Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

Một số vấn đề về mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế hiện nay.

  - Trong lịch sử thế giới hiện đại, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế đều chi phối đến các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hai chủ nghĩa này đều có những sắc thái mới và tương tác biện chứng, tác động mạnh mẽ đến đời sống quốc tế và chính trị nội bộ các quốc gia, dân tộc. Do đó, nhận thức đúng đắn mối quan hệ này sẽ góp phần giúp các quốc gia, dân tộc vừa bảo đảm lợi ích của mình, đồng thời, đóng góp vào sự phát triển chung của toàn nhân loại.

Chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan - hai biểu hiện trái ngược nhau trong quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế

Chủ nghĩa dân tộc (nationalism) không phải là một khái niệm mới. Trong lịch sử loài người, chủ nghĩa dân tộc đã manh nha hình thành từ khi các “dân tộc” ra đời. Chủ nghĩa dân tộc có thể được xem xét ở nhiều khía cạnh, như một loại tình cảm dân tộc, một loại hình tư tưởng, một quá trình xây dựng dân tộc, một hành động tập thể…

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là tình cảm dân tộc, là tình cảm trung thành, tình yêu, sự gắn bó với dân tộc mình. Tình cảm này được hình thành nhờ những yếu tố chung như nguồn gốc và đặc điểm nhân chủng, lịch sử chung, cùng khu vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo… Đó là những yếu tố khiến các cá nhân cảm thấy giống nhau, gắn bó với nhau trong cộng đồng. Tình cảm dân tộc có thể được nhận thấy thông qua quá trình cố kết dân tộc và quốc gia thành những cộng đồng khác nhau, thông qua những mối quan hệ khác nhau giữa người cùng dân tộc với người khác dân tộc và thông qua bản sắc dân tộc.

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là một loại hình tư tưởng (một hệ tư tưởng hay ý thức hệ), đó là những tư tưởng về quyền tự quyết, quyền tự trị, quyền bảo vệ bản sắc và các giá trị riêng của mỗi dân tộc. Trên phương diện quan hệ quốc tế, tư tưởng dân tộc được phản ánh trong tư tưởng lập quốc hay khẳng định chủ quyền quốc gia, trong sự bảo đảm và phát triển lợi ích quốc gia. Theo Từ điển Bách khoa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là “hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm lý đòi hỏi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc” (1).

Chủ nghĩa dân tộc với biểu hiện là một phong trào chính trị: John Breuilly - giáo sư về chủ nghĩa dân tộc và dân tộc tại Trường Kinh tế London (Anh) - cho rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là phong trào chính trị nhằm hướng đến hoặc thực hiện quyền lực nhà nước và biện minh cho các hành động như vậy với các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa” (2). Theo ông, các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa là học thuyết chính trị dựa trên ba khẳng định cơ bản: Một là, sự tồn tại của dân tộc với đặc điểm rõ ràng và đặc biệt; hai là, các quyền lợi và giá trị của dân tộc này được ưu tiên so với các quyền lợi và giá trị khác; ba là, dân tộc phải độc lập, điều này đòi hỏi ít nhất phải đạt được chủ quyền về chính trị.

Theo nghĩa này, chủ nghĩa dân tộc còn là quá trình xây dựng hoặc tham gia các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó có thể là quá trình thống nhất quốc gia gắn liền với tên tuổi của các nhân vật lịch sử; hoặc quá trình tái thống nhất đất nước sau chiến tranh; hay các phong trào giành độc lập của các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.

Chủ nghĩa dân tộc với đặc điểm là một hiện tượng văn hóa - xã hội, là sự tích hợp của những thần thoại và biểu tượng truyền thống. Dưới góc nhìn văn hóa, Anthony D. Smith - nhà xã hội học lịch sử người Anh - nhận xét, chủ nghĩa dân tộc là loại hình của văn hóa, gồm tư tưởng, ngôn ngữ, huyền thoại, biểu tượng, ý thức trong sự tương liên với toàn cầu (3). Ở khía cạnh này, S. Kramer (4) khẳng định, mặc dù chủ nghĩa dân tộc có nguồn gốc từ các cuộc cách mạng chính trị nhưng nền tảng cơ bản vẫn là văn hóa. Ông lập luận rằng, chủ nghĩa dân tộc với ý tưởng là các quốc gia nên đại diện cho các dân tộc thống nhất về văn hóa; và chủ nghĩa dân tộc là một lực lượng văn hóa nói lên khát vọng sâu sắc của con người nhằm kết nối với bên ngoài.

Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa của các học giả trong nước và quốc tế về chủ nghĩa dân tộc, có thể nhận định, chủ nghĩa dân tộc (nationalism) là một thứ tình cảm, một loại hình tư tưởng, một phong trào thực tiễn hay một hiện tượng văn hóa liên quan đến sự sinh tồn, phát triển và quyền lợi của dân tộc, được tạo ra trên cơ sở tình yêu, lòng trung thành và sự quan tâm sâu sắc của các thành viên đối với lợi ích dân tộc mình.

Tổng thống Mỹ Joe Biden, Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Thủ tướng Australia Anthony Albanese tại Hội nghị Thượng đỉnh nhóm "Bộ Tứ" ở Thủ đô Tokyo, tháng 5-2022_Ảnh: TTXVN

Một khái niệm liên quan đến chủ nghĩa dân tộc là Chủ nghĩa quốc tế (internationalism). Khái niệm này để chỉ mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc. Chủ nghĩa quốc tế ra đời khi chủ nghĩa tư bản hình thành, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao theo xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Chính nền sản xuất đại công nghiệp đã tạo ra một nền sản xuất, trao đổi và tiêu dùng mang tính quy mô toàn cầu. Điều này phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, tạo nên một thị trường thế giới thống nhất, khiến các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy sự liên kết. Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các quốc gia còn xuất phát từ những vấn đề mà từng quốc gia, dân tộc riêng lẻ không thể tự giải quyết được, đòi hỏi sự chung tay của cộng đồng quốc tế, như bảo vệ môi trường, xóa đói, giảm nghèo, chống bất bình đẳng giới…

Biểu hiện cho mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế được thể hiện qua hai dạng thức của chủ nghĩa dân tộc, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Chủ nghĩa dân tộc chân chính xuất phát từ tình cảm, lòng trung thành đối với đất nước nhưng không vì thế mà xem dân tộc mình ưu việt hơn dân tộc khác, do đó chủ nghĩa dân tộc chân chính biểu hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc chân chính là nền tảng, động lực cho tự do, độc lập, quyền tự quyết và phẩm giá của các dân tộc trước những áp bức, thống trị và bất công; là cơ sở để xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc.  

Trong khi đó, chủ nghĩa dân tộc cực đoan “là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thống giá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân tộc mình cao hơn tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác” (5). Chính vì thế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan dễ dẫn đến xu hướng biệt lập, cục bộ, vị kỷ, chống lại xu hướng hợp tác, liên kết và hội nhập quốc tế, thậm chí có thể thúc đẩy xu hướng chiến tranh, xâm lược. Do đó, nó làm cản trở sự giao thoa và hợp tác quốc tế, làm suy giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia.

Biểu hiện của mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế hiện nay

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế không đơn giản là mối quan hệ có hai chiều đối lập, mà còn là mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau, được thể hiện ở các xu hướng:

Một là, xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc. 

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan luôn có xu hướng bành trướng dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc, thông qua quá trình xâm lược thuộc địa, xâm lăng về kinh tế, chính trị, văn hóa. Với tư tưởng phân biệt giữa một dân tộc “ưu tú, vĩ đại, khuôn mẫu” với các quốc gia - dân tộc khác “man di, mọi rợ, lạc hậu, cần được khai hóa, đô hộ”, thậm chí phải bị tiêu diệt..., quá trình quốc tế hóa này đã tạo ra một sự liên kết giữa quốc gia một cách không tự nguyện mà chỉ xuất phát từ phía chủ quan của quốc gia bá quyền. Trong lịch sử hiện đại, các nước thực dân, đế quốc với những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa trên danh nghĩa “khai hóa văn minh” chính là biểu hiện của xu hướng này. Ngược lại với chủ nghĩa đế quốc, quốc tế hóa chủ nghĩa cộng sản về mặt lý thuyết dựa trên cơ sở tự nguyện giữa các quốc gia, dân tộc.

Hiện nay, biểu hiện của xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan là chủ nghĩa sô-vanh, chủ nghĩa bá quyền.

Về chính trị, các nước lớn tìm cách áp đặt luật lệ lên các nước nhỏ, bỏ qua luật pháp quốc tế hoặc tạo ra một luật chơi riêng có lợi cho mình. Các nước lớn ràng buộc các nước nhỏ bằng những hiệp định song phương, can thiệp để thay đổi thể chế, thậm chí nếu cần sẽ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Về kinh tế, các nước lớn muốn thông qua “sự lệ thuộc” về kinh tế để áp đặt về chính trị. Trong cuốn “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế” (xuất bản năm 2004), John Perkins đã chỉ ra, Mỹ tìm cách xây dựng một đế chế của riêng mình nhằm đưa các nước đang phát triển và kém phát triển vào vòng xoáy nợ nần để đặt ra những yêu cầu về kinh tế, chính trị ràng buộc và có lợi cho Mỹ. Bên cạnh đó, các nước lớn còn có thể tự đặt ra những luật chơi kinh tế chung cho toàn cầu.

Về văn hóa - xã hội, các nước lớn tìm cách áp đặt hệ giá trị, tư tưởng đối với các nước nghèo và đang phát triển nhằm tạo ra một “chuẩn mực chung” cho thế giới. Một khối lượng lớn các sản phẩm văn hóa từ các nước phát triển du nhập vào các nước đang phát triển. Thực tế cho thấy, văn hóa, lối sống của Mỹ và các nước phương Tây đang lan tràn ở nhiều nước.

Hội nhập quốc tế là do sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, thể hiện mối liên hệ giữa các quốc gia. Rõ ràng, trong quá trình toàn cầu hóa, các nước mạnh với những lợi thế của mình sẽ có ảnh hưởng lớn đến phần còn lại của thế giới, thông qua đó truyền bá các “giá trị” của nước mình và chủ nghĩa tự do nhằm duy trì ưu thế quân sự và thúc đẩy lợi ích kinh tế. Như vậy, có thể thấy, chủ nghĩa quốc tế đang bị lợi dụng nhằm phục vụ cho những mưu tính của chủ nghĩa quốc gia - dân tộc cực đoan.

Tất nhiên, cũng cần nhìn nhận xu hướng này trong tính hai mặt của nó. Đó là khi các nước lớn mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trong quá trình toàn cầu hóa, vừa tạo ra thách thức nhưng cũng là cơ hội để các nước đang và kém phát triển có thể tận dụng để vươn lên. Tiếp thu các thành tựu khoa học - công nghệ cũng như các giá trị văn hóa tiên tiến… là một trong những mặt tích cực mà các nước đang và kém phát triển cần nắm bắt trong xu thế khách quan này.

Hai là, chủ nghĩa dân tộc nước nhỏ chống lại xu hướng quốc tế hóa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn.

Xu hướng này có nguồn gốc từ chủ nghĩa quốc gia - dân tộc nhằm bảo vệ quyền sinh tồn, phát triển như một thực thể chính trị độc lập và chống lại xu hướng “quốc tế hóa” của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Với tư tưởng các dân tộc dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay kém phát triển… đều có quyền bình đẳng, mục tiêu của xu hướng này là bảo vệ lãnh thổ, không gian sinh tồn, bảo vệ tộc người - nòi giống, bảo vệ độc lập, tự do và quyền được phát triển, bảo vệ bản sắc…

Hiện nay, biểu hiện của xu hướng này chính là chống xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến chủ nghĩa dân tộc kinh tế. Bởi toàn cầu hóa không chỉ mang lại những tác động tích cực mà còn có cả những tác động tiêu cực. Toàn cầu hóa đang đặt các nước đang và kém phát triển trước những thách thức lớn; làm trầm trọng thêm bất công xã hội, tăng khoảng cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước với nhau. Chính các mặt tiêu cực này đã khiến chủ nghĩa dân tộc kinh tế ở cả các nước đang và kém phát triển trỗi dậy.

Bên cạnh đó, theo nhiều quan điểm, toàn cầu hóa còn được xem là quá trình phương Tây hóa mà cốt lõi là “Mỹ hóa” về mặt văn hóa, trong đó lối sống phương Tây được truyền bá và thực hiện một cách phổ biến. Điều này khiến các phương thức sống khác cùng với hệ thống các giá trị và hình mẫu văn hóa khác, đặc biệt là bản sắc văn hóa dân tộc, đứng trước nguy cơ bị xói mòn, hòa tan. Điều này tất yếu dẫn đến chủ nghĩa dân tộc văn hóa của các nước nhỏ cần tìm cách bảo vệ bản sắc dân tộc mình trước làn sóng “xâm lăng” của văn hóa phương Tây.

Ba là, xu hướng chủ nghĩa dân tộc nước lớn chống lại xu thế quốc tế.

Thực tế chính trị trong một thế giới toàn cầu hóa cho thấy, một đảng phái hay chính quyền nào đó sẽ nhận được sự tín nhiệm cao của người dân nếu nhận thức đầy đủ, toàn diện vấn đề chủ nghĩa dân tộc trong đường lối, chính sách. Có những quốc gia sử dụng chủ nghĩa dân tộc như một “lá bài” để đạt được lợi ích thông qua hành vi đề cao lợi ích quốc gia, chỉ quan tâm đến quyền lợi của quốc gia, dân tộc mà không quan tâm, thậm chí làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của các quốc gia khác. Từ đó, chối bỏ trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cộng đồng quốc tế, không gắn lợi ích dân tộc với quốc tế. Có thể thấy, do đặt lợi ích nước Mỹ lên trên hết, nên chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump theo đường lối thực dụng, đặc biệt về kinh tế, đã hạn chế quan tâm đến các vấn đề toàn cầu. Do vậy, trong giai đoạn Tổng thống Donald Trump cầm quyền, ông đã có những quyết định rút Mỹ khỏi một số tổ chức quốc tế cũng như các hiệp ước quốc tế, như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc…

Xu hướng này còn biểu hiện ở tư tưởng “phản toàn cầu hóa”, theo đuổi chủ nghĩa bảo hộ. Thực tế, không riêng Mỹ, chủ nghĩa bảo hộ đã trở thành xu hướng trên toàn cầu kể từ năm 2008, khi các quốc gia sử dụng các chính sách mới nhằm hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp nội địa trước sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau (áp dụng hạn ngạch, nâng thuế nhập khẩu, gia tăng các yêu cầu kỹ thuật…). Theo Tổ chức Cảnh báo thương mại toàn cầu (GTA), thương mại toàn cầu đang nghiêng theo xu hướng bảo hộ. Chỉ số đo lường tác động của chính sách bảo hộ thương mại tại mỗi quốc gia đều dương trong giai đoạn từ năm 2009 tới tháng 8-2018. Con số không ngừng gia tăng cho thấy chủ nghĩa bảo hộ đang lan rộng (6).

Ngoài ra, xu hướng này còn thể hiện ở tư tưởng bài ngoại, chống nhập cư. Hàng loạt đảng phái, phong trào nổi lên gần đây ở châu Âu cho thấy rõ điều này. Như vậy, chính chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã dẫn đến việc không thể giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế. Do vậy, các quốc gia hiện nay cần hướng đến chủ nghĩa dân tộc chân chính thiết lập nên chủ nghĩa quốc tế trên cơ sở của thế giới quan hiện đại: hòa bình, hữu nghị, dựa trên luật lệ, tôn trọng quyền tự quyết, độc lập và hội nhập quốc tế để cùng phát triển. Chủ nghĩa quốc tế dựa trên chủ nghĩa dân tộc chân chính chính là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của quốc gia trong mối quan hệ với lợi ích của các quốc gia khác trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; luật pháp quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế mà không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia - dân tộc khác.

Giải quyết mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực, đóng góp trách nhiệm vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế tại Phiên thảo luận Cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc lần thứ 76_Ảnh: TTXVN

Trong thời đại Hồ Chí Minh, sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng chính là bài học thành công của cách mạng Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử.

Thứ nhất, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế.

Cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng quốc tế. Tinh thần quốc tế trong sáng của Người thể hiện ở sự kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới” (7). Qua đó, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Thứ hai, kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế trong đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Điều này được thể hiện rõ nhất qua đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đó là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” (8); “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (9).

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã làm rõ mối quan hệ mật thiết và biện chứng giữa độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. Đại hội XIII đề ra phương châm: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (10). Đây là phương châm phù hợp với đường lối đối ngoại mà Việt Nam đã đề ra; đồng thời khẳng định giá trị của đối ngoại Việt Nam là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, hội nhập quốc tế, sẵn sàng tham gia đóng góp cho cộng đồng quốc tế cũng như giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu.

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế của Việt Nam cũng được thể hiện qua tư duy về lợi ích quốc gia - dân tộc. Kim chỉ nam cho tư duy và hành động của Việt Nam là trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời hài hòa với lợi ích của các đối tác, lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi” (11). Việc “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” không phải là xem nhẹ chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, càng không phải bỏ qua trách nhiệm quốc tế.

Cần xác định rõ rằng, ngày nay, mọi việc làm vì tiến bộ và phát triển chung của nhân loại đều là đưa nhân loại tiến gần hơn đến chủ nghĩa xã hội. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, đồng thời tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, mong muốn là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong quan hệ quốc tế vì độc lập, hòa bình và tiến bộ chính là làm tốt nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển” (12).

Trong môi trường quốc tế với sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cường quyền, Đảng ta đã khẳng định Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, mà thúc đẩy lợi ích trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Các nguyên tắc này bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; hợp tác bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Đó là những nguyên tắc phổ quát và tiến bộ mà toàn thể nhân loại đang nỗ lực gìn giữ và thực hiện.

Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy, đường lối đối ngoại nhất quán và những đóng góp chủ động, tích cực của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đã chứng minh tính đúng đắn của sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Tiến trình hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam trở thành một bộ phận gắn kết với thế giới. Thực tiễn những đóng góp của Việt Nam đã được bạn bè quốc tế ghi nhận, đất nước đạt được vị thế chưa từng có trên trường quốc tế. Từ chỗ bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị - ngoại giao, đến nay, cục diện đối ngoại Việt Nam được mở rộng với quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới của 15 hiệp định thương mại tự do (FTA) với khoảng 60 đối tác. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, 17/20 nước thuộc Nhóm 20 nền kinh tế lớn (G-20) và toàn bộ các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Thứ ba, tiếp tục phát huy giá trị chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Để đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Một là, cần nhận thức mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô sản một cách khách quan, khoa học để không rơi vào tư duy siêu hình. Một mặt, không rơi vào “chủ nghĩa quốc tế hư vô” mà quên đi một thực tế và cũng là quy luật rằng, giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo các đảng cộng sản cần phải gánh vác trách nhiệm giải phóng quốc gia - dân tộc của mình và xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên đất nước mình. Mặt khác, không rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vị kỷ, tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mà quên đi nghĩa vụ quốc tế.

Hai là, cần phân biệt rõ chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa quốc tế vô sản nếu được kết hợp với chủ nghĩa dân tộc chân chính sẽ tạo ra sức mạnh thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi nước trên thế giới.

Ba là, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi đặt lợi ích dân tộc lên trên hết nhưng lại tách rời Đảng Cộng sản Việt Nam với dân tộc, tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, có những quan điểm cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết; không có chủ nghĩa xã hội vẫn có độc lập dân tộc (?!). Đây là quan điểm hết sức sai lầm, phản động và tác động tiêu cực đến việc thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Bốn là, cần đấu tranh phản bác một số luận điểm xuyên tạc, sai trái rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì coi trọng hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia, dân tộc trong việc giải quyết một số vấn đề về biên giới lãnh thổ (?!). “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc” dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta khi mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới.

Tựu trung, mối quan hệ giữa quốc gia, dân tộc và quốc tế là mối quan hệ không thể tách rời. Do vậy, cần “luôn kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản” (13). Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sô-vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc hoặc chủ nghĩa bành trướng, bá quyền. Tất cả những khuynh hướng lệch lạc ấy có thể dẫn đến sự suy yếu, rạn vỡ, thậm chí là đổ vỡ của một quốc gia - dân tộc hay một nhà nước đa quốc gia, dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung... Bài học thành công của việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại của Đảng ta được thể hiện rõ trong kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Bài học đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cũng như trong một thế giới đang biến chuyển sâu sắc./.

--------------------

(1) Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn
(2) Phạm Thu Trang: “Chủ nghĩa dân tộc: Quan điểm và một số yếu tố tác động trong điều kiện hiện nay”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, 10-2017, tr. 13
(3) Xem: Anthony D. Smith: National Identity (Tạm dịch: Bản sắc dân tộc), Penguin, London, 1991, tr. 70 - 79, 91
(4) Lloyd S. Kramer là một nhà sử học và nhà giáo dục người Mỹ, được biết đến với một số công trình về chủ nghĩa dân tộc, như Nationalism Political Cultures in Europe and America 1775 - 1865 (Tạm dịch: Chủ nghĩa dân tộc văn hóa chính trị ở châu Âu và châu Mỹ 1775 - 1865) và Lafayette in Two Worlds: Public Cultures and Personal Identities in an Age of Revolutions (Tạm dịch: Lafayette ở hai thế giới: Văn hóa công cộng và bản sắc cá nhân trong thời đại cách mạng).
(5) Đào Minh Hồng - Lê Hồng Hiệp (chủ biên): Sổ tay thuật ngữ Quan hệ quốc tế, Khoa Quan hệ quốc tế - Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013
(6) Chủ nghĩa bảo hộ đe dọa kinh tế toàn cầu, Tạp chí tài chính onlinehttps://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-quoc-te/chu-nghia-bao-ho-de-doa-kinh-te-toan-cau-312242.html, ngày 3-9-2019
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.8, tr. 272
(8), (9), (10), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 161, 162, 162, 161-162
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 84
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t.13, tr. 477

Tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tới chuyển đổi số ở Việt Nam và một số hàm ý chính sách.

 - Chuyển đổi số là nội dung cơ bản trong trụ cột kỹ thuật số của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đang trở thành xu hướng tất yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng lực cạnh tranh, tận dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực nhàn rỗi của xã hội, thực hiện thành công mục tiêu vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có khả năng cạnh tranh ở khu vực và thế giới.

Xu hướng chuyển đổi số ở Việt Nam

Chuyển đổi số (digital transformation) là việc ứng dụng những tiến bộ về công nghệ số, như điện toán đám mây (cloud computing), dữ liệu lớn (big data)... vào mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… nhằm mang lại hiệu suất cao, thúc đẩy phát triển doanh thu, nâng tầm thương hiệu, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường, “một quá trình nhằm mục đích cải thiện một thực thể bằng cách tạo ra những thay đổi đáng kể đối với các thuộc tính của nó thông qua sự kết hợp của công nghệ thông tin, máy tính, truyền thông và kết nối”(1)Năm 2020, lần đầu tiên, Liên hợp quốc sử dụng cụm từ “Digital Government” (Chính phủ số) làm chủ đề cho Báo cáo khảo sát chính phủ điện tử, thể hiện xu hướng phát triển chính phủ số trên toàn cầu.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan gian trưng bày sản phẩm công nghệ số của các doanh nghiệp tham dự Diễn đàn quốc gia Phát triển doanh nghiệp công nghệ số lần thứ 3, năm 2021 _ Ảnh: TTXVN

Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Kinh tế số của Việt Nam năm 2019 đạt giá trị 12 tỷ USD, đóng góp 5% GDP của đất nước(2). Kinh tế Việt Nam đang thay đổi nhanh thông qua việc áp dụng công nghệ số. Một số ngành công nghiệp tại Việt Nam đang được số hóa nhanh chóng, như: thương mại điện tử, du lịch, nội dung số và công nghệ tài chính (fin-tech). Đây là những ngành tiềm năng cho nền kinh tế số Việt Nam trong thời gian tới. Kết quả từ các nghiên cứu trong báo cáo “Tương lai nền kinh tế số Việt Nam hướng tới đến năm 2030 và 2045” do Cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ Ô–xtrây-lia (CSIRO) và Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam công bố năm 2019 cho thấy mức độ sẵn sàng cho chuyển đổi số. Các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực này gặp khó khăn khi áp dụng công nghệ mới do vấn đề tài chính và kỹ thuật, nhưng họ nhận thức rõ tầm quan trọng của công nghệ số trong sản xuất. Với bối cảnh của Việt Nam trong năm 2019, nền kinh tế số của Việt Nam vẫn có tiềm năng cao - cả trong các ngành truyền thống và các ngành mới nổi. Kết quả khảo sát người tiêu dùng cho thấy, khi các ngành công nghiệp chuyển đổi, người tiêu dùng Việt Nam đang thích ứng nhanh chóng và chấp nhận các sản phẩm và dịch vụ mới của nền kinh tế số. Điều này có lợi cho việc thu hút đầu tư và phát triển nền kinh tế số của nước ta… Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới thử nghiệm 5G(3). Hạ tầng internet, chương trình dịch vụ phổ cập đầu tiên đã được thực hiện từ năm 2005 đến năm 2010 trên cơ sở Quyết định số 74/2006/QĐ-TTg, ngày 7-4-2006, của Thủ tướng Chính phủ, với kinh phí thực hiện Chương trình ước tính khoảng 5.200 tỷ đồng.

Năm 2018, Việt Nam đã tham gia Mạng lưới các thành phố thông minh ASEAN (ASCN) và phê duyệt Kế hoạch phát triển thành phố thông minh bền vững giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 950/QĐ-TTg, ngày 1-8-2018, của Thủ tướng Chính phủ với các nhóm giải pháp bao gồm: Rà soát, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, định mức kinh tế - kỹ thuật và ban hành các hướng dẫn về phát triển đô thị thông minh bền vững; từng bước hình thành và hoàn thiện hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về lĩnh vực đô thị thông minh, thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng đô thị thông minh bền vững; hình thành, kết nối liên thông, duy trì và vận hành hệ thống dữ liệu không gian đô thị số hóa và cơ sở dữ liệu đô thị quốc gia; đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông minh trong quy hoạch và quản lý phát triển đô thị; phát triển hạ tầng đô thị thông minh; phát triển các tiện ích thông minh cho dân cư đô thị; xây dựng tiềm lực phát triển đô thị thông minh bền vững; tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trong và ngoài nước; tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, trao đổi chuyển giao công nghệ về phát triển đô thị thông minh bền vững; tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức về đô thị thông minh. 

Theo Ngân hàng Thế giới, có năm trụ cột chính cho một nền kinh tế kỹ thuật số sôi động, an toàn và bao trùm ở một quốc gia(4): i) hạ tầng kỹ thuật số; ii) các nền tảng kỹ thuật số; iii) dịch vụ tài chính kỹ thuật số; iv) tinh thần kinh doanh kỹ thuật số và v) kỹ năng kỹ thuật số. Nền tảng cho số hóa ở Việt Nam gần đây đã được phát triển đáng kể hướng tới bảo đảm các trụ cột này. Dịch vụ internet tốc độ cao, thiết bị thông minh và điện thoại di động ở Việt Nam đang trở nên phổ biến. Tính đến tháng 1-2021, dân số Việt Nam đạt mốc 97,8 triệu dân, với tỷ lệ dân thành thị là 37,7%. Trong đó, có khoảng 68,17 triệu người đang sử dụng internet (chiếm 70,3% dân số) thông qua các nền tảng, ứng dụng khác nhau, với thời lượng trung bình là 6 giờ 47 phút. Đây được xem là khoảng thời gian tương đối lớn được sử dụng trong 1 ngày(5). Việt Nam là một trong những nước có số lượng tên miền đăng ký cao nhất trong khu vực ASEAN(6). Theo Báo cáo của VNNIC, tính đến ngày 31-10-2019, số lượng tên miền tại Việt Nam đạt trên 500.000 tên miền. Tên miền “.vn” là tên miền quốc gia có số lượng người đăng ký sử dụng lớn nhất ASEAN và tốp 10 châu Á - Thái Bình Dương. Có 145,8 triệu kết nối di động tại Việt Nam vào tháng 1-2020. Số lượng kết nối di động tại Việt Nam vào tháng 1-2020 tương đương 150% tổng dân số. Thị trường điện toán đám mây của Việt Nam đạt khoảng 133 triệu USD (tương đương khoảng 3.200 tỷ đồng). Tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 27 trung tâm dữ liệu (IDC) của 11 doanh nghiệp trong nước đầu tư, 270.000 máy chủ trên khắp cả nước(7).

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm tiếp cận chuyển đổi số. Chủ trương về chuyển đổi số đã được đề cập trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh(8). Chuyển đổi số đã được ghi nhận trong nhiều lĩnh vực, ví dụ thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong nông thôn mới, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, xây dựng nông thôn mới thông minh… theo tinh thần mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; hỗ trợ về kết cấu hạ tầng, trang thiết bị công nghệ thông tin để hiện đại hóa hệ thống thông tin thị trường lao động, hình thành sàn giao dịch việc làm trực tuyến và xây dựng các cơ sở dữ liệu trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, chuyển đổi số trong tổ chức triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030… Nhiều văn bản quan trọng về chuyển đổi số đã được ban hành(9). Ngoài ra, còn nhiều văn bản pháp luật áp dụng cho từng địa phương và văn bản của từng tỉnh, thành phố áp dụng đối với địa phương mình, tạo nền tảng cho chuyển đổi số(10). Hoạt động chuyển đổi số đã đạt được những kết quả tích cực ở cả 3 trụ cột là Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Xếp hạng Chỉ số phát triển chính phủ điện tử theo Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển chính phủ điện tử năm 2020, Việt Nam tăng 3 bậc so với năm 2016.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2022 hoàn thành cơ bản chuyển đổi số và đến năm 2025 trở thành doanh nghiệp hoạt động trên môi trường số (Trong ảnh: Ứng dụng công nghệ số vào công tác vận hành phát điện tại Công ty Thuỷ điện Sơn La)_Ảnh: TTXVN

Các quy định liên quan đến chuyển đổi số trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tác động tới chuyển đổi số ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA); gần đây nhất đã ký kết các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)...

Về tổng thể, có thể thấy, các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc thực thi các FTA: Nhóm các cam kết mà pháp luật Việt Nam bảo đảm tính tương thích tại thời điểm phê chuẩn các FTA; nhóm các cam kết mà việc thực thi trên thực tế ở Việt Nam không đòi hỏi phải thực hiện thông qua các quy định pháp luật cụ thể; nhóm các cam kết về các ràng buộc tương lai; nhóm các cam kết dưới dạng các khuyến nghị hoặc quyền lựa chọn.

Các hiệp định này đã xác lập nhiều quy định liên quan đến chuyển đổi số, như quy định về các sản phẩm số, quy định về bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, quy định về thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, quy định về nhãn hiệu điện tử, chứng thực chữ ký điện tử, tên miền, viễn thông và mạng viễn thông, các quy định về chuyển thông tin gắn liền với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân và bảo mật các hồ sơ, báo cáo, giao dịch và tài khoản cá nhân, quy định về các sản phẩm công nghệ truyền thông và thông tin (ICT) có sử dụng công nghệ mã hóa, về tương thích điện từ của các sản phẩm thiết bị công nghệ thông tin (ITE), về các dịch vụ máy tính, về tự động hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quy định các biện pháp bảo hộ cạnh tranh với nhà cung cấp chủ đạo, quy định về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan, các quy định về việc thu hoặc áp thuế trực tiếp, xác định, phân bổ hoặc phân chia thu nhập, lợi nhuận, khấu trừ hoặc tín dụng, các quy định về mua sắm chính phủ đối với Việt Nam (bao gồm cả cơ quan cấp Trung ương, cơ quan cấp địa phương và các cơ quan khác)…(11). Các FTA thế hệ mới cũng có các điều khoản thành lập các cơ quan liên quan đến chuyển đổi số(12).

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện khung pháp lý và chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong các hoạt động thương mại, gắn với nhiều lĩnh vực khác nhau, như sở hữu trí tuệ, thuế quan, hạ tầng số, thanh toán không dùng tiền mặt và công nghệ tài chính (fintech), logistics,.... Việt Nam cũng có nhiều cải cách về thương mại và đầu tư nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài hưởng lợi từ các FTA, trong đó có các FTA thế hệ mới. Ví dụ, việc ban hành các quy định liên quan tới chứng nhận xuất xứ hoặc truy xuất nguồn gốc điện tử tạo ra con đường dẫn tới chuyển đổi số của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp tại Việt Nam. Các FTA thế hệ mới được kỳ vọng sẽ góp phần tăng cường đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao tạo thuận lợi cho chuyển đổi số, thu hút các tập đoàn lớn của nước ngoài...

Việc tham gia các FTA thế hệ mới được kỳ vọng và đã mang lại nhiều tín hiệu khả quan cho hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam. Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định EVFTA sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (bình quân từ 2,18% đến 3,25% cho 5 năm đầu thực hiện và khoảng 4,57% đến 5,3% cho 5 năm tiếp theo) và trao đổi thương mại hai chiều (xuất khẩu sang EU tăng khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 trong khi nhập khẩu từ EU tăng khoảng 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030)(13). Số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy, tính đến ngày 20-12-2021, vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2%; vốn thực hiện đạt 19,74 tỷ USD, giảm 1,2% so với năm 2020. Có 1.738 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giảm 31,1%; vốn đăng ký đạt 15,2 tỷ USD, tăng 4,1%Có 985 lượt dự án điều chỉnh, giảm 13,6%; vốn đầu tư đạt 9 tỷ USDtăng 40,5%. Có 3.797 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, giảm 38,2%, vốn góp đạt 6,9 tỷ USD, giảm 7,7% so với cùng kỳ. Sau hơn một năm đi vào triển khai, Hiệp định EVFTA đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Trong 9 tháng đầu năm 2021, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt 41,29 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó, xuất khẩu đạt 28,85 tỷ USD, tăng 11,7%(14).

Các FTA thế hệ mới có khả năng thúc đẩy đầu tư chất lượng cao vào một số ngành mà các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm năng, như: sản xuất công nghệ cao, chăm sóc sức khỏe, năng lượng sạch và tái tạo, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển, dịch vụ tài chính, qua đó tạo cơ hội cho Việt Nam trở thành điểm đến cho các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đồng thời có thể được hưởng lợi từ kiến thức, công nghệ, bí quyết mà các nhà đầu tư nước ngoài mang lại. Các tiêu chuẩn cao từ các FTA thế hệ mới sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp và chuyển đổi kỹ thuật để đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn của thị trường nước ngoài.

Sản xuất sản phẩm thiết bị đầu cuối của VNPT Technology - đơn vị chủ lực của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất viễn thông công nghệ thông tin, truyền thông và công nghiệp nội dung số_Ảnh: Tư liệu

Các quy định trong các FTA thế hệ mới tạo ra một số thách thức đối với việc hoàn thiện các chính sách, pháp luật để thích ứng với tác động của các FTA thế hệ mới. Một số quy định hiện hành của Việt Nam về chuyển đổi số chưa phù hợp với các cam kết quốc tế. Điều 26 Luật An ninh mạng năm 2018 quy định các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên internet có hoạt động thu thập, khai thác, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân của người sử dụng dịch vụ phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam, nhưng Điều NN.13 của Hiệp định CPTPP không cho phép các quốc gia thành viên yêu cầu một doanh nghiệp nước ngoài phải đặt hệ thống máy chủ trên lãnh thổ của mình như là một điều kiện để tiến hành hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ nước đó. Nhiều luật đã được ban hành từ khá lâu nhưng chưa được rà soát sửa đổi. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 có một số điểm chưa tương thích với các luật được ban hành sau, như Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng khi có đề cập việc không được sử dụng thông tin vào mục đích khác trái với quy định về việc sử dụng thông tin đó, không tiết lộ thông tin cho bên thứ ba..., nhưng chưa quy định về sử dụng công nghệ, kỹ thuật trong giao dịch điện tử để tránh lộ, lọt thông tin của người dùng... Các quy định hiện hành về bảo mật dữ liệu cá nhân còn thiếu và không đủ hiệu lực, dẫn đến tình trạng dữ liệu cá nhân không được bảo mật. Một số lĩnh vực gắn với chuyển đổi số, như trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối (blockchain) chưa có các văn bản pháp luật phù hợp để điều chỉnh… Các quy định của pháp luật cạnh tranh cũng hầu như chưa đề cập tới các vấn đề liên quan đến chuyển đổi số. Điều này đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành ở Việt Nam để phản ánh yêu cầu của các FTA thế hệ mới.

Một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Để chủ động thích ứng với tác động của các FTA thế hệ mới tới chuyển đổi số ở Việt Nam, cần tiếp tục quan tâm tới các vấn đề sau:

Một là, chú trọng hoàn thiện thể chế, pháp luật, chính sách liên quan đến quy định trong các FTA thế hệ mới, như sản phẩm số, bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, nhãn hiệu điện tử, tên miền, viễn thông và mạng viễn thông, chuyển thông tin gắn liền với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân và bảo mật các hồ sơ, báo cáo, giao dịch và tài khoản cá nhân, dịch vụ máy tính, tự động hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quy định về các biện pháp bảo hộ cạnh tranh…; có cơ quan chuyên trách, có thẩm quyền trong thúc đẩy chuyển đổi số; tập trung vào những ngành, lĩnh vực đột phá; hạ tầng thông tin; tạo thuận lợi và hỗ trợ phù hợp cho doanh nghiệp; hỗ trợ trong việc tạo ra môi trường thử nghiệm cho các mô hình kinh doanh, sản phẩm mới, tiến hành các khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sand box) cho phép doanh nghiệp thử nghiệm các phát kiến đổi mới trong điều kiện thị trường thực tế; xây dựng khung chính sách, pháp luật về quản trị dữ liệu quốc gia (như trách nhiệm, phân cấp quản lý dữ liệu; kết nối, chia sẻ, mở dữ liệu; quy định về dữ liệu gốc; quản lý chất lượng dữ liệu; quản lý vận hành dữ liệu; quản lý an ninh dữ liệu…); ban hành quy định gắn với việc nâng cao trách nhiệm của nhà mạng cung cấp dịch vụ qua các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới nhưng phải bảo đảm nguyên tắc thực thi công bằng, trách nhiệm như nhau trước pháp luật đối với cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Việc hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật cần bảo đảm bám sát các định hướng chung của Việt Nam, xu hướng, thông lệ của thế giới và có sự tham vấn ý kiến rộng rãi.

Đổi mới toàn diện các quy trình quản lý nhà nước gắn với chuyển đổi số như: đơn giản hóa thủ tục thẩm định; chuyển sang công nghệ số, qua internet để cấp giấy chứng nhận đầu tư trong thời gian ngắn nhất... Tập trung xây dựng các văn bản pháp luật gắn với bảo vệ dữ liệu cá nhân, định danh và xác thực điện tử, quản lý, vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia, kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành (bao gồm việc kết nối với cơ sở dữ liệu về thuế, hải quan, ngân hàng, giấy phép lái xe, bảo hiểm y tế để tích hợp thông tin vào thẻ căn cước công dân gắn chíp phục vụ tiện ích cho người dân; chuẩn bị nền tảng dữ liệu để tích hợp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cung cấp định danh và xác thực điện tử...); thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn điện tử, gắn với phát triển kinh tế số, phổ cập chữ ký số; có giải pháp để phổ cập thanh toán số, thanh toán không dùng tiền mặt theo hướng thuận tiện, dễ dàng và an toàn hơn, tạo nền móng phát triển giao dịch trực tuyến và kinh tế số; thúc đẩy gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính và chuyển đổi số, Chính phủ số; hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; nghiên cứu, xây dựng quy hoạch phát triển đô thị thông minh...

Sử dụng công nghệ, kỹ thuật trong giao dịch điện tử_Nguồn: phunuvietnam.vn

Hai là, cần chú trọng các trụ cột liên quan đến năng lực quản lý chuyển đổi số, đó là trụ cột chiến lược, trụ cột văn hóa và trụ cột quản trị. Chiến lược quản trị, khi được xác định cụ thể, rõ ràng và đúng đắn, sẽ giúp hành trình chuyển đổi số đi đúng hướng, còn văn hóa kỹ thuật số sẽ giúp duy trì sự chuyển đổi đó trong dài hạn. Cần lưu ý rằng, năng lực quản lý chuyển đổi và nền tảng kỹ thuật số có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Ba là, phát triển hạ tầng số, trong đó nhấn mạnh các lĩnh vực như phát triển hạ tầng băng rộng chất lượng cao, phát triển hạ tầng kết nối internet vạn vật, thu hút, đưa các nền tảng công nghệ, dịch vụ lớn trên thế giới đặt tại Việt Nam… Nghiên cứu hình thành cơ chế quản lý dữ liệu lớn và kho dữ liệu nhằm xử lý khối lượng lớn dữ liệu do các cơ quan, tổ chức của Nhà nước tạo ra, trên cơ sở đó cho phép Chính phủ ra các quyết định tối ưu, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đề ra trong lộ trình chuyển đổi số. Đối với các hoạt động có yếu tố thương mại điện tử trên các phương tiện truyền thông xã hội, cần có cơ chế quản lý riêng và phù hợp với từng dạng thức. Đối với các nền tảng thương mại kỹ thuật số xuyên biên giới, cần nắm rõ cách thức vận hành, từ đó xây dựng quy định quản lý hoạt động của các nền tảng này một cách hiệu quả. Cơ quan quản lý nhà nước các cấp yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài có hoạt động liên quan đến các nền tảng thương mại kỹ thuật số xuyên biên giới thông báo hoạt động của họ thông qua các cách thức trực tuyến./.

-----------------

(1) Vial, Gregory: “Understanding digital transformation: A review and a research agenda” (Tạm dịch: Hiểu về chuyển đổi kỹ thuật số: Đánh giá và chương trình nghiên cứu), The Journal of Strategic Information Systems, 2006
(2) “e-Conomy SEA 2019 - Swipe up and to the right: Southeast Asia’s $100 billion Internet economy” (Tạm dịch: e-Conomy SEA 2019 - Phát triển và đúng hướng: Nền kinh tế Internet trị giá 100 tỷ USD của Đông Nam Á), https://www.bain.com/globalassets/noindex/2019/google_temasek_bain_e_conomy_sea_2019_report.pdf, 2019
(3) Cameron A, Pham T H, Atherton J, Nguyen D H, Nguyen T P, Tran S T, Nguyen T N, Trinh H Y & Hajkowicz S: Vietnam’s future digital economy – Towards 2030 and 2045 (Tạm dịch: Tương lai nền kinh tế số Việt Nam hướng tới đến năm 2030 và 2045), CSIRO, Brisbane, 2019
(4Digital Solutions in a Time of Crisis: Uganda Economic Update (Tạm dịch: Giải pháp kỹ thuật số trong thời kỳ khủng hoảng: Cập nhật kinh tế U-gan-đa), Fifteenth Edition, July 2020, World Bank, Washington, DC, 2020
(5) Thống kê internet Việt Nam 2021, https://vnetwork.vn/vi/news/thong-ke-tinh-hinh-internet-viet-nam-nam-2021
(6Báo cáo số liệu internet tại Việt Nam, https://vnetwork.vn/news/cac-solieu-thong-ke-internet-viet-nam-2019
(7Thực trạng phát triển điện toán đám mây tại Việt Namhttps://vnpt.com.vn/doanh-nghiep/tu-van/dien-toan-dam-may-tai-viet-nam.html
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 221
(9) Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Viễn thông năm 2009, Luật Tần số vô tuyến điện năm 2009, Luật Lưu trữ năm 2011, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018,…; các Luật có chứa những điều khoản về chuyển đổi số như Luật Quản lý thuế, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Quy hoạch, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công…; Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, ngày 16-05-2013, của Chính phủ, về thương mại điện tử; Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, của Chính phủ, hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử năm 2005 về giao dịch điện tử chữ ký số, chứng thực chữ ký số; Nghị định số 165/2018/NĐ-CP của Chính phủ, về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Chỉ thị số 02/CT-TTg, 23-01-2019, của Thủ tướng Chính phủ, về việc tăng cường sử dụng chữ ký số chuyên dùng Chính phủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP, ngày 08-04-2020, của Chính phủ, về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 47/2020/NĐ-CP, ngày 09-04-2020, của Chính phủ, quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước; Quyết định số 645/QĐ-TTg, ngày 15-05-2020, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021 – 2025; Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03-06-2020, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030"…
(10) ví dụ Nghị quyết số 54/2017/QH14, của Quốc hội, về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 35/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng, Nghị quyết số 38/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế, Nghị quyết số 37/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thanh Hóa, Nghị quyết số 36/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Nghệ An, Nghị quyết số 45/2022/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ…, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Nghị quyết 09-NQ/TU về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 662/QĐ-UBND, ngày 2-3-2021, phê duyệt đề cương, nhiệm vụ xây dựng Đề án Chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành các Quyết định số 2392/QĐ-UBND, ngày 03-7-2020, về cập nhật Kiến trúc Chính quyền điện tử Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 2393/QĐ-UBND, ngày 03-7-2020, về phê duyệt Chương trình chuyển đổi số của Thành phố Hồ Chí Minh…
(11) Ví dụ, về chính sách cạnh tranh, Hiệp định EVFTA có quy định riêng đối với việc trợ cấp cho doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, theo đó Điều 10.7 (Minh bạch hóa) và Điều 10.6 (Trợ cấp riêng có điều kiện) chỉ áp dụng đối với các ngành dịch vụ: viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải bao gồm hàng hải, năng lượng, dịch vụ máy tính, kiến trúc và cơ khí, dịch vụ xây dựng và môi trường, tùy thuộc vào các bảo lưu trong Chương 8 (Tự do hoá đầu tư, Thương mại dịch vụ và Thương mại điện tử). Về dịch vụ viễn thông, Hiệp định EVFTA quy định về các lĩnh vực hợp tác trong sở hữu trí tuệ (Điều 12.62) như chủ động tăng cường nhận thức và giáo dục công chúng nói chung về chính sách sở hữu trí tuệ bằng việc xây dựng các chiến lược hiệu quả để xác định các đối tượng chủ yếu và xây dựng chương trình truyền thông để tăng cường nhận thức của người tiêu dùng và báo chí về tác động của việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm nguy cơ đối với sức khỏe và sự an toàn và mối liên hệ với tội phạm có tổ chức; thúc đẩy và phổ biến thông tin về quyền sở hữu trí tuệ trong, các cộng đồng kinh doanh, tổ chức nghề nghiệp xã hội, tổ chức xã hội, cũng như tăng cường nhận thức của người tiêu dùng và chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, bên cạnh các lĩnh vực khác; Hiệp định RCEP quy định (Điều 9) về trách nhiệm chung đối với các nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng: 1. Mỗi Bên có trách nhiệm bảo đảm rằng nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông trên lãnh thổ quốc gia mình phải cung cấp kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng của Bên khác. 2. Mỗi Bên có trách nhiệm rằng nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng trên lãnh thổ quốc gia mình không được sử dụng hoặc cung cấp các thông tin nhạy cảm thương mại hoặc thông tin bảo mật của người sử dụng hoặc thông tin liên quan đến người sử dụng, mà nhà cung cấp dịch vụ đó có được thông qua các thoả thuận kết nối, ngoài mục đích cung cấp các dịch vụ kết nối đó…
(12) Điều 27.2.2(a) Hiệp định CPTPP thành lập Ủy ban về thương mại điện tử. Hiệp định EVFTA còn quy định về việc thành lập các ủy ban trực thuộc. Điều 17.2 Hiệp định EVFTA quy định về các ủy ban chuyên trách được thành lập trực thuộc Ủy ban Thương mại, trong đó có Ủy ban Đầu tư, thương mại dịch vụ, thương mại điện tử và mua sắm. Hiệp định RCEP thành lập Ủy ban hỗn hợp RCEP, trong đó có Ủy ban Môi trường kinh doanh…
(13) Báo cáo tóm tắt số 192/BC-CP, ngày 8-5-2020, của Chính phủ, thuyết minh về Hiệp định thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)
(14) Nguyễn Hường: “EVFTA là một trong những Hiệp định thương mại tự do Việt Nam tận dụng tốt nhất trong năm đầu thực thi”, Trang thông tin điện tử Bộ Công Thương, https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/evfta-la-mot-trong-nhung-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-viet-nam-tan-dung-tot-nhat-trong-nam-dau-thuc-thi.html, ngày 4-11-2021

 

Đánh giá sai lệch của Nghị viện châu Âu

Vừa qua, cơ quan nghiên cứu của Nghị viện châu Âu công bố bản báo cáo về các hoạt động hỗ trợ những nhà hoạt động nhân quyền trên toàn thế giới của Liên minh châu Âu (EU Support for human rights defenders around the world). Đáng tiếc, nội dung của bản báo cáo nàychứa đựng những thông tin không khách quan, sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

§  Lại kiểu phúc trình suy diễn, làm sai lệch thực tiễn

Theo nội dung của báo cáo mới được đưa ra, Liên minh châu Âu cho rằng, họ đã gặp nhiều giới hạn trong việc bảo vệ những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam; vu cáo những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền bị kiểm soát ngặt nghèo, chính quyền Việt Nam sẵn sàng đàn áp những người hoạt động nhân quyền “một cách trắng trợn”.

Từ đó, đặt ra yêu cầu đòi hỏi Việt Nam thoả hiệp, thả các “tù nhân chính trị” để đạt được lợi ích… Để bảo vệ cho những luận điểm trên, cơ quan này đưa ra dẫn chứng về trường hợp của Phạm Đoan Trang, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… và kết luận việc bắt giữ, kết án các đối tượng này là “tuỳ tiện”, việc xét xử “không công bằng, làm oan người vô tội”?!

Đây không phải là lần đầu Nghị viện châu Âu đưa ra những đánh giá, nhận định sai trái, thiếu khách quan, thiếu thiện chí về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Điều này đã đi ngược lại lợi ích, mối quan hệ giữa Việt Nam và EU.

Phải khẳng định rõ, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo các quy định của pháp luật. Việt Nam luôn ủng hộ và chào đón các cơ quan, tổ chức quốc tế đến nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực tiễn tình hình nhân quyền trong nước trên cơ sở công bằng, minh bạch, khách quan, tôn trọng lẫn nhau.

Đảng, Nhà nước Việt Nam sẵn sàng đối thoại một cách hết sức cởi mở trên lĩnh vực quyền con người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau với cộng đồng thế giới và đồng thời chia sẻ các kinh nghiệm tốt của đất nước trong đảm bảo quyền con người.

Nhiều năm qua, Việt Nam đã tham gia vào cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Thông qua cơ chế này, Việt Nam thể hiện rõ chính sách, nỗ lực cũng như thành tựu của đất nước trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Thực tế, Việt Nam được bạn bè quốc tế công nhận, đánh giá cao trên lĩnh vực này và đã được tín nhiệm bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 -2016.

Tuy nhiên, một số tổ chức phi chính phủ, thậm chí cả một số cơ quan của nước ngoài lại cố tình phớt lờ sự thật, thường xuyên thể hiện cách nhìn nhận phiến diện, thiếu thiện chí, chính trị hoá khi đánh giá về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Thay vì tiếp xúc trực tiếp, thu thập thông tin từ đại đa số người dân Việt Nam và các nguồn dữ liệu tin cậy, họ lại liên hệ, lấy ý kiến từ các đối tượng chống phá đất nước để quy chụp rằng Việt Nam “đàn áp nhân quyền”. Một báo cáo chắp vá, lấy ý kiến từ chính những đối tượng phạm pháp, chống phá đất nước thì đủ hiểu bản chất của báo cáo, nội dung trong đó là gì!

Thời gian qua, các đối tượng chống phá núp dưới bóng dân chủ, nhân quyền đã nhận được sự hậu thuẫn, giúp đỡ trên nhiều mặt từ một số cơ quan, tổ chức nước ngoài. Từ đó, những kẻ này gia tăng hoạt động phá hoại, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam.

Những cái tên được Nghị viện châu Âu phù phép bằng cụm từ “tù nhân chính trị” như Phạm Đoan Trang, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh thực chất là những “ngọn cờ” chống phá trong nước được các thế lực xấu dựng lên và nuôi dưỡng. Mặc dù số này luôn miệng hô khẩu hiệu đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, bám víu từ các nguồn hỗ trợ bên ngoài nhưng lại thường xuyên kích động thù hằn, tụ tập các đối tượng xấu trong nước để gây rối trật tự công cộng. Cùng với đó, các đối tượng đẩy mạnh việc tán phát những tài liệu, thông tin độc hại nhằm gây nhiễu loạn dư luận, hình thành các nhận thức sai lầm trong xã hội.

Mục đích của những kẻ này là phá vỡ sự ổn định về chính trị của đất nước, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị. Với những hành vi sai phạm đã thực hiện, việc các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, xử lý là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đây là việc làm cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, không phải là hành động “đàn áp người đấu tranh” như những gì các đối tượng xấu và một số cơ quan nước ngoài có cái nhìn phiến diện về Việt Nam.

Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, đời sống kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà phủ nhận những kết quả tích cực đã đạt được trong việc bảo đảm nhân quyền.

Nhân quyền là một lĩnh vực rộng, liên quan trực tiếp đến đời sống của con người, là tổng hợp của các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Trong đó, những quyền cơ bản, thiết yếu, thực tế nhất là quyền được sống, quyền được bình đẳng, quyền được phát triển trong một xã hội an toàn, quyền được học tập, quyền được lao động…

Một vài số liệu dẫn chứng cho thấy Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong bảo vệ quyền con người là: Tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020; đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tại Việt Nam không có khủng bố, người dân được sinh sống và lao động trong môi trường an ninh, an toàn, ổn định… Theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2022 của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam xếp vị trí 77 (tăng 2 bậc so với năm 2021).

Hiện nay, Việt Nam là một điểm đến được nhiều bạn bè quốc tế lựa chọn. Không chỉ đến với mục đích du lịch ngắn ngày, số người nước ngoài đến Việt Nam cư trú, lao động, học tập dài ngày ngày càng nhiều. Thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, năm 2021, Việt Nam có 101.550 lao động nước ngoài, đến từ  hơn 110 quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong số đó, có không ít người là chuyên gia, nhà khoa học nổi tiếng thế giới. Như vậy thử hỏi, nếu tình hình nhân quyền của Việt Nam “hết sức tồi tệ” thì liệu điều này có thể xảy ra hay không?

Xin nhắc lại lời than của “nhà dân chủ” Nguyễn Ngọc Như Quỳnh khi sống ở xứ sở cờ hoa trong mùa dịch COVID -19 rằng: “Nước Mỹ không vĩ đại như nhiều người đang nghĩ”. Rõ ràng, ở quốc gia nào cũng tồn tại những góc khuất, những vấn đề còn bức xúc trong đời sống xã hội, dù đó là những nước đang phát triển hay nước phát triển ở châu Âu, châu Mỹ cũng vậy.

Vì vậy, không thể tuyệt đối nền dân chủ, nhân quyền của một quốc gia, một chế độ nào và coi đây là hình mẫu bắt buộc cho đất nước khác. Một quốc gia có nhân quyền hay không, có tốt đẹp hay không thì chỉ người dân đất nước đó mới có thể đánh giá. Đồng thời, trước khi đánh giá về tình hình Việt Nam, các quốc gia, tổ chức quốc tế hãy tự nhìn lại chính mình, tự xoá bỏ “bóng tối dưới chân đèn” của chính mình.

Nguồn: CAND

 

Nâng cao khả năng nhận diện và đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội cho đội ngũ cán bộ, đảng viên

Bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng là một yêu cầu quan trọng trong bất cứ hoàn cảnh nào của mỗi người, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên hiện nay. Bởi chỉ khi nào có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chính trị nhạy bén thì lúc đó mới có khả năng nhìn nhận, đánh giá và xem xét vấn đề trên nhiều khía cạnh, nhận diện được cái đúng, cái sai và có tư duy, lý luận để bảo vệ cái đúng, phủ nhận, đấu tranh loại bỏ cái sai, cái xuyên tạc, bóp méo sự thật.

Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trên không gian mạng xuất hiện nhiều nguồn tin không chính thống, các luồng tin giả, bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử dân tộc, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…thì càng đòi hỏi mỗi cá nhân phải nâng cao hơn nữa nhận thức, bản lĩnh, tư duy chính trị để lựa chọn, phản bác, đấu tranh và góp phần xây dựng một không gian “tin sạch” và chính thống.

Trong những năm qua, việc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng, sự quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị..., hầu hết cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân đều có nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trận địa tư tưởng chính trị được giữ vững, khẳng định địa vị chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị - tinh thần ở Việt Nam.

Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch vẫn đấu tranh một cách mạnh mẽ, công khai xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bóp méo thậm chí làm sai lệch các dữ kiện lịch sử, bôi nhọ lịch sử dân tộc Việt Nam với nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là sự nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng đã làm ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, tình cảm của một số quần chúng nhân dân nhẹ dạ cả tin, hoặc chưa có đầy đủ nhận thức, bản lĩnh, tư duy chính trị để nhìn nhận và tiếp nhận thông tin một cách chính xác, khách quan và qua những nguồn tin chính thống, có sự kiểm duyệt. 

Trước thực trạng đó, bên cạnh việc kiểm duyệt nguồn tin, xây dựng một không gian tin chính thống, có nguồn gốc và độ tin cậy cao, tìm các giải pháp để đấu tranh, ngăn chặn và loại bỏ các luồng tin xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch trên tất cả các lĩnh vực thì một trong những biện pháp quan trọng đó là việc nâng cao bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng cho tất cả mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên để có thể tạo ra “sức đề kháng” trước các luồng tin xấu, tin không chính thống, bóp méo lịch sử, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch trên không gian mạng hiện nay.

Để có thể nâng cao được bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hiện nay, nhất thiết cần phải chú ý một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo.

Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có lập trường, tư tưởng vững vàng, có tri thức, giàu tình cảm, đạo đức cách mạng trong sáng và lối sống lành mạnh; nhận diện rõ ràng âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao hiệu quả công tác quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ thuật, giáo dục - đào tạo.  

Thứ hai, cần giáo dục và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc nâng cao nhận thức rõ đối tượng, đối tác trong điều kiện nước ta hội nhập, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Chủ động cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo về hưu, văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên…, từ đó định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch.

Nội dung này rất quan trọng, nên phải tiến hành một cách khoa học, có hệ thống và có sự tham gia của tất cả các cơ quan, ban ngành của hệ thống chính trị và tất cả mọi người dân không trừ một ai. Bởi chỉ khi nào có sự tác động vào nhận thức, làm cho nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thay đổi theo hướng tích cực, có sự định hướng thì khi đó mỗi một hành động trong việc tiếp nhận thông tin mới có sự chọn lọc và loại bỏ được các thông tin mang tính chất tiêu cực, thông tin sai lệch, xuyên tạc, không chính thống.

Bên cạnh đó, cần quan tâm nghiên cứu để dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước, những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn; dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, những biểu hiện mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… , để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù hợp, hiệu quả.

Thứ ba, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa tất cả các cơ quan, banh ngành trong hệ thống chính trị từ cấp trung ương đến cơ sở để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để tạo cớ xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận, bóp méo lịch sử dân tộc, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện pháp tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; vừa “xây”, vừa “chống”, trong đó lấy “xây” làm chính. Xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh; giải quyết hiệu quả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo; kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng.  

Thứ tư, phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc chủ động, kịp thời thông tin làm rõ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự thống nhất cao đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tăng cường công tác lãnh đạo các hoạt động báo chí, xuất bản, nhất là trong việc định hướng chính trị - tư tưởng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Chú trọng làm tốt công tác nhân sự tại các cơ quan văn hóa, báo chí ở Trung ương và địa phương để củng cố nội bộ thật trong sạch, vững mạnh. Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài có chất lượng, có chiều sâu đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các ấn phẩm, phương tiện truyền thông, để tạo ra môi trường thông tin chính thống, dễ dàng tiếp nhận, dễ hiểu, dễ nghe và có tính thuyết phục cao đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Tóm lại, nâng cao bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử dân tộc chính là một nội dung quan trọng trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay. Làm tốt vấn đề này sẽ góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra là: “chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, tuyệt đối không được để bị động, bất ngờ. Kiên quyết, kiên trì bảo vê độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng, đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại. Khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới”./

Nguồn: TG.