Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022
Phát triển văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ mới.
- Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề phát triển văn hóa, con người. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Hội nghị văn hóa toàn quốc (tháng 11-2021) đã đánh giá toàn diện kết quả công tác, bài học kinh nghiệm của những nhiệm kỳ trước, trong đó, phát triển văn hóa, con người Việt Nam là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong định hướng phát triển đất nước thời kỳ mới.

Trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ngày 24-11-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì khi đã nói đến văn hóa là nói đến những gì tinh hoa, tinh túy nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ...” (1).
Việt Nam là một đất nước có hàng nghìn năm lịch sử, trải qua những biến đổi, thăng trầm, đã tích lũy, tạo ra và phát huy được nhiều giá trị, bản sắc văn hóa riêng, làm nên hồn cốt của dân tộc. Kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của các kỳ đại hội trước về văn hóa, phát triển văn hóa, con người Việt Nam, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh; vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế”(2). Đó chính là niềm tin và khát vọng phát triển văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ mới.
Khát vọng “lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đề ra quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản cho việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đó là: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”(3). Đại hội XIII của Đảng xác định lộ trình với các mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025, là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đây chính là khát vọng và tầm nhìn của Đảng và nhân dân Việt Nam trong thời đại mới. Để thực hiện được khát vọng và tầm nhìn ấy, Đại hội XIII xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(4). Vì vậy, cần khơi dậy động lực tinh thần to lớn, vô song của dân tộc, con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc; khơi dậy và phát huy giá trị văn hóa, tài năng, trí tuệ, phẩm chất đạo đức, sức mạnh của con người Việt Nam là trung tâm, là mục tiêu, là nguồn lực nội sinh, là động lực quan trọng nhất để đạt tới các mục tiêu của phát triển đất nước thời kỳ mới.
Phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng, đồng thuận xã hội, ý chí tự cường, tự hào dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, dân tộc cường thịnh, trường tồn, nhân dân ấm no, hạnh phúc là phương hướng cơ bản, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tất cả các cấp, các ngành phải quán triệt sâu sắc và ra sức tổ chức thực hiện... Nếu như trong chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây, khát vọng độc lập, tự do, tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” là động lực tinh thần to lớn đưa nhân dân ta nhất tề đứng lên chống giặc ngoại xâm, thì ngày nay khát vọng phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc cần và phải là động lực tinh thần to lớn đưa nhân dân ta xây dựng thành công một nước Việt Nam phát triển hiện đại “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Khát vọng phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc ngày nay cũng chính là mong muốn, khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi như Người đã chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(5).
Đại hội XIII xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới: “lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”(6). Điều đó đòi hỏi phải kế thừa và phát huy giá trị văn hóa và con người Việt Nam, truyền thống lịch sử của dân tộc đã được vun đắp qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng, xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống... Đó là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể - “minh chứng độc đáo cho truyền thống văn hóa hoặc một nền văn minh đang tồn tại”, là “vẻ đẹp tự nhiên đặc biệt và có tầm quan trọng về mặt thẩm mỹ” của các di sản thiên nhiên, công viên địa chất, sinh thái trên mọi miền của Tổ quốc. Các giá trị và sức mạnh đó của văn hóa và con người Việt Nam đã hình thành nền tảng tinh thần vững chắc của dân tộc ta; trở thành nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Về mục tiêu phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là động lực cho sự phát triển đất nước và hội nhập quốc tế
Như một quy luật khách quan, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học là tầm nhìn chiến lược trong phát triển đất nước thời kỳ mới. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển. Như vậy, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo.

Đảng ta xác định, phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa chủ yếu vào việc phát huy tối đa nhân tố con người; lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Vì vậy, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Coi trọng giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa dân tộc. Thường xuyên chăm lo giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc của con người Việt Nam. Xây dựng, hoàn thiện các giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời đại mới phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế...
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, lần đầu tiên Đảng ta yêu cầu: “Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam”(7). Các mặt hạn chế của con người Việt Nam cần phải được nhận biết, được phê bình, tự phê bình nghiêm khắc, cần phải được sửa chữa, khắc phục để cho dân giàu, nước mạnh.
Quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, mà cốt lõi là làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, cũng chính là quá trình xây dựng con người, phát huy tối đa nhân tố con người, thực hiện chiến lược con người - khâu trung tâm của sự nghiệp xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa, phát triển bền vững đất nước. Đồng thời, coi trọng việc tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học, giáo dục của nhân loại để xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam tiến kịp, tiến cùng thời đại.
Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế”(8). Cần thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, phúc lợi văn hóa, an ninh văn hóa, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Tăng đầu tư của Nhà nước và xã hội cho phát triển sự nghiệp văn hóa; đổi mới cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Hoàn thiện và bổ sung các cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa đúng định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của văn hóa, nhất là những phẩm chất của văn hóa Việt Nam. Đó là tinh thần yêu nước và tiến bộ, mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Biện chứng với “tiên tiến” là “bản sắc dân tộc” - đó là sự bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Những giá trị bền vững đó đã được hình thành, phát triển và định hình, trở thành cốt cách của dân tộc Việt Nam; đồng thời, là một hệ thống mở, không phải là một thực thể nhất thành bất biến, mà có sự bồi đắp trong lịch sử, trong thế động và trong sự tự biến đổi, có khả năng tự làm giàu bản sắc dân tộc. Có nghĩa là, bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiên tiến của văn hóa thế giới, giữ gìn phải đi liền với nhiệm vụ thay đổi những gì đã lỗi thời, lạc hậu để gắn với phát huy và phát triển.
Về phát huy "sức mạnh mềm" văn hóa Việt Nam
Việt Nam là đất nước có nền văn hóa, văn hiến lâu đời, có bề dày truyền thống hàng nghìn năm. “Hiện nay, cả nước có tới 166 bảo tàng, trong đó có 4 bảo tàng quốc gia với hơn 3 triệu hiện vật; 3.486 tổng di tích được xếp hạng quốc gia, trong đó có 1.626 di tích lịch sử; 105 di tích quốc gia đặc biệt; 288 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (riêng Hà Nội có 21 lễ hội); 27 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa thế giới” (riêng tỉnh Bắc Ninh đã có 2 di sản văn hóa thế giới là Dân ca quan họ và Ca trù)... Đó là một tài sản vô cùng quý báu do Tổ tiên, cha ông ta mấy nghìn năm để lại, không phải nơi nào cũng có được; chúng ta có trách nhiệm phải giữ gìn, trân trọng và phát huy; nếu không sẽ có tội với lịch sử(9).
Nền văn hóa Việt Nam có hệ giá trị và bản sắc riêng, không bị đồng hóa bởi bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Hệ giá trị và bản sắc đó đã tạo nên “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia (về chính trị, kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, con người, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…) thì nguồn lực văn hóa đang được nhiều quốc gia coi là một sức mạnh mềm quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị trí, vai trò trên trường quốc tế. Đảng yêu cầu, cần khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy "sức mạnh mềm" của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới.
Thuật ngữ “sức mạnh mềm”, “phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam” lần đầu tiên xuất hiện trong Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam và sức mạnh con người Việt Nam đã trở thành cội rễ của sức mạnh mềm văn hóa dân tộc, là sức mạnh nội sinh, là nguồn lực và động lực to lớn của đất nước trong phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Để phát huy "sức mạnh mềm" văn hóa Việt Nam hiện nay, trước hết, cần đặc biệt quan tâm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, bởi đây là cội rễ của "sức mạnh mềm" văn hóa quốc gia. Quan tâm phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa đương đại phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh, tiến bộ để tiếp tục gia tăng thêm cơ tầng "sức mạnh mềm" văn hóa Việt Nam và lan tỏa văn hóa Việt Nam ra thế giới. Cần tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sâu rộng, thường xuyên, liên tục và có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta và nhân dân thế giới; làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thâm nhập sâu rộng, bền chặt trong đời sống tinh thần của xã hội, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế; có thêm nhiều hình thức tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Tổ chức tuyển chọn, biên dịch, xuất bản các tác phẩm tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng nước ngoài. Tiếp tục đẩy mạnh giới thiệu tiểu sử, sự nghiệp và trước tác của các danh nhân lịch sử, văn hóa, quân sự tiêu biểu của dân tộc ta..., làm lan tỏa, củng cố giá trị văn hóa Việt Nam trong lòng nhân dân thế giới.
Về giải pháp chiến lược hiện thực hóa niềm tin và khát vọng
Một là, phát huy giá trị văn hóa.
Trước hết, cần khẳng định, phát huy giá trị văn hóa là cơ sở để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước của con người Việt Nam. Bởi lẽ, sức mạnh văn hóa bao gồm cả sức mạnh vật chất và tinh thần của con người Việt Nam được tích lũy hơn 4.000 năm lịch sử, nên khi giá trị văn hóa được phát huy, con người Việt Nam sẽ được gia tăng thêm năng lực, phẩm chất, trình độ để vượt qua những khó khăn, thử thách; vươn đến những mục tiêu lớn hơn, khát vọng cao đẹp hơn. Mặt khác, phát huy giá trị văn hóa giúp quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; tạo điều kiện phát triển các dịch vụ kinh tế - xã hội. Vì thế, nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Pháp, I-ta-li-a, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc... coi công nghiệp văn hóa là một bộ phận của nền kinh tế, làm cho những giá trị văn hóa của dân tộc mình lan tỏa khắp thế giới. Theo đó, giá trị văn hóa được coi là cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hiện thực hóa niềm tin, khát vọng phát triển đất nước nói riêng.
Đồng thời, tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Cần có cơ chế, chính sách, giải pháp để xây dựng môi trường văn hóa thật sự trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Phát huy ý thức tự giác của toàn dân, xây dựng và thực hiện các chế tài, quy định, quy ước xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa. Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp... Khắc phục bệnh thành tích, bệnh hình thức, thực hiện các chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng. Phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, mê tín, dị đoan. “Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn; đẩy lùi bệnh quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh”(10).
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế. Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao “sức đề kháng” của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại; từng bước đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới.
Hai là, phát huy sức mạnh con người Việt Nam
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, Đảng xác định: Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển; “quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”(11).
Đảng ta chỉ rõ, việc thực hiện những giải pháp đột phá phát triển văn hóa nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại.
Đại hội XIII của Đảng đã xác định những quan điểm, chủ trương mới, sâu sắc và toàn diện, đột phá về phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực. Đây là đường hướng quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước đi lên, lập những thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời đại mới. “Với một đất nước, một dân tộc trọng văn hiến, trọng hiền tài, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng; nhân dân đoàn kết, cần cù, sáng tạo; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tâm huyết, tài năng, có trách nhiệm cao với nhân dân, với Đảng, với Tổ quốc và tương lai của dân tộc; cùng với sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị, nhất định chúng ta sẽ khắc phục được mọi khó khăn, vượt qua mọi thách thức để chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp tục làm vẻ vang thêm cho dân tộc, cho giống nòi, tạo thành sức mạnh vô song để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phồn vinh, xứng đáng với truyền thống ngàn năm văn hiến và anh hùng của một dân tộc anh hùng, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới(12)./.
---------------------
(1) Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 979 (12-2021), tr. 4
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 47
(3) Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014, tr. 6
(4)Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 34
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 64
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 216
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 143
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 81
(9) Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 979 (12-2021), tr. 13
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 144
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 143
(12) Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 979 (12-2021), tr. 14
Tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tới chuyển đổi số ở Việt Nam và một số hàm ý chính sách.
- Chuyển đổi số là nội dung cơ bản trong trụ cột kỹ thuật số của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đang trở thành xu hướng tất yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng lực cạnh tranh, tận dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực nhàn rỗi của xã hội, thực hiện thành công mục tiêu vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có khả năng cạnh tranh ở khu vực và thế giới.
Xu hướng chuyển đổi số ở Việt Nam
Chuyển đổi số (digital transformation) là việc ứng dụng những tiến bộ về công nghệ số, như điện toán đám mây (cloud computing), dữ liệu lớn (big data)... vào mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… nhằm mang lại hiệu suất cao, thúc đẩy phát triển doanh thu, nâng tầm thương hiệu, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường, “một quá trình nhằm mục đích cải thiện một thực thể bằng cách tạo ra những thay đổi đáng kể đối với các thuộc tính của nó thông qua sự kết hợp của công nghệ thông tin, máy tính, truyền thông và kết nối”(1). Năm 2020, lần đầu tiên, Liên hợp quốc sử dụng cụm từ “Digital Government” (Chính phủ số) làm chủ đề cho Báo cáo khảo sát chính phủ điện tử, thể hiện xu hướng phát triển chính phủ số trên toàn cầu.

Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Kinh tế số của Việt Nam năm 2019 đạt giá trị 12 tỷ USD, đóng góp 5% GDP của đất nước(2). Kinh tế Việt Nam đang thay đổi nhanh thông qua việc áp dụng công nghệ số. Một số ngành công nghiệp tại Việt Nam đang được số hóa nhanh chóng, như: thương mại điện tử, du lịch, nội dung số và công nghệ tài chính (fin-tech). Đây là những ngành tiềm năng cho nền kinh tế số Việt Nam trong thời gian tới. Kết quả từ các nghiên cứu trong báo cáo “Tương lai nền kinh tế số Việt Nam hướng tới đến năm 2030 và 2045” do Cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ Ô–xtrây-lia (CSIRO) và Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam công bố năm 2019 cho thấy mức độ sẵn sàng cho chuyển đổi số. Các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực này gặp khó khăn khi áp dụng công nghệ mới do vấn đề tài chính và kỹ thuật, nhưng họ nhận thức rõ tầm quan trọng của công nghệ số trong sản xuất. Với bối cảnh của Việt Nam trong năm 2019, nền kinh tế số của Việt Nam vẫn có tiềm năng cao - cả trong các ngành truyền thống và các ngành mới nổi. Kết quả khảo sát người tiêu dùng cho thấy, khi các ngành công nghiệp chuyển đổi, người tiêu dùng Việt Nam đang thích ứng nhanh chóng và chấp nhận các sản phẩm và dịch vụ mới của nền kinh tế số. Điều này có lợi cho việc thu hút đầu tư và phát triển nền kinh tế số của nước ta… Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới thử nghiệm 5G(3). Hạ tầng internet, chương trình dịch vụ phổ cập đầu tiên đã được thực hiện từ năm 2005 đến năm 2010 trên cơ sở Quyết định số 74/2006/QĐ-TTg, ngày 7-4-2006, của Thủ tướng Chính phủ, với kinh phí thực hiện Chương trình ước tính khoảng 5.200 tỷ đồng.
Năm 2018, Việt Nam đã tham gia Mạng lưới các thành phố thông minh ASEAN (ASCN) và phê duyệt Kế hoạch phát triển thành phố thông minh bền vững giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 950/QĐ-TTg, ngày 1-8-2018, của Thủ tướng Chính phủ với các nhóm giải pháp bao gồm: Rà soát, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, định mức kinh tế - kỹ thuật và ban hành các hướng dẫn về phát triển đô thị thông minh bền vững; từng bước hình thành và hoàn thiện hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về lĩnh vực đô thị thông minh, thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng đô thị thông minh bền vững; hình thành, kết nối liên thông, duy trì và vận hành hệ thống dữ liệu không gian đô thị số hóa và cơ sở dữ liệu đô thị quốc gia; đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông minh trong quy hoạch và quản lý phát triển đô thị; phát triển hạ tầng đô thị thông minh; phát triển các tiện ích thông minh cho dân cư đô thị; xây dựng tiềm lực phát triển đô thị thông minh bền vững; tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trong và ngoài nước; tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, trao đổi chuyển giao công nghệ về phát triển đô thị thông minh bền vững; tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức về đô thị thông minh.
Theo Ngân hàng Thế giới, có năm trụ cột chính cho một nền kinh tế kỹ thuật số sôi động, an toàn và bao trùm ở một quốc gia(4): i) hạ tầng kỹ thuật số; ii) các nền tảng kỹ thuật số; iii) dịch vụ tài chính kỹ thuật số; iv) tinh thần kinh doanh kỹ thuật số và v) kỹ năng kỹ thuật số. Nền tảng cho số hóa ở Việt Nam gần đây đã được phát triển đáng kể hướng tới bảo đảm các trụ cột này. Dịch vụ internet tốc độ cao, thiết bị thông minh và điện thoại di động ở Việt Nam đang trở nên phổ biến. Tính đến tháng 1-2021, dân số Việt Nam đạt mốc 97,8 triệu dân, với tỷ lệ dân thành thị là 37,7%. Trong đó, có khoảng 68,17 triệu người đang sử dụng internet (chiếm 70,3% dân số) thông qua các nền tảng, ứng dụng khác nhau, với thời lượng trung bình là 6 giờ 47 phút. Đây được xem là khoảng thời gian tương đối lớn được sử dụng trong 1 ngày(5). Việt Nam là một trong những nước có số lượng tên miền đăng ký cao nhất trong khu vực ASEAN(6). Theo Báo cáo của VNNIC, tính đến ngày 31-10-2019, số lượng tên miền tại Việt Nam đạt trên 500.000 tên miền. Tên miền “.vn” là tên miền quốc gia có số lượng người đăng ký sử dụng lớn nhất ASEAN và tốp 10 châu Á - Thái Bình Dương. Có 145,8 triệu kết nối di động tại Việt Nam vào tháng 1-2020. Số lượng kết nối di động tại Việt Nam vào tháng 1-2020 tương đương 150% tổng dân số. Thị trường điện toán đám mây của Việt Nam đạt khoảng 133 triệu USD (tương đương khoảng 3.200 tỷ đồng). Tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 27 trung tâm dữ liệu (IDC) của 11 doanh nghiệp trong nước đầu tư, 270.000 máy chủ trên khắp cả nước(7).
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm tiếp cận chuyển đổi số. Chủ trương về chuyển đổi số đã được đề cập trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh(8). Chuyển đổi số đã được ghi nhận trong nhiều lĩnh vực, ví dụ thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong nông thôn mới, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, xây dựng nông thôn mới thông minh… theo tinh thần mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; hỗ trợ về kết cấu hạ tầng, trang thiết bị công nghệ thông tin để hiện đại hóa hệ thống thông tin thị trường lao động, hình thành sàn giao dịch việc làm trực tuyến và xây dựng các cơ sở dữ liệu trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, chuyển đổi số trong tổ chức triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030… Nhiều văn bản quan trọng về chuyển đổi số đã được ban hành(9). Ngoài ra, còn nhiều văn bản pháp luật áp dụng cho từng địa phương và văn bản của từng tỉnh, thành phố áp dụng đối với địa phương mình, tạo nền tảng cho chuyển đổi số(10). Hoạt động chuyển đổi số đã đạt được những kết quả tích cực ở cả 3 trụ cột là Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Xếp hạng Chỉ số phát triển chính phủ điện tử theo Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển chính phủ điện tử năm 2020, Việt Nam tăng 3 bậc so với năm 2016.

Các quy định liên quan đến chuyển đổi số trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tác động tới chuyển đổi số ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA); gần đây nhất đã ký kết các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)...
Về tổng thể, có thể thấy, các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc thực thi các FTA: Nhóm các cam kết mà pháp luật Việt Nam bảo đảm tính tương thích tại thời điểm phê chuẩn các FTA; nhóm các cam kết mà việc thực thi trên thực tế ở Việt Nam không đòi hỏi phải thực hiện thông qua các quy định pháp luật cụ thể; nhóm các cam kết về các ràng buộc tương lai; nhóm các cam kết dưới dạng các khuyến nghị hoặc quyền lựa chọn.
Các hiệp định này đã xác lập nhiều quy định liên quan đến chuyển đổi số, như quy định về các sản phẩm số, quy định về bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, quy định về thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, quy định về nhãn hiệu điện tử, chứng thực chữ ký điện tử, tên miền, viễn thông và mạng viễn thông, các quy định về chuyển thông tin gắn liền với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân và bảo mật các hồ sơ, báo cáo, giao dịch và tài khoản cá nhân, quy định về các sản phẩm công nghệ truyền thông và thông tin (ICT) có sử dụng công nghệ mã hóa, về tương thích điện từ của các sản phẩm thiết bị công nghệ thông tin (ITE), về các dịch vụ máy tính, về tự động hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quy định các biện pháp bảo hộ cạnh tranh với nhà cung cấp chủ đạo, quy định về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan, các quy định về việc thu hoặc áp thuế trực tiếp, xác định, phân bổ hoặc phân chia thu nhập, lợi nhuận, khấu trừ hoặc tín dụng, các quy định về mua sắm chính phủ đối với Việt Nam (bao gồm cả cơ quan cấp Trung ương, cơ quan cấp địa phương và các cơ quan khác)…(11). Các FTA thế hệ mới cũng có các điều khoản thành lập các cơ quan liên quan đến chuyển đổi số(12).
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện khung pháp lý và chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong các hoạt động thương mại, gắn với nhiều lĩnh vực khác nhau, như sở hữu trí tuệ, thuế quan, hạ tầng số, thanh toán không dùng tiền mặt và công nghệ tài chính (fintech), logistics,.... Việt Nam cũng có nhiều cải cách về thương mại và đầu tư nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài hưởng lợi từ các FTA, trong đó có các FTA thế hệ mới. Ví dụ, việc ban hành các quy định liên quan tới chứng nhận xuất xứ hoặc truy xuất nguồn gốc điện tử tạo ra con đường dẫn tới chuyển đổi số của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp tại Việt Nam. Các FTA thế hệ mới được kỳ vọng sẽ góp phần tăng cường đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao tạo thuận lợi cho chuyển đổi số, thu hút các tập đoàn lớn của nước ngoài...
Việc tham gia các FTA thế hệ mới được kỳ vọng và đã mang lại nhiều tín hiệu khả quan cho hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam. Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định EVFTA sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (bình quân từ 2,18% đến 3,25% cho 5 năm đầu thực hiện và khoảng 4,57% đến 5,3% cho 5 năm tiếp theo) và trao đổi thương mại hai chiều (xuất khẩu sang EU tăng khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 trong khi nhập khẩu từ EU tăng khoảng 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030)(13). Số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy, tính đến ngày 20-12-2021, vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2%; vốn thực hiện đạt 19,74 tỷ USD, giảm 1,2% so với năm 2020. Có 1.738 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giảm 31,1%; vốn đăng ký đạt 15,2 tỷ USD, tăng 4,1%. Có 985 lượt dự án điều chỉnh, giảm 13,6%; vốn đầu tư đạt 9 tỷ USD, tăng 40,5%. Có 3.797 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, giảm 38,2%, vốn góp đạt 6,9 tỷ USD, giảm 7,7% so với cùng kỳ. Sau hơn một năm đi vào triển khai, Hiệp định EVFTA đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Trong 9 tháng đầu năm 2021, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt 41,29 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó, xuất khẩu đạt 28,85 tỷ USD, tăng 11,7%(14).
Các FTA thế hệ mới có khả năng thúc đẩy đầu tư chất lượng cao vào một số ngành mà các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm năng, như: sản xuất công nghệ cao, chăm sóc sức khỏe, năng lượng sạch và tái tạo, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển, dịch vụ tài chính, qua đó tạo cơ hội cho Việt Nam trở thành điểm đến cho các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đồng thời có thể được hưởng lợi từ kiến thức, công nghệ, bí quyết mà các nhà đầu tư nước ngoài mang lại. Các tiêu chuẩn cao từ các FTA thế hệ mới sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp và chuyển đổi kỹ thuật để đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn của thị trường nước ngoài.

Các quy định trong các FTA thế hệ mới tạo ra một số thách thức đối với việc hoàn thiện các chính sách, pháp luật để thích ứng với tác động của các FTA thế hệ mới. Một số quy định hiện hành của Việt Nam về chuyển đổi số chưa phù hợp với các cam kết quốc tế. Điều 26 Luật An ninh mạng năm 2018 quy định các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên internet có hoạt động thu thập, khai thác, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân của người sử dụng dịch vụ phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam, nhưng Điều NN.13 của Hiệp định CPTPP không cho phép các quốc gia thành viên yêu cầu một doanh nghiệp nước ngoài phải đặt hệ thống máy chủ trên lãnh thổ của mình như là một điều kiện để tiến hành hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ nước đó. Nhiều luật đã được ban hành từ khá lâu nhưng chưa được rà soát sửa đổi. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 có một số điểm chưa tương thích với các luật được ban hành sau, như Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng khi có đề cập việc không được sử dụng thông tin vào mục đích khác trái với quy định về việc sử dụng thông tin đó, không tiết lộ thông tin cho bên thứ ba..., nhưng chưa quy định về sử dụng công nghệ, kỹ thuật trong giao dịch điện tử để tránh lộ, lọt thông tin của người dùng... Các quy định hiện hành về bảo mật dữ liệu cá nhân còn thiếu và không đủ hiệu lực, dẫn đến tình trạng dữ liệu cá nhân không được bảo mật. Một số lĩnh vực gắn với chuyển đổi số, như trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối (blockchain) chưa có các văn bản pháp luật phù hợp để điều chỉnh… Các quy định của pháp luật cạnh tranh cũng hầu như chưa đề cập tới các vấn đề liên quan đến chuyển đổi số. Điều này đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành ở Việt Nam để phản ánh yêu cầu của các FTA thế hệ mới.
Một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam
Để chủ động thích ứng với tác động của các FTA thế hệ mới tới chuyển đổi số ở Việt Nam, cần tiếp tục quan tâm tới các vấn đề sau:
Một là, chú trọng hoàn thiện thể chế, pháp luật, chính sách liên quan đến quy định trong các FTA thế hệ mới, như sản phẩm số, bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, nhãn hiệu điện tử, tên miền, viễn thông và mạng viễn thông, chuyển thông tin gắn liền với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân và bảo mật các hồ sơ, báo cáo, giao dịch và tài khoản cá nhân, dịch vụ máy tính, tự động hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quy định về các biện pháp bảo hộ cạnh tranh…; có cơ quan chuyên trách, có thẩm quyền trong thúc đẩy chuyển đổi số; tập trung vào những ngành, lĩnh vực đột phá; hạ tầng thông tin; tạo thuận lợi và hỗ trợ phù hợp cho doanh nghiệp; hỗ trợ trong việc tạo ra môi trường thử nghiệm cho các mô hình kinh doanh, sản phẩm mới, tiến hành các khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sand box) cho phép doanh nghiệp thử nghiệm các phát kiến đổi mới trong điều kiện thị trường thực tế; xây dựng khung chính sách, pháp luật về quản trị dữ liệu quốc gia (như trách nhiệm, phân cấp quản lý dữ liệu; kết nối, chia sẻ, mở dữ liệu; quy định về dữ liệu gốc; quản lý chất lượng dữ liệu; quản lý vận hành dữ liệu; quản lý an ninh dữ liệu…); ban hành quy định gắn với việc nâng cao trách nhiệm của nhà mạng cung cấp dịch vụ qua các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới nhưng phải bảo đảm nguyên tắc thực thi công bằng, trách nhiệm như nhau trước pháp luật đối với cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài.… Việc hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật cần bảo đảm bám sát các định hướng chung của Việt Nam, xu hướng, thông lệ của thế giới và có sự tham vấn ý kiến rộng rãi.
Đổi mới toàn diện các quy trình quản lý nhà nước gắn với chuyển đổi số như: đơn giản hóa thủ tục thẩm định; chuyển sang công nghệ số, qua internet để cấp giấy chứng nhận đầu tư trong thời gian ngắn nhất... Tập trung xây dựng các văn bản pháp luật gắn với bảo vệ dữ liệu cá nhân, định danh và xác thực điện tử, quản lý, vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia, kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành (bao gồm việc kết nối với cơ sở dữ liệu về thuế, hải quan, ngân hàng, giấy phép lái xe, bảo hiểm y tế để tích hợp thông tin vào thẻ căn cước công dân gắn chíp phục vụ tiện ích cho người dân; chuẩn bị nền tảng dữ liệu để tích hợp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cung cấp định danh và xác thực điện tử...); thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn điện tử, gắn với phát triển kinh tế số, phổ cập chữ ký số; có giải pháp để phổ cập thanh toán số, thanh toán không dùng tiền mặt theo hướng thuận tiện, dễ dàng và an toàn hơn, tạo nền móng phát triển giao dịch trực tuyến và kinh tế số; thúc đẩy gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính và chuyển đổi số, Chính phủ số; hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; nghiên cứu, xây dựng quy hoạch phát triển đô thị thông minh...

Hai là, cần chú trọng các trụ cột liên quan đến năng lực quản lý chuyển đổi số, đó là trụ cột chiến lược, trụ cột văn hóa và trụ cột quản trị. Chiến lược quản trị, khi được xác định cụ thể, rõ ràng và đúng đắn, sẽ giúp hành trình chuyển đổi số đi đúng hướng, còn văn hóa kỹ thuật số sẽ giúp duy trì sự chuyển đổi đó trong dài hạn. Cần lưu ý rằng, năng lực quản lý chuyển đổi và nền tảng kỹ thuật số có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Ba là, phát triển hạ tầng số, trong đó nhấn mạnh các lĩnh vực như phát triển hạ tầng băng rộng chất lượng cao, phát triển hạ tầng kết nối internet vạn vật, thu hút, đưa các nền tảng công nghệ, dịch vụ lớn trên thế giới đặt tại Việt Nam… Nghiên cứu hình thành cơ chế quản lý dữ liệu lớn và kho dữ liệu nhằm xử lý khối lượng lớn dữ liệu do các cơ quan, tổ chức của Nhà nước tạo ra, trên cơ sở đó cho phép Chính phủ ra các quyết định tối ưu, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đề ra trong lộ trình chuyển đổi số. Đối với các hoạt động có yếu tố thương mại điện tử trên các phương tiện truyền thông xã hội, cần có cơ chế quản lý riêng và phù hợp với từng dạng thức. Đối với các nền tảng thương mại kỹ thuật số xuyên biên giới, cần nắm rõ cách thức vận hành, từ đó xây dựng quy định quản lý hoạt động của các nền tảng này một cách hiệu quả. Cơ quan quản lý nhà nước các cấp yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài có hoạt động liên quan đến các nền tảng thương mại kỹ thuật số xuyên biên giới thông báo hoạt động của họ thông qua các cách thức trực tuyến./.
-----------------
(1) Vial, Gregory: “Understanding digital transformation: A review and a research agenda” (Tạm dịch: Hiểu về chuyển đổi kỹ thuật số: Đánh giá và chương trình nghiên cứu), The Journal of Strategic Information Systems, 2006
(2) “e-Conomy SEA 2019 - Swipe up and to the right: Southeast Asia’s $100 billion Internet economy” (Tạm dịch: e-Conomy SEA 2019 - Phát triển và đúng hướng: Nền kinh tế Internet trị giá 100 tỷ USD của Đông Nam Á), https://www.bain.com/globalassets/noindex/2019/google_temasek_bain_e_conomy_sea_2019_report.pdf, 2019
(3) Cameron A, Pham T H, Atherton J, Nguyen D H, Nguyen T P, Tran S T, Nguyen T N, Trinh H Y & Hajkowicz S: Vietnam’s future digital economy – Towards 2030 and 2045 (Tạm dịch: Tương lai nền kinh tế số Việt Nam hướng tới đến năm 2030 và 2045), CSIRO, Brisbane, 2019
(4) Digital Solutions in a Time of Crisis: Uganda Economic Update (Tạm dịch: Giải pháp kỹ thuật số trong thời kỳ khủng hoảng: Cập nhật kinh tế U-gan-đa), Fifteenth Edition, July 2020, World Bank, Washington, DC, 2020
(5) Thống kê internet Việt Nam 2021, https://vnetwork.vn/vi/news/thong-ke-tinh-hinh-internet-viet-nam-nam-2021
(6) Báo cáo số liệu internet tại Việt Nam, https://vnetwork.vn/news/cac-solieu-thong-ke-internet-viet-nam-2019
(7) Thực trạng phát triển điện toán đám mây tại Việt Nam, https://vnpt.com.vn/doanh-nghiep/tu-van/dien-toan-dam-may-tai-viet-nam.html
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 221
(9) Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Viễn thông năm 2009, Luật Tần số vô tuyến điện năm 2009, Luật Lưu trữ năm 2011, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018,…; các Luật có chứa những điều khoản về chuyển đổi số như Luật Quản lý thuế, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Quy hoạch, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công…; Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, ngày 16-05-2013, của Chính phủ, về thương mại điện tử; Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, của Chính phủ, hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử năm 2005 về giao dịch điện tử chữ ký số, chứng thực chữ ký số; Nghị định số 165/2018/NĐ-CP của Chính phủ, về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Chỉ thị số 02/CT-TTg, 23-01-2019, của Thủ tướng Chính phủ, về việc tăng cường sử dụng chữ ký số chuyên dùng Chính phủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP, ngày 08-04-2020, của Chính phủ, về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 47/2020/NĐ-CP, ngày 09-04-2020, của Chính phủ, quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước; Quyết định số 645/QĐ-TTg, ngày 15-05-2020, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021 – 2025; Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03-06-2020, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030"…
(10) ví dụ Nghị quyết số 54/2017/QH14, của Quốc hội, về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 35/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng, Nghị quyết số 38/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế, Nghị quyết số 37/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thanh Hóa, Nghị quyết số 36/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Nghệ An, Nghị quyết số 45/2022/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ…, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Nghị quyết 09-NQ/TU về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 662/QĐ-UBND, ngày 2-3-2021, phê duyệt đề cương, nhiệm vụ xây dựng Đề án Chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành các Quyết định số 2392/QĐ-UBND, ngày 03-7-2020, về cập nhật Kiến trúc Chính quyền điện tử Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 2393/QĐ-UBND, ngày 03-7-2020, về phê duyệt Chương trình chuyển đổi số của Thành phố Hồ Chí Minh…
(11) Ví dụ, về chính sách cạnh tranh, Hiệp định EVFTA có quy định riêng đối với việc trợ cấp cho doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, theo đó Điều 10.7 (Minh bạch hóa) và Điều 10.6 (Trợ cấp riêng có điều kiện) chỉ áp dụng đối với các ngành dịch vụ: viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải bao gồm hàng hải, năng lượng, dịch vụ máy tính, kiến trúc và cơ khí, dịch vụ xây dựng và môi trường, tùy thuộc vào các bảo lưu trong Chương 8 (Tự do hoá đầu tư, Thương mại dịch vụ và Thương mại điện tử). Về dịch vụ viễn thông, Hiệp định EVFTA quy định về các lĩnh vực hợp tác trong sở hữu trí tuệ (Điều 12.62) như chủ động tăng cường nhận thức và giáo dục công chúng nói chung về chính sách sở hữu trí tuệ bằng việc xây dựng các chiến lược hiệu quả để xác định các đối tượng chủ yếu và xây dựng chương trình truyền thông để tăng cường nhận thức của người tiêu dùng và báo chí về tác động của việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm nguy cơ đối với sức khỏe và sự an toàn và mối liên hệ với tội phạm có tổ chức; thúc đẩy và phổ biến thông tin về quyền sở hữu trí tuệ trong, các cộng đồng kinh doanh, tổ chức nghề nghiệp xã hội, tổ chức xã hội, cũng như tăng cường nhận thức của người tiêu dùng và chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, bên cạnh các lĩnh vực khác; Hiệp định RCEP quy định (Điều 9) về trách nhiệm chung đối với các nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng: 1. Mỗi Bên có trách nhiệm bảo đảm rằng nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông trên lãnh thổ quốc gia mình phải cung cấp kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng của Bên khác. 2. Mỗi Bên có trách nhiệm rằng nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng trên lãnh thổ quốc gia mình không được sử dụng hoặc cung cấp các thông tin nhạy cảm thương mại hoặc thông tin bảo mật của người sử dụng hoặc thông tin liên quan đến người sử dụng, mà nhà cung cấp dịch vụ đó có được thông qua các thoả thuận kết nối, ngoài mục đích cung cấp các dịch vụ kết nối đó…
(12) Điều 27.2.2(a) Hiệp định CPTPP thành lập Ủy ban về thương mại điện tử. Hiệp định EVFTA còn quy định về việc thành lập các ủy ban trực thuộc. Điều 17.2 Hiệp định EVFTA quy định về các ủy ban chuyên trách được thành lập trực thuộc Ủy ban Thương mại, trong đó có Ủy ban Đầu tư, thương mại dịch vụ, thương mại điện tử và mua sắm. Hiệp định RCEP thành lập Ủy ban hỗn hợp RCEP, trong đó có Ủy ban Môi trường kinh doanh…
(13) Báo cáo tóm tắt số 192/BC-CP, ngày 8-5-2020, của Chính phủ, thuyết minh về Hiệp định thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)
(14) Nguyễn Hường: “EVFTA là một trong những Hiệp định thương mại tự do Việt Nam tận dụng tốt nhất trong năm đầu thực thi”, Trang thông tin điện tử Bộ Công Thương, https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/evfta-la-mot-trong-nhung-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-viet-nam-tan-dung-tot-nhat-trong-nam-dau-thuc-thi.html, ngày 4-11-2021
Lật tẩy những chiếc “bình phong” mang tên hội, nhóm kín
Theo dõi trang mạng “Năng lượng gốc Trống Đồng”, chúng tôi thấy, họ tích cực quảng bá việc truyền năng lượng gốc như một giải pháp chữa bệnh thần kỳ, có thể tự chữa lành mọi bệnh tật, kể cả ung thư hay Covid-19, có cả những video hướng dẫn cách đặt tay chữa lành tất cả các bệnh liên quan đến hệ thần kinh và não bộ. Không chỉ sử dụng chiêu bài chữa bách bệnh bằng những phương pháp kỳ dị, phản khoa học; những người này còn chia sẻ những thông tin mang yếu tố tâm linh, ma mị, tà đạo.
Đáng chú ý là hội nhóm này chỉ “rỉ tai” thôi mà có tốc độ lan
truyền rất nhanh, rất mạnh lôi kéo nhiều người tham gia. Đây chính là chiêu
thức mới của các hội nhóm kín, thông qua các hoạt động đi vào lòng người như
chữa bệnh, hỗ trợ dân oan, hoạt động ái hữu…
Hầu hết các hội nhóm kín này
đều lợi dụng “tự do, dân chủ, nhân quyền” lôi kéo các thành viên tham gia các
hội nhóm tiến hành các hoạt động như tuyên truyền chống phá, tụ tập biểu tình,
tham gia các khóa huấn luyện, đào tạo... để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc
biệt có những hội nhóm như “Người cầm đuốc” quy ước với nhau các thành viên
trong nhóm đều sử dụng “nick ảo”, hoạt động theo số bí danh; giữa các thành
viên trong nhóm không biết tên thật của nhau, chỉ cần biết nhiệm vụ, số lượng
người tham gia nhiệm vụ, mục đích nhằm “giữ an toàn” cho các thành viên. Với
nhiều thủ đoạn lôi kéo như tạo thành các facebook “trắng” để xâm nhập vào các
nhóm có liên quan đến nhiều lĩnh vực của xã hội như hội đồng hương, kinh doanh,
lái xe, hội khóa, lớp, thâm nhập vào các điểm nóng khiếu kiện để lôi kéo
thành lập nhóm dân oan… Có một số hội nhóm liên hệ, chia sẻ những bài tuyên
truyền phản động, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, thường thì chúng lợi dụng
vào các dịp lễ tết, bám sát những sự kiện chính trị trong nước, theo sát những
vụ việc chống tham nhũng để kích động, làm cho thông tin mang tính thời sự. Một
số hội nhóm có mối liên kết chặt chẽ với các tổ chức phản động, khủng bố như:
“Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; Việt Tân… để tham gia vào các hoạt động
biểu tình, chống đối giải phóng mặt bằng, rải truyền đơn, kích động bạo loạn.
Có thể nói với vỏ bọc “hội nhóm kín” các tổ chức phản động đang
tìm mọi cách tiếp cận, với nhiều hình thức lôi kéo tinh vi trong đó có chiêu
thức “dân sự hóa” các “hành vi chính trị” để âm thầm phát triển tổ chức, phổ
cập truyền thông, len lỏi vào hội nhóm xã hội trên không gian mạng. Tuy vậy
“những viên đạn bọc đường” dù có tinh vi thế nào cũng bị nhân dân ta phát giác.
Qua theo dõi các buổi mạn đàm, hội luận có khá nhiều ý kiến phản ứng lại, vạch
trần mưu đồ ẩn sau của bọn chúng. Không gian mạng đang là một trong những không
gian không thể thiếu của xã hội loài người, nó mang đến những tiện ích cho xã
hội hiện đại, nhưng nó cũng tràn ngập những “rác rưởi” được tạo bởi những mưu
mô thâm độc.
Vì vậy mỗi chúng ta khi trải nghiệm trên không gian mạng cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo để bổ sung cho mình những thông tin, lợi ích phục vụ tốt cho cuộc sống, tránh không bị lôi kéo vào các tổ chức phản động, hội nhóm kín hoạt động phản quốc và tốt hơn là hãy phát giác, cảnh báo người thân, bạn bè trong các hội nhóm cùng phản bác lại những kẻ lợi dụng không gian mạng để trục lợi cho những mưu đồ bất chính.
THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH DÂN TỘC, TÔN GIÁO TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
Các nội dung tuyên truyền, giáo dục
phải coi trọng tạo nên sự đồng thuận về nhận thức trong nhân dân, làm cơ sở tạo
đồng thuận về hành động. Nội dung hình thức tuyên truyền, giáo dục nhân dân
phải phù hợp đối tượng, địa phương, phong phú, sinh động, sâu sắc nhằm xây dựng
tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đoàn kết sát cánh bên nhau trong xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện tốt chính sách dân tộc,
tôn giáo, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài, chống âm mưu và hành
động chia rẽ dân tộc, chủ nghĩa ly khai của các thế lực thù địch. Dân tộc, tôn
giáo luôn là vấn đề phức tạp, tính phức tạp lại tăng lên khi bị các thế lực thù
địch lợi dụng chống phá. Hiện nay nước ta thực hiện nền kinh tế thị trường, khó
tránh khỏi sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc, giữa các vùng, miền.
Nếu không giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo sẽ khó xây dựng, củng cố khối
đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc. Vì vậy, phải nghiên cứu làm sáng tỏ đường
lối chính trị đại đoàn kết toàn dân của Đảng, tuyên truyền sâu rộng truyền
thống đoàn kết trong dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
đoàn thể nhân dân tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, phương thức nâng cao
hiệu quả hoạt động và tập trung thực hiện các trọng tâm: Nâng cao hiệu quả công
tác tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, củng cố và phát huy
sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; phát huy tính sáng tạo và tự quản của nhân dân,
triển khai các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; phát huy dân
chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; giám
sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh./.
vubao6