Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

 

“Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền và đàn áp mạng xã hội” - luận điệu xuyên tạc, lố bịch

Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, bảo đảm quyền dân chủ cho nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch chẳng những không thừa nhận, mà còn ra sức chống phá, với những luận điệu xuyên tạc, lố bịch về một Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do ngôn luận và đàn áp mạng xã hội. Đó là vấn đề cần đấu tranh bác bỏ.

Sự xuyên tạc, lố bịch về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

Cách nhìn xuyên tạc, lố bịch đến mức chính trị hóa mọi vấn đề là điều dễ nhận thấy trong các chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Họ lắp ghép khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào thuật ngữ pháp lý, điển hình là ngôn từ mà họ thường xướng lên: “tù nhân lương tâm”, phản ánh cách tư duy chiết trung, ngụy biện, thiếu đạo đức khi không có cơ sở pháp lý. Bởi, trong nền tư pháp Việt Nam và các nước trên thế giới không có thuật ngữ “tù nhân lương tâm”. Thực chất cái gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là một chiêu trò nhằm cổ súy, hậu thuẫn, để dễ bề can thiệp vào việc bảo vệ, kích động các đối tượng chống phá, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những phiên tòa xét xử công khai, nghiêm minh các đối tượng chống đối, như: Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Chí Thành, Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang,... là việc làm cần thiết của một nhà nước có chủ quyền, nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật đến mức nguy hiểm đối với xã hội. Trước công lý, các đối tượng này đều công khai chấp nhận các phán quyết của hội đồng xét xử với những tội danh của mình. Vậy nhưng, một số tổ chức nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam lại ra những tuyên bố phê phán Tòa án Việt Nam và tỏ thái độ cổ súy, ủng hộ những đối tượng đã bị xét xử và phán quyết công khai về hành vi phạm tội. Đây thực chất là cách tiếp cận pháp lý hết sức sai trái và xuyên tạc trắng trợn tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Họ còn quy chụp rằng: Việt Nam xem xét nhân quyền với nội hàm quá rộng, thiên về khuôn phép xã hội, mà coi nhẹ việc bảo đảm quyền tự nhiên cụ thể của cá nhân. Họ cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên rằng: bảo đảm quyền tự nhiên cụ thể của cá nhân phải đặt trong mối quan hệ với lợi ích của xã hội trong khuôn khổ pháp luật. Không chỉ ở Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiếp cận và thực hành nhân quyền phổ quát không chung chung, trừu tượng, mà trong mối quan hệ tự nhiên giữa quyền cá nhân cụ thể với quyền của nhóm xã hội trực tiếp liên quan đến cá nhân đó. Chỉ dựa trên một số thông tin chưa được kiểm chứng và mang động cơ thù địch về chính trị đối với Việt Nam để quy chụp tình hình dân chủ, nhân quyền sẽ là cách nhìn lố bịch. Điều này thấy rõ nhất trong các bản phúc trình nhân quyền toàn cầu từ năm 2013 của Tổ chức theo dõi Nhân quyền (HRW).

Các thế lực thù địch nhân danh nhân quyền phổ quát để ra sức cổ súy cho nhân quyền phương Tây. Họ tự coi văn hóa phương Tây là trung tâm, xem nhân quyền phương Tây chi phối nhân quyền phổ quát toàn thế giới và cao hơn chủ quyền quốc gia. Lối nhân danh này bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động của những cá nhân, tổ chức dân sự theo cơ chế thị trường, vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Điển hình là, các bản phúc trình về nhân quyền của HRW thường bị nhiều nước phản ứng và chỉ trích, lên án.

Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và nền văn hóa do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, giá trị truyền thống, trình độ phát triển, chế độ chính trị,... nên có cách tiếp cận nhân quyền phổ quát là khác nhau. Ông Lý Quang Diệu, cố Thủ tướng Singapore, đã từng khẳng định: không ở đâu trên thế giới, các quyền này lại được phép thực hiện mà không có những giới hạn, vì nếu áp dụng một cách mù quáng những ý tưởng này có thể đi theo hướng hủy hoại xã hội có tổ chức. Cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Pete Peterson cho rằng: không thể đánh giá tình hình nhân quyền của một quốc gia trên chuẩn 100% hài lòng. Hoa Kỳ cũng như không một quốc gia nào khác có thể đáp ứng nhu cầu đó; thang điểm 100% hài lòng về mặt nhân quyền là điều không thể đạt được tại một quốc gia.

Những năm qua, bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam đã được nhiều nhà lãnh đạo, chính khách quốc tế, các nhà quan sát, du khách cảm nhận, đánh giá cao. Nhà báo chuyên về chính trị Đông Nam Á, David Hutt phát biểu trên đài BBC News rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hành động trách nhiệm và đặt người dân là mối quan tâm hàng đầu. Ngoài ra, sự thành công của Việt Nam trong việc biến nguy thành cơ để thực hiện có kết quả mục tiêu kép trong: phòng, chống đại dịch Covid-19; đồng thời, phát triển kinh tế - xã hội, nhằm “không để ai bị bỏ lại phía sau” đã nhận được rất nhiều bình luận, đánh giá tốt của giới chính khách, chuyên gia, truyền thông quốc tế. Đó là minh chứng sống động trong việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Việt Nam không có tự do ngôn luận và đàn áp mạng xã hội - Luận điệu xuyên tạc, lố bịch

Các thế lực thù địch, phản động, chống đối chính trị ra sức rêu rao, xuyên tạc Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, là kẻ thù của tự do báo chí trên mạng. Họ chỉ trích chính quyền bắt, truy tố tùy tiện người chống đối; kiểm duyệt, đóng các trang mạng, ra các luật mang tính chất hình sự; chính quyền xiết chặt, kiềm tỏa các quyền tự do biểu đạt, tự do lập hội, nhóm ôn hòa, tự do đi lại và tự do tôn giáo, v.v. Họ ngộ nhận về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí dẫn tới cho rằng các quyền này là tuyệt đối, nhằm kích động, tẩy chay và trả đũa nhau khốc liệt, kể cả bôi nhọ, chống đối chế độ xã hội, đặc biệt thông qua livestream “bẩn” trên mạng xã hội, v.v. Từ đó, thúc đẩy thành lập một số tổ chức nhân danh văn chương, báo chí, như: “Văn đoàn độc lập”, “Hội nhà báo độc lập”, “Phóng viên không biên giới”, “The 88 Project”1,… để chống đối chế độ, xuyên tạc Nhà nước ta bắt, bỏ tù nhà báo độc lập, đấu tranh cho cái gọi là tự do ngôn luận. Đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam; gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam mà họ gọi là bắt, bỏ tù “nhà báo báo độc lập”, “blogger”, v.v. Đây là những luận điệu xuyên tạc, lố bịch, bởi: Tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Với quan điểm đề cao vai trò của báo chí là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, để nhân dân trình bày những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình. Thông qua đó báo chí thực hiện chức năng phản biện xã hội, đề xuất những ý kiến tâm huyết đối với Đảng, Nhà nước, định hướng dư luận trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Thực hiện quan điểm đó, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin đã được Hiến pháp (năm 2013), Luật Báo chí (năm 2016) và Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016) quy định trách nhiệm của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân. Đặc biệt, báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 41.000 nhân sự đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 779 cơ quan báo chí (trong đó có: 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh - truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Tính tới tháng 6/2021, số lượng người dùng internet là gần 70 triệu người, tăng 0,8% trong giai đoạn 2020 - 2021 (chiếm hơn 70% dân số); số người sử dụng mạng xã hội là gần 76 triệu người, tăng gần 10 triệu người trong vòng 01 năm (tương đương 73,7% dân số). Việt Nam được đánh giá là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ sáu trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á.

Mặt khác, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin không phải là quyền tuyệt đối mà là quyền có giới hạn. Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin được xem là nguyên tắc cơ bản cho một nền dân chủ, thậm chí được ví như là “khí ôxy” trong một xã hội dân chủ và phát triển; nhưng không được cộng đồng quốc tế thừa nhận là quyền tuyệt đối. Các văn kiện quốc tế về quyền con người, như: Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người năm 1948 (Điều 29), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Điều 19) đều khẳng định: việc thực hiện quyền tự do ngôn luận phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định được quy định trong luật và là cần thiết nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội. Pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều giới hạn quyền này, như: tại Mỹ, Bộ luật Hình sự (Điều 2.385, Chương 115) quy định về sự hạn chế của quyền tự do ngôn luận; tại Đức, Luật An ninh mạng năm 2015 (sửa đổi năm 2018), quy định những dịch vụ mạng xã hội có thể bị phạt lên đến 50 triệu Euro nếu để xảy ra trường hợp người dùng lăng mạ, gây thù oán, hay phát tán các tin tức giả mạo, v.v.

Để tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý bảo đảm quyền tự do ngôn luận, bảo đảm nguyên tắc báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được pháp luật bảo hộ; nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, cũng không bỏ lọt tội phạm. Đồng thời, theo dõi, khảo sát, đánh giá và kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, phù hợp với các quy tắc điều chỉnh hành vi văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng xã hội, nhất là trên không gian mạng. Sự thực trên đã vạch trần sự phiến diện, xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam.

Nguồn:QPTD
__________________

1 - The 88 Project (Dự án 88) là Dự án của các thế lực thù địch dựng lên nhằm tuyên truyền cho cái mà chúng tự gọi là “Hỗ trợ tự do ngôn luận và bất đồng chính kiến ôn hòa ở Việt Nam” từ năm 2018 đến nay.

 

TẠI SAO “PHÁP LUÂN CÔNG” CÓ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN MẠNH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA?


          Tiếp tục loạt bài hé lộ toàn bộ sự thật và góc khuất về “Pháp luân công”, tại kỳ này, trang Fanpage " BĐHHT" tiếp tục xin chia sẻ đến độc giả nội dung: “Pháp luân công” truyền bá vào Việt Nam như thế nào? Tại sao “Pháp luân công” lại lôi kéo được nhiều người tập và có xu hướng phát triển mạnh ở Việt Nam trong thời gian qua?

          “Pháp luân công” truyền bá vào Việt Nam như thế nào?

          “Pháp luân công” du nhập vào Việt Nam từ năm 2000 thông qua số sinh viên du học, Việt kiều, khách du lịch, phương tiện truyền thông, internet... Sau khi du nhập vào nước ta, “Pháp luân công” đã xuất hiện dưới nhiều hình thức như các nhóm đồng tu tập trung tại các công viên để tập công; học viên công khai hoặc bí mật phát tờ rơi tại các khu dân cư, chung cư, hộ nhà dân; hình thành nhiều trang web, fanpage để quảng cáo về “Pháp luân công”… Đến nay theo thống kê chưa đầy đủ đã có trên hàng chục nghìn người tham gia, tập luyện; hàng trăm điểm, nhóm (chủ yếu ở vườn hoa, công viên) tại nhiều tỉnh, thành phố, tập trung chủ yếu ở TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, gồm nhiều thành phần trong đó có cán bộ nghỉ hưu, người cao tuổi, bác sĩ, văn nghệ sĩ, phóng viên, luật sư, người kinh doanh, lao động...

          Đáng chú ý, nhiều người dân trong nước khi được hỏi về “Pháp luân công” đều không thực sự hiểu rõ về “giáo phái” này, nguyên nhân vì họ chủ yếu chỉ nghe thông tin một chiều từ sự tuyên truyền, quảng cáo của “Pháp luân công” nên cho rằng “đây chỉ là môn khí công thuần túy, đề cao sức khỏe, đề cao tâm tính, phi chính trị, phi kinh tế, không liên quan đến tôn giáo”; nghĩa là “Pháp luân công” “hoàn toàn tốt, không có mặt xấu”.

          Tại sao “Pháp luân công” lại lôi kéo được nhiều người tập và có xu hướng phát triển mạnh ở việt nam trong thời gian qua?

          - Thứ nhất, do “pháp luân công” áp dụng cách thức quảng cáo rất mạnh, bài bản, chuyên nghiệp, tinh vi theo kiểu “bán hàng đa cấp”; trá hình dưới hình thức khí công dưỡng sinh nâng cao sức khỏe nên đa phần người dân không hề biết đằng sau “Pháp luân công” là các nội dung mê tín dị đoan lừa đảo. Chẳng hạn như thường xuyên sử dụng các câu chuyện lạ, thần bí như “khỏi mọi bệnh tật nhờ kiên trì đọc sách Chuyển Pháp Luân“, “hồi sinh và trẻ lại nhờ Pháp Luân Đại Pháp”, “nhờ niệm pháp, cổ tay bị gãy của cụ bà 83 tuổi hồi phục trong vòng 16 ngày”… và khéo léo lồng ghép vào đó những lời quảng cáo tốt đẹp để thu hút sự chú ý, để gây ngộ nhận cho nhân dân rằng “Pháp luân công” là tốt, đặc biệt là trong vấn đề sức khỏe; tuyên truyền ”đây chỉ đơn thuần là môn khí công dưỡng sinh, phi kinh tế, phi chính trị, phi tôn giáo, có thể trị được bệnh hiểm nghèo, ung thư, “Pháp luân công” là tốt nhưng bị Đảng cộng sản Trung Quốc đàn áp dã man”...

          Hoặc lợi dụng, mượn danh của một số người nổi tiếng để quảng cáo: bộ môn này “có hàng triệu triệu người tin dùng, có mặt trên khắp các quốc gia, đã được nhận trên 3000 giải thưởng, bằng khen, chứng nhận uy tín” (mặc dù các thông tin này không hề được các cơ quan, tổ chức có uy tín nào xác nhận, kiểm chứng). Ghi hình phỏng vấn những người nổi tiếng nhưng chưa hiểu rõ về môn này (trong đó có một số giáo sư, bác sĩ, sĩ quan nghỉ hưu…) để đăng quảng cáo cho rằng ““Pháp luân công” tu theo Chân Thiện Nhẫn giúp nâng cao tâm tính, “Pháp luân công” là Phật Gia thượng thừa”.

          Hay lợi dụng tâm lý lười lao động, lười tập luyện nhưng mong muốn mau đạt được mọi thứ theo kiểu “không làm gì cũng có ăn” để quảng cáo rằng “không cần tập pháp nhưng vẫn có “pháp thân” (đây vốn là một thuật ngữ của Phật giáo nhưng bị “Pháp luân công” “ăn cắp”, “Pháp thân” chỉ thể tính thật sự của Phật, là thể của vũ trụ, hiểu nôm na là dạng năng lượng đặc biệt bao quanh cơ thể; theo “Pháp luân công” tuyên truyền: “Pháp thân” do sư phụ Lý Hồng Chí cấp cho đệ tử và nằm dưới bụng đệ tử) tự xoay theo chiều kim đồng hồ, thu hút năng lượng từ vũ trụ và vẫn không ngừng tự luyện công quanh người tập 24/24 giờ…”.

          Dù tuyên truyền những điều hoang đường như trên, nhưng vẫn có nhiều người tin theo Pháp Luân Công vì các bài viết, quảng cáo của môn phái này sử dụng những thuật ngữ hết sức thuyết phục, dễ gây được thiện cảm và tạo được lòng tin của mọi người. Trong khi đó, các vấn đề liên quan đến sức khỏe, tâm linh luôn gây hấp dẫn, tò mò, tạo ra trạng thái “nhẹ dạ cả tin” cho nhiều người; cùng với tâm lý “có bệnh thì vái tứ phương” nên nhiều người đã tìm đến “Pháp luân công” với mong muốn được cải thiện sức khỏe, chữa bệnh tật.

          Từ khi xâm nhập vào Việt Nam, cùng với việc tuyên truyền miệng, phát tờ rơi quảng cáo về “Pháp luân công”, các nhóm “Pháp luân công” ở trong và ngoài nước còn phát triển dày đặc nhiều website, trang mạng xã hội fanpage, youtube để thuận tiện trong việc tuyên truyền (tất cả các trang này đều hoạt động “chui” vì chưa được cơ quan chức năng nào cấp phép) để quảng cáo công khai hoặc trá hình. Điển hình như các trang: Minh huệ, Đại kỷ nguyên, Tin đại pháp, Tinh hoa, trithucvn (Tri thức Việt Nam), phapluaninfo, chanhkien, tansinh tindachieu, chinhphap, minhbao, phapluancong, vi.falundafa…

          Riêng fanpage “đại kỷ nguyên” (tên tiếng Anh là Epoch Time, trụ sở chính ở Mỹ) đã hoạt động trên 34 quốc gia và 19 ngôn ngữ; tại Việt Nam trang fanpage này đã có đến hơn 18 triệu lượt theo dõi cho đến thời điểm hiện tại. Cách thức mà trang “Đại kỷ nguyên” tuyên truyền vô cùng tinh vi làm cho người đọc khó nhận diện đấy là “trang tốt hay trang xấu”. Thay vì chỉ tập trung vào tuyên truyền “Pháp luân công” thì fanpage này dùng “chiêu” đánh vào tâm lý người đọc, đăng tải các tin tức, video nóng hổi trong nước và thế giới, những câu chuyện khôi hài, những hình ảnh tò mò, gây kích thích khiến nhiều nhiều người đọc đăng ký theo dõi trang fanpage này. Khi đã có số đông người theo dõi thì các trang website, facebook của “Pháp luân công” mới dần dần bộc lộ bản chất.

          Hình thức tuyên tuyền của fanpage “Đại Kỷ Nguyên” được xem là chiêu bài “mưa dầm thấm lâu” rất tinh vi. Từ các tin “câu khách”, “Đại Kỷ Nguyên” dần dần làm cho người đọc có suy nghĩ “tích cực” hơn về fanpage/website của mình thông qua đó làm cho số lượng người biết đến “Pháp luân công” không ngừng tăng lên và mục tiêu cuối cùng nhằm lôi kéo, mê hoặc những người theo dõi trang fanpage này tìm hiểu sâu hơn “Pháp luân công” để thoả mãn sự tò mò và từng bước thu hút trở thành “học viên” của môn phái này.

          Đáng chú ý, “Pháp luân công” còn thông qua báo chí chính thống trong nước đăng tải nhiều nội dung quảng cáo, ca ngợi môn phái này hoặc tuyên truyền các nội dung trong sách “Chuyển pháp luân” (“giáo lý” chính của “Pháp luân công”). Qua thông tin từ các cơ quan chức năng được biết: Việc tin, bài quảng cáo cho “Pháp luân công” được đăng tải trên báo chính thống do nhiều nguyên nhân:

          Một là, do số đồng tu “Pháp luân công” dùng tiền và mối quan hệ để tác động các báo đăng tải. Hai là do các báo chính thống Thiếu kiểm chứng đăng lại các tin bài mê tín dị đoan mang tính “câu view” dẫn nguồn từ các trang trá hình của “Pháp luân công” như “Đại kỷ nguyên”. Ba là, do chính phóng viên và tòa soạn cố tình đăng tải nhằm cổ súy cho “Pháp luân công” phát triển truyền bá tại Việt Nam (qua thống kê đến nay có không ít phóng viên đang tu luyện theo bộ môn này).

          Việc quảng cáo của “Pháp luân công” rất tinh vi theo phương thức “chiếm lĩnh hệ thống tìm kiếm google”; nghĩa là sử dụng tất cả các trang web/fanpage, báo chí của mình cùng đăng tải các thông tin mang tính một chiều và hoàn toàn không có nguồn kiểm chứng uy tín, hoặc có nguồn thì cũng từ chính phía tổ chức “Pháp luân công” tự xuất bản theo định hướng có lợi nhất cho “giáo phái” này. Vì vậy, khi chúng ta tìm kiếm các từ khóa có liên quan như “Pháp luân công”, “Lý Hồng Chí” hay những nội dung do Lý Hồng Chí viết trong sách “Chuyển pháp luân”, các nội dung tìm thấy đầu tiên phần lớn là các đường dẫn (link) do các trang web, fanpage trá hình của “Pháp luân công” đăng tải (như “Đại kỷ nguyên, Tinh hoa, Trí thức Việt Nam, Tân sinh”…) với nội dung một chiều, ca ngợi “pháp luân công” do đó người đọc khi tìm kiếm thông tin sẽ dễ bị nhầm tưởng và tin theo các nội dung đó.

          - Thứ hai, “pháp luân công” trá hình dưới các hình thức đấu tranh đòi nhân quyền, lên án “nạn mổ cướp nội tạng”, kích động tâm lý ghét trung quốc; là một “quân cờ” được các thế lực thù địch hậu thuẫn, sử dụng để chống phá, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Nếu tìm hiểu kỹ cho thấy rõ ràng “Pháp luân công” đang có hoạt động chính trị nhằm chống phá Trung Quốc (sẽ phân tích kỹ ở phần sau); trong khi đó, Trung Quốc lại có mâu thuẫn lợi ích với nhiều nước, nên người dân ở một số quốc gia trong đó có Việt Nam đang có tâm lý “bài trung” khá mạnh. “Pháp luân công” và những thế lực ủng hộ “Pháp luân công” ở Mỹ và phương Tây đã triệt để lợi dụng tâm lý thù ghét Trung Quốc trên, xem đây là chiêu bài để qua đó kêu gọi mọi người ủng hộ “Pháp luân công” và phát triển tín đồ. Quốc gia nào có hoạt động ngăn chặn hoặc cấm đoán “Pháp luân công” sẽ lập tức bị vu vạ là “lệ thuộc trung quốc”, “tay sai theo Tàu”, tà ác nên mới cấm “Pháp luân công”.

          Đồng thời, “Pháp luân công” còn phát triển đệ tử thông qua yếu tố “chống cộng”, kích động hoạt động chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa (sẽ phân tích ở phần sau); chính Lý Hồng Chí phát biểu khẳng định chỉ cần “tiêu diệt Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc sụp đổ thì các Đảng khác cũng sụp đổ”.

          - Thứ ba, “pháp luân công” trá hình giả danh là phật pháp, phật gia vì vậy lừa đảo được các phật tử vì cho rằng đây cũng là một hệ phái của phật giáo. Lý Hồng Chí và các website của tổ chức “Pháp luân công” thường xuyên lợi dụng các hình ảnh, triết lý nhân sinh quan của Phật giáo để quảng cáo, chia sẻ, qua đó tạo sự thiện cảm, ngộ nhận cho bà con tín đồ phật tử khiến cho “Pháp luân công” dễ dàng tiếp cận với các phật tử sau đó cải đạo những người này.

          - Thứ tư, “pháp luân công” trá hình dưới các đoàn nghệ thuật “thần vận”, đoàn nghệ thuật “hồng ân”, đoàn nghệ thuật “hồng dương”, “thiên quốc nhạc đoàn”… (các đoàn này đều là tập hợp của các học viên “Pháp luân công” nhưng núp bóng dưới hình thức một đoàn ca nhạc, múa lân, trình diễn nghệ thuật miễn phí) nhằm mục đích khuếch trương thanh thế và truyền bá công khai hình ảnh “Pháp luân công” đến các địa phương của Việt Nam thông qua các chương trình lễ hội, văn hóa nghệ thuật.

          Chẳng hạn, như trong đợt khai giảng tại trường THCS Lê Quý Đôn, Cầu Giấy, Hà Nội chưa rõ vô ý hay cố ý đã mời đoàn “Thiên Quốc Nhạc Đoàn” về trình diễn và căng băng rôn “Pháp luân đại pháp hảo”, hay trong lễ khai hội Kinh Dương Vương (ở xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) mà đích thân Thủ tướng đến đánh trống khai hội lại xuất hiện bóng dáng của đoàn nhạc “Hồng Ân”. Không những vậy, các đoàn nghệ thuật trá hình trên cũng đã xuất hiện tại rất nhiều lễ hội truyền thống văn hóa của dân tộc, cả lễ tết Trung thu từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh…

“PHÁP LUÂN CÔNG” LÀ GÌ VÀ LÝ DO TẠI SAO “PHÁP LUÂN CÔNG” BỊ CẤM TẠI TRUNG QUỐC?

 

          Trong vụ trọng án rùng rợn với 2 thi thể vùi trong khối bê tông ở tỉnh Bình Dương năm 2019, theo lời khai của các nghi phạm nguyên nhân dẫn tới tội ác là do mâu thuẫn khi tu luyện “pháp luân công” và giết người nhằm thanh trừ “tà ác”. Lời thú tội gây sốc của nhóm nữ tu luyện theo “Pháp luân công” khiến nhiều người không khỏi tò mò về bản chất thực sự của bộ môn này.

Thời gian qua, ở nước ta, với những nội dung truyền bá đánh vào đức tin của con người, không ít người đã tham gia tập luyện “Pháp luân công” và hy vọng có thể cải thiện được sức khỏe, chữa khỏi bệnh tật. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy, hoạt động “Pháp luân công” diễn ra tại một số địa phương trên cả nước hiện không đồng nhất với mục đích tuyên truyền ban đầu của nó. Thậm chí, đã có những hệ lụy không nhỏ xảy ra từ chính hoạt động “Pháp luân công”, gây bức xúc lớn trong dư luận và ảnh hưởng tới tình hình an ninh trật tự và đời sống người dân. Vụ trọng án 2 thi thể vùi trong khối bê tông ở Bình Dương với nguyên nhân bắt nguồn từ mâu thuẫn khi tu luyện “Pháp luân công” là một minh chứng rõ ràng và xác đáng cho điều ấy. Tại địa bàn tỉnh Lâm Đồng, nhất là TP Đà Lạt, thời gian qua cũng đã xuất hiện nhiều nhóm tu luyện “Pháp luân công” công khai tại các quảng trường, công viên có nhiều hoạt động phức tạp về an ninh trật tự, gây bức xúc với người dân ở địa phương.

          VẬY THỰC CHẤT “PHÁP LUÂN CÔNG” LÀ GÌ?

          “Pháp luân công” là tốt hay xấu? “Pháp luân công” có gây nguy hại gì cho người tập hay không? Từ trước đến nay, các bài viết đề cập đến bản chất “Pháp luân công” phần lớn còn sơ sài, chưa đầy đủ, chưa đi đến “gốc rễ” của vấn đề. Để giúp độc giả có cái nhìn khách quan, toàn diện, dễ hiểu nhất về “Pháp luân công”. Tại loạt bài viết này sẽ hé lộ sự thật về pháp luân công.

          1. “PHÁP LUÂN CÔNG” LÀ GÌ?

          “Pháp luân công” hay còn gọi “Pháp luân đại pháp” là một “giáo phái” do Lý Hồng Chí (sinh năm 1952 tại tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc; từng tham gia Quân đội; sau đó giải ngũ, lấy vợ, sinh con; làm nhân viên bảo vệ và thổi kèn Trumpet phục vụ nhà hàng tại Trung Quốc) sáng lập năm 1992 dưới hình thức tập luyện khí công dưỡng sinh (thực chất Lý Hồng Chí đã kết hợp hai loại khí công cổ truyền của Trung Quốc mà Chí đã học được năm 1988 và vũ đạo của người Thái Lan và "pha chế" ra Pháp Luân Công). Tài liệu tuyên truyền chính là các sách "Chuyển pháp luân", "Đại viên mãn pháp", "Tinh tấn yếu chỉ"… Theo Lý Hồng Chí tự nhận, đây là một môn thực hành tâm linh kết hợp các bài tập tọa thiền và khí công dựa trên một triết lý đạo đức tập trung vào các nguyên lý "Chân, Thiện, Nhẫn"; việc thực hành nhấn mạnh vào đạo đức và tâm tính.

          Sau khi ra đời, “Pháp luân công” đã phát triển và thu hút một số lượng lớn người tham gia tại Trung Quốc (ước tính đến năm 1999, số lượng người tập luyện Pháp luân công tại nước này khoảng 70 triệu người). “Pháp luân công” phát triển do xuất hiện vào giai đoạn cuối của thời kỳ "bùng nổ khí công" ở Trung Quốc - thời kỳ này đã chứng kiến sự tăng nhanh của những môn tập tương tự nhau với các đặc điểm là thiền định, các bài tập cử động chậm rãi và điều hòa hơi thở. Đáng chú ý, theo nghiên cứu của các học giả phương Tây vào thời điểm đó phát hiện “Pháp luân công” khác với các trường phái khí công thông thường vì nó không chỉ đơn thuần là các bài tập dưỡng sinh mà chú trọng vào bản chất thần học mang yếu tố tôn giáo trong các bài giảng.

          Từ tháng 7/1999, “Pháp luân công” đã bị chính quyền Trung Quốc cấm hoạt động, các thành viên cốt cán của “Pháp luân công” (trong đó có Lý Hồng Chí) bị truy nã, phải trốn sang New York, Mỹ.

          2. VÌ SAO “PHÁP LUÂN CÔNG” BỊ CẤM TẠI TRUNG QUỐC?

          Thời gian qua, “Pháp luân công” luôn tuyên truyền rằng do “lãnh đạo Trung Quốc ghen tỵ với Lý Hồng Chí và vì “Pháp luân công” có nhiều tín đồ hơn đảng viên nên chính quyền Trung Quốc đã phát động các chiến dịch đàn áp, ngăn cấm “Pháp luân công”. Tuy nhiên theo các tư liệu nghiên cứu quốc tế cho thấy, lý do chính “Pháp luân công” bị cấm tại Trung Quốc vì “giáo phái” này đã có nhiều hoạt động phức tạp ảnh hưởng đến an ninh chính trị, nghiêm trọng nhất là tổ chức biểu tình, bạo loạn chính trị gây bất ổn xã hội ở nước này.

          Cụ thể, thời gian đầu sau khi thành lập, “Pháp luân công” nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ chính quyền Trung Quốc, nhưng từ giữa đến cuối thập niên 1990, “Pháp luân công” bị coi là một mối đe dọa tiềm tàng bởi phương pháp khống chế tinh thần người tập một cách cực đoan thông qua những thuyết pháp lệch lạc, đồng thời “Pháp luân công” còn tiến hành hàng loạt những hoạt động phạm pháp gây hại tại nhiều nơi ở Trung Quốc.

          Nhiều báo chí nước này nhận định tác hại chính của Pháp luân công “biến tướng” là: xâm phạm nhân quyền, gây hại tới tính mạng. Cũng bởi phương pháp tu luyện quá khống chế tinh thần, mà hơn 1.000 người luyện tập đã chết do tin tưởng vào việc “có bệnh không cần uống thuốc, chỉ kiên trì luyện tập là khỏi”. hàng trăm người luyện tập cuồng tín tới mức tự hủy hoại bản thân, thậm chí dẫn đến tự sát. Hơn ba mươi người vô tội không tham gia tập “Pháp luân công” cũng bị những kẻ luyện tập cuồng tín sát hại.

          Theo thống kê của báo chí Hoa ngữ, nhóm cuồng tín tu tập “Pháp luân công” đã thực hiện những hành vi phá hoại xã hội, xâm phạm quyền lợi chính đáng của dân chúng như phá hoại các thiết bị phát thanh truyền hình công cộng, vệ tinh thông tin, thực hiện các hoạt động gọi điện thoại phá rối, hù dọa với tần suất nhiều, số lượng lớn, thông qua mạng Internet để gửi thư rác… Báo chí nước này cũng chỉ trích các nhóm cực đoan của “Pháp luân công” tấn công ác ý vào những cá nhân hoặc tập thể có ý kiến khác không thống nhất với lý tưởng của “Pháp luân công”, xâm phạm quyền tự do ngôn luận của công dân. Đặc biệt “Pháp luân công” đã dùng phương thức giảng dạy tà giáo tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền, với những thuyết pháp được gieo rắc như “người luyện Pháp luân công bị mổ cướp tạng”…

          Bên cạnh đó, từ năm 1992 – 1999, sau một thời gian phát triển và thu hút được đông người theo, lý hồng chí có biểu hiện hoạt động chính trị, muốn trở thành đại biểu Quốc hội nhưng bị Chính phủ Trung Quốc ngăn cản (một trong những nguyên nhân ngăn cản vì từ năm 1996, “Pháp luân công” đã bị cộng đồng Phật giáo - tôn giáo lớn nhất tại Trung Quốc - phản đối kịch liệt; bởi bản chất “Pháp luân công” sau khi tuyên truyền đã bài xích, hạ thấp tất cả nền văn minh, tín ngưỡng lâu đời của Trung Quốc, đặc biệt là Phật giáo (sẽ phân tích rõ ở phần sau) và chỉ đề cao, ca ngợi một mình Lý Hồng Chí). Trong thời gian truyền bá "Pháp luân công" ở Trung Quốc, bản thân Lý Hồng Chí đã lợi dụng các học viên để tích lũy số tiền rất lớn; với số tiền này ông ta mua nhà ở sang trọng và xe hơi đắt tiền ở Trung Quốc và nước ngoài dưới tên người thân.

          Sau khi có ý đồ tham gia chính trị nhưng thất bại, ngày 25/4/1999, khi đang xuất cảnh đi nước ngoài, chỉ trong một đêm lý hồng chí đã huy động gần 100 nghìn đệ tử vây kín quảng trường thiên an môn và trung nam hải (nơi tập trung các trụ sở Nhà nước đầu não ở Bắc Kinh) để biểu tình dưới danh nghĩa "luyện công tập thể", thậm chí còn hàng trăm nghìn đệ tử khác tràn về Bắc Kinh nhưng do đường xa chưa về kịp và bị chặn ở ngoài. Trong khi đó, trước sự việc trên, Lý Hồng Chí khi phát biểu trả lời các phương tiện truyền thông quốc tế đã dối trá rằng: "Tôi không biết trước về biến cố này". Chính quyền Trung Quốc lúc đầu cho rằng “Pháp luân công” cũng chỉ là một môn tập luyện khí công thông thường, cùng lắm là một tà giáo “vớ vẩn”; không ngờ sau sự việc này mới giật mình vì hệ thống an ninh dày đặc như vậy mà Lý Hồng Chí có thể huy động đệ tử quá dễ dàng và đệ tử quá cuồng tín, xem Lý Hồng Chí là “Phật sống”, hoàn toàn nghe theo Lý Hồng Chí.

          Có thể thấy, việc chính quyền Trung Quốc ngăn chặn “Pháp luân công” là câu chuyện thể chế của riêng trung quốc trên cơ sở logic để phòng vệ, dẹp trừ một thế lực phản loạn mưu đồ lật đổ chế độ, nhằm giữ ổn định xã hội. Nhiều nghiên cứu cho biết, nếu chính quyền Trung Quốc không ngăn chặn kịp thời sự phát triển của “Pháp luân công”, rất có thể Lý Hồng Chí đã lật đổ chế độ chính trị và lên ngôi “hoàng đế” hay “giáo chủ” ở Trung Quốc./.

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH, NHIỆM VỤ CẤP THIẾT VÀ QUAN TRỌNG

 

          Đại hội XIII của Đảng nhận định: Trong những năm tới, “khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột”. Tình hình đó đã đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “đòi hỏi toàn Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy; có quyết tâm chính trị cao; dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình; chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống; nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được; đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”.

          Nước ta sau hơn 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao; hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn. Trong khi đó, “quốc phòng, an ninh đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức. Các thế lực thù địch cấu kết với các phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước chưa từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, nhất là phá hoại nền tảng chính trị, tư tưởng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”. Đảng ta nhấn mạnh: “Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối nước ta trong thời gian tới”. Bởi vậy, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị và tổ chức tinh, gọn, mạnh, có tính cơ động cao, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống; nhỏ mà không yếu, ít mà địch được nhiều, thắng được hiện đại là nhiệm vụ quan trọng được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân. Mặt khác, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ đã có những tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, quân sự, quốc phòng và an ninh... ở các cấp độ phạm vi toàn cầu, khu vực và trong từng quốc gia. Quốc phòng, quân sự là lĩnh vực đặc thù thường ứng dụng nhanh nhất các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại. Chiến tranh nếu xảy ra, chủ yếu sử dụng các loại vũ khí trang bị kỹ thuật công nghệ cao, tác chiến điện tử mạnh, quy mô lớn, cường độ cao.

          Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, “Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm sức mạnh tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống.

          Với quyết tâm chính trị cao và giải pháp quyết liệt, đồng bộ, đến nay, về cơ bản Quân đội ta được điều chỉnh phù hợp với quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức tinh, gọn, mạnh bảo đảm sự cân đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Chúng ta phải ra sức xây dựng quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”. Đây là tiếp tục định hướng chiến lược của Đảng, đòi hỏi Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

                                                                                                st

NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 5 VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT

 

          Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TƯ ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao".

          1. Quan điểm chỉ đạo

          - Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng, phải được củng cố và phát triển cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tập thể là xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xuất phát từ nhu cầu thiết thực, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho thành viên sản xuất, kinh doanh hiệu quả, phát triển bền vững. Phát triển kinh tế tập thể phải tôn trọng bản chất, giá trị, nguyên tắc hoạt động của kinh tế tập thể, phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, vùng, miền và cả nước.

          - Kinh tế tập thể với nhiều hình thức tổ chức kinh tế hợp tác đa dạng, phát triển từ thấp đến cao (tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã…), trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các liên hiệp hợp tác xã, không giới hạn về quy mô, lĩnh vực và địa bàn. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế là trọng tâm, bao gồm lợi ích của thành viên, tập thể và Nhà nước, đồng thời coi trọng lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội trên địa bàn.

          - Kinh tế tập thể phát triển dựa trên sở hữu riêng của thành viên và sở hữu chung của tập thể; tổ chức hoạt động theo nguyên tắc đối nhân, không phụ thuộc vào vốn góp; phân phối theo mức độ tham gia dịch vụ, theo hiệu quả lao động và theo vốn góp. Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các thể nhân và pháp nhân, thành viên chính thức và thành viên liên kết, cùng góp vốn, góp tài sản, góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Khuyến khích việc tích lũy và sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản chung trong tổ chức kinh tế tập thể.

          - Phát triển kinh tế tập thể cả về số lượng và chất lượng, trong đó chú trọng chất lượng, bảo đảm sự hài hòa trong tất cả các ngành, lĩnh vực, địa bàn; có chính sách ưu tiên cho các tổ chức kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh với chuỗi giá trị sản phẩm, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên phát triển các tổ chức kinh tế tập thể gắn với phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức. Đánh giá hiệu quả kinh tế tập thể toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, hiệu quả của tổ chức và của thành viên.

          - Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, Liên minh hợp tác xã và các tổ chức đại diện phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế tập thể.

          2. Mục tiêu tổng quát

          Phát triển kinh tế tập thể năng động, hiệu quả, bền vững, cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân với nhiều mô hình hợp tác, liên kết trên cơ sở tôn trọng bản chất, giá trị và nguyên tắc của kinh tế tập thể, thu hút ngày càng nhiều nông dân, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức tham gia; góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của các thành viên, hộ gia đình, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          3. Mục tiêu cụ thể

          Đến năm 2030:

          - Cả nước có khoảng 140.000 tổ hợp tác, với 2 triệu thành viên; 45.000 hợp tác xã với 8 triệu thành viên; 340 liên hiệp hợp tác xã với 1.700 hợp tác xã thành viên.

          - Bảo đảm trên 60% tổ chức kinh tế tập thể đạt loại tốt, khá, trong đó có ít nhất 50% tham gia liên kết theo chuỗi giá trị. Có trên 5.000 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; phát triển các chuỗi giá trị nông sản hàng hóa gắn với liên kết sản xuất, cung cấp dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh tham gia vào các chuỗi cung ứng đưa sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài.

          Đến năm 2045:

          Phấn đấu thu hút tối thiểu 20% dân số tham gia các tổ chức kinh tế tập thể. Mở rộng quy mô hoạt động của các tổ chức kinh tế tập thể, chất lượng hoạt động ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới. Bảo đảm trên 90% tổ chức kinh tế tập thể hoạt động hiệu quả, trong đó có ít nhất 75% tham gia các chuỗi liên kết. Phấn đấu có ít nhất 3 tổ chức kinh tế tập thể nằm trong bảng xếp hạng 300 hợp tác xã lớn nhất toàn cầu do Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) công nhận. Các tổ chức kinh tế tập thể đều áp dụng công nghệ, nhất là chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ./.

                                                                                                          st

Bài thơ “Lời người bên sông”

 


Cựu chiến binh Lê Bá Dương được biết đến là tác giả của những câu thơ:

“Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”

(“Lời người bên sông”).

Điều tài tình là chỉ vỏn vẹn với 4 câu thơ nhưng đã khắc họa sự hy sinh, mất mát quá đỗi lớn lao của bộ đội ta trong trận chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mà ai đọc lên cũng rưng rưng, xót xa đến xé lòng. Tuy nhiên, “số phận” của bài thơ này cũng thật trắc trở, gian truân như chính tác giả của nó vậy.

 “Mỗi khi tháng bảy ùa về”

Tôi tiếp nhận thông tin của cựu chiến binh Lê Bá Dương trong một niềm xúc động khi biết, người thanh niên đầy lý tưởng ấy đã sửa lý lịch tăng thêm tuổi để được nhập ngũ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ khi mới 15 tuổi, ông đã chiến đấu và lập công tại các địa bàn mặt trận Đường 9 Quảng Trị; 19 tuổi, ông đã trên cương vị chỉ huy cấp đại đội chiến dịch giải phóng và bảo vệ Thành cổ Quảng Trị vào mùa hè đỏ lửa năm 1972. Trong những năm tháng này, ông đã đạt được nhiều danh hiệu, như: “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt cơ giới”, “Dũng sĩ diệt máy bay”… Những chiến công ấy vang xa, lan xa, là nguồn cổ vũ, khích lệ, động viên cho toàn quân, đặc biệt trên mặt trận B5 (Đường 9, Quảng Trị) ác liệt hồi ấy còn dấy lên phong trào “Xung kích như Lê Bá Dương, chốt chặt như Lê Bá Dương”.

Đã có lần ông chia sẻ với tôi: “Chiến trường là nơi đẹp nhất của tuổi trẻ, là nơi tôi được thể hiện khát khao cống hiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà”. Và tôi hiểu với ông, Quảng Trị đã trở thành một phần máu thịt, là quê hương thứ hai của mình để giờ đây mỗi lần về thăm nơi này, ông không khỏi nghẹn ngào, xót xa. Để trả ơn nghĩa đồng đội, ông đã khởi xướng lên tập quán thả hoa xuống dòng sông Thạch Hãn để tưởng niệm vong linh đồng đội, những người đã ngã xuống trên mảnh đất đạn bom này. Điều đặc biệt, tập quán ấy đã được người dân hưởng ứng nối tiếp, nâng lên thành phong tục tâm linh không chỉ cho các ngày lễ  27-7, 30-4… mà còn thường xuyên vào những đêm mồng một, ngày rằm. Ngoài ra, ông cùng nhiều đồng đội còn sống đã và đang lặng lẽ, cặm cụi tìm kiếm hài cốt, thông tin liệt sĩ như một cách trả nợ đồng đội - một món nợ không vay, nhưng nguyện trả đến hết đời.

Trò chuyện cùng ông khi ngày 27-7 đến gần, ông bảo người lính từng bao nhiêu lần nuốt nước mắt, “đưa” di hài đồng đội vào lòng đất, ngay sau khi kết thúc chiến tranh, ông trở về với tâm trạng day dứt khi ngoảnh lại một thời: “Ăn trong đạn, ngủ trong bom/ Những khi cởi áo thay hòm chôn nhau” mà xót xa, một sự xót xa thành hội chứng nhớ! nhớ đến thắt lòng những đồng đội đã nằm lại, chưa, và không trở về. Cái day dứt ấy gần như ngày nào, đêm nào cũng vậy. Đặc biệt những mùa tháng bảy, gần như đêm nào cũng chập chờn những gương mặt những đồng đội, bạn bè… mỗi người một nét riêng cứ hiển hiện trước mắt ông, gọi ông, thì thầm, thủ thỉ thành lời. Người ta gọi đó là sự ám ảnh của ký ức, nhưng với ông, đó là những sự nhắc nhớ như cách bạn bè, đồng đội cùng tổ ba người, cùng tiểu đội hằng ngày cùng chuyện trò, trao đổi chuyện vui buồn… Và ông cứ đem tâm trạng ấy, nỗi niềm ấy, lại vác ba lô “trở về” hương khói cho anh em. Đó là những khi ngồi bên những ngôi mộ, thủ thỉ chuyện trò, hoặc lên rừng chọn nơi đầu gió, nhờ hương khói tỏa vào những trảng rừng lau lách sim mua, nhờ những bè hoa chùng chình dọc suối sông… đâu đó bạn ông còn ẩn mình nằm lại chưa về.

Băn khoăn về tình hình dịch bệnh, ông bảo: “Năm ngoái xen vào giữa quãng “ngừng” của dịch bệnh, tôi còn lách về được một đôi lần. Năm nay dịch bệnh căng thẳng, chấp hành những quy định về phòng, chống dịch hạn chế đi lại trong mùa dịch, nên dù muốn tôi cũng không thể “về” với anh em đồng đội, cái tâm trạng ấy càng thêm day dứt. Hiện tại dù đã nhắn, gửi chút tiền ít ỏi nhờ anh em đồng đội địa phương hương hoa cho anh em, vậy mà tôi vẫn: “Mỗi khi tháng bảy ùa về/ Đêm dài thêm giữa bốn bề khói hương/ Giấc khuya nghiêng phía sa trường/ Bữa cơm nghẹn giữa nhớ thương bạn bè”.

“Số phận” bài thơ “Lời người bên sông”

Mặc dù bài thơ “Lời người bên sông” của ông đã quá nổi tiếng, đã quá nhiều người biết đến nhưng đằng sau nó vẫn là câu chuyện mà ít người biết. Nhiều người từng gọi đây là “bài thơ thần”, nhưng cựu chiến binh Lê Bá Dương lại khẳng định đây không phải “thơ thần”, mà là tiếng lòng của ông, một người lính trở về và được “viết” vào chiều 27-7-1987. “Xin được đóng ngoặc kép chữ “viết” vì cái cách làm thơ, hoặc làm vế đối bất chợt trong đầu và nhớ nhập tâm rồi sau này tiện lúc nào thì viết thành chữ vào nhật ký, hoặc in sách báo... Theo cách viết này, nếu in tôi có thể in vài tập đầy đặn, và bài thơ “Lời người bên sông” cũng cùng một cách viết như vậy”, ông cho biết.

Ông bảo, về nguyên bản bài thơ đầu tiên được thốt ra như thế này: “Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Tan chợ chiều xuôi đò có vội/ Xin, xin đừng khuấy đục dòng trong”. Viết vậy là bởi hôm đó, sau lễ hương hoa cho đồng bào, đồng đội, ông một mình ngồi lặng lẽ bên bờ Thạch Hãn, chợt thấy từng chiếc thuyền của cô bác ngược dòng lên chợ Quảng Trị. Nhìn những mái chèo hối hả khuấy tung bọt nước, chạnh lòng khi nghĩ đến bạn bè, đồng đội vẫn còn gửi thân xác vào đáy sông mà xót xa. Cứ vậy từng lời như từ trong ngực ông thốt ra thành câu, thành chữ như vậy thành bài thơ – đúng hơn là lời nhắn gửi, thỉnh cầu của một người lính với mọi người trong cả dòng đời xuôi ngược.

Sau 3 năm Lê Bá Dương giữ bài thơ cho riêng mình, không in ở bất cứ tờ báo nào thì đến đầu năm 1990, trong một lần chuyện trò với 2 người bạn là nhà văn Đỗ Kim Cuông và nhà văn Thế Vũ tại Hội Văn nghệ Nha Trang, ông đã đọc bài thơ này. Nhà văn Đỗ Kim Cuông nghe xong nói ngay: Bài thơ rất cảm động, nhưng xót xa quá. Nghe vậy ông sửa từ “xin” trong câu thứ nhất thành từ “ơi”… Đây là thán từ gọi đò theo phương ngữ Quảng Trị. So với từ “xin” thì từ “ơi đò”, “bớ đò” hoặc “đò ơ” khi gọi lên có tiếng đồng vọng nên nghe thắt thẻo hơn. Riêng 2 câu sau được viết lại thành: “Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”. Lê Bá Dương chấp nhận sự thay đổi này và bài thơ được chỉnh sửa mới đã được in lần đầu tiên trên Tạp chí Khoa học công nghệ Khánh Hoà số kỷ niệm Ngày Thương binh - liệt sĩ (27-7-1990).

Tuy nhiên, khi bài thơ chính thức được công bố rộng rãi thì đã xảy ra nhiều câu chuyện. Khi khởi công công trình bờ Nam sông Thạch Hãn (khánh thành vào 27-7-2009) mặc dù Chủ tịch UBND thị xã Quảng Trị đề nghị Lê Bá Dương chép tay nguyên bản bài thơ và tất nhiên có ký tên ông bên dưới. Tuy nhiên, không hiểu sao, đến ngày khánh thành, trên tấm bia không hề ghi tên tác giả. Theo đó, tuy là bài thơ tứ tuyệt, nhưng lại được tạc lên bia đá theo bố cục so le của thơ lục bát. Đặc biệt, câu đầu thay từ “ơi” thay bằng từ “xin” và câu thơ cuối cùng “Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm” đã được đổi thành “Vỗ yên bờ, bãi mãi ngàn năm”.

Lại đến việc bia thơ bờ Bắc sông Thạch Hãn, chính ông được chủ đầu tư mời ra tận xưởng chế tác tại Ninh Bình để trực tiếp đọc và rà từng từ trên phôi bia. Vậy mà đến ngày 26-7-2010, một lãnh đạo địa phương gọi qua điện thoại hỏi rằng: Thơ anh đã thành thơ của nhân dân nên không đề tên tác giả có được không? Cũng chẳng biết nói sao với câu hỏi như đã khẳng định đó, ông trả lời như thế này: “Thứ nhất, thơ tôi được người dân nhớ, chứ không thể gọi là thơ của nhân dân được. Còn việc nên hay không nên đề tên tác giả, theo tôi các anh thử nghĩ xem, nếu đề tên tôi dưới bài thơ của tôi mà thêm một người yêu Quảng Trị thì nên để, còn nếu vì để tên tôi mà làm giảm bớt một hay nhiều người yêu Quảng Trị thì dĩ nhiên không nên để làm gì”. Nói vậy nhưng đêm cùng ngày, tên tác giả đã “được” bóc ra khỏi bia, để rồi sáng ngày 27-7-2010, khi đưa gần 500 cựu chiến binh trung đoàn tham gia dự lễ khánh thành nhà hành lễ, bến thả hoa bờ Bắc sông Thạch Hãn, trên bia thơ tên tác giả Lê Bá Dương chỉ còn những vết đục nham nhở (sau này được thay bằng hoa văn cánh sen cách điệu). Sau đó, cũng chính đồng chí lãnh đạo địa phương gọi điện trao đổi: “Thơ của bác không ai tranh cãi, nhưng vì thiết kế cái lư hương ngay trước bia thơ đề tên bác. Trong khi bác còn sống, mỗi lần hương khí e bất tiện, vậy nên phải ẩn tên, nhưng trong các lễ nghi cũng như văn bản công bố, tỉnh vẫn nói rõ tên tác giả Lê Bá Dương”.

Tưởng vậy cũng ổn, nhưng ngược lại, việc bia trống tên tác giả lại làm mọi người băn khoăn, phản ứng. Và điều tệ hơn, một số người ác ý, không chỉ xúc phạm đến cá nhân ông và tệ hơn còn mượn cớ để xuyên tạc bôi nhọ chính quyền địa phương cũng như Đảng, Nhà nước. Cực lòng, cùng với việc đăng ký bản quyền bài thơ, ông đem chuyện này trao đổi với lãnh đạo địa phương và ngay sau đó vào năm 2018 bia thơ cả hai bờ sông Thạch Hãn đã được hiệu đính nội dung, cùng đầy đủ tên tác giả.

Bài thơ “Lời người bên sông” của cựu chiến binh Lê Bá Dương đã đi vào hơn 20 tác phẩm “chuyển loại” từ hợp xướng, ca khúc, thậm chí cả rock và ca vọng cổ, dù dùng cả nguyên bài hay dùng vài câu, ý thơ làm ca từ. Dẫu sao, sau một “hành trình” dài “trả lại tên cho em”, bài thơ đã được ghi nhận của tác giả Lê Bá Dương bằng cả bia đá lẫn bia… miệng. Dẫu không phải là một người làm thơ chuyên nghiệp, nhưng chỉ với một bài thơ ấy, Lê Bá Dương đã chạm khắc được vẻ đẹp huyền diệu của tâm hồn, neo lại trong lòng bạn đọc, đặc biệt không chỉ với những người lính từng đi qua cuộc chiến đầy khốc liệt mà cho các thế hệ hôm nay và mai sau có dịp thấu hiểu và ngưỡng mộ quá khứ hào hùng của cả một dân tộc đã một thời chiến đấu, hy sinh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.