Sáng 27-6, tại TP Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên), Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đại biểu Quốc hội khóa XV có buổi tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XV.
Dự hội nghị tiếp xúc cử tri có: Trung tướng Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 1; các đồng chí trong Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên; đại biểu lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên; đại biểu chỉ huy một số cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng, Quân khu 1 và các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn cùng đông đảo đại biểu cử tri TP Phổ Yên.
Đại tướng Phan Văn Giang phát biểu tại hội nghị.
Tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Lâm Thành, Phó chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội thay mặt Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên báo cáo trước đại diện cử tri TP Phổ Yên một số kết quả quan trọng tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XV vừa diễn ra.
Báo cáo cho thấy, sau 19 ngày làm việc sôi nổi, khẩn trương, khoa học, dân chủ và trách nhiệm cao, kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV đã thành công tốt đẹp, hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã xem xét một khối lượng công việc lớn, quyết định nhiều nội dung quan trọng của năm 2022 và các năm tiếp theo. Các nội dung được xem xét, quyết định tại kỳ họp này đều đạt sự đồng thuận rất cao; mặc dù có một số nội dung bổ sung thêm, nhưng kỳ họp vẫn bảo đảm chất lượng và thời gian dự kiến. Trong khuôn khổ kỳ họp, Quốc hội đã thông qua 5 luật, 17 nghị quyết; cho ý kiến về 6 dự án luật và quyết nghị nhiều nội dung quan trọng khác.
Đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên tại hội nghị.
Qua nghe báo cáo khái quát của đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên, các cử tri tham dự hội nghị đã phát biểu, tập trung đề xuất Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên kiến nghị với Quốc hội tạo cơ chế đặc thù cho tỉnh Thái Nguyên để khai thác hết tiềm năng, thế mạnh, phát triển xứng tầm trong thời gian tới. Có ý kiến bày tỏ sự quan ngại trước các vụ xung đột trên thế giới, mong muốn các đại biểu Quốc hội tỉnh tham mưu với các cấp triển khai các biện pháp sẵn sàng ứng phó hiệu quả nếu có tình huống phát sinh về an ninh, quốc phòng.
Các đại biểu dự hội nghị.
Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang trân trọng cảm ơn trước những ý kiến, kiến nghị rất xác đáng, mang tính cấp thiết, thời sự của các cử tri tại hội nghị. Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bày tỏ sự phấn khởi trước sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của TP Phổ Yên thời gian gần đây, nhất là trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, công tác bảo đảm an ninh, quốc phòng.
Đại tướng Phan Văn Giang cũng chia sẻ, phân tích sâu hơn một số vấn đề về quan điểm ngoại giao của Việt Nam; trao đổi thêm về quan hệ truyền thống của nước ta với một số nước trên thế giới, nhất là trong vấn đề quân sự, quốc phòng, từ đó, khẳng định sự đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.
Quang cảnh hội nghị.
Trước đông đảo đại biểu cử tri, Đại tướng Phan Văn Giang tranh thủ thông báo một số nội dung của Đối thoại Shangri-La lần thứ 19 tại Singapore và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) lần thứ 16 với chủ đề “Đoàn kết vì một nền an ninh hài hoà” vừa diễn ra tại Phnom Penh, Campuchia mà đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp tham dự. Đồng thời, cung cấp thêm một số kết quả trong công tác xây dựng, phát triển Quân đội trong thời gian qua và định hướng lớn trong thời gian tới.
Cử tri TP Phổ Yên phát biểu tại hội nghị.
Trong khuôn khổ hội nghị, đồng chí Đoàn Thị Hảo, Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên thay mặt Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tiếp thu ý kiến phản ánh, kiến nghị của cứ tri; thông báo nhanh kết quả giải quyết các kiến nghị, phản ánh của cử tri tại các buổi tiếp xúc trước kỳ hợp và hoạt động của đoàn tại kỳ họp. Cùng với đó, thông tin thêm những nội dung quan trọng tại kỳ hợp liên quan đến địa phương, nhất là công tác phân bổ ngân sách trong các chương trình phát triển của Trung ương đối với tỉnh Thái Nguyên và TP Phổ Yên.
Sau hội nghị tiếp xúc cử tri tại hội trường UBND TP Phổ Yên, Đại tướng Phan Văn Giang và đoàn đại biểu đã đến thăm, tặng quà các đối tượng chính sách đặc biệt trên địa bàn nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022).
- Tròn 65 năm từ ngày Bác Hồ về thăm tỉnh Quảng Bình (16-6-1957 - 16-6-2022), những lời dạy, tình cảm sâu nặng của Bác Hồ đã trở thành động lực to lớn đối với địa phương. Khắc ghi lời dạy của Bác, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và đang ra sức phấn đấu sớm trở thành tỉnh phát triển khá ở khu vực Bắc Trung Bộ.
1- Ngày 16-6-1957, Bác Hồ về thăm “tuyến lửa” Quảng Bình - vùng đất tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp miền Nam. Đây là lần duy nhất tỉnh Quảng Bình vinh dự, tự hào được đón Bác về thăm và làm việc.
Bác Hồ và đồng chí Nguyễn Chí Thanh trên lễ đài ngày về thăm Quảng Bình - Vĩnh Linh, ngày 16-6-1957_Ảnh: quangbinh.gov.vn
Mặc dù thời gian về thăm rất ngắn, nhưng Người đã để lại cho Đảng bộ, quân và dân tỉnh Quảng Bình những tình cảm thiêng liêng, sâu nặng với tất cả tấm lòng yêu thương vô bờ bến. Trong 65 năm qua, quân và dân tỉnh Quảng Bình luôn khắc ghi những hình ảnh thân thương, tình cảm sâu sắc cùng những lời căn dặn ân cần của Người. Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Bình luôn nỗ lực phấn đấu, phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương, đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, quyết tâm thực hiện tốt lời Bác dạy, đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Với tầm nhìn của một nhà chiến lược thiên tài và am hiểu sâu sắc lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, nắm rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm xác định vị trí chiến lược và lâu dài của vùng đất Quảng Bình - nơi sẽ là “tiền đồn” của chủ nghĩa xã hội, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam. Bác căn dặn: “Quảng Bình cùng với Vĩnh Linh ở tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp với miền Nam, mọi việc làm tốt hay xấu của các cô, các chú ở đây đều có ảnh hưởng nhất định đến cách mạng miền Nam, đều có ảnh hưởng đến việc bảo vệ miền Bắc. Nếu kẻ địch có hoạt động liều lĩnh gì thì Quảng Bình và Vĩnh Linh phải đương đầu với chúng trước hết” (1).
Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Tỉnh Quảng Bình trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt và là nơi thí điểm mọi âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ nhằm cắt đứt mạch máu giao thông vận tải, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với chiến trường miền Nam hòng khuất phục ý chí chiến đấu của quân và dân ta. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình xác định trách nhiệm cao cả của mình đối với cả nước khi tỉnh Quảng Bình là tiền tuyến lớn của miền Bắc, là hậu phương trực tiếp của miền Nam, một lòng, một dạ hướng về miền Nam thân yêu, Trị - Thiên ruột thịt, phát huy truyền thống đoàn kết chiến đấu, bất chấp mọi gian khổ, hy sinh, dấy lên phong trào chống Mỹ, cứu nước.
Thực hiện lời Bác dạy, quân và dân tỉnh Quảng Bình đã anh dũng chiến đấu và giành thắng lợi hết sức vang dội ngay từ những trận đầu. Với các khẩu hiệu “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, “Xe chưa qua nhà không tiếc, đường chưa thông không tiếc máu xương”, “Hạt gạo chia hai, cọng rau bẻ nửa”..., quân và dân tỉnh Quảng Bình luôn nêu cao quyết tâm “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, góp sức người, sức của làm tròn nhiệm vụ tiền tuyến của miền Bắc, hậu phương trực tiếp của miền Nam, cùng cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong giai đoạn cam go ấy, mặc dù bận trăm công nghìn việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo dõi sát sao tình hình của tỉnh Quảng Bình. Mỗi lần địch đánh phá ác liệt hay mỗi lần quân và dân tỉnh Quảng Bình lập được chiến công xuất sắc, Người đều viết thư khen ngợi, thăm hỏi, động viên, khích lệ, căn dặn những việc cần phải làm. Và cứ mỗi lần như thế, tỉnh Quảng Bình lại dấy lên một phong trào thi đua mới với một khí thế mới trong sản xuất và chiến đấu. Quảng Bình là tỉnh đầu tiên bắn rơi 100, 200, 300, 400, 500 chiếc máy bay Mỹ và được Bác Hồ gửi thư khen ngợi: Quảng Bình chiến đấu giỏi, sản xuất cũng giỏi. Cũng từ đây, “Hai giỏi” - một danh hiệu cao quý gắn liền với mảnh đất và con người Quảng Bình, đã trở thành phong trào thi đua mạnh mẽ, rộng khắp trong toàn tỉnh, là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mãi mãi đi vào lịch sử của dân tộc, cổ vũ, động viên quân và dân toàn tỉnh hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ thiêng liêng đối với cả nước, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Nhân dân xem triển lãm sách, ảnh với chủ đề: “65 năm Quảng Bình làm theo lời Bác Hồ dạy” - hoạt động chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ về thăm Quảng Bình (16-6-1957 – 16-6-2022)_Nguồn: sggp.org.vn
Thắng lợi của quân và dân tỉnh Quảng Bình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ, quân và dân tỉnh Quảng Bình trong việc vận dụng đường lối chung của Đảng vào tình hình diễn biến cụ thể trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng để giành thắng lợi trong chiến đấu, trong tổ chức phát triển sản xuất, bảo đảm đời sống nhân dân và chi viện cho chiến trường miền Nam. Thắng lợi của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tại tỉnh Quảng Bình đã góp phần quan trọng cùng cả nước thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
2- Sau ngày đất nước thống nhất, tỉnh Quảng Bình bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và kiến tạo quê hương trong điều kiện có nhiều thuận lợi nhưng cũng phải đối mặt với không ít thử thách, gian nan. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình tập trung sức người, sức của, đoàn kết, năng động, sáng tạo, phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế, quyết tâm thực hiện tốt lời dạy của Bác, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Năm 1989, sau khi tái lập tỉnh, tỉnh Quảng Bình đã có sự vươn mình đi lên rõ nét. Trong từng giai đoạn cách mạng và trong điều kiện mới, quán triệt, thực hiện đường lối của Đảng và khắc ghi lời dạy của Bác: “Đối với Quảng Bình, nghề biển, nghề rừng cũng quan trọng không kém nghề ruộng. Hơn nữa, Quảng Bình còn có những thứ đặc biệt mà các nơi khác trên miền Bắc ít có... Nếu biết dùng đúng và dùng tốt tài nguyên và lao động của mình, thì Quảng Bình sẽ giàu có”(2), Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Bình đã phát huy truyền thống quê hương “Hai giỏi”, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và đã đạt được những kết quả đáng tự hào.
Sau 33 năm tái lập tỉnh, tỉnh Quảng Bình từng bước khắc phục được tình trạng trì trệ trong phát triển kinh tế - xã hội, đưa nền kinh tế đi vào ổn định, đạt tốc độ tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; chất lượng, hiệu quả từng bước được nâng lên. Từ một nền kinh tế thuần nông, đến nay, cơ cấu kinh tế của tỉnh đã chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong đó, nông, lâm, thuỷ sản chiếm 21,41%; công nghiệp - xây dựng chiếm 29,05%; dịch vụ chiếm 49,54%. Từ một địa phương thường xuyên phải đối phó với tình trạng thiếu đói giáp hạt, hiện nay tỉnh không những đã cân đối được nhu cầu tiêu dùng mà còn có khả năng sản xuất lương thực hàng hóa. Từ xuất phát điểm thấp về công nghiệp, đến nay, công nghiệp tỉnh nhà đã có bước phát triển mạnh mẽ, giữ vai trò là ngành kinh tế trọng điểm; nhiều ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế được hình thành. Cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng; nhiều công trình, dự án có quy mô lớn được đầu tư, đưa vào khai thác, sử dụng, đã tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt khá, quy mô nền kinh tế không ngừng được nâng lên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Tốc độ tăng trưởng bình quân GRDP trong giai đoạn 1991 - 1995 là 8,49%, giai đoạn 2005 - 2010 là 11%. Giai đoạn 2010 - 2015 và 2016 - 2020, trong điều kiện chịu ảnh hưởng của thiên tai, suy thoái kinh tế toàn cầu, sự cố môi trường biển, dịch COVID-19 nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn đạt trên 6,0%. GRDP bình quân đầu người/năm được cải thiện đáng kể, từ 0,46 triệu đồng vào năm 1990, đến năm 2021 tăng lên 49,3 triệu đồng.
Đặc biệt, ngành du lịch có nhiều khởi sắc và dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tỉnh đã hình thành nhiều điểm tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng, như hang Sơn Đoòng, động Phong Nha, động Thiên Đường, suối Nước Moọc, sông Chày, hang Tối, khu mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, biển Nhật Lệ, biển Đá Nhảy, chùa Hoằng Phúc,... Tổng số khách du lịch đến tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn 1990 - 1999 đạt gần 0,6 triệu lượt khách, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 19,7 triệu lượt khách. Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng hai lần được vinh danh Di sản thiên nhiên thế giới. Thương hiệu du lịch Quảng Bình được khẳng định ở tầm quốc gia, khu vực, là điểm sáng trên bản đồ du lịch Việt Nam. Một số điểm du lịch có tiềm năng lớn trở thành điểm đến tầm cỡ thế giới.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển khá toàn diện và bền vững. Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 1990 - 2019 đạt 5,3%; tỷ trọng ngành chăn nuôi không ngừng tăng, từ 33,1% vào năm 1990, lên 51,3% vào năm 2021. Lâm nghiệp chuyển đổi theo hướng lâm nghiệp xã hội; công tác quản lý và bảo vệ rừng được tăng cường. Thủy sản được xác định là ngành kinh tế quan trọng. Tỉnh Quảng Bình hiện có đội tàu đánh bắt vùng biển xa đứng thứ ba toàn quốc. Sản lượng thuỷ sản từ 8.647,5 tấn vào năm 1990 tăng lên 89.064,5 tấn vào năm 2021.
Sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân 14,1%/năm, quy mô giá trị sản xuất công nghiệp tăng gần 46 lần. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1990 của tỉnh là 271,7 tỷ đồng, đến năm 2021 đạt 13.865 tỷ đồng.
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân 21%/năm. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, đô thị của tỉnh ngày càng được đầu tư đồng bộ, hiện đại. Hệ thống đường giao thông được quan tâm xây dựng giúp cho việc giao thương, đi lại giữa nhân dân trong tỉnh và các vùng trở nên thuận tiện hơn. Khu công nghiệp Bắc Đồng Hới, Tây Bắc Đồng Hới, Tây Bắc Quán Hàu, Khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo, Khu kinh tế Hòn La... ngày càng phát huy hiệu quả, thu hút nhiều dự án đầu tư. Mạng lưới bưu chính - viễn thông, phát thanh - truyền hình phủ kín 100% số xã; 98% số dân ở nông thôn được cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Thành phố Đồng Hới từ một thị xã nhỏ, đến nay đã trở thành đô thị loại II, là thành phố phát triển mạnh về du lịch biển, năng động và hiện đại; thị xã Ba Đồn trở thành thị xã trực thuộc tỉnh; thị trấn Hoàn Lão (huyện Bố Trạch), Kiến Giang (huyện Lệ Thủy) trở thành đô thị loại IV...
Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Vũ Đại Thắng kiểm tra dự án khu đô thị Regal Ocean tại xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình_Ảnh: quangbinh.dcs.vn
Trong xu thế hội nhập, với các cơ chế, chính sách rộng mở, thông thoáng, tỉnh Quảng Bình ngày càng thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến nghiên cứu, khảo sát, triển khai thực hiện nhiều công trình, dự án có quy mô lớn, có thương hiệu quốc tế; các vùng kinh tế động lực được hình thành ngày càng rõ nét. Đây là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Giáo dục - đào tạo phát triển khá toàn diện với 842 trường học và cơ sở giáo dục trên toàn tỉnh. Số lượng học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia ngày càng tăng ở các cấp học, nhiều học sinh đạt giải thưởng khu vực và quốc tế. Thành tích thể thao của tỉnh ngày càng được nâng cao, ghi những dấu ấn đậm nét trên đấu trường thể thao trong nước, khu vực và châu lục, góp phần nâng cao vị thế và hình ảnh của thể thao tỉnh trên đấu trường thể thao quốc gia, quốc tế.
Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân từng bước được nâng cao. Tỉnh Quảng Bình là địa phương đầu tiên trong cả nước đạt tiêu chí loại trừ bệnh phong quy mô cấp huyện vào năm 2015. Mạng lưới y tế phủ kín 100% địa bàn cấp xã, bao gồm 4 tuyến: Trung ương, tỉnh, huyện, xã, với số giường bệnh gấp 2,5 lần so với năm 1990. Nhân lực ngành y tế tăng gấp 2,7 lần, riêng bác sĩ tăng gấp 3,7 lần. Khu vực y tế ngoài nhà nước phát triển mạnh mẽ. Số lượng người dân có thẻ bảo hiểm y tế hiện nay đạt trên 95%. Đời sống nhân dân được cải thiện, không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo từ 44,4% vào năm 1993, giảm xuống còn 3,24% vào năm 2021. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển sâu rộng.
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được triển khai toàn diện. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các quan điểm của Trung ương và thực tiễn của địa phương, Đảng bộ tỉnh Quảng Bình đã đề ra những chủ trương đúng đắn, có những bước đi và biện pháp thích hợp để xây dựng Đảng bộ đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng Đảng được đẩy mạnh và đạt kết quả bước đầu quan trọng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ. Tỉnh cũng đã tập trung lãnh đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức đảng, phát triển và nâng cao chất lượng đảng viên, từ hơn 25 nghìn đảng viên vào năm 1989, đến nay Đảng bộ tỉnh đã có hơn 76 nghìn đảng viên. Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng được tăng cường lãnh đạo theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát; công tác dân vận từng bước được đổi mới...
Thực hiện lời Bác dạy, tỉnh Quảng Bình đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và diện mạo với những kết quả toàn diện, tích cực, có ý nghĩa lịch sử mặc dù còn rất nhiều khó khăn, thử thách, trong đó có những thử thách thậm chí kéo lùi sự phát triển của địa phương. Tuy nhiên, những kết quả đạt được đã đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng bộ tỉnh; minh chứng khả năng lãnh đạo và bản lĩnh chính trị vững vàng của đảng bộ trên cơ sở vận dụng lời Bác dạy vào thực tiễn và tiềm năng, lợi thế của địa phương gắn với phát huy truyền thống cách mạng quê hương “Hai giỏi”.
3- Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả những lời căn dặn của Bác, phát huy những kết quả đã đạt được, phấn đấu đưa tỉnh Quảng Bình trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực Bắc Trung Bộ, trong thời gian tới, cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Quảng Bình sẽ tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi một số nhóm giải pháp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên; trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, XIII về công tác xây dựng Đảng gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW, Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng chính quyền các cấp và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đề cao vai trò, trách nhiệm của cán bộ, công chức, trước hết là người đứng đầu các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; đổi mới và tạo chuyển biến rõ nét trong công tác cán bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Thứ hai, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ có lợi thế; đưa công nghiệp, du lịch trở thành ngành kinh tế trọng điểm và mũi nhọn; tập trung xây dựng các khu kinh tế, nhất là Khu kinh tế Hòn La sớm trở thành khu kinh tế tổng hợp trong vùng kinh tế động lực Nam Hà Tĩnh - Bắc Quảng Bình. Tập trung chỉ đạo cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; khuyến khích phát triển các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, sản xuất theo chuỗi giá trị. Quan tâm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, phát triển hợp tác xã và đẩy mạnh thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (OCOP). Triển khai đồng bộ các biện pháp phục hồi, tháo gỡ khó khăn cho phát triển sản xuất công nghiệp. Tập trung huy động tổng hợp các nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại. Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ đầu tư Dự án nhiệt điện Quảng Trạch I; tiếp tục triển khai Dự án đường dây 500kV (mạch 3), Dự án đường ven biển; phối hợp triển khai hoàn thành Dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam đoạn qua tỉnh Quảng Bình,...
Thứ ba,phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao chất lượng giáo dục và dạy nghề; đẩy mạnh chuyển đổi số; quan tâm đầu tư cho khoa học - công nghệ, đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chăm lo các gia đình chính sách, người có công và các chính sách xã hội khác; xây dựng môi trường sống lành mạnh, an ninh, an toàn, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Nhân viên VNPT Quảng Bình xử lý kỹ thuật tại phòng tổng đài, hệ thống truyền dẫn_ Ảnh: TTXVN
Thứ tư, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, biển, đảo; bảo đảm an ninh, trật tự để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục đấu tranh phòng, chống, triệt phá các loại tội phạm; bảo đảm an toàn giao thông; phòng, chống cháy nổ... Tăng cường công tác đối ngoại, nhất là quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với các địa phương của nước bạn Lào, góp phần xây dựng biên giới Việt Nam - Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.
Với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, Đảng bộ tỉnh Quảng Bình tiếp tục thực hiện có hiệu quả những lời căn dặn của Bác Hồ, quyết tâm thực hiện tốt bốn khâu đột phá mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đề ra: Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh; phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng công tác cán bộ.
Thực hiện lời Bác Hồ dạy, 65 năm qua, tỉnh Quảng Bình luôn nỗ lực phấn đấu và đạt được những thành tựu to lớn, thể hiện tình cảm, ý chí và khát vọng vươn lên của mỗi người dân quê hương “Hai giỏi”, luôn đoàn kết, đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình càng thấm nhuần sâu sắc giá trị tư tưởng của Bác; nhận thức rõ thành quả vẻ vang đạt được của ngày hôm nay là kết quả phấn đấu bền bỉ của các thế hệ cha anh dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của quê hương “Hai giỏi”, không ngừng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; thực hiện tốt lời căn dặn và Di chúc thiêng liêng của Bác, nguyện mãi đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã chọn; ra sức phấn đấu đưa tỉnh Quảng Bình sớm trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực Bắc Trung Bộ./.
Theo Guardian, vào ngày 13/6, viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (Sipri) đã đưa ra dự báo về việc số lượng vũ khí hạt nhân toàn cầu sẽ tăng lên lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ.
Cụ thể, báo cáo của Sipri cho biết, tổng số đầu đạn hạt nhân trên thế giới hiện tại là 12.705 đầu đạn vào tháng 1/2022, giảm nhẹ so với con số 13.080 cách đó một năm. Tuy vậy, cuộc xung đột tại Ukraine và những động thái ủng hộ của EU dành cho Kiev có thể làm gia tăng cuộc chạy đua hạt nhân toàn cầu, hiện tượng tưởng chừng đã kết thúc từ thời Chiến tranh lạnh.
"Cả 9 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân đều đang có kế hoạch gia tăng số lượng đầu đạn trong khu vũ khí của mình, điều này đi ngược lại những lời kêu gọi phi hạt nhân hóa trên toàn cầu. Đây thực sự là một xu hướng đáng lo ngại", Tiến sĩ Wilfred Wan - nhà phân tích của Sipri cho biết.
Tính tới thời điểm hiện tại, Nga là nước sỡ hữu kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới với 5.977 đầu đạn, nhiều hơn quốc gia đứng thứ 2 là Mỹ 550 đầu đạn. Đáng lo ngại hơn là việc 2 cường quốc sỡ hữu 90% số lượng vũ khí hạt nhân toàn cầu lại đang triển khai các chương trình quy mô lớn và tốn kém để thay thế và hiện đại hóa đầu đạn, hệ thống phân phối và cơ sở sản xuất.
Xung đột Ukraine làm dấy lên lo ngại chạy đua hạt nhân toàn cầu.
Báo cáo của Sipri cũng cho thấy, 7 quốc gia sở hữu đầu đạn hạt nhân khác gồm Anh, Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Israel và Triều Tiên đều đã lên kế hoạch hoặc triển khai việc gia tăng số lượng đầu đạn của mình.
Sốt sắng nhất trong cuộc đua hạt nhân là Trung Quốc, khi quốc gia này được cho là đã mở rộng hơn 300 hầm chứa tên lửa mới. Không nằm ngoài cuộc chơi, vào đầu năm ngoái, Pháp đã chính thức khởi động chương trình phát triển tàu ngầm tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) thế hệ 3. Ấn Độ và Pakistan cũng gia tăng số lượng đầu đạn của mình, cả hai nước cũng giới thiệu và tiếp tục phát triển các loại hệ thống chuyển phát hạt nhân mới.
Về phía Anh, dù nhiều lần lên tiếng chỉ trích Nga và Trung Quốc về sự thiếu minh bạch về vấn đề vũ khí hạt nhân, London mới đây cũng tuyên bố sẽ không công khai số liệu về kho vũ khí hạt nhân đang hoạt động của nước này. Báo cáo cuối cùng được công khai cho thấy Anh sở hữu 195 đầu đạn hạt nhân, 120 trong số này được đặt ở trạng thái sẵn sàng hoạt động.
Báo cáo của Sipri được công bố trong bối cảnh xung đột Nga - Ukraine leo thang và làm dấy lên nguy cơ xung đột hạt nhân. Trước đó, phía Moscow cũng lên tiếng phản đối phương Tây chuyển vũ khí hạt nhân cho Ukraine. Cụ thể, Bộ Ngoại giao Nga khẳng định, "lời kêu gọi cung cấp vũ khí hạt nhân cho Ukraine thể hiện tư tưởng cực đoan, đe dọa an ninh khu vực và thế giới, cũng như vi phạm Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân”.
Vừa qua khi ông Chu Ngọc Anh, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ngã ngựa, linh mục Đinh Hữu Thoại đăng đàn cho rằng "các Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội liên tục bung, toang. Hãy trả lại tài sản đã chiếm dụng của Giáo hội Công giáo". Xin gửi ông đôi lời:
Thói đời giậu đổ bìm leo, Ông Chu Ngọc Anh vi phạm pháp luật, Đảng và nhà nước không hề dung dưỡng mà xử lý nghiêm minh. Sai đến mức độ nào thì xử lý mức độ đó. Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, cho dù đó là ông Chu Ngọc Anh hay các công dân Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo. Bắt sâu để cứu cả vườn rau là việc làm cần thiết, chứng tỏ Đảng Cộng sản Việt Nam không hề bao che, không ngại "đốt lò" để gạn đục khơi trong, củng cố niềm tin của nhân dân.
Đinh hữu thoại đừng cố đánh bùn sang ao. Ông Chu Ngọc Anh hay chính quyền Hà Nội xưa nay không hề chiếm đoạt bất cứ thứ gì từ giáo hội công giáo. Này Đinh Hữu Thoại, Công giáo chỉ có ở Việt Nam từ thế kỷ 15, trong khi dân tộc này có hơn 4000 năm lịch sử. Vậy nên, không có bất kỳ tôn giáo nào được quyền đứng cao hơn quốc gia, dân tộc. Trước khi tổ tiên của ông theo Công giáo (du nhập từ phương Tây) thì họ vẫn là người Việt Nam. Nhất quyết không một ai ở Việt Nam do Chúa sinh ra cả. Nói về chiếm dụng thì phải hỏi nhà thờ lớn Hà Nội bây giờ có nguồn gốc từ đâu.
Theo thông tin từ VOA, mới đây Andy Huỳnh - một người Mỹ gốc Việt đã bị lực lượng quân sự Nga bắt tại Ukraina khi anh ta tham gia lực lượng lính đánh thuê. Chuyện không có gì phải nói nếu như VOA tiếng Việt không dựa vào đó để công kích, xuyên tạc chính sách của Đảng ta với kiều bào nước ngoài.
Thực tế, Andy Huỳnh là một quân nhân Mỹ, đang đánh thuê tại Ukraina. Và VOA đang khóc than cho kẻ đánh thuê kiếm tiền trên máu và nước mắt này. Giờ bị bắt thì VOA la ối om sòm, nào là Đảng cộng sản Việt Nam luôn cho rằng “kiều bào là bộ phận gắn bó máu thịt”.... thì đúng thế đấy. Nhưng khác ở chỗ là: Huỳnh thuộc quân đội Mỹ, đi đánh thuê cho Mỹ. Giờ bị bắt và đứng trước nguy cơ án tử, sao VOA không kêu Mỹ mà lại đi kêu Việt Nam? Khi Andy Huỳnh kiếm được tiền từ đánh thuê thì Huỳnh đút túi, gia đình Huỳnh chi tiêu chứ người dân Việt Nam có được gì đâu?
Andy Huỳnh trước khi sang Ukraina là lính thuỷ quân lục chiến của Mỹ. Tự đâm đầu vào chỗ tử vì tiền thì tự chịu đi.........
Ngày 19-5-2022, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị giao ban toàn quốc đánh giá 1 năm triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến toàn quốc.
Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, chỉ đạo hội nghị tại điểm cầu Trung ương (Hà Nội). Đồng chủ trì hội nghị có các đồng chí: Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.
Báo cáo kết quả 1 năm triển khai Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị, đồng chí Lê Hải Bình nhấn mạnh, công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục được cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai thực hiện nghiêm túc, bài bản và hệ thống, bước đầu đạt được hiệu quả trong toàn hệ thống chính trị.
Là cơ quan tham mưu, hướng dẫn triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 58-KH/BTGTW, ngày 27-8-2021, về “Thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05 “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” và Hướng dẫn số 16-HD/BTGTW, ngày 27-7-2021, về học tập Chuyên đề toàn khóa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Trên cơ sở đó, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng trực thuộc Trung ương đã nhanh chóng triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, xây dựng chương trình hành động gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đặc biệt chú trọng tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các khâu đột phá phát triển kinh tế - xã hội, các vấn đề trọng tâm, bức thiết của thực tiễn. Nét mới là có sự xác định rõ nội dung các công việc phải làm, phân công trách nhiệm thực hiện, thời gian hoàn thành, với tinh thần chủ động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị.
Sau 1 năm, việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW đạt một số kết quả: 1- Việc triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, Chuyên đề toàn khóa gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị được coi trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động; 2- Việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được chú trọng; 3- Công tác tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục được tăng cường, đổi mới với nhiều cách thức sáng tạo; 4- Việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đổi mới nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; 5- Công tác kiểm tra, giám sát tiếp tục được chú trọng, có tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa sai phạm cao.
Hội nghị nhận được 21 tham luận, trong đó có 7 ý kiến phát biểu trực tiếp tại các điểm cầu. Các tham luận tại hội nghị tập trung đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kết quả sau 1 năm triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW; tập trung làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân; thảo luận phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Kết luận số 01-KL/TW trong những năm tiếp theo để việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thiết thực, trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa đánh giá cao những nỗ lực của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW trong 1 năm vừa qua. Dù trong hoàn cảnh không thuận lợi do tác động của đại dịch COVID-19 nhưng cấp ủy, chính quyền các cấp đã tổ chức triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW với tinh thần rất khẩn trương, nghiêm túc và đạt được nhiều kết quả nổi bật.
Để thực hiện hiệu quả hơn nữa Kết luận số 01-KL/TW trong thời gian tới, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa đề nghị các cấp, các ngành cần chú trọng một số vấn đề sau:
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo Kết luận số 01-KL/TW, gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”, Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.
Thứ hai, tập trung hơn nữa vào việc thực hiện 3 nội dung: Học tập Bác, làm theo Bác và nêu gương Bác. Kết hợp chặt chẽ giữa học tập, làm theo Bác trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; giải quyết hiệu quả các khâu đột phá, các vấn đề trọng tâm, bức thiết của thực tiễn.
Thứ ba, nhấn mạnh và đề cao việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu, trước hết là của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, nhất là trong bối cảnh Đảng ta đang đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng về đạo đức.
Thứ tư, chú ý đổi mới mạnh mẽ và hiệu quả hơn nữa nội dung, phương pháp, hình thức tuyên truyền về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nghiên cứu, triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Tích cực, hoàn thành sớm việc xây dựng và phổ biến, tổ chức thực hiện các chuẩn mực đạo đức đối với cán bộ, đảng viên.
Thứ năm, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Thường xuyên bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cho thế hệ trẻ.
Thứ sáu, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, bảo đảm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện nghiêm túc, thiết thực, hiệu quả, thực chất, không rơi vào phô trương, lãng phí, hình thức.
Cách đây 50 năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quyết tâm chiến đấu anh dũng, ngoan cường của quân và dân ta, Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972 đã giành thắng lợi. Nửa thế kỷ đã trôi qua, song sự kiện giải phóng Quảng Trị vẫn còn nguyên giá trị lịch sử và ý nghĩa hiện thực sâu sắc; để lại nhiều bài học quý cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
Trong hai năm 1970 - 1971, mặc dù bị thất bại liên tiếp trên chiến trường Đông Dương, song Mỹ - ngụy vẫn ngoan cố thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, hòng tạo thế để mặc cả với ta trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris. Thực hiện ý đồ đó, chúng tăng cường phòng thủ trên hướng Trị - Thiên, biến nơi đây thành tuyến phòng thủ kiên cố, liên hoàn, vững chắc. Lực lượng địch ở khu vực này gồm 2 sư đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ, 3 thiết đoàn (xe tăng, thiết giáp), 17 tiểu đoàn pháo binh,… được không quân, pháo binh (kể cả pháo hạm) chi viện, hòng ngăn chặn, đánh bại các cuộc tiến công của ta.
Về phía ta, thực hiện chủ trương giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, ngày 23-2-1972, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm chiến đấu và phê chuẩn kế hoạch tiến công chiến lược, mở cuộc tiến công trên toàn chiến trường miền Nam, lấy Trị - Thiên làm hướng tiến công chủ yếu, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hai hướng phối hợp quan trọng. Trên hướng Trị - Thiên, ta mở chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng có quy mô lớn. Sau gần 3 tháng chiến đấu (từ ngày 30-3 đến ngày 27-6-1972), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cùng quyết tâm chiến đấu anh dũng, ngoan cường của quân và dân ta, Chiến dịch Trị - Thiên đã giành thắng lợi rất to lớn, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 30.000 tên địch, phá hủy và thu giữ nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Cuộc chiến đấu giải phóng Quảng Trị năm 1972 để lại nhiều bài học quý cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
Một là, nâng cao khả năng dự báo tình hình, tham mưu hiệu quả, xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ.
Ngay sau thắng lợi của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, tháng 5-1971, Bộ Chính trị họp, đề ra nhiệm vụ cho chiến trường miền Nam là giành thắng lợi quyết định trong năm 1972; đồng thời khẳng định, ta đang đứng trước thời cơ mới có thể giành thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ nhận định đó, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ cần kíp cho quân và dân ta là “kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài”(1).
Để cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị, tháng 6-1971, Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị nghiên cứu tình hình và đề ra nhiệm vụ của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Quân ủy Trung ương xác định, đòn tiến công của chủ lực sẽ tiến hành đồng thời trên 3 hướng chiến lược là Trị - Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; theo đó, miền Đông Nam Bộ là hướng tiến công chủ yếu số một, Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu số hai, Trị - Thiên là hướng phối hợp quan trọng. Tuy nhiên, đến nửa đầu tháng 3-1972, căn cứ tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch, qua kiểm tra công tác chuẩn bị của từng hướng và cân nhắc các hướng chiến lược, Quân ủy Trung ương quyết định báo cáo Bộ Chính trị chọn Trị - Thiên làm hướng chiến lược chủ yếu. Bởi vì, cuộc tiến công này phải giáng đòn quyết định của bộ đội chủ lực vào địa bàn dễ gây tác động lớn đối với Mỹ - ngụy. Ta phải đánh mạnh vào nơi địch mạnh hoặc tương đối mạnh, nơi hiểm yếu, buộc địch phải đối phó quyết liệt với những cố gắng cao nhất. Tại địa bàn này, địch bố trí lực lượng phòng thủ mạnh ở vòng ngoài, nhưng yếu ở bên trong, khi ta phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch dễ có điều kiện phát triển tiến công tiêu diệt, làm chủ các mục tiêu chủ yếu; khi bị ta tiến công uy hiếp, buộc địch phải đưa quân chi viện, ta có điều kiện tiêu diệt được nhiều lực lượng và phương tiện. Đối với ta, địa bàn Trị - Thiên là nơi có điều kiện để phát huy sức mạnh cao nhất của bộ đội chủ lực, của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Từ nhận định chính xác đó, Bộ Chính trị chính thức phê chuẩn đề nghị của Quân ủy Trung ương chuyển chiến trường Trị - Thiên từ hướng phối hợp quan trọng trở thành hướng chủ yếu của cuộc tiến công chiến lược. Sự nhạy bén của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trong việc điều chỉnh hướng tiến công chiến lược là nhân tố hàng đầu đưa đến thắng lợi của Chiến dịch Trị - Thiên.
Từ bài học kinh nghiệm về chọn hướng tiến công chiến lược ở chiến trường Trị - Thiên năm 1972, vận dụng vào thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay cho thấy, mặc dù hòa hình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn ở khu vực và trên thế giới, nhưng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh, xung đột cục bộ vẫn diễn ra gay gắt. Đặc biệt, một số nước đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, tăng cường năng lực hải quân với những thế hệ vũ khí mới. Các yếu tố an ninh phi truyền thống, an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới làm thay đổi môi trường chiến lược, tác động sâu sắc tới mọi quốc gia - dân tộc.
Là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, ổn định của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam cần chú trọng nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình; trên cơ sở đó, chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước hoạch định và thực hiện đường lối, chiến lược, chủ động, tích cực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; trong đó, cần chủ động nghiên cứu, dự kiến các tình huống, biện pháp đối phó hiệu quả với mọi tình huống về quân sự, quốc phòng cả trên không, trên đất liền, trên biển, đảo và trên không gian mạng, kiên quyết không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; luôn bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển toàn diện đất nước. Tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận quân sự, quốc phòng, xây dựng quân đội. Về vấn đề này, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự… Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”(2). Đây là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Hai là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân vững mạnh, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; trong đó, tập trung xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Trong Chiến dịch tiến công Trị - Thiên, ta đã xây dựng được lực lượng tại chỗ rộng khắp(3), lực lượng chủ lực cơ động hùng hậu, do đó, tạo thuận lợi cho phối hợp tác chiến của bộ đội chủ lực và lực lượng tại chỗ ngay từ giai đoạn hoạt động tạo thế, cài thế, nghi binh lừa địch. Từ tháng 1 đến tháng 3-1972, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Trị đã đánh gần 400 trận lớn, nhỏ. Ở Thừa Thiên ta liên tục hoạt động trên hướng tây đường số 12, đồng thời kết hợp với hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ xây dựng cơ sở chính trị, diệt ác, trừ gian, nhất là ở các vùng xung yếu… Các hoạt động trên làm cho thế kìm kẹp của địch bị phân tán, ta cài được thế vào cả 3 vùng (vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng và vùng thành thị), vẫn giữ được bí mật chiến dịch, phân tán sự chú ý của địch về hướng tiến công chủ yếu của ta ở mặt trận Quảng Trị. Đợt 1 chiến dịch (từ ngày 30-3 đếnngày 9-4-1972), bộ đội chủ lực tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài, đẩy địch vào thế hoang mang dao động. Tận dụng thời cơ có lợi, Tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh, các tiểu đoàn đặc công và các đại đội bộ đội địa phương, lực lượng dân quân du kích cùng quần chúng nổi dậy giải phóng quận lỵ Gio Linh, Bến Ngự, Mai Xá Thị, Xuân Khánh, Hà Thượng…
Cùng với đó, trên hướng phối hợp, lực lượng vũ trang địa phương của Thừa Thiên liên tục đánh địch ở Cù Mông, điểm cao 620, đường số 12 (đoạn Tà Lương - Động Tranh) suốt từ ngày 26-3 đến ngày 30-4-1972, đã kiềm chế và thu hút một phần lực lượng địch, tạo thuận lợi cho hướng chủ yếu (hướng Quảng Trị) của chiến dịch tiến công tiêu diệt địch. Đợt 2 (từ ngày 27-4 đến ngày 2-5-1972), chiến dịch sử dụng Trung đoàn 27, Tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh và Trung đoàn bộ binh cơ giới 66 (Quân đoàn 2) thọc sâu, vu hồi phía đông, phối hợp với hướng chia cắt (hướng nam Quảng Trị do Sư đoàn bộ binh 324 đảm nhiệm), đồng thời hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng ở Triệu Phong và Hải Lăng nổi dậy giành quyền làm chủ. Trên hướng phối hợp, lực lượng Quân khu Trị - Thiên cùng lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục tiến công địch trên hướng đường số 12… Đợt 2 của chiến dịch đã giành thắng lợi to lớn, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Đợt 3 (từ ngày 20-6 đến ngày 27-6-1972), ta chủ trương tiếp tục tiến công nhằm tiêu diệt đại bộ phận lực lượng quân địch, giải phóng Thừa Thiên, kể cả Huế và Phú Bài, nhưng do thiếu sót trong đánh giá tình hình địch - ta, cũng như trong công tác bảo đảm các mặt, nên hiệu quả tiêu diệt địch thấp; do đó, đêm 27-6-1972, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định ngừng tiến công, chuyển phương thức tác chiến mới, giữ vững vùng giải phóng, đánh bại nỗ lực tái chiếm Quảng Trị của địch. Thắng lợi của Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972 có nhiều yếu tố cấu thành, trong đó nghệ thuật kết hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương đã phát triển đến đỉnh cao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để lại nhiều bài học quý về xây dựng quân đội nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự biến động của tình hình thế giới, khu vực đem lại những thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với nền an ninh nhân dân; coi trọng xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ cân đối, đồng bộ, có chất lượng tổng hợp, trình độ, sức mạnh và khả năng phối hợp tác chiến cao, nhất là giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ; tranh thủ thời cơ, tận dụng, khai thác, phát huy tốt lợi thế của các lĩnh vực, nhất là khoa học - công nghệ..., đẩy nhanh lộ trình hiện đại hóa quân đội đáp ứng ngày càng tốt sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc và đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; điều chỉnh tổ chức, biên chế bảo đảm “tinh, gọn, mạnh”. Cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, giảm đầu mối trung gian, đồng bộ giữa vũ khí, trang bị với nhân lực và công tác bảo đảm. Cùng với đó, cần xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao, được quản lý chặt chẽ, sẵn sàng động viên, mở rộng lực lượng khi cần thiết. Củng cố lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, có số lượng, cơ cấu phù hợp với đặc điểm địa bàn, dân số, chú trọng lực lượng dân quân tự vệ ở các vùng trọng điểm, dân quân biển; không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh ngay tại cơ sở, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, cần bảo đảm chất lượng huấn luyện, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, “đội quân lao động, sản xuất” trong thời bình, sẵn sàng giúp nhân dân trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và những thách thức an ninh phi truyền thống, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.
Ba là, chú trọng công tác huấn luyện, không ngừng nâng cao năng lực, sức chiến đấu của bộ đội, khả năng, trình độ tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị, lực lượng trong toàn quân.
Nghiên cứu, đánh giá đúng về tình hình địch - ta và địa bàn, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Trị - Thiên quyết định đánh vào chỗ tương đối mạnh của địch, nhưng là nơi địch không ngờ tới, bởi chúng cho rằng ta chưa đủ khả năng đánh lớn ở Quảng Trị. Đây là quyết định rất đúng đắn và táo bạo của Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhằm tạo bất ngờ cho địch, đồng thời chứng tỏ trình độ, khả năng tác chiến của quân đội ta. Thực hiện quyết tâm đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương sử dụng pháo binh chiến dịch đánh “mềm” chiến trường, lực lượng pháo cao xạ sẵn sàng bắn máy bay, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng chi viện của không quân địch; kết hợp sức cơ động, đột kích của xe tăng, bộ binh lần lượt tiêu diệt các cứ điểm từ ngoài vào trong, tạo bàn đạp phát triển sâu vào trung tâm phòng ngự của địch. Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị đánh chiếm từng mục tiêu và thực hành hiệp đồng chặt chẽ giữa các cánh quân, các hướng tiến công; đồng thời, trên từng hướng, mũi thống nhất hành động giữa bộ binh với các lực lượng binh chủng.
Như vậy, lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta tổ chức chiến dịch tiến công quy mô lớn, lấy sức mạnh hiệp đồng binh chủng đánh vào khu vực phòng ngự mạnh nhất của địch, khiến chúng bất ngờ và choáng váng. Điều quan trọng là, nghệ thuật điều hành, phối hợp các lực lượng trên các tuyến, hướng tiến công, nhất là giữa bộ binh, pháo binh và xe tăng luôn nhịp nhàng, ăn khớp, tạo sức mạnh to lớn, đập tan các “ổ đề kháng” kiên cố của địch. Đây là thực tiễn quan trọng để ta tiếp tục phát triển, vận dụng vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Diễn biến chiến dịch cho thấy, ngay khi mở màn, lực lượng pháo binh ta đã bắn gần 8.000 viên đạn, khống chế hơn 24 căn cứ, trong đó có 13 cụm pháo binh địch, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều công trình quân sự, trung tâm thông tin địch. Chớp thời cơ, bộ binh cùng xe tăng trên 4 hướng đồng loạt tiến công, đánh chiếm các mục tiêu: Động Toàn, Ba Hồ, điểm cao 544… Đặc biệt, Trung đoàn đặc công hải quân 126, với cách đánh bí mật của lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, đã nhanh chóng tiến công tiêu diệt toàn bộ địch trên sông và duyên đoàn 11 của địch tại Cửa Việt, khống chế hoàn toàn tuyến đường sông phía đông. Với việc vận dụng nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng chặt chẽ, sáng tạo, nên chỉ sau 5 ngày tiến công của đợt 1 chiến dịch, phía ta đã phá vỡ hoàn toàn tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch, phá tan hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra, giải phóng hai huyện Gio Linh và Cam Lộ, buộc chính quyền Sài Gòn phải tăng viện khẩn cấp cho mặt trận Quảng Trị và hô hào tử thủ, bảo vệ những khu vực còn lại.
Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài và bị thiệt hại nặng, địch tăng cường lực lượng và điều chỉnh lại thế bố trí phòng ngự thành các cụm quân mạnh ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang, tạo thành khu vực “co cụm cứng”, kết hợp với di động linh hoạt để đối phó với ta. Theo đó, ta không thể dùng lối đánh ồ ạt, chớp nhoáng để đập tan các cụm cứ điểm “di động” của địch bằng một đòn, mà phải tiếp tục thực hiện bằng nhiều đòn liên tục, nhằm đập vỡ từng đoạn, tiến tới thực hiện đòn đánh quyết định, tiêu diệt lớn lực lượng địch. Thực hiện phương pháp tác chiến mới, chiến dịch tập trung phát huy sức mạnh của binh khí, kỹ thuật hiện đại, tiến hành đột phá liên tục, tiêu diệt xe tăng, xe thiết giáp, làm vỡ “vỏ cứng” phòng ngự, vừa bắn phá những mục tiêu chủ yếu trên toàn tuyến, vừa tập trung diệt từng điểm, cụm; kiên quyết bao vây, chia cắt chiến dịch, đánh vỡ từng mảng, tiến tới tiêu diệt toàn bộ địch co cụm. Thực tế, đợt 2 chiến dịch cho thấy, dưới sự chi viện mạnh của hỏa lực, các đơn vị thực hành tiêu diệt xe tăng, xe thiết giáp, làm mất chỗ dựa của bộ binh địch, từ đó đánh chiếm từng mục tiêu lần lượt từ ngoài vào trong, theo cách “bóc vỏ”, tạo điều kiện cho bộ binh, xe tăng của ta nhanh chóng thọc sâu, đánh chiếm mục tiêu bên trong, trên cả 3 cụm phòng ngự chủ yếu của địch, làm chủ trận địa. Điển hình là, trên hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch đánh vào cụm Đông Hà (Quảng Trị), Sư đoàn bộ binh 308, Quân đoàn 1 được sự chi viện của pháo binh, xe tăng đã nhanh chóng đánh chiếm các điểm cao 30, 28…, cô lập hoàn toàn Đông Hà; đồng thời, tổ chức Trung đoàn bộ binh cơ giới 66 và Tiểu đoàn đặc công 33 tạo thành mũi thọc sâu đánh chiếm sân bay Đông Hà, dồn địch vào thế hỗn loạn, buộc chúng phải bỏ cả vũ khí, trang bị kỹ thuật rút chạy, ta làm chủ Đông Hà, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, tạo cục diện mới cho cuộc chiến tranh.
Thành công của Chiến dịch Trị - Thiên chứng tỏ vai trò to lớn của công tác tổ chức huấn luyện, tổ chức chỉ huy cũng như hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng địch trong mọi tình huống. Vận dụng bài học kinh nghiệm này để tiếp tục xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc; phấn đấu đến năm 2030 xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, cần chú trọng công tác huấn luyện, không ngừng nâng cao năng lực, trình độ tổ chức hiệp đồng chiến đấu của bộ đội. Theo đó, toàn quân tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; Kết luận số 60-KL/QUTW, ngày 18-1-2019, của Quân ủy Trung ương, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 765-NQ/QUTW về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo; Chỉ lệnh công tác quân sự, quốc phòng của Tổng Tham mưu trưởng, cụ thể hóa bằng các chủ trương, giải pháp, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu quả. Coi trọng công tác đào tạo, huấn luyện, diễn tập sát với đối tượng, phù hợp với tổ chức, biên chế, trang bị và sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong huấn luyện bộ đội, chú trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu; huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị, nhất là vũ khí, khí tài mới, hiện đại; kết hợp giữa huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị và rèn luyện thể lực cho bộ đội, nâng cao bản lĩnh, quyết tâm và khả năng cơ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Vận dụng tốt 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện. Chỉ đạo huấn luyện theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”; nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng, trình độ xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng cho cán bộ chỉ huy; thường xuyên bổ sung, hoàn thiện phương án tác chiến đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Bốn là, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp, sức chiến đấu của bộ đội.
Chiến dịch tiến công Trị - Thiên là cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch, các bên tác chiến đều tập trung khả năng cao nhất để giành chiến thắng, tạo chuyển biến cục diện chiến tranh trong thế có lợi. Một trong những yếu tố làm nên chiến thắng Trị - Thiên của quân và dân ta trong năm 1972 không thể không nhắc tới tinh thần, ý chí, quyết tâm chiến đấu của các lực lượng tham gia chiến dịch. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của yếu tố này, lãnh đạo, chỉ huy các cấp luôn chú trọng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu cho bộ đội. Trước khi chiến dịch bắt đầu, các đơn vị tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, nghiên cứu chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị của Tổng cục Chính trị, Đảng ủy Mặt trận, thư của Trung ương, Quân ủy Trung ương… Các tài liệu học tập đều được sinh hoạt trong các cấp ủy, phổ biến đến tận chiến sĩ theo mức độ khác nhau. Các đợt giáo dục và sinh hoạt đều tập trung vào xây dựng ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần đoàn kết hiệp đồng, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. Trong quá trình chiến đấu, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị nhanh chóng phát hiện và uốn nắn những nhận thức tư tưởng không đúng, như sau đợt 1 xuất hiện tư tưởng chủ quan, khinh địch, thiếu cảnh giác. Nhờ vậy, tư tưởng, quyết tâm của bộ đội được giữ vững, hiệu suất chiến đấu được nâng cao, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu. Bộ đội pháo binh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, tình hình tư tưởng, quyết tâm của bộ đội từ ngày nổ súng đến khi kết thúc chiến dịch được giữ vững và phát huy, các biểu hiện tiêu cực hầu như không có, xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Các đơn vị công binh cầu đường, dù bị địch đánh phá ác liệt, thương vong nhiều, khí tài hư hỏng, giảm sút, nhưng mọi nhiệm vụ được giao đều hoàn thành kịp thời theo đúng yêu cầu, mọi tuyến giao thông trên bộ đều thông suốt; cán bộ không có hiện tượng thoái thác nhiệm vụ. Sư đoàn bộ binh 308 tiến công cụm cứ điểm Đông Hà - Lai Phước bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng trong thời gian gấp, lại chưa có kinh nghiệm đánh cứ điểm trung tâm phòng ngự của địch, quân số hao hụt chưa được bổ sung, nhưng Sư đoàn đã làm tốt công tác chuẩn bị, kịp thời động viên bộ đội vượt qua khó khăn, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Vận dụng bài học kinh nghiệm về xây dựng nhân tố chính trị tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội trong Chiến dịch Trị - Thiên vào công tác xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay, cần đặt ra những yêu cầu, nội dung mới toàn diện và đầy đủ hơn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống”(4). Nghị quyết nêu rõ, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nguyên tắc trong xây dựng quân đội. Để thực hiện xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cần tiếp tục xây dựng củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc trong quân đội. Tập trung xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, các cơ quan vững mạnh toàn diện. Xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội, thực hiện nghiêm, có hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các cơ quan, đơn vị cần coi trọng, đổi mới, nâng cao chất lượng và phát huy vai trò, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ quân đội phải kịp thời phát hiện, chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống “phi chính trị hóa” quân đội. Tích cực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm cơ sở để đề ra giải pháp phù hợp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, vận dụng nghệ thuật quân sự phù hợp, sáng tạo trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ các chủ trương, biện pháp giáo dục, huấn luyện, quản lý bộ đội, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.