Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

 

Hiệu quả hơn trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực

Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hơn 30 năm qua, bên cạnh những thành tựu có ý nghĩa lịch sử về mọi mặt thì tình trạng tham nhũng, tiêu cực không ngừng diễn ra ngày càng nghiêm trọng dưới nhiều hình thức rất đa dạng và tinh vi. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC) ở nước ta cũng có những nét đặc trưng, trong đó có đặc điểm nổi bật là việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương và ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC. Tuy nhiên, mô hình Ban Chỉ đạo và hoạt động của nó không phải ngay lập tức đã đồng bộ, đạt hiệu quả cao mà phải trải qua những trải nghiệm để khắc phục những hạn chế, bất cập.

Từng bước khắc phục những hạn chế, bất cập

Trải qua 16 năm kể từ khi Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN được thành lập, cho đến nay, Đảng ta đã từng bước khắc phục được một số hạn chế, bất cập sau đây:

Khắc phụ tình trạng "vừa đá bóng, vừa thổi còi". Năm 2006, lần đầu tiên Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN đã được thành lập. Ban Chỉ đạo giai đoạn này là một cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, có chức năng chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác PCTN trong phạm vi cả nước. Một năm sau, các ban chỉ đạo PCTN cấp tỉnh cũng được thành lập theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (năm 2007) và Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12 ngày 27-9-2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, khoá XII. Theo đó, trưởng ban PCTN là chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; có 1 phó trưởng ban thường trực, chức vụ giám đốc sở; các ủy viên ban chỉ đạo gồm chánh thanh tra tỉnh, giám đốc công an tỉnh, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh, chánh án tòa án nhân dân tỉnh, giám đốc sở nội vụ và chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra tỉnh, thành ủy. Việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương và ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN cũng như thành phần, cơ cấu, bộ máy, bước đầu đã tạo ra sự chuyển biến nhận thức, sự tin tưởng của cán bộ, đảng viên, nhất là quần chúng, nhân dân đối với Đảng, Nhà nước đối với quyết tâm PCTN. Nhiều cán bộ, đảng viên, cán bộ, công chức về hưu và quần chúng, nhân dân, báo chí... đã hưởng ứng, tích cực phát hiện, tố giác, đấu tranh với các hiện tượng TNTC, nhất là ở địa phương, cơ sở. Tuy nhiên, về lý thuyết cũng như về cơ chế vận hành, trong thực tiễn, tổ chức, bộ máy cũng như người đứng đầu Ban Chỉ đạo Trung ương cũng như ở cấp tỉnh có nhiều hạn chế, bất cập, lúng túng, nhiều khi thiếu quyết liệt, công tâm, khách quan, vô tư trong phát hiện, điều tra, xét xử những vụ tham nhũng lớn, phức tạp trong khi xu hướng lợi ích nhóm, bệnh thành tích còn rất phổ biến. Với cơ cấu bộ máy của ban chỉ đạo như vậy, nhiều ý kiến ví như hình ảnh "vừa đá bóng, vừa thổi còi", do vậy, công tác PCTN hiệu quả chưa cao. Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: "Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn điễn biến phức tạp..."(1). Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN theo mô hình nói trên hoạt động được hơn 6 năm (29-7-2006-1-2-2013) thì chuyển sang mô hình mới.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI), ngày 1-2-2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN có 16 thành viên, gồm: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Ban; 5 Phó Trưởng Ban (đồng chí Lê Hồng Anh, Thường trực Ban Bí thư; Ngô Văn Dụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ; Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương - Phó Trưởng ban Thường trực); 10 Uỷ viên là các đồng chí đứng đầu các ban, bộ, ngành, lực lượng Công an, Quân đội, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Tổng Thanh tra Chính phủ, Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Quốc hội, Phó Chủ tịch - Tổng thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngày 4-2-2013, trong phiên họp đầu tiên của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Thành viên Ban Chỉ đạo phải là tấm gương về giữ gìn đạo đức, lối sống, không bị cám dỗ bởi bất cứ lợi ích nào, không ngại bất cứ lực cản không trong sáng nào". Kể từ khi Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN đổi mới cơ cấu, tổ chức và bộ máy, nhất là vị trí đồng chí Trưởng Ban, đến nay, công tác PCTNTC ở nước ta ngày càng thu được những thành tích quan trọng, tạo chuyển biến tích cực, rất nhiều vụ án kinh tế lớn, TNTC được phát hiện, điều tra, xử lý, nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ cấp cao, bị kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước. "Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn và có chiều hướng thuyên giảm"(2).  

Tuy nhiên, tình trạng "trên nóng dưới lạnh" trong PCTNTC vẫn là xu hướng phổ biến ở không ít địa phương, cơ sở. "Trên nóng dưới lạnh", "trên quyết liệt" "dưới tê liệt" là những từ được Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC nhiều lần nhấn mạnh. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng này, chủ yếu tập trung vào một số nguyên nhân chính như: thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, nhất quán của Đảng từ Trung ương tới địa phương trong công tác đấu tranh PCTNTC (từ năm 2013, ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không có ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN); chưa có cơ chế, quy định trách nhiệm, ràng buộc người đứng đầu cấp ủy tỉnh, thành phố trong lãnh đạo, chỉ đạo PCTNTC; ở nhiều địa phương còn phổ biến tình trạng thiếu kiên quyết, chậm phát hiện, chậm xử lý dứt điểm các dấu hiệu TNTC; vẫn còn tình trạng "dĩ hoà vi quý" "bệnh thành tích", tư tưởng cục bộ địa phương trong đấu tranh PCTNTC; chưa có sự tham gia của đông đảo quần chúng, nhân dân, các cơ quan dân cử, các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương trong việc phát hiện, tố giác những biểu hiện TNTC... Từ các nguyên nhân trên, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC buộc phải chỉ đạo, theo dõi, nhắc nhở, xử lý nhiều vụ, việc TNTC lẽ ra thuộc trách nhiệm của địa phương. Chính vì vậy, Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) đã thống nhất chủ trương thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC. Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quy định số 67-QĐ/TW ngày 2-6-2022 "Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” nhằm khắc phục kịp thời những hạn chế, bất cập trong công tác PCTNTC, tạo ra sự đồng bộ về sự lãnh đạo của Đảng, về tổ chức, bộ máy, trách nhiệm, quyền hạn, cơ chế hoạt động, sự thông suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo v.v.

Đồng bộ, thông suốt

Quy định số 67-QĐ/TW tạo đồng bộ và thống nhất về nhận thức, nhận diện rõ đối tượng của cuộc đấu tranh "chống giặc nội xâm". Hiện nay, Đảng ta gắn tham nhũng với tiêu cực. Nội hàm tiêu cực rất rộng, trong đó có cả lãng phí, quan liêu. Quy định số 32-QĐ/TW ngày 16-9-2021 của Bộ Chính trị "Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC" đã xác định Ban Chỉ đạo là cơ quan "chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị cả nước". Ban chỉ đạo cấp tỉnh "trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ở địa phương". Xác định nội hàm, phạm vi của chống TNTC như vậy chẳng những xác định rõ ràng, thống nhất, nhận diện rõ hơn đối tượng đấu tranh mà còn làm rõ hơn vai trò, trách nhiệm, trọng tâm của chủ thể của cuộc đấu tranh này, đặt ra yêu cầu tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn trong việc phát hiện, xử lý TNTC ở địa phương, cơ sở.

Cơ cấu tổ chức, bộ máy, thành phần ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC theo mô hình của của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC. Ban chỉ đạo cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ; đồng thời chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát của Ban Chỉ đạo Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ PCTNTC; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất với Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương theo quy định. Định kỳ hằng quý và khi có yêu cầu, ban chỉ đạo cấp tỉnh báo cáo tình hình, kết quả công tác PCTNTC, các vụ án, vụ việc TNTC phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương, kết quả hoạt động và định hướng công tác trong thời gian tiếp theo với ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương và Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương;

Các quy định về thành phần, cơ cấu tổ chức, bộ máy, quyền hạn, chức trách, chế độ làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương và ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC đồng bộ và thống nhất với các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, đặc biệt là các quy định khác Đảng ta ban hành trong mấy năm gần đây liên quan đến TNTC. Đồng thời tạo thông suốt từ Trung ương tới cơ sở. Việc thường xuyên rà soát, kiểm tra, giám sát, đôn đốc của các cấp uỷ trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, đặc biệt là các quy định của Đảng, sẽ là cơ sở vững chắc, là điều kiện rất quan trọng để thực hiện công tác PCTNTC ở cả Trung ương và địa phương.

Các yếu tố góp phần tạo hiệu quả cao trong công tác PCTNTC

Việc tạo ra sự đồng bộ, thống nhất, thông suốt từ Trung ương tới địa phương và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng, của Ban Chỉ đạo Trung ương, cấp tỉnh về PCTNTC sẽ khắc phục tình trạng "dưới lạnh" tạo ra hiệu quả trong công tác PCTNTC. Ngoài ra, có một số yếu tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả trong công tác PCTNTC mà cấp uỷ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ban chỉ đạo cấp tỉnh cần cụ thể hoá:

Thứ nhất, công tác PCTNTC hai nhiệm kỳ qua đã để lại rất nhiều bài học kinh nghiệm quý, trong đó có kinh nghiệm từ Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC. Đó là sự kiên quyết, không có vùng cấm, xử lý bất kỳ cán bộ nào dù là ai khi có những biểu hiện TNTC. Đó là sự nêu gương, sự trong sạch, liêm khiết của Ban Chỉ đạo, nhất là của người đứng đầu. Những người "tay đã nhúng chàm" thì dứt khoát phải được loại ra khỏi danh sách những đồng chí làm công tác PCTNTC; những ai "nản chí thì đứng sang một bên cho người khác làm".

Thứ hai, hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng "tham nhũng vặt" hiện nay còn phổ biến ở địa phương, cơ sở. Trong khi đó, ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC bao gồm rất nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt địa phương, trong đó có người đứng đầu cấp uỷ, cần thực nghiêm túc Quy định "Về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiến với dân và xử lý những phản ánh kiến nghị của dân”. Điều này sẽ giúp cấp uỷ, Ban Chỉ đạo phát hiện, làm rõ, xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, "tham nhũng vặt" để răn đe, làm gương. Ở địa phương, cơ sở, chính dân là những người biết rõ hơn ai hết cán bộ nào TNTC và TNTC ở đâu, như thế nào.

Thứ ba, các cấp uỷ đảng trực thuộc tỉnh, thành uỷ, giao cho ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC, ban nội chính tỉnh, thành uỷ phối hợp với đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, đảng đoàn các tổ chức chính trị - xã hội các ban cán sự đảng các cơ quan liên quan xây dựng quy chế phối hợp trong việc phát hiện, tố giác, cung cấp những chứng cứ, dấu hiệu vi phạm hoặc những biểu hiện cụ thể của hiện tượng TNTC... Đặc biệt, cần tin dân, dựa vào dân, nghe dân, giữ bí mật, bảo vệ những nhân chứng, những người cung cấp thông tin, kiên quyết đấu tranh chống TNTC.

Thứ tư, noi gương Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, ban chỉ đạo cấp tỉnh tập trung chỉ đạo theo dõi, kiểm tra, giám sát, kết luận, xử lý... những vụ việc nổi cộm liên quan đến TNTC tồn đọng bấy lâu nay, được dư luận xã hội quan tâm. Lấy đó làm "vốn niềm tin" của cán bộ, công chức, đảng viên và đông đảo quần chúng, nhân dân ở địa phương và trong phạm vi cả nước. 

Thứ năm, học tập kinh nghiệm của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ định kỳ có thông báo công khai, kịp thời sau mỗi kỳ họp uỷ ban và công bố việc xử lý, kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý các vụ việc vi phạm Điều lệ, quy định của Đảng liên quan đến TNTC.

Thứ sáu, để khắc phục tình trạng bệnh "cục bộ địa phương", "thành tích chủ nghĩa" các cấp uỷ đảng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng cơ chế để báo chí địa phương, các trang thông tin điện tử công khai, cung cấp những thông tin, kết luận, điều tra, xử lý, kết án những vụ, việc, vụ án tiêu biểu TNTC ở địa phương; tránh tình trạng che giấu, bưng bít thông tin. Báo chí địa phương cần trở thành cầu nối giữa cấp uỷ đảng, chính quyền, ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh với quần chúng nhân dân trong việc phát hiện những hiện tượng TNTC; thực hiện dân chủ, công khai, quyền được thông tin của người dân.

--Nguồn: XDĐ----

(1). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 173.

(2). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, trang 76.

 


Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

 

Việt Nam đóng góp thực chất vào các nỗ lực nhân đạo của Liên hiệp quốc

 

Phiên họp 3 ngày về các vấn đề nhân đạo do Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hiệp quốc (ECOSOC) tổ chức mới đây đã khép lại với cam kết của các nước sẽ tiếp tục tăng cường nỗ lực nhân đạo trên toàn cầu.

Tại đây, Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của các nỗ lực nhân đạo quốc tế và luôn mong muốn đóng góp thực chất vào các hoạt động này.

Khai mạc phiên họp với chủ đề “Tăng cường hỗ trợ nhân đạo: Thực tiễn tốt và hành động thực hiện luật nhân đạo quốc tế, phục hồi sau đại dịch COVID-19 và ứng phó với khủng hoảng về khí hậu”, Tổng Thư ký Liệp hiệp quốc (LHQ) Antonio Guterres cho rằng thế giới đang phải đối mặt với đại khủng hoảng với các cuộc xung đột, biến đổi khí hậu, nạn đói và giá cả tăng cao.

Trong bối cảnh đó, các cơ quan nhân đạo của LHQ và các đối tác vẫn đang nỗ lực triển khai các hoạt động để hỗ trợ người dân. Để đối phó với các thách thức trước mắt, Tổng Thư ký LHQ nhấn mạnh cần xây dựng một hệ thống nhân đạo linh hoạt, đủ nguồn lực và mạnh mẽ để có thể tiếp cận và bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất. 

Chủ tịch ECOSOC Colin Vixen Kelapile nhấn mạnh phụ nữ và trẻ em gái bị ảnh hưởng nặng nề hơn trong khủng hoảng nhân đạo như bị bạo lực trên cơ sở giới, hạn chế tiếp cận với giáo dục và cơ hội phát triển. Chủ tịch ECOSOC kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ nhân đạo và đoàn kết với những người bị ảnh hưởng trong khủng hoảng nhân đạo, cùng rút ra các bài học, đổi mới sáng tạo để tối đa hóa hiệu quả các hoạt động hỗ trợ nhân đạo.  

Các nước nhất trí, chia sẻ các thách thức nhân đạo lớn mà thế giới đang phải đối mặt. Về biện pháp giải quyết, các nước nhấn mạnh cần đảm bảo tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Luật Nhân đạo quốc tế, bảo đảm và tăng cường tài chính, thực hiện các cam kết về biến đổi khí hậu, ứng phó với đại dịch COVID-19, tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quan LHQ để kịp thời hỗ trợ người dân ở các khu vực đang đối mặt với khủng hoảng.

Phát biểu tại Phiên họp, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại LHQ nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động hỗ trợ nhân đạo và vai trò của các cơ quan LHQ trong lĩnh vực này. Ở cấp độ toàn cầu, Việt Nam đã ủng hộ 500.000 đô-la Mỹ trong năm 2022 cho các Quỹ nhân đạo của LHQ và 1 triệu đô-la Mỹ cho cơ chế COVAX. Trong khu vực, Việt Nam cũng đang cùng các nước thành viên ASEAN thông qua Trung tâm điều phối ASEAN về Hỗ trợ nhân đạo và quản lý thảm họa (AHA) và các cơ quan LHQ hỗ trợ nhân đạo cho người dân Mi-an-ma. 

Đại sứ Đặng Hoàng Giang khẳng định hòa bình và ổn định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tiếp cận nhân đạo an toàn và không bị gián đoạn cho những người cần hỗ trợ. Các hoạt động nhân đạo cần dựa trên nguyên tắc trung lập, không thiên vị và độc lập, đề cao Hiến chương LHQ và Luật Nhân đạo quốc tế, phù hợp với điều kiện, nhu cầu và hoàn cảnh của từng nước.

Về trách nhiệm của quốc gia, Đại sứ Việt Nam cho rằng các quốc gia có vai trò và trách nhiệm quan trọng nhất, theo đó cần giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của xung đột và khủng hoảng nhân đạo một cách toàn diện. Bên cạnh đó, các quốc gia cũng cần tăng cường năng lực ngăn ngừa dịch bệnh, giảm thiểu rủi ro về khí hậu và môi trường, tăng cường hệ thống cảnh báo sớm và khả năng sẵn sàng ứng phó, tăng cường tài chính cho thích ứng và khả năng chống chịu. 

Đại sứ cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường điều phối, xây dựng lòng tin giữa các cơ quan LHQ với các Chính phủ và các bên liên quan trong hành động, tài chính và chia sẻ dữ liệu để kịp thời ứng phó với các thách thức nhân đạo toàn cầu đang nổi lên. Đại sứ gửi lời chia buồn sâu sắc đến những người dân Afghanistan chịu ảnh hưởng của trận động đất mạnh tại tỉnh Paktika ngày 22-6 vừa qua.

Nguồn: XDĐ

 

Đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa dân túy trên thế giới đã trở thành trào lưu điển hình chi phối đời sống chính trị - xã hội ở nhiều nước, nhưng ở Việt Nam mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động của một số người. Tuy nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh ngăn ngừa kịp thời.

Tư tưởng dân túy xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, nhưng nó phát triển mạnh mẽ và trở thành chủ nghĩa - chủ nghĩa dân túy vào khoảng thế kỷ XIX trong các phong trào nông dân, thể hiện sự ủng hộ hoặc nhân danh nông dân chống lại giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng tư sản. Hiện nay, sự nổi lên mang tính toàn cầu của chủ nghĩa dân túy ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị - xã hội của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, với diện mạo mới và những diễn biến phức tạp; nội hàm của nó đã được mở rộng hơn, không chỉ thuần túy là việc “nhân danh nông dân”. Đặc biệt, việc nhiều nhà dân túy giành được vị trí lãnh đạo ở một số nước, đã tạo nên những thay đổi, làm cho vấn đề càng trở nên phức tạp hơn.

Ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, nhưng trước sự tác động từ những diễn biến phức tạp của đời sống chính trị quốc tế, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy xuất hiện và có xu hướng phát triển. Dễ nhận thấy, thực chất chủ nghĩa dân túy là những lời nói và hành động mang tính chất mị dân, lợi dụng, kích động nhân dân, lấy một số nhóm được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho tính chính danh, phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế,… của cá nhân, nhóm, phe phái nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong mỗi giai đoạn khác nhau, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy cũng khác nhau cả về đặc điểm và sắc thái, tuy chúng vẫn cùng bản chất và tính chất. Vì thế, cần tiếp cận với các góc độ khác nhau để nhận diện những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:

1. Những biểu hiện “theo đuôi quần chúng” của một số cán bộ, đảng viên, cá nhân và nhóm lợi ích. Những người có biểu hiện này thường “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm quần chúng nhất định. Họ nhân danh quần chúng nhân dân, “lấy lòng” quần chúng, tìm mọi cách vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho bản thân một cách không lành mạnh, bỏ qua các vấn đề thuộc về nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng. Họ thường xem mục tiêu, lý tưởng như là vấn đề “trang sức” cho con đường công danh, tiến thân của bản thân; coi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, đặc biệt là những kẽ hở trong đó như là “điều kiện” để trục lợi. Tuy đây là cấp độ biểu hiện thấp, nhưng nó đã thể hiện sự phai nhạt niềm tin, lý tưởng, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

2. Lợi dụng tình cảm tự phát, nhu cầu trước mắt, lợi ích thường nhật của dân chúng để mưu cầu lợi ích riêng. Trước những vấn đề bức xúc, nhạy cảm của xã hội, của địa phương, đất nước, họ lợi dụng, lấy lòng, hòng làm “thỏa mãn” nhu cầu trước mắt nào đó của một bộ phận dân chúng; kích động người dân phản ứng với dụng ý xấu, động cơ thiếu trong sáng, vì lợi ích riêng của họ; lạm dụng các quyền tự do, dân chủ đưa ra những đòi hỏi, yêu sách phi lý, mị dân, trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những người có biểu hiện này thực sự đã suy thoái về chính trị tư tưởng, xa rời dần những nguyên tắc, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; niềm tin đối với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã suy giảm nghiêm trọng, nhưng họ chưa muốn thay đổi chế độ, bởi lẽ chế độ này “còn có lợi” cho họ để có thể “đục nước béo cò”.

3. Giương cao khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước”, kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước. Những người có biểu hiện này đã thể hiện rõ sự biến chất về chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù họ ít bộc lộ tư tưởng, quan điểm một cách trực tiếp, nhưng khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước” luôn được họ thể hiện bằng cách này hay cách khác để lôi kéo, kích động đám đông phục vụ cho ý đồ của họ, tạo cơ sở cho việc tuyên truyền các quan điểm lệch lạc, sai trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

4. Những biểu hiện ở người có quan điểm sai trái, thậm chí thù địch. Họ nhân danh “vì nhân dân”, “bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước”, “vì sự phát triển đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”,… lợi dụng, kích động dân chúng hướng đến những hành động cực đoan chống đối Đảng, chính quyền và chế độ xã hội. Ở những người này, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đạt đến độ thay đổi về chất, đã biến chất về chính trị; ra mặt chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước không chỉ bằng tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, mà còn bằng cả hành động; họ đã “trở cờ”, nhưng vẫn nhân danh “vì nhân dân”, “vì lợi ích quốc gia dân tộc” và họ thường được sự hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần của các thế lực thù địch, phản động.

Những biểu hiện trên chưa phản ánh hết tính chất phức tạp của tình hình, song, đó là những dạng biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa dân túy hiện nay, đang từng ngày, từng giờ chống phá Đảng và Nhà nước. Nó tác động, gây nhiều hệ lụy tiêu cực, dễ gây nên sự mơ hồ, ngộ nhận; dễ lẫn lộn giữa những cán bộ thực sự vì dân, vì nước với những kẻ ngụy trang khéo léo bằng vỏ bọc “vì dân”; dễ dẫn đến dao động về tư tưởng, hoài nghi, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ, ảnh hưởng tiêu cực đến đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó đặt ra nhiều khó khăn đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cũng như trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy để những biểu hiện đó không phát triển, trở thành “vi rút độc” gây ô nhiễm đời sống chính trị đất nước; những người mang nó không chuyển hẳn sang phía bên kia, chống lại Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc và phương pháp luận quan trọng. Để đấu tranh ngăn ngừa, phải thực hiện tổng thể nhiều giải pháp, trước hết, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận diện đúng những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay; thấy rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của nó đến đời sống tinh thần xã hội, đến nền tảng tư tưởng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy đảng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, v.v. Qua đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những “tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái”1. Trên cơ sở đó, tạo sự vững vàng và nhạy bén về chính trị; sự “miễn dịch” cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” và khả năng đấu tranh ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và tác động của những biểu hiện chủ nghĩa dân túy.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. Theo đó, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến chi bộ về đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, hiệu quả hơn theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quan tâm hơn nữa đến vấn đề đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy; khắc phục mọi biểu hiện xem nhẹ, buông lỏng vấn đề này; bổ sung, hoàn thiện chủ trương, quan điểm nhằm tăng hiệu quả đấu tranh. Đồng thời, có cơ chế, chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, triệt tiêu mầm mống nảy sinh, phát triển suy thoái, tham nhũng và tiêu cực; phát hiện từ sớm, từ đầu những biểu hiện dân túy, gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, “phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”2. Khắc phục mọi biểu hiện hình thức, cá nhân chủ nghĩa, “mị dân”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”.

Ba là, chủ động đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với đấu tranh khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đây vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản, vừa là biện pháp quan trọng trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay. Theo đó, các cấp ủy đảng cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội”3, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phê phán mạnh mẽ tính chất mị dân, lừa phỉnh của những người có biểu hiện dân túy, gắn với việc làm rõ quan điểm lấy dân làm gốc, tất cả vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân của Đảng. Thực hiện tốt phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”, để phê phán những biểu hiện chủ nghĩa dân túy và phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt, tạo cơ sở ngăn ngừa, loại trừ những biểu hiện chủ nghĩa dân túy từ cơ sở. Cấp ủy các cấp cần nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng; duy trì nghiêm quy định, quy chế phát ngôn; kiên quyết phòng, chống mọi biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán quan điểm dân túy, kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ. Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, kiên định, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

 

Nguồn: QPTD

1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 232 - 233.

2 - Sđd, tr. 226.

3 - Sđd, tr. 233 - 234.

 

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình và con đường tổng quát phát triển Việt Nam

 Mang trong mình ý chí, khát vọng tìm con đường giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm đến, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, từng bước định hình con đường cách mạng của dân tộc, trong đó có quan điểm về mô hình và con đường phát triển của Việt Nam. Bài viết trình bày khái quát những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình và con đường tổng quát phát triển Việt Nam - cơ sở lý luận quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay.

1. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - mô hình tổng quát phát triển Việt Nam

Có thể khái quát nội dung cơ bản nhất của mô hình phát triển Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi xướng là độc lập dân tộc và CNXH. Nghiên cứu toàn bộ di sản của Người có thể thấy: con đường cách mạng của Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người nói rõ: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(1). Khi nói chuyên với các nhà báo, Hồ Chí Minh chia sẻ: cả đời Người “chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(2).

Theo Hồ Chí Minh, trước hết phải làm cách mạng giải phóng dân tộc, giành được độc lập, tiếp đó là xây dựng CNXH; nước có độc lập thì dân phải được hưởng tự do, hạnh phúc, vì tự do, hạnh phúc là thước đo giá trị của độc lập dân tộc. Muốn có tự do, hạnh phúc thì độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH. Người nhấn mạnh: chỉ có trong chế độ XHCN thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình, chăm lo cho con người và con người có điều kiện phát triển toàn diện. Khi Hồ Chí Minh xác định giành độc lập theo con đường cách mạng vô sản tức là đã khẳng định độc lập dân tộc đi tới CNXH.

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, CNXH không phải là mong muốn chủ quan, không tưởng, mà là sự vận động lịch sử tất yếu, hiện thực, xuất phát từ thực tiễn khách quan, từ đặc điểm Việt Nam và xu thế của thời đại.

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam để đạt được mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên suốt đường lối và thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Người cho rằng, CNXH là chế độ xã hội làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, ai cũng có việc làm, được tự do, ấm no và hạnh phúc; giải phóng nhân dân lao động khỏi nghèo nàn, lạc hậu, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, ai làm ít thì hưởng ít, ai không làm không hưởng.

Tự do, hạnh phúc - theo quan điểm Hồ Chí Minh - là người dân được hưởng đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần do chủ CNXH đem lại. Đời sống vật chất là, trên cơ sở một nền kinh tế phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người dân từ chỗ có ăn, có mặc, có chỗ ở đến chỗ ăn ngon, mặc đẹp, đời sống sung túc; người đủ ăn thì vươn lên khá giàu; người khá giàu thì giàu thêm. CNXH là cùng với việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất, phải không ngừng nâng cao đời sống tinh thần. Trong điều kiện nước ta, nhiều khi đời sống tinh thần, văn hóa phải đi trước. Trả lời câu hỏi của phóng viên báo L’Humanité về nhân tố nào biến nước Việt Nam lạc hậu thành một nước tiên tiến, Hồ Chí Minh trả lời: “Có lẽ cần phải để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa. Chủ nghĩa thực dân đã kìm hãm nhân dân chúng tôi trong vòng ngu muội để chúng dễ áp bức. Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tôi tiến bộ”(3). Từ rất sớm, ngay khi còn phải tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh đã nhìn thấu ý nghĩa và sức mạnh của văn hóa, của đời sống tinh thần. Người cho rằng, con người cần có đời sống văn hóa tinh thần, vì đó là lẽ sinh tồn và mục đích cuộc sống.

Trong đời sống tinh thần, yếu tố quan trọng hàng đầu là phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Bởi vì, CNXH là do quần chúng nhân dân tự xây dựng lấy, là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, Trong điều kiện đó, chỉ có phát huy quyền làm chủ của nhân dân mới có sáng kiến và động lực. Hồ Chí Minh khẳng định “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đầy tớ cho dân”(4). Đảng cầm quyền, Nhà nước quản lý, nhưng nhân dân là chủ và để nhân dân làm chủ. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ là giá trị lớn nhất mà cách mạng do Đảng lãnh đạo đem lại cho người dân. Vì vậy, dân chủ trong chế độ dân chủ nhân dân đến chế độ XHCN vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng.

Xã hội XHCN là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, đem lại cho con người tự do, hạnh phúc thật sự. Vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống. Văn hóa nói chung, văn hóa trong CNXH nói riêng, không dừng lại ở trình độ học vấn, ở bề nổi, mà đó là “chất người”, “trình độ người” trong các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội, con người với thiên nhiên. Văn hóa là lối sống, là quyền con người, là cái chân, thiện, mỹ giữa người với người. Thống nhất với cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh rất chú trọng phát triển sản xuất, chú trọng kinh tế, coi đó là nhân tố quyết định thắng lợi của CNXH. Nhưng, điều đặc biệt trong tư tưởng của Người là chú trọng tiếp cận chủ CNXH về phương diện đạo đức. Con người có hạnh phúc trong chế độ XHCN phải là những con người được giáo dục và có đạo đức. Chế độ XHCN mang lại hạnh phúc cho con người phải là chế độ xa lạ với chủ nghĩa cá nhân, với những gì phản văn hóa và đạo đức. Hồ Chí Minh chỉ rõ, chủ nghĩa cá nhân là trái với đạo đức cách mạng, là trở lực trên con đường xây dựng CNXH. Vì vậy, thắng lợi của CNXH không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.

2. Con đường thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam phải trải qua các giai đoạn cách mạng gắn bó mật thiết với nhau: giai đoạn đấu tranh giành độc lập dân tộc và giai đoạn xây dựng CNXH. Nhìn một cách tổng quát, có thể hiểu mô hình phát triển xã hội Việt Nam theo quan điểm của Hồ Chí Minh là: Tổ quốc bị đô hộ thì phải đấu tranh giải phóng dân tộc; không giành được độc lập dân tộc sẽ không có gì hết; nhưng, nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Như vậy, thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa Tổ quốc được giải phóng và nhân dân được tự do, hạnh phúc; giữa độc lập dân tộc và CNXH.

Xuất phát từ một người dân thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nhận rõ mâu thuẫn đối kháng giữa thực dân đế quốc và dân tộc thuộc địa; còn ách nô lệ, còn áp bức dân tộc thì không thể nói tới phát triển. Nói cách khác, giành cho được độc lập là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự phát triển dân tộc.

Có độc lập dân tộc rồi thì phải đi lên CNXH mới thực hiện được mục tiêu phát triển, mới làm cho xã hội tốt đẹp hơn. Nhưng, nhận thức thế nào về triết lý phát triển Việt Nam khi bàn về CNXH?

Phát triển là một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và không bao giờ là một con đường thẳng tắp, bằng phẳng cho mọi dân tộc, trong mọi thời đại. Lịch sử loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, vì vậy phát triển không bao giờ là sự phát triển theo ý muốn chủ quan duy ý chí của con người, mà phát triển dựa trên năng lực nhận thức, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan của con người. Phát triển, bao giờ cũng phải xuất phát từ thực tế. Phát triển từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh, nhưng không có nghĩa là chỉ theo một đường thẳng, ngược lại bao hàm trong đó một số giai đoạn phát triển có cả đường cong, đường dích dắc; vừa liên tục, vừa đứt đoạn; vừa tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; vừa có tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù. Đó là một quá trình tích lũy và chuyển hóa không ngừng giữa lượng và chất, thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập theo con đường phủ định của phủ định.

Trong quá trình phát triển xã hội, cần nhận thức đúng đắn, phân biệt giữa phương tiện, những nấc thang và tiêu chuẩn của sự phát triển. Không thể phủ nhận vai trò của lực lượng sản xuất. Bởi vì, “do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình... Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản đại công nghiệp”(5); “những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”(6). Sản xuất bằng cách nào là xét về mặt lực lượng sản xuất, gắn rất chặt với toàn bộ sự phát triển xã hội. Nhưng, đó là cơ sở khách quan, khoa học đánh giá sự phát triển của từng giai đoạn lịch sử. Cũng như vậy, yếu tố con người - lực lượng sản xuất quan trọng nhất, năng suất lao động đều liên quan đến sự phát triển xã hội, nhưng đó chưa phải là tiêu chuẩn của sự phát triển. Phải chăng, khoa học công nghệ, quan hệ sản xuất, trình độ quản lý, kể cả luật pháp, là tiêu chuẩn, mục đích của phát triển? Phải coi đó là những nấc thang của sự phát triển và tiến đến mục đích của sự phát triển. Rốt cuộc, chất lượng dân sinh, hạnh phúc mới là tiêu chuẩn của sự phát triển. C.Mác viết: “Trong thời đại chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó... những máy móc có sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới, ... dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó, lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá là sự suy đồi về mặt tinh thần... Tất cả những phát minh của chúng ta và tất cả sự tiến bộ của chúng ta tựa hồ như đang dẫn tới chỗ là những lực lượng vật chất thì được ban cho một đời sống tinh thần, còn đời sống của con người vốn đã bị tước mất cái mặt tinh thần rồi thì nay lại bị hạ thấp xuống trình độ những lực lượng vật chất đơn thuần”(7). Như vậy, cơ sở vật chất, khoa học công nghệ, gắn với nó là năng suất lao động là những nấc thang của sự phát triển. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, trước hết và quan trọng nhất phải đạt được “phát triển sự phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân”(8).

Trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo những quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin, Hồ Chí Minh quan niệm CNXH vừa là phương tiện, nấc thang, vừa là mục tiêu của sự phát triển, trong đó điều quan trọng nhất: CNXH là mục tiêu của toàn bộ tiến trình cách mạng. Hồ Chí Minh rất quan tâm tới khoa học công nghệ, tăng trưởng kinh tế, sự giàu có, quản lý nhà nước, năng suất lao động..., nhưng tất cả những điều đó chỉ là phương tiện và nấc thang cho chất lượng dân sinh và hạnh phúc của con người - mục tiêu cao nhất của sự phát triển.

Cần nhìn nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH như là mục tiêu phát triển xã hội Việt Nam ở ba phương diện: phương diện vật chất - kinh tế; phương diện chính trị; phương diện văn hóa - xã hội. Trên thực tế, đi tới CNXH là một quá trình lâu dài, trải qua một một thời kỳ quá độ với nhiều bước trung gian quá độ. Cách mạng XHCN chứa đựng nhiều cuộc cách mạng, phản ánh các mặt của đời sống tư tưởng, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Vì vậy, quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam cũng cần đạt được mục tiêu trong các lĩnh vực đó.

Trong lĩnh vực chính trị, đó là chế độ chính trị dân chủ, nhân dân là chủ và làm chủ. Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử ra; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mọi công dân đều có quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan nhà nước, có quyền kiểm soát đối với đại biểu của mình; v.v.. Chế độ chính trị do nhân dân làm chủ thì người dân phải có nghĩa vụ đối với Nhà nước. Người chủ thì phải chăm lo việc nước như việc nhà, tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ. Là người chủ, nên mọi người phải có nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng và chấp hành pháp luật; tôn trọng và bảo vệ của công; có nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt; v.v..

Chế độ chính trị do nhân dân làm chủ vừa là mục tiêu của CNXH, vừa là động lực của sự phát triển. Dân chủ và thực hành dân chủ thật sự, rộng rãi là cái chìa khóa vạn năng thúc đẩy xã hội tiến bộ và phát triển. Hồ Chí Minh cho rằng, để một xã hội phát triển nhanh, lành mạnh, bền vững phải có sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Nhưng, nhân tố có ý nghĩa quyết định là con người. Bởi vì, như Hồ Chí Minh đã chỉ ra, mọi việc đều do người làm ra; mọi sự thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, để hiện thực mô hình phát triển Việt Nam, Hồ Chí Minh hết sức chú trọng nhân tố con người, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó chính là động lực của sự phát triển.

Trong lĩnh vực kinh tế, chế độ chính trị XHCN phải dựa trên nền kinh tế phát triển cao, với lực lượng sản xuất hiện đại, công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến... Trên cơ sở kinh tế XHCN ngày càng phát triển, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Cùng với phát triển lực lượng sản xuất, Hồ Chí Minh cũng quan tâm đến chế độ sở hữu. Theo Người, trong thời kỳ quá độ tồn tại bốn hình thức sở hữu chính: “- Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân.  - Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. - Sở hữu của người lao động riêng lẻ. - Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”(9).

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội: Cách mạng tư tưởng - văn hóa là một cuộc cách mạng trong cách mạng XHCN. Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng và phát triển nền văn hóa mới với đầy đủ các yếu tố về tri thức, tâm lý, luân lý, lối sống... Nền văn hóa đó phải dựa trên nền tảng kinh tế, nhưng đồng thời lại tác động tích cực trở lại kinh tế. Không những thế, tiếp cận theo quan điểm phát triển, văn hóa có sứ mệnh to lớn, “soi đường cho quốc dân đi”. Theo Hồ Chí Minh, văn hóa phải để lên hàng đầu để biến nước Việt Nam lạc hậu thành một nước tiên tiến, văn minh. Ở đây, vai trò của văn hóa được đặt trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, mà hàng đầu là nhanh chóng đào tạo cán bộ cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bởi vì, muốn xây dựng CNXH, trước hết phải có con người XHCN; muốn có con người XHCN phải có tư tưởng XHCN. Người chỉ rõ, văn hóa phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng mình. Văn hóa phải làm cho mỗi người và mọi người hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình cùng với hạnh phúc chung của dân tộc. Văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở.

Cùng với văn hóa, các chính sách xã hội cũng được Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng. Người quan tâm tới việc chăm lo hạnh phúc của đồng bào nói chung, trong đó đặc biệt lo toan cho người nghèo, “làm cho người nghèo thì đủ ăn và ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”; quan tâm đến sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ, đến thiếu niên nhi đồng, thương binh, các gia đình liệt sĩ, gia đình và người có công với cách mạng, đồng bào các dân tộc ít người, đồng bào tôn giáo.

Theo quan điểm Hồ Chí Minh, CNXH là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt giải phóng con người, trước hết khỏi sự bất công. Vì vậy, Người rất quan tâm tới quyền con người, đạo đức, lối sống, tâm hồn, nhân cách. Nền văn hóa trong xã hội XHCN phải lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở. Vì vậy, văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ; làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do.

Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng, trong đó yếu tố hàng đầu là tính chất dân tộc. Dân tộc phải có ý thức độc lập, tự cường và mỗi người phải biết hy sinh mình làm lợi cho xã hội thì mới xứng đáng hưởng độc lập, tự do. Về mặt chính trị, nền văn hóa Việt Nam đề cao dân quyền, về mặt xã hội là quan tâm tới phúc lợi của nhân dân. Đó chính là nội dung mới của nền văn hóa và vì vậy nền văn hóa đó đậm tính nhân văn, tính dân tộc.

Cốt lõi và hạt nhân của văn hóa là con người. Con người là chủ thể, là sản phẩm của văn hóa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp “trồng người”. Bản chất của mô hình xã hội mới là phải xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Đó phải là những con người có lòng yêu nước, có đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần và năng lực làm chủ, có kiến thức khoa học kỹ thuật, nhạy bén với cái mới, có tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có tinh thần trách nhiệm vì nước, vì dân, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Nguồn: LLCT

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.187.

(2), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.171, 372.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.190-191.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.434.

(5) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.187.

(6) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.269.

(7) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.10.

(8) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.26, phần II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.168.

 

Âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay

 


Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, nhân dân ta lựa chọn và khẳng định trong các văn kiện của Đảng từ mùa xuân năm 1930 và đã được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội của Đảng. Từ đó đến nay, trong suốt lịch sử 91 năm cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn, đi đến vinh quang ngày hôm nay. Vậy mà, hiện nay, các thế lực thù địch, phản động vẫn không ngừng ráo riết thực hiện các âm mưu diễn biến hòa bình nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Một trong những âm mưu nguy hiểm ấy chính là tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, âm mưu, thủ đoạn hòng phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hiện nay, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của Internet và các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đưa ra những thông tin xấu, độc nhằm kích thích sự nghi ngờ, phủ định sạch trơn những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với những luận điệu xuyên tạc như: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp với thời đại hiện nay nữa và một đảng lấy tư tưởng, lý luận đã “lạc hậu, lỗi thời” thì không thể có cơ sở để lãnh đạo đất nước phát triển khi thực tế khách quan đã thay đổi

Các tin, bài viết chủ yếu tác động vào mặt tâm lý, kích động những nhóm đối tượng thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết chưa đầy đủ để tạo sức mạnh chống phá. Chúng còn tập trung móc nối, lôi kéo mọi giai tầng xã hội, nhất là số thanh niên, cán bộ, đảng viên có dấu hiệu “tự chuyển hóa” và gần đây chúng có xu hướng móc nối vào số đối tượng có tiền án, nghiện hút, giang hồ mạng... để truyền bá "lối sống phương Tây", công kích, xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thứ hai, âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phủ định các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Với mục đích nhằm hạ thấp uy tín, kích động, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên tất cả các lĩnh vực: từ con đường đi lên XHCN, về vai trò lãnh đạo của Đảng, về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hay các chính sách đối ngoại, an ninh quốc phòng… đều bị chúng âm mưu xuyên tạc, bóp méo.

Những luận điệu ngày càng tinh vi như: nền kinh tế thị trường là đi theo chủ nghĩa tư bản, định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ ngăn cản thị trường và xâm phạm tới các quy luật của thị trường làm cho nền kinh tế không thể phát triển hay chúng cho rằng quân đội và công an chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước và an ninh, trật tự xã hội, không nên bị chi phối bởi chính trị, vì vậy cần phải “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang" hay liên tục đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội xhủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, mục đích cuối cùng của chúng là phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng và nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng và nhà nước, cuối cùng là tiến tới lật đổ chế độ ở nước ta.

Thứ ba, âm mưu, thủ đoạn phủ định giá trị lịch sử của dân tộc và những thành quả cách mạng.

Với âm mưu này, chúng thường tập trung lấy một số thực tế lịch sử của một số nước khác áp đặt vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, chúng cho rằng một số nước vẫn giành được độc lập, chủ quyền và phát triển mà không cần đến chiến tranh và lên án các cuộc chiến tranh ở Việt Nam là nội chiến, là làm cho người Việt Nam đánh người Việt Nam, đánh đồng những chiến sỹ cách mạng hy sinh vì chính nghĩa với những kẻ làm tay sai, bán nước. Xuyên tạc quan điểm hòa hợp dân tộc của Đảng ta.

Trong thời kỳ đổi mới, không ít thông tin phủ nhận thành quả công cuộc đổi mới, chỉ nhìn vào những hạn chế mà không thấy những giá trị, những thành quả mà Đảng và nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được trong hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Mặt khác, chúng lấy những thành công của một số nước để so sánh, chê bai, phủ nhận thành quả, phê phán những hạn chế, yếu kém của Việt Nam mà không đề cập những khó khăn của đất nước để cùng nhau nỗ lực và xây dựng. Để thực hiện âm mưu đó, các tổ chức phản động... tiếp tục tìm chọn, móc nối, lôi kéo công dân tham gia các tổ chức phản động và thực hiện các hoạt động chống phá ở trong và ngoài nước.

Thứ tư, âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm.

Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống covid 19, công tác chống tham nhũng, cải cách hành chính… cũng bị các đối tượng phản động triệt để lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Trong thời gian Đại hội đảng các cấp và Đại hội lần thứ XIII diễn ra, các thế lực đã cố tình đưa nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc về công tác chuẩn bị Đại hội hay lợi dụng việc Đảng lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo báo cáo chính trị để đưa ra nhiều ý kiến nhằm phá hoại quá trình chuẩn bị Đại hội; Lợi dụng việc lấy ý kiến để “Góp ý” đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Bọn chúng xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng là mất dân chủ, rằng tất cả đã được sắp xếp, rằng Đại hội đã tước đi quyền tự do, dân chủ trong việc đề cử, ứng cử…  Chúng còn cố tình bịa đặt, vu cáo nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của một số đồng chí lãnh đạo, đưa tin kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ, bôi xấu hình ảnh đất nước, ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng. Những nội dung sai trái này đã tác động không ít đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ, làm sai lệch thông tin, gây hiểu nhầm trong dư luận.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 15 và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 lần này cũng không phải là ngoại lệ. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị lại xem đây là thời cơ để chống phá. Họ tung lên các trang mạng đủ loại thông tin xuyên tạc bản chất tốt đẹp của chế độ ta, Đảng ta. Họ phát tán nhiều tài liệu kích động phản đối Quy chế bầu cử Quốc hội và cho đó chỉ là hình thức. Trên internet xuất hiện nhiều trang mạng núp bóng "truyền thông xã hội", đưa tin, giật tít rầm rộ nhưng chỉ là những thông tin mang tính chủ quan cá nhân, thông tin không đúng sự thật.

Thứ năm, âm mưu, thủ đoạn nhằm hạ bệ thần tượng; bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước

Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ, là chuẩn bị ghế nhân sự cho đại hội Đảng... Không những thế, chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... hòng hạ bệ uy tín của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân.

Với những diễn biến phức tạp của những âm mưu thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó nhận biết, vai trò, trách nhiệm của đoàn viên, thanh niên – những chủ nhân tương lai của đất nước trong giáo dục chính trị, tư tưởng góp phần hình thành một thế hệ thanh niên vững vàng về chính trị, tư tưởng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta và đấu tranh chống lại các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch lại càng quan trọng và nặng nề.

Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII của Đảng đã nhận định: "Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta". Cuộc đấu tranh này được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn tiếp tục.  Đây là nguy cơ và cũng là thách thức lớn đối với đất nước ta trong thời gian sắp tới. Trong cuộc đấu tranh này đòi hỏi chúng ta vừa đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào. Điều cốt lõi là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận./. (trích)

“GIA TÀI CỦA MẸ, MỘT LŨ LAI CĂNG, GIA TÀI CỦA MẸ, MỘT LŨ BỘI TÌNH"


Phải chăng đó là "gia tài" của việc sống ảo, của việc hám like mà bất chấp việc đi ngược lại với tinh thần dân tộc cũng như phủ nhận thành quả công lao cách mạng của cha ông.
Gần đây bạn nào sử dụng mạng xã hội tiktok đều biết "trend" mới của tiktoker là các em hot girl mặt xinh nhưng tỉ lệ nghịch với độ thông minh của não, bài hát Gia tài của mẹ của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được làm nhạc nền trên video của các em nhưng chỉ với mục đích khoe nhan sắc như muốn nói cháu là gia tài của mẹ, nhưng có cháu lại mặc áo sườn xám của Trung Quốc.
Ý nghĩa thực sự của bài hát mà không nhiều người biết ở đây mà nhạc sĩ muốn truyền tải là việc phản đối cuộc chiến tranh đã để lại cho tất cả chúng ta những đau thương mất mát không kể siết mà ở đây điển hình là người mẹ:
“Gia tài của mẹ, một rừng xương khô
Gia tài của mẹ, một núi đầy mồ”
“Gia tài của mẹ, ruộng đồng khô khan
Gia tài của mẹ, nhà cháy từng ngàn"
Các bạn hot girl tiktoker lại khoe khéo nhan sắc của mình chẳng khác nào tự so mình với bộ xương khô?
Tranh cãi của cư dân mạng còn xoay quanh việc bài hát có câu hát về chiến tranh Việt Nam là nội chiến. Tuy nhiên một số bạn trẻ vẫn chưa nhận thức được đúng sai của trong câu hát này.
Chúng ta ai học lịch sử đều biết, đất nước ta có được cuộc sống yên bình như hôm nay là nhờ công cuộc kháng chiến chống các đế quốc hùng mạnh nhất thế giới trong lịch sử loài người trong đó có Mỹ. 20 năm kháng chiến ở đây là cuộc chiến giữa người Việt Nam với Pháp - Mỹ và các chư hầu nhưng không hiểu vì sao một số bạn vẫn chưa nắm được vấn đề này hay là do các bạn không được học mà vẫn đi nói rằng đó là cuộc nội chiến.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết bài hát này vẫn còn gây nhiều tranh cãi nhưng chúng ta nên biết bản thân ông là một nghệ sĩ, ông chỉ đứng trên cương vị là một người chống lại các cuộc chiến tranh và bài hát này là một bài hát phản chiến chứ nó không hề là một bài hát xuyên tạc hay nói xấu về một chế độ chính trị nào cả.
Bài hát "Nối vòng tay lớn" được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết lúc 2 miền nam bắc thống nhất cũng đã cho ta thấy ông cũng mong ngày thống nhất nối liền bắc nam như thế nào. Trong câu hát "Hai mươi năm nội chiến từng ngày" trong bài hát, cố nhạc sĩ viết lúc đó có thể chỉ là việc ông đứng trên vai trò là một người dân đứng giữa trong sự khốc liệt của chiến tranh nhưng mục đích cuối cùng của bài hát vẫn là chống lại sự phi nghĩa của các cuộc chiến tranh.
Các em gái ạ, các em đẹp đấy, nhưng trước khi khoe cái đẹp đó các em cần suy nghĩ tránh phủ nhận tình yêu Tổ Quốc, tự tôn dân tộc, công lao máu xương của cha anh đi trước nhé. Khoe cái nét đẹp thì đồng ý, ai chả thích khoe, ai chả thích ngắm, nhưng đôi khi, khoe cũng cần phải suy nghĩ để tránh khỏi phải thành gia tài là lũ "lai căng, bội tình" của đất nước nhé!!!

NGUYÊN CTN NGUYỄN MINH TRIẾT TRẢ LỜI PHÓNG VIÊN NƯỚC NGOÀI VỀ NHÂN QUYỀN


Có một câu chuyện thú vị mà anh em ngoại giao hay nhắc lại về chuyến đi của nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khi đến Mỹ (tháng 6/2007). Đây là chuyến thăm đầu tiên của người đứng đầu Nhà nước CHXHCN Việt Nam đến Mỹ, diễn ra trong bối cảnh mối quan hệ Việt Nam - Mỹ đã được bình thường hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, chính giới cũng như giới báo chí Mỹ vẫn có nhiều người có cái nhìn thiếu thiện cảm với Việt Nam, thậm chí muốn làm bẽ mặt nguyên thủ của Việt Nam. Trong một buổi họp báo, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã có đoạn trả lời phỏng vấn đài CNN của Mỹ:
PV CNN:"Chúng ta hãy nói qua vấn đề khác, về nhân quyền? Khi Ngài sắp đi thì có hai người tù được thả. Vậy còn một số người nữa có được thả không?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Vi phạm pháp luật thì bị xử lý theo pháp luật, còn có thả hay không còn tùy thuộc vào người ta có thành khẩn nhận lỗi đến đâu. Nhân đây tôi muốn nói với ông rằng, Việt Nam trải qua nhiều năm chiến tranh. Trong thời kỳ đó người dân Việt Nam không có đầy đủ quyền con người. Người ta bắt bớ, giam cầm, tra tấn không cần ra tòa. Chúng tôi đã đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại quyền con người đã mất. Vì vậy hơn ai hết, chúng tôi rất yêu nhân quyền. Ông không thể hiểu nổi tình yêu đó. Bây giờ đất nước Việt Nam có luật pháp của Việt Nam. Việt Nam cần an ninh và ổn định để phát triển, vì vậy ai vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý".
Phóng viên CNN lúc đó chỉ biết câm lặng mà không hỏi thêm câu nào nữa./.