Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

Tăng cường đấu tranh với các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động

 Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên để góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ rất quan trọng trong giai đoạn các bộ, ngành, địa phương đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Trước thềm đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch ở trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng các hoạt động quyết liệt và thâm hiểm nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trọng tâm của sự chống phá là xuyên tạc về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự lãnh đạo của Đảng và công tác nhân sự đại hội đảng các cấp... nhằm hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Thủ đoạn chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, tập trung chống phá nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phê phán, đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bóp méo sự thật về đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang... Bản chất và mưu đồ của họ là từng bước làm cho các lực lượng vũ trang biến chất về chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dẫn tới mất sức chiến đấu. 

Thứ hai, lợi dụng vấn đề chống tham nhũng, nhất là sau một số vụ án tham nhũng kinh tế, các đối tượng thù địch thông qua các trang mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam; đăng tải các thông tin sai trái, bôi nhọ uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta; gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ…

Thứ ba, tuyên truyền những nội dung xấu, độc, trá hình, bới móc, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm hoặc lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong quản lý nhà nước để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của các cấp ủy, chính quyền địa phương. 

Trước tình hình trên, các cơ quan báo chí cách mạng của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tổ chức nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, góp phần bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận vẫn còn những hạn chế, chưa ngăn chặn được triệt để các thông tin xấu, độc, dẫn đến có những tác động tiêu cực tới nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và con đường phát triển đất nước.

Đáng lưu ý là gần đây đã xuất hiện một số tài liệu chống đối trắng trợn, xuyên tạc lịch sử cùng với những luận điệu hết sức phản động; số phần tử cơ hội chính trị đã bóp méo sự thật về các điều luật được thông qua, họ tập trung chống phá nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, đòi Đảng ta từ bỏ quyền lãnh đạo; bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, đòi thực hiện đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam theo quan điểm của phương Tây, thực hiện nhà nước pháp quyền tư sản; hô hào tập hợp lực lượng chống phá, phản đối các chính sách, các dự án  luật.v.v… Các thế lực thù địch lợi dụng những tiêu cực nảy sinh trong một số cán bộ, đảng viên mà chúng ta đang lên án phê phán, đấu tranh và xử lý các vụ việc tham nhũng, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân và các tệ nạn xã hội khác… để gây tâm lý hoang mang với mưu đồ làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

Trong những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đã nêu rõ: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan thông tấn, báo chí là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và của cả hệ thống chính trị.

Nghị quyết nêu ra bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trọng tâm là tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến đến các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Đặc biệt, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả. Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII nêu rõ: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”(1). 

Trong lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, một trong những nội dung quan trọng được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhấn mạnh là phải chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin không chính thức, thông tin xấu độc, bịa đặt, xuyên tạc trên internet, mạng xã hội của các thế lực thù địch. Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng. 


‘Tổng bí thư là chỗ dựa vững chắc cho công cuộc phòng, chống tham nhũng’


Trưởng ban Nội chính T.Ư Phan Đình Trạc nhấn mạnh Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là “chỗ dựa vững chắc”, tạo động lực to lớn, nhân tố hàng đầu quyết định thành công của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua.
Ngày 28.6, trao đổi với báo chí về nguyên nhân có được những kết quả trong công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua, Trưởng ban Nội chính T.Ư Phan Đình Trạc, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo), nêu rõ 5 nguyên nhân ông cho là “cơ bản”.
Đầu tiên, theo ông Trạc, là sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Ban Chấp hành T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, mà trực tiếp, thường xuyên là sự chỉ đạo quyết liệt, trực tiếp của Ban Chỉ đạo, với quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước.
Ông Trạc cũng cho rằng sự gương mẫu, “nói đi đôi với làm” của Tổng bí thư, Trưởng ban chỉ đạo và các lãnh đạo của Đảng, nhà nước, của người đứng đầu, lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, cũng là nguyên nhân tạo nên kết quả quan trọng, toàn diện của công tác phòng, chống tham nhũng.
Thứ 3 là sự nỗ lực, cố gắng, phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ của các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà trước hết là kiểm tra Đảng, nội chính, thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử, nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng ở T.Ư và địa phương.
Một nguyên nhân khác, theo ông Trạc, kết quả có được là sự kế thừa, tiếp nối của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực kiên trì, bền bỉ của nhiều nhiệm kỳ trước đây.
Nguyên nhân thứ 5 là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, báo chí và toàn xã hội, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
“Tôi xin nhấn mạnh vai trò vô cùng quan trọng của người đứng đầu và các lãnh đạo chủ chốt, đặc biệt là của Tổng bí thư, Trưởng ban chỉ đạo. Sự gương mẫu, quyết liệt “nói đi đôi với làm” và “làm đi đôi với nói” của Tổng bí thư, Trưởng ban chỉ đạo, và các lãnh đạo chủ chốt là chỗ dựa vững chắc, là đảm bảo về mặt chính trị và tạo động lực to lớn và do đó, đây là nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian vừa qua”, ông Trạc nói.
Trưởng ban Nội chính T.Ư cũng nhấn mạnh vai trò của nhân dân. “Không có sức mạnh nào to lớn bằng sức mạnh của nhân dân, không có gì mà nhân dân không biết và do đó, không có gì qua mắt được nhân dân. Cho nên sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân là thước đo niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Do đó chúng ta phải biến hàng vạn, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành ‘những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, làm cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu không có chỗ ẩn nấp’ như Bác Hồ đã từng dạy chúng ta”, ông Phan Đình Trạc nói.

SỰ KHÔN KHÉO TRONG ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO “DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN” ĐƯA CON RỒNG VIỆT NAM “BAY LÊN”!

 

Đêm trước của đổi mới, nghĩa là vào năm 1986, Việt Nam đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức. Hoa Kỳ và các nước đồng minh cấm vận chúng ta rất ngặt nghèo; đứng trước khó khăn, thách thức thì người Việt Nam lại càng chứng tỏ được bản lĩnh ngoan cường của mình; chiến đấu anh dũng không chỉ trên sa trường mà còn rất tinh anh, bản lĩnh trên mặt trận ngoại giao. Ngay trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - Đại hội gắn liền với sự nghiệp đổi mới; đất nước gồng mình đối phó với siêu lạm phát; nó xuất hiện liên tục từ năm 1985 đến 1988, với tỉ lệ lạm phát từ 300% đến 800% mỗi năm. Năm 1986, tỷ lệ lạm phát lên đến 774,7% khiến kinh tế rối loạn. Siêu lạm phát vẫn tiếp diễn trong 2 năm sau đó (năm 1987: 323,1%; năm 1988: 393%). Thời điểm đó, hầu như cả nước đều chẳng có nhà nào có đủ ngày ba bữa cơm no, khó khăn chồng chất khó khăn.
Nhưng rồi dù phải đi giữa muôn trùng sống gió thì “con thuyền Việt Nam” vẫn biết cách để vượt trung khơi, hòa nhập vào “Đại dương thế giới”. Nhờ chủ trương, đường lối ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo và rất đúng đắn; chúng ta liên tiếp bình thường hóa quan hệ với hai cường quốc vốn một thời là cựu thù; tưởng chừng sẽ không bao giờ đội trời chung. Người Việt đã chủ động bang giao, tạm khép lại quá khứ đau thương để vì một tương lai tươi sáng của dân tộc. Năm 1991, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, 1995, làm việc đó với Hoa Kỳ. Ngày 20/9/1977, Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc. 9h sáng ngày 21/9/1977, Lễ thượng cờ Việt Nam được tổ chức; lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh Việt Nam kiêu hãnh tung bay tại trụ sở của Liên Hiệp Quốc.
Với chiến lược “viễn giao, cận giao”; Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế; sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Bên cạnh đó chúng ta cũng rất khéo mối quan hệ quốc phòng với chính sách ba không “không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia”; nghĩa là độc lập, tự chủ mà chẳng lệ thuộc bất cứ nước nào! Không chia bè, kéo cánh theo kiểu đồng minh với anh này để chống lại anh kia; nhờ thế mà chúng ta có môi trường thuận lợi để tập trung phát triển kinh tế - xã hội; từ chỗ bị cô lập, bị “ngăn sông cấm chợ” thì đến nay, sau hơn 30 năm đổi mới, chúng ta có mối quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Việt Nam ứng xử với tất cả cả nước trên thế giới trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cân bằng các mối quan hệ theo hướng “thêm bạn bớt thù”; không lệ thuộc bất cứ nước nào, cũng chẳng nghiêng hẳn theo bất cứ ai! Nghĩa là hợp tác, bang giao, đối thoại chứ chẳng dại đi đối đầu; nhờ thế mà kinh tế nước ta trong gần hai thập kỷ trở lại đây có mức tăng trưởng mà bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng mơ ước, thòm thèm. Hết năm 2018, tăng trưởng kinh tế gấp đôi mức lạm phát; một điểm sáng hiếm của khu vực và trên thế giới. Năm 2018, lạm phát tính bình quân là 3,54%, so với 31/12/2017 thì lạm phát thực tăng chưa tới 3%. Đây là năm thứ ba liên tiếp Việt Nam kiểm soát được lạm phát dưới mức 4%. Đáng chú ý, một sự tình cờ rất ngẫu nhiên là chỉ số tăng trưởng (7,08%) gấp đúng 2 lần chỉ số lạm phát (3,54%). 2 năm 2020, 2021 mặc dù đối diện với đại dịch covid-19 nhưng nền kinh tế đất nước đã trụ vững để bước sang năm 2022 khởi sắc, bứt phá.
Đối với hai ông lớn là Tàu và Mỹ; chúng ta có "Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc"; còn với ông lớn Mỹ là “Quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ”; nghĩa là sẵn sàng chơi với cả hai ông nhưng nếu các ông tranh giành ngôi bá chủ hoàn cầu mà tăm tia nhau, chiến nhau thì tôi chẳng dại mà đứng về phía anh nào cả! Nhờ thế mà mối quan hệ của ta với cả hai ông to này về cơ bản là rất tốt; kim ngạch thương mại hai chiều phát triển ổn định theo hướng năm sau cao hơn năm trước.
Đối với nước Nga, chúng ta vẫn còn nợ họ "món nợ ân tình". Liên Xô nói chung và người Nga nói riêng đã là một phần của lịch sử Việt Nam, họ chứng tỏ là người bạn chí tình, chí nghĩa; họ giúp chúng ta hết sức của họ trong cả 4 cuộc chiến của dân tộc; hiện nay mối quan hệ Việt - Nga cũng phát triển hết sức rực rỡ!
Rõ ràng ai cũng biết là Asean thành lập là để chống cộng; tuy nhiên đến nay Việt Nam đã biến những người chống đối thành những người bạn chí tình; Việt Nam đã chứng tỏ cho họ hiểu là đã hoàn toàn hiểu lầm về bản chất của những người cộng sản, chứng minh cho họ hiểu về một Việt Nam thân thiện và giàu lòng mến khách, sẵn sàng kề vai, sát cánh để xây dựng cộng đồng Asean vững mạnh trên tinh thần Quốc tế cao cả. Chúng ta là thành viên có uy tín và trách nhiệm cao với cộng đồng; một quốc gia có đà phát triển nhanh và ổn định nhất khu vực.
Thực sự Mỹ và nhiều quốc gia đồng minh chỉ thực sự để cho chúng ta "được yên" kể từ 1995 trở lại đây! Trong vòng hơn 30 năm đó chúng ta đã thật sự trở mình; từ một đất nước có xuất phát điểm thấp, nhiều năm bị tàn phá bởi chiến tranh, cấm vận kinh tế; nhưng với ý chí, nghị lực và bản lĩnh của mình, Việt Nam đã vươn lên rất mạnh mẽ; uy tín ngày càng tăng cao, tiếng nói ngày càng trọng lượng; đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Nếu nhìn nhận một cách khách quan, có thể thấy rằng Việt Nam là nước tiến bước nhanh, vững chắc nếu biết rằng 30 năm trước đó chúng ta còn thiếu cái để ăn. Để đạt được điều đó là nhờ sự đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo sáng suốt, khôn khéo của đảng. Lái còn thuyền xé sống vượt trùng khơi. Rồng Việt Nam sẽ bay lên ngày càng cao nhờ chính sách ngoại giao tình tế, lựa chọn lối đi phù hợp trên tinh thần "dĩ bất biến ứng vạn biến"; "viễn giao cận giao" trên tinh thần độc lập tự chủ của mình./.

Khẩu súng ngắn và sự hy sinh dũng cảm của người đại đội trưởng anh hùng


Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Thiếu úy Hoàng Thọ Mạc, Đại đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 66, Trung đoàn Bộ binh cơ giới 202 (nay là Lữ đoàn Xe tăng 202) được phối thuộc cho Sư đoàn 320B tiến công trên hướng bắc vào Sài Gòn.
Sáng 30-4-1975, sau khi đánh chiếm Lái Thiêu, xe thiết giáp K63 số hiệu 454 do Thiếu úy Hoàng Thọ Mạc chỉ huy dẫn đầu đội hình thọc sâu tiến về cầu Vĩnh Bình (trên quốc lộ 13, bắc qua sông Sài Gòn, cách trung tâm thành phố 5km). Đây là cây cầu có vị trí rất quan trọng, địch lập tuyến phòng thủ với xe tăng, thiết giáp, nhiều lớp vật cản và công sự kiên cố. Ta và địch giành giật nhau từng mét cầu.
Ở khoảng cách gần, khó phát huy hỏa lực pháo tăng, sau khi báo cáo cấp trên, Hoàng Thọ Mạc chỉ huy đơn vị bắn chế áp địch. Lợi dụng thời gian hỏa lực địch bị chế áp, anh lao từ trên xe xuống mặt cầu, rút khẩu K54, khoát tay ra hiệu cho đồng đội phía sau tiến lên. Súng ngắn hết đạn, anh sử dụng B40, AK, lựu đạn… cùng đồng đội tiêu diệt 1 xe thiết giáp M113; 2 xe tăng M41 và nhiều sinh lực địch.
Bất giờ, một quả đạn M79 nổ ngay trước mặt, mảnh đạn găm vào ngực, anh gắng gượng với vết thương, tự băng bó rồi tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu. Địch không chống nổi sức tiến công mạnh mẽ, lùi dần về sau nhưng vẫn dùng hỏa lực bắn mạnh vào điểm đầu cầu.
Nắm thời cơ, Hoàng Thọ Mạc gắng gượng với vết thương tiếp tục dẫn đầu đội hình nhanh chóng tiến lên chiếm cầu. Một chớp lửa lóe lên nổ bên cạnh, trong khoảnh khắc ấy Hoàng Thọ Mạc đã lao qua, xô người chiến sĩ chạy bên cạnh ngã xuống rồi nằm đè lên, che đạn cho đồng đội…
Trước sự hy sinh anh dũng của đại đội trưởng, nghẹn ngào , tất cả bật dậy tiến công mạnh mẽ về phía quân thù. Sự mưu trí, dũng cảm và ngọn lửa căm thù họ đã đè bẹp sức kháng cự của địch, mở toang cánh cửa phía bắc cho đại quân thần tốc tiến vào trung tâm Sài Gòn.
Liệt sĩ Hoàng Thọ Mạc được truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba ngay sau trận đánh và truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân ngày 23-9-1975.
Khẩu súng ngắn K54 từng theo anh chiến đấu trong nhiều chiến dịch nay được trưng bày tại Bảo tàng Lực lượng Tăng thiết giáp vẫn đang tiếp tục “kể” câu chuyện về người đại đội trưởng xe tăng mưu trí, dũng cảm, đã ngã xuống ngay cửa ngõ Sài Gòn chỉ vỏn vẹn hơn một tiếng đồng hồ trước giờ toàn thắng.
* Khẩu súng ngắn K54 của Anh hùng Hoàng Thọ Mạc trưng bày tại Bảo tàng Lực lượng Tăng thiết giáp.
ST từ nguồn: PL

BỘ TỔNG THAM MƯU QUY ĐỊNH THỐNG NHẤT TRANG PHỤC KHI TRAO, NHẬN THƯỞNG

 

Bộ Tổng Tham mưu vừa ban hành Công văn số 1786/TM-QH về việc thống nhất trang phục trao, nhận thưởng.
Theo đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong buổi kiểm tra sư đoàn trưởng, chính ủy sư đoàn bộ binh và chỉ huy trưởng, chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố tại Trung tâm Huấn luyện Quân sự Quốc gia 4 vào cuối tháng 4 vừa qua, về sử dụng trang phục khi trao, nhận thưởng trong hội trường, Bộ Tổng Tham mưu thống nhất thực hiện trong các cơ quan, đơn vị toàn quân như sau:
Khi trao, nhận thưởng ngoài trời: Thực hiện đội mũ theo quy định tổ chức nghi lễ trong quân đội, ban hành kèm theo Quyết định số 2185/QĐ-TM ngày 21-11-2012 của Tổng Tham mưu trưởng.
Trao, nhận thưởng trong hội trường: Người làm công tác tổ chức (kể cả các buổi lễ không có trao, nhận thưởng), người trao, người nhận không đội mũ; người phục vụ (là quân nhân) phải đội mũ.
Trường hợp đón nhận danh hiệu vinh dự Nhà nước: Anh hùng LLVT nhân dân, Anh hùng Lao động, huân chương cho tập thể có Quân kỳ Quyết thắng: Người trao (nếu là quân nhân), người nhận và tổ quân kỳ đội mũ theo quy định tổ chức nghi lễ trong quân đội.
Đối với lực lượng gìn giữ hòa bình (GGHB) khi trao, nhận thưởng: Người trao, người nhận (mặc quân phục GGHB) được phép đội mũ nồi của lực lượng GGHB. Trường hợp người trao không mặc quân phục của lực lượng GGHB thì không phải đội mũ.
Bộ Tổng Tham mưu yêu cầu các cơ quan, đơn vị chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện thống nhất, đúng quy định trên từ ngày 1-7-2022.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 29/6


“ Nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân lương thiện trên thế giới ai cũng muốn hòa bình. Nhưng phải đoàn kết đấu tranh chống đế quốc thực dân thì mới giành được hòa bình thật sự”.
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Hòa bình kiểu Mỹ tức là binh họa”, với bút danh “Chiến sĩ”, đăng trên báo Nhân dân, số 3380, ngày 29 tháng 6 năm 1963.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói lên khát vọng, mong muốn được hòa bình của nhân dân lương thiện thế giới nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng; đồng thời, là lời kêu gọi nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới phải đoàn kết đấu tranh chống đế quốc thực dân thì mới giành được hòa bình thật sự.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, hi sinh để giành độc lập, thống nhất đất nước, nhân dân được sống trong hòa bình và đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Song lời Bác Hồ dạy năm xưa vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử và ý nghĩa thực tiễn, được Đảng ta cụ thể hóa trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Nhận thức sâu sắc lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy. Ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
154
2 bình luận
15 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

THAM GIA ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA!

         Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam.
     Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta không để tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm thành phần lợi dụng không gian mạng. Đồng thời, thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy tích cực vai trò, trách nhiệm của mình, chủ động tham mưu cho cơ quan, đơn vị mình công tác phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các bài viết, hình ảnh, clip có nội dung xấu, phản động nhằm giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng ta./.




Yêu nước ST.

NHẬT KÝ TRONG TÙ - KHI NGỌN LỬA TỰ DO BÙNG LÊN TỪ XIỀNG XÍCH!

         Một nhà thơ không chủ định, nhưng những gì được viết ra trong hoàn cảnh bị giam giữ, mất tự do lại mang theo chất thơ và những giá trị thơ đích thực.
1. Trước khi viết Ngục trung nhật ký, trong khoảng thời gian 23 năm, Nguyễn Ái Quốc đã là tác giả của bản yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Vecxây (1919); chủ nhiệm và chủ bút Le Paria; tác giả Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) cùng trên mười bút ký và truyện ngắn có giá trị văn học đăng trên nhiều báo lớn ở Paris vào thập niên đầu 1920. Tất cả đều bằng tiếng Pháp.

Tiếp đó, năm 1927, là văn kiện Đường Kách mệnh, bằng tiếng Việt, viết cho đội ngũ tiên phong của cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, năm 1931, là truyện kể Nhật ký chìm tàu, viết theo hình thức chương hồi, gồm 24 chương, kể chuyện nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười, mỗi chương mở đầu hoặc kết thúc bằng hai câu thơ lục bát.

Về nước năm 1941, sau ba mươi năm xa xứ, Bác mới chính thức làm thơ, bắt đầu là hai bài về Pác Bó theo thể tứ tuyệt, và tiếp đó là bài Thượng sơn (Lên núi), viết năm 1942, bằng chữ Hán. Nguồn thơ chữ Hán theo phong cách nhà Nho, thấm đẫm ý vị phương Đông ở Hồ Chí Minh có lẽ được bắt đầu bằng bài thơ này. Nhưng trong không khí tiền khởi nghĩa, ưu tiên số một đối với Bác phải là thơ văn tuyên truyền, cổ động cách mạng. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, Bác đã làm trên dưới ba mươi bài trong hệ thơ Bài ca Việt Minh, nội dung nhằm vào các tầng lớp quần chúng cơ bản để tuyên truyền ý thức cách mạng, như các bài: Hòn đá to, Nhóm lửa, Ca sợi chỉ, Ca công nhân, Ca phụ nữ, Ca binh lính… tất cả đều được đăng trên tờ Việt Nam độc lập, do Bác sáng lập và tổ chức thực hiện.

Ba mươi bài trong nhóm Bài ca Việt Minh là loại thơ nhằm vào công chúng còn thất học, rất cần được giác ngộ để hiểu về cách mạng và tham gia cách mạng; do vậy giá trị của nó phải được xác định ở khả năng phổ cập và tác dụng cổ động, tuyên truyền. Còn người viết ra nó, phải đóng vai một cán bộ quần chúng, không chỉ rất am hiểu, thông thuộc nguyện vọng của dân mà còn biết cách diễn đạt sao cho dễ nhớ, dễ hiểu, thuận theo cách nghĩ, cách nói của dân.

2. Giản lược như trên để thấy sự ra đời 135 bài thơ chữ Hán trong Ngục trung nhật ký, được Hồ Chí Minh viết trong khoảng thời gian từ tháng 8.1942 đến 9.1943, nơi các nhà ngục ở Quảng Tây, Trung Quốc, là một sự kiện rất đặc biệt, và cũng có thể là bất ngờ đối với tác giả. Đặc biệt, bởi, theo tôi hiểu, tác giả dường như chưa có một chuẩn bị gì cho sự kiện này. Nói theo giáo sư Đặng Thai Mai, đây là tập thơ Hồ Chí Minh ngẫu nhiên mà hái lượm được. Có nghĩa là một tập thơ bỗng dưng mà có; bởi – ít nhất có bốn khả năng khiến cho tập thơ không chào đời; và do vậy sẽ không có trong danh mục tác phẩm của Hồ Chí Minh, và trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ 20.

– Thứ nhất, Bác không có công việc gì để sang Quảng Châu vào thời gian đó.

– Thứ hai, Bác có việc sang Trung Quốc nhưng không bị bắt.

– Thứ ba, Bác có bị bắt, nhưng thời gian giam giữ là ngắn, chứ không phải là mười bốn tháng; nghĩa là người tù có thể làm thơ, nhưng lượng bài là ít hơn, hoặc rất ít.

– Thứ tư, Ngục trung nhật ký được viết xong nhưng Bác đã không giữ được bản thảo; có biết bao lý do để bản thảo không trở về với chủ – là tác giả, sau ngót mười năm kháng chiến đã trở về thủ đô. Và như vậy cũng sẽ không có sự hiện diện của bản thảo trong Viện Bảo tàng Cách mạng, rồi chuyển sang Viện Văn học (thành lập năm 1959); để từ địa chỉ này mà có sự bận rộn của Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Nam Trân – những người tổ chức việc dịch và in ấn rất khẩn trương cho sự ra đời Nhật ký trong tù vào tháng 5/1960, kịp đón sinh nhật lần thứ bảy mươi của tác giả.
Khả năng cuối cùng này, may mắn đã không xảy ra. Thế nhưng, cho đến nay hành trình của nguyên tác vẫn còn nhiều chỗ mù mờ, chưa sáng tỏ. Ai đã giữ hộ cho Bác tập thơ? Ai đã gửi tập thơ về Hà Nội? Từ Hà Nội hành trình của nguyên tác là đi theo những con đường nào? Đã có một số bài báo và luận án tiến sĩ về đề tài này, nhưng tất cả theo tôi vẫn chỉ là giả thuyết.

Trong ý tưởng thứ hai này tôi chỉ muốn khẳng định: Ngục trung nhật ký là một tập thơ ngẫu nhiên mà có trong một hoàn cảnh đặc biệt: Bác sang Trung Quốc và bị giam giữ ở nhiều nơi trong mười bốn tháng. Nếu không có hoàn cảnh đó, chắc chắn sẽ không có tập thơ. Một tập thơ Bác làm từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943; nhưng phải mười bảy năm sau bản dịch tiếng Việt mới đến được với công chúng rộng rãi trong nước, và qua các bản dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài mà đến được với công chúng thế giới. Với điểm dừng cuối cùng là Bảo tàng Cách mạng, như được nói trong lời nói đầu bản dịch Nhật ký trong tù, in lần đầu năm 1960; và với khoảng cách mười bảy năm trong im lặng của nó, chứng tỏ người viết không quá quan tâm đến một sản phẩm do chính mình làm ra; nói cách khác, phải chăng Hồ Chí Minh đã không xem đó là một áng văn chương, hoặc có giá trị văn chương thực sự?

3. Trong mười bốn tháng bị giam giữ và giải tới giải lui qua nhiều huyện thị của tỉnh Quảng Tây; trong hoàn cảnh sinh hoạt rất mực gian khổ của người tù mà nhờ vào hình thức thơ – nhật ký ta được biết, Hồ Chí Minh đã làm 135 bài thơ. Đó là cả một kỷ lục.

Điều tôi quan tâm ở đây là Hồ Chí Minh đã chọn chữ Hán và thể thơ Đường luật bảy chữ – bốn và tám câu, sau hai mươi ba năm viết bằng chữ Pháp và chữ Việt. Vì sao có một chọn lựa như thế? Câu trả lời nên chăng là, việc làm thơ, việc bộc lộ các ý tưởng và cảm xúc của mình, đối với Bác, chỉ chữ Hán mới là phương thức chuyên chở và thể hiện thích hợp nhất. Bởi nguồn gốc xuất thân, môi trường đào luyện nhân cách và học vấn của Bác là nằm trong truyền thống Nho học có lịch sử hàng ngàn năm cho kẻ sỹ ở xứ ta, mà gia đình Bác là thuộc dòng chân Nho. Ở tuổi ngoài năm mươi, dẫu có ba mươi năm xa xứ, nói và viết bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài, khi trở về với riêng mình, thì chữ Hán vẫn là phương tiện cô đọng và hàm súc nhất cho việc phô diễn và tự sự. Vậy thì, sau khai mở là bài Thượng sơn, bây giờ là lúc mạch nguồn ấy được khơi dậy, để thành một dòng chảy cho con người thơ trong trạng thái tự nhiên có dịp soi vào, và nhận diện.

Lý do thứ hai, theo tôi hiểu, với Ngục trung nhật ký, khác với tất cả các tác phẩm viết trong hai mươi ba năm về trước, đó là tập thơ Bác chỉ viết cho riêng mình. Không phải cho công chúng của tiếng Pháp khi ở phương Tây, hoặc của tiếng Việt sau khi về nước, ở đây là một nhu cầu ghi chép thực tại, và các trạng huống của nội tâm, mà người đọc không có ai khác ngoài bản thân mình. Để hiểu bốn câu trong bài Khai quyển:

Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do
(Bản dịch của Nam Trân)

Hiện tượng tìm đến chữ Hán, trong thể Đường luật, theo tôi hiểu là với các lý do như thế.

4. Như vậy, Ngục trung nhật ký đã được ra đời một cách ngẫu nhiên, không có chuẩn bị. Cũng có nghĩa tác giả ở đây là một nhà thơ không chủ định. Không có ý định làm thơ,không ham làm thơ, như bốn câu thơ trong bài Khai quyển, thế nhưng giá trị thơ lại được khẳng định ngay sau khi ra mắt, trên cả hai văn bản chữ Hán và chữ Việt, vào tháng 5.1960; và trên các bản dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài, như Pháp, Nga, Anh, Tây Ban Nha, Ảrập, Thụy Điển, Tiệp Khắc, Hàn Quốc, Nhật Bản…

Kể từ 1960 trở đi, trên số lượng hàng triệu bản in, hàng chục bản dịch; với hàng trăm công trình giới thiệu, hàng nghìn buổi nói chuyện của những học giả và thi nhân hàng đầu trong nước và trên thế giới, Ngục trung nhật ký đã có thể can dự một cách tích cực vào sinh hoạt văn hóa, tinh thần của dân tộc và nhân loại.

Một nhà thơ không chủ định, nhưng những gì được viết ra trong hoàn cảnh bị giam giữ, mất tự do lại mang theo chất thơ và những giá trị thơ đích thực.

5. Viết về mình trong tính chất một nhật ký – thơ ghi chuyện hàng ngày; và viết cho mình, gần như không nhằm vào bất cứ một đối tượng nào khác ngoài mình, Ngục trung nhật ký có tất cả ưu thế để trở thành một chân dung tự họa, trung thực nhất và sâu sắc nhất của Hồ Chí Minh. Một tự họa không cần đến bất cứ sự tô điểm nào, hoặc bất cứ sự che giấu nào; để lần lượt, từ bài này qua bài khác, Hồ Chí Minh hiện lên trước mắt ta trong rất nhiều tư thế: nhà cách mạng mất tự do, với khát vọng lớn nhất là được tự do; một tù nhân với muôn nỗi khổ; một nạn hữu với bao cảm thông với những người thấp bé; một hồn thơ gắn bó với thiên nhiên; một con người không trốn tránh những phút yếu lòng nhưng luôn luôn chiến thắng ngoại cảnh… Như vậy là có nhiều con người trong một con người qua cách tự biểu hiện ở 135 bài thơ. Nhưng nếu thu lại cho thật gọn thì chỉ còn hai con người – đó là một chiến sĩ cách mạng và một thi nhân, với chất thép và chất thơ – như được đúc kết trong bàiKhán “thiên gia thi hữu cảm”.

Thơ xưa thường chọn thiên nhiên đẹp
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Bản dịch của Nam Trân)

“Nay ở trong thơ nên có thép”. Quả chất thép là cần vì sự định hướng cao cả và triệt để cho hoạt động của con người nhằm vào cái tốt, cái thiện. Nhưng đây lại là chất thép trong thơ; và như vậy, chất thơ lại cần cho sự phát triển và hoàn thiện con người, như một sản phẩm của tự nhiên và xã hội nhằm vào cái đẹp. Có cái trước để có cái sau. Rất cần nhấn mạnh tầm quan trọng của cái trước, nhưng cái sau mới là hệ quả, là mục tiêu mà con người cần theo đuổi. Những ai nói đến Hồ Chí Minh như là người theo đuổi đến cùng mục tiêu cách mạng, nếu có dịp dừng lại, đi sâu vào phẩm chất nghệ sĩ này sẽ thấy đó là con người luôn tạo được thế hài hòa, luôn tìm được sự bù đắp và thư giãn cho mình trong những hoàn cảnh gieo neo, khốc liệt. Và đó chính là biểu hiện, là bản lĩnh của sự kết hợp giữa chiến sĩ và nghệ sĩ.

Trở lại Nhật ký trong tù với chất thơ của tác phẩm và phẩm chất thi sĩ ở tác giả. Xưa nay có văn là có người (cố nhiên phải là kiểu văn chương chân chính). Nhưng có nhiều loại văn. Và trong văn, con người hiện ra rất khác nhau. Có văn khẩu khí. Có văn tự trào, tự biếm. Có văn phô trương. Có văn tâm sự. Có văn hướng về người. Có văn thu về mình… Còn Hồ Chí Minh, dường như Người không có ý định làm bất cứ loại văn gì, trong các dạng kể trên. Nhưng phải chăng với sự “vô tâm” đó mà văn chương đích thực đã đến, và trong khí hậu đó mà con người thi nhân đã xuất hiện. Con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng, trên hành trình xuyên qua cái Đẹp mà hướng tới cái Chân, cái Thiện.

Con người đó, cho đến hôm nay, trong sự soát xét lại các giá trị của thời gian, vẫn nguyên vẹn trọn vẹn như trong câu thơ của Tố Hữu:

Bảy mươi chín tuổi xuân trong sáng
Vào cuộc trường sinh nhẹ cánh bay
(Theo chân Bác)

Đâu dễ có một con người trong văn chương, nếu chưa được hoặc chưa phải là văn chương đích thực. Càng đâu dễ có một con người trọn vẹn. Không phải cái trọn vẹn của những siêu nhân, mà là cái trọn vẹn của con người trần thế, để cho ta soi vào mà vững thêm niềm tin trước một cuộc sống luôn luôn thử thách không chỉ niềm tin, mà cả chất người, phẩm giá làm người.

Với Nhật ký trong tù, ta may mắn có được bức chân dung tự họa của con người Hồ Chí Minh. Rồi với cuộc đời Hồ Chí Minh ta càng hiểu thêm giá trị Nhật ký trong tù. Không có độ chênh giữa tác phẩm và tác giả. Hơn, và khác với bất cứ ai khác, có thể có độ chênh ít nhiều, thậm chí có khi khác biệt giữa văn và người, với Hồ Chí Minh, con người thực là bảo đảm bằng vàng cho thơ. Dẫu vậy, thơ chỉ mới nói được một phần nhỏ về người. Con người Hồ Chí Minh lớn hơn bất kỳ sự thể hiện nào trong thơ. Nhưng thơ, để hiểu con người, và để hiểu rộng ra nhiều điều khác nữa; và thơ - trong những lay động sâu xa về tình cảm, và khát vọng hướng tới cái Đẹp, cái Cao thượng… như trong Nhật ký trong tù lại là một sản phẩm quý giá, không gì thay thế được, càng không gì so sánh được./.
Yêu nước ST.