thiếu khách quan về việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đối với các luận điệu cho rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm đoán các tổ chức tôn giáo hoạt động, đây là những vu cáo vô căn cứ.

Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin Lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các đạo lạ mang danh nghĩa Tin Lành truyền vào Việt Nam như Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ... Hoạt động của phần lớn các tổ chức này trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi, nhiều tổ chức vi phạm pháp luật. Đối với các hoạt động vi phạm pháp luật của các tổ chức này, lực lượng chức năng Việt Nam đã nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật.

BÁO NHÂN DÂN CÓ "ĐẠI SỨ" TẠI CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ

Chiều 26/6, Ban Biên tập Báo Nhân Dân đã trao Quyết định thành lập Văn phòng đại diện và cử Trưởng Văn phòng đại diện Báo Nhân Dân tại các tỉnh, thành phố. Tới dự có đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; các đồng chí Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân: Đinh Như Hoan, Quế Đình Nguyên.

Tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:

Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội trưởng. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của Quốc hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên chúng ta có một nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.

Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3 khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII.

Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Trong 63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay.

Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Với những thống kê trên, một lần nữa khẳng định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong việc đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người

Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người...

Trên mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đăng tin, bài cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có nói đến vấn đề bình đẳng giới hiện nay như: Việt Nam phân biệt đối xử với phụ nữ, Việt Nam không có bình đẳng giới, Việt Nam đàn áp những người “bất đồng chính kiến” là phụ nữ và trẻ em... Thậm chí, những đối tượng trên còn nhận định phụ nữ Việt Nam không có tự do, không có quyền gì quyết định cuộc đời.

Để làm được điều này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật; phủ nhận thành tựu, thực tiễn các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có bình đẳng giới tại Việt Nam. Xuyên tạc, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền trong bình đẳng giới, ngăn cản tự do ngôn luận, tự do hội họp; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động người dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự; tung hô, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản “kiểu Mỹ” và phương Tây; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, không bảo vệ quyền phụ nữ, trẻ em, chèn ép “những người bất đồng chính kiến”…

Ngoài ra, các thế lực xấu thúc đẩy hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập do các đối tượng chống đối là phụ nữ cầm đầu như “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội dân oan”... Chiêu bài của các thế lực thù địch là lợi dụng vẻ bề ngoài các tổ chức này đóng vai trò “phản biện xã hội” giúp đưa tiếng nói, ý chí, nguyện vọng của nhân dân vào đóng góp xây dựng đất nước. Nhưng thực chất là cổ súy đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau; từ đa nguyên về tư tưởng dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, tập hợp và làm méo mó các vấn đề xã hội như dân chủ, nhân quyền, bình đẳng giới… để xuyên tạc và âm mưu hình thành các tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam.

Thông qua các hội nhóm này, chúng huấn luyện cho thành viên để kích động họ viết đơn kiến nghị, đòi thành lập đảng chính trị đối lập, thậm chí đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự… Khi các thông tin chống phá của chúng bị bóc trần sự thật, các đối tượng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do, bất bình đẳng về giới, phân biệt đối xử, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước. Đồng thời vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật là phụ nữ bị bắt, xử lý ở trong nước… nhằm cổ suý, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn.

Có thể thấy rõ, những thủ đoạn đổi trắng, thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử, sự thật nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của thế lực thù địch tuy không phải chiêu trò mới nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu xuyên tạc với thủ đoạn chống phá tinh vi lợi dụng không gian mạng nhằm “nhào nặn”, “vá víu” các sự kiện, tư duy ngụy biện xảo trá, đánh tráo khái niệm, suy diễn méo mó làm ảnh hưởng hình ảnh, các nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền và bình đẳng giới.

CẦU NỐI VỮNG CHẮC CHO QUAN HỆ ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - HUNGARY

Chiều 26/6 (theo giờ địa phương), trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Hungary, tại thủ đô Budapest, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội nước ta đã đến thăm Đại sứ quán Việt Nam và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Hungary.

Phát triển văn hóa đọc có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục, rèn luyện nhân cách.

 Nhấn mạnh phát triển văn hóa đọc có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển trí thức, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhắc nhở các cháu thiếu nhi chăm chỉ đọc sách, coi sách là người bạn đồng hành, người thầy cung cấp tri thức, hiểu biết để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu tham quan trưng bày ấn phẩm của Nhà xuất bản Kim Đồng.


Chiều 17-6, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự chương trình kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập Nhà xuất bản Kim Đồng (17-6-1957 - 17-6-2022). Cùng dự có lãnh đạo một số bộ, ban, ngành; các họa sĩ, nhà văn, nhà thơ; đông đảo các học sinh cùng các thế hệ cán bộ của Nhà xuất bản Kim Đồng.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, sự ra đời của Nhà xuất bản Kim Đồng là cột mốc quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt, sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với thế hệ trẻ. Song hành với các giai đoạn lịch sử của cách mạng, Nhà xuất bản Kim Đồng không ngừng phát triển về mọi mặt, năng động, sáng tạo, trở thành nhà xuất bản hàng đầu được trẻ em yêu thích nhất. Với hàng triệu trang sách xuất bản hàng năm, Nhà xuất bản Kim Đồng là một trong những đơn vị sự nghiệp công lập năng động, hiệu quả nhất trong ngành xuất bản của Việt Nam.

Trong đó, một số tác phẩm như An Dương Vương xây thành ốc, Dế mèn phiên lưu ký,  Đất rừng Phương Nam, Kính vạn hoa, tập thơ Góc sân và khoảng trời hay bộ truyện tranh Doremon… đã trở thành những trang sách gối đầu giường, những trang sách thanh xuân, là người bạn đồng hành gắn bó thân thiết của lớp lớp các thế hệ thiếu nhi Việt Nam. 

Chủ tịch nước đề nghị, trước những khó khăn, thách thức mới mang tính thời đại, Nhà xuất bản Kim Đồng cần có chiến lược phát triển đổi mới, sáng tạo; gắn liền với sứ mệnh của Nhà xuất bản trong giai đoạn tới; đem lại nhiều hơn nữa giá trị cho thanh thiếu niên, nhi đồng.  

Chủ tịch nước cũng đề nghị Nhà xuất bản Kim Đồng tăng cường những xuất bản phẩm có giá trị nhân văn, giáo dục thế hệ trẻ, đóng góp xây dựng giá trị cốt lõi, nhân cách tốt đẹp cho thanh thiếu nhi Việt Nam. Đó là lòng yêu nước, lòng hiếu thảo, tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào dân tộc, truyền thống Việt Nam, niềm tin và khát vọng phát triển đất nước, những góc nhìn sâu hơn và rộng hơn, đa diện, phong phú hơn về tri thức và về cuộc sống. Những sản phẩm văn hóa xuất bản mang đậm chất văn hóa, lịch sử Việt Nam. Cùng với đó là chuyển mình thành công từ xuất bản thời đại giấy trở thành mô hình xuất bản thành công thời đại số, giúp giảm giá thành để tiên phong mang trí thức đến với trẻ em nghèo không có điều kiện tiếp cận sách giấy giá thành cao. 

Nhấn mạnh phát triển văn hóa đọc có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển trí thức, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người, Chủ tịch nước nhắc nhở các cháu thiếu nhi chăm chỉ đọc sách, coi sách là người bạn đồng hành, người thầy cung cấp tri thức, hiểu biết để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy vai trò cơ quan chủ quản xuất bản, lãnh đạo, chỉ đạo và phát huy sức mạnh hệ thống các cơ quan báo chí - xuất bản của Đoàn trong công tác truyền thông, phát động các phong trào, thúc đẩy, định hướng xây dựng văn hóa đọc trong thanh thiếu nhi cả nước, đặc biệt quan tâm đến xây dựng văn hóa đọc trong thanh thiếu nhi vùng dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn, vùng hải đảo, biên giới.

Trước khi tham dự buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tham quan không gian trưng bày "Thành tựu 65 năm phát triển của Nhà xuất bản Kim Đồng" với nhiều hình ảnh, hiện vật tôn vinh các tác giả, tác phẩm tiêu biểu gắn với tên tuổi của Nhà xuất bản, thể hiện những dấu mốc phát triển của Nhà xuất bản qua từng thời kỳ, các hoạt động xã hội và hợp tác quốc tế nổi bật 65 năm qua. Không gian này đón độc giả tham quan từ ngày 20-6 đến 24-6-2022.