Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2022

Luận điệu sai trái về chủ trương thành lập Ban chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh

Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã tán thành Tờ trình của Bộ Chính trị về chủ trương thành lập ban chỉ đạo (BCĐ) cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN,TC). Lợi dụng sự kiện trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Nhận diện luận điệu sai trái Trên nhiều trang mạng xã hội của các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ, các hãng truyền thông hải ngoại chống phá Việt Nam như RFA, VOA, RFI… phát tán nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), trong đó tập trung đả phá Đề án thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN,TC. Các thế lực thù địch quy kết công tác PCTN “chỉ là mị dân”, ngụy biện “tham nhũng là sản phẩm của chế độ, thể chế chính trị ở Việt Nam”, quy kết “tham nhũng do chế độ độc đảng cầm quyền”! Các thế lực thù địch, phản động cho rằng, chủ trương thành lập BCĐ PCTN,TC cấp tỉnh là “không cần thiết, chỉ tốn tiền của dân”, cho rằng việc làm này là “giả tạo”, vẽ ra câu chuyện “ta đánh ta”, “cộng sản thì ai cũng tham nhũng”… Mục đích các bài viết nhằm quy kết tham nhũng là “bản chất của chế độ”, từ đó kêu gọi muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải đa nguyên, đa đảng, phải “xã hội dân sự”… Đây thực chất là trò chống phá kiểu “bình mới rượu cũ” của số đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Số này cố gắng vẽ ra bức tranh tối màu về công tác PCTN của Việt Nam, phớt lờ thực tế hiệu quả công tác PCTN, phủ nhận mọi cố gắng, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong việc đẩy lùi vấn nạn tham nhũng; tìm cách gieo rắc tâm lý bất an, gây ra sự hoài nghi về các chủ trương, quyết sách của Đảng về PCTN, TC, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, lấy cớ kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo ra sự đối lập, bất ổn từ bên trong. Tham nhũng là vấn nạn của nhiều quốc gia Thực chất, tham nhũng là hiện tượng xã hội đã xuất hiện sớm trong lịch sử loài người, nó tồn tại trong mọi chế độ chính trị khác nhau, gắn liền với nhà nước và quyền lực. Bản chất của tham nhũng gắn liền với quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế và cho dù chế độ chính trị nào, chủ nghĩa xã hội hay tư bản chủ nghĩa, chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì vẫn có nạn tham nhũng. Một số ví dụ điển hình về tham nhũng ở các nước có chế độ đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị như: Vụ Watergate - vụ bê bối về quyền lực chính trị để trục lợi từ 1972 - 1974 của Tổng thống Mỹ Richard Nixơn. Trước nguy cơ bị Quốc hội phế truất ngày 9/8/1974, Tổng thống Mỹ Richard Nixơn buộc phải từ chức, đây là Tổng thống đầu tiên và duy nhất trong lịch sử nước Mỹ phải từ chức khi đang là Tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. Tổng thống Philippines Joseph Estrad (1998 - 2001) phạm tội tham nhũng phải ngồi tù chung thân; Thủ tướng Ukraine (1996 - 1997) Pavlo Lazarenko đã biển thủ 200 triệu USD từ ngân sách nhà nước (tương đương nửa triệu USD/ngày trong thời gian làm Tổng thống) phải bỏ trốn sang Hoa Kỳ; Tổng thống Hàn Quốc Park Geun - hye bị Quốc hội Hàn Quốc phế truất vào tháng 12/2016 do bị buộc tội tham nhũng, dính líu đến vụ bê bối chính trị dùng quan hệ cá nhân để tăng ảnh hưởng và trục lợi tài chính… Tham nhũng là một vấn đề nan giải, một căn bệnh nhức nhối với những biến dạng rất phức tạp, đang hoành hành trên nhiều lĩnh vực, gây ra những hậu quả tiêu cực ở các quốc gia với chế độ xã hội khác nhau. Vì vậy, đấu tranh bài trừ tham nhũng được các nước rất quan tâm, thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp, trên nhiều phương diện như pháp luật, hành chính, chính trị, kinh tế, đạo đức, văn hóa, lối sống… Trung Quốc ban hành các văn bản quy định về giáo dục đạo đức và xây dựng tác phong liêm chính trong cán bộ Đảng và Nhà nước. Trong khi đó, Luật Chống tham nhũng (năm 1989) của Singapore cho phép tòa án tịch thu tài sản của công chức nếu họ không giải thích được nguồn gốc tài sản đó. Thái Lan yêu cầu các cơ quan chức năng phải xem xét tất cả đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký tên hay không ký tên. Một số nước như Colombia, Brazil… còn thiết lập các đường dây nóng để thu nhận tin tức về tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng. Không thể phủ nhận kết quả PCTN, TC ở Việt Nam Ở nước ta, cuộc chiến PCTN,TC đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu với quan điểm “không có vùng cấm” và đã đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt. Thành quả đó để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao và quốc tế ghi nhận. Theo số liệu của BCĐ Trung ương về PCTN tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, từ năm 2013 đến 2020, cả nước đã có hơn 1.900 vụ án tham nhũng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; 131.000 đảng viên, trong đó có hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, 30 sĩ quan cấp tướng thuộc lực lượng vũ trang) đã bị xử lý kỷ luật. Chỉ tính riêng năm 2021, cơ quan có thẩm quyền đã kỷ luật 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái (tăng 132 so với năm 2020), trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đây là những con số biết nói, khẳng định công tác đấu tranh PCTN “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Chính những thành quả trong công tác PCTN đã góp phần loại bỏ những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, làm trong sạch đội ngũ, nhằm xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Việc xử lý nghiêm minh có ý nghĩa cảnh cáo, răn đe phòng ngừa chung, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ; khẳng định vị thế, uy tín của Đảng, đất nước ta trên trường quốc tế. Điều này cũng bác bỏ những luận điệu xảo trá, suy diễn của các lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN,TC là cần thiết, quan trọng Năm 2006, BCĐ Trung ương về PCTN được thành lập và được xác định là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, có chức năng chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác PCTN trong phạm vi cả nước. Năm 2007, các BCĐ PCTN cấp tỉnh được thành lập theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCTN (năm 2007) và Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12, ngày 27/9/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, hoạt động của BCĐ Trung ương về PCTN trong giai đoạn này còn một số hạn chế, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Do vậy, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (năm 2012), đã quyết định tổ chức lại BCĐ về PCTN, chuyển đổi mô hình BCĐ trực thuộc Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu sang mô hình BCĐ trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư đứng đầu. Hội nghị cũng quyết định không tổ chức BCĐ tỉnh, thành phố về PCTN. Tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp lãnh đạo công tác PCTN và có trách nhiệm phối hợp với BCĐ Trung ương về PCTN khi có vụ việc tham nhũng nghiêm trọng xảy ra ở địa phương. Mục đích của sự thay đổi này nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN, tăng cường tính độc lập tương đối của BCĐ với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong công tác đấu tranh PCTN. Mô hình BCĐ Trung ương trực tiếp do Tổng Bí thư làm Trưởng ban đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong công tác PCTN. Điều đó thể hiện rất rõ ở nhiệm kỳ khóa XII, XIII khi số lượng vụ, việc tham nhũng, kinh tế được phát hiện, xử lý tăng lên rất nhiều. Thực tiễn hoạt động của BCĐ Trung ương là bài học kinh nghiệm quý giá để công tác PCTN,TC ở các cấp, ngành, địa phương học hỏi, làm theo. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác trong chỉ đạo PCTN được cọ xát qua thực tiễn. Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo đi vào nền nếp, bài bản, khoa học. Các thành viên, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Sau khi BCĐ Trung ương về PCTN hoạt động thể hiện được tính hiệu quả, ưu việt thì có đủ lộ trình, thời gian và sự chuẩn bị nguồn lực phù hợp để thành lập BCĐ cấp tỉnh đủ mạnh, có thực quyền, trở thành “cánh tay nối dài” của BCĐ Trung ương, phục vụ đắc lực cho hoạt động PCTN, tiêu cực ở địa phương. Tham nhũng hiện vẫn diễn biến rất phức tạp, được xem là một trong các nguy cơ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Mặc dù kết quả PCTN,TC thời gian qua đạt được là rất quan trọng song công tác PCTN,TC ở nhiều ngành, địa phương chưa có sự chuyển biến rõ nét; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn có hiệu quả; vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” trong đấu tranh PCTN,TC. Một số cấp ủy, tổ chức đảng quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN,TC tại địa phương đã bộc lộ bất cập, nhất là trong chỉ đạo phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, do đó nhiều tỉnh ủy, thành ủy đã đề xuất, kiến nghị thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN,TC. Những tồn tại, hạn chế này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ tổ chức bộ máy các cơ quan chức năng PCTN,TC chưa thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; cơ chế chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan chức năng PCTN,TC ở địa phương chưa được tập trung, thống nhất. Như vậy, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là chủ trương quan trọng, cần thiết, thể hiện rõ tinh thần triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt!”. Đây là những cơ sở để phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch xung quanh vấn đề này

KHÔNG CỔ XÚY CHO QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỰC ĐOAN

Một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” nêu rõ là “cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan”. Cực đoan là cụm từ nhằm chỉ những đối tượng thường xem những việc mà mình làm đều đúng và dùng để nói lên sự thái quá của một người như: Không chịu chấp nhận sự thật, luôn cho rằng mình đang làm mọi thứ đúng hoàn toàn… Nên “dân chủ cực đoan” có thể hiểu là dân chủ quá trớn, dân chủ vượt ra khỏi quy định pháp luật, vi phạm những giá trị có tính phổ biến của cộng đồng. Cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan là cổ vũ cho hành vi sai trái. Những bất ổn xã hội, thậm chí bạo loạn, lật đổ khiến nhân dân lầm than xảy ra ở một số nước trong vài thập kỷ gần đây thông qua cái gọi là “Cách mạng màu” đều liên quan đến những “chiêu bài dân chủ” được nhen nhóm từ những hành vi cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan trong cộng đồng. Tại Việt Nam, những quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan vẫn thường xuyên được những kẻ cơ hội chính trị, phản động tìm cách gieo rắc, tuyên truyền. Dễ thấy nhất hiện nay là trên mạng xã hội với những thông tin, hình ảnh chống phá, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, bôi xóa, cắt ghép thành vấn đề mất dân chủ, kêu gọi đấu tranh, tụ tập biểu tình... Chúng lập ra nhiều trang tin tức giả mạo, trà trộn hoặc lập ra các nhóm cộng đồng mạng kiểu “lập lờ đánh lận con đen” để lan truyền thông tin xấu, độc nhằm vu khống, bịa đặt về thực trạng xã hội, đánh lừa, kích động sự bất mãn của người dân. Mới đây, xuất hiện hiện tượng người có tiếng tổ chức phát trực tiếp (livestream) trên mạng xã hội để phán xét không có căn cứ xác thực về người khác, vi phạm pháp luật, kích động, gây mất trật tự xã hội. Họ tự cho rằng như thế mới là dân chủ... Sự việc bà Nguyễn Phương Hằng (Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, tỉnh Bình Dương) vừa bị Công an thành phố Hồ Chí Minh khởi tố, bắt giam về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” có bóng dáng của câu chuyện này. Cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan là vấn đề mang tính thời sự, cần quan tâm và ngăn chặn kịp thời, bởi không chỉ có tác động trong Đảng mà còn liên quan đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. 2. Trước thực tế khách quan và hậu quả có thể xảy ra, hơn lúc nào hết, cán bộ, đảng viên, nhân dân ta cần nhận thức rõ ràng và đầy đủ về dân chủ để có thái độ, hành động đúng. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng ta luôn khẳng định, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự thuộc về nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn những năm qua đã cho thấy hiệu quả và sự tiến bộ trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Đây là nội dung đã được nêu rõ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Quyền làm chủ của người dân không ngừng được mở rộng. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” vừa là mục tiêu, vừa là động lực khơi dậy sức mạnh nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước. Từ việc xuất hiện những hành vi cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan, cấp ủy, tổ chức Đảng cần tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một trong những giải pháp hàng đầu là phải tiếp tục đổi mới hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên; trang bị cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân những kỹ năng cần thiết để dễ dàng nhận biết, ứng phó và đồng lòng đẩy lùi thông tin xấu độc. Ngoài ra, các cơ quan có thẩm quyền cần hoàn thiện quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở để thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” để xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, phát tán tài liệu sai trái... Các cấp ủy, tổ chức Đảng cần phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Cơ quan chức năng cần kiểm tra, duy trì và thực hiện tốt Luật An ninh mạng, Luật Tiếp cận thông tin…, có biện pháp xử lý những mạng xã hội cố tình dung túng, chứa chấp các nội dung bịa đặt, phản động. Đối với cán bộ, đảng viên, điều quan trọng là cần nhận thức sâu sắc trách nhiệm nêu gương để luôn có ý thức đối với mỗi lời nói, việc làm. Đây chính là “vắc xin” để mỗi người tự đề kháng, tự miễn dịch, không bị đánh lừa dẫn đến vô tình cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan, lệch lạc, sai trái.

FREEDOM HOUSE LẠI XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

Ngày 2/6 vừa qua, tổ chức Freedom House tung ra cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong”. Nội dung của báo cáo có nhiều thông tin bịa đặt, sai trái về tình hình thực tế tại Việt Nam. Freedom House không còn là cái tên xa lạ. Theo tuyên bố được đưa ra, mục đích hoạt động của Freedom House là ủng hộ sự tiến bộ và thúc đẩy, mở rộng tự do, dân chủ trên toàn thế giới. Hằng năm, tổ chức này xây dựng và công bố các báo cáo như: Báo cáo tự do trên thế giới, báo cáo tự do trên mạng, báo cáo tự do và truyền thông… Tuy nhiên, nhiều năm qua, những thông tin mà tổ chức này nêu ra liên quan đến nhiều nước, trong đó có Việt Nam lại sai lệch thực tế, mang động cơ tiêu cực về chính trị. Vẫn như thường lệ, nội dung của cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” được Freedom House tung ra hôm 2/6 tiếp tục là những thông tin sai sự thật, vu cáo về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Tổ chức này vu cáo rằng, Việt Nam là một trong số các quốc gia “thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”; “quấy rối, cấm xuất cảnh hoặc bị tịch thu hộ chiếu đối với các “nhà dân chủ” chỉ vì họ báo cáo vi phạm nhân quyền của Chính phủ lên các cơ chế nhân quyền Liên hiệp quốc”?!... Ngay sau đó, một số trang báo nước ngoài có tư tưởng thù địch hoặc cái nhìn thiếu thiện cảm với Việt Nam cùng các kênh truyền thông do các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đã nhanh chóng khai thác, lan truyền những nội dung sai lệch trên để làm nhiễu loạn thông tin, bóp méo sự thật, tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thực ra, đây là chiêu trò cũ lặp lại của Freedom House. Tổ chức này liên tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có quyền tự do, dân chủ. Việc đánh giá, xếp hạng của Freedom House không căn cứ vào những tài liệu chính thống, không dựa vào tình hình đời sống thực tế của người dân ở Việt Nam. Thay vào đó, tổ chức này bắt tay với các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị người Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng các cá nhân, tổ chức nước ngoài có định kiến với Việt Nam để tiến hành phỏng vấn, thu thập thông tin, từ đó vu khống Việt Nam xâm phạm các quyền tự do, dân chủ. Hoạt động của Freedom House thể hiện rõ sự định kiến, thù địch đối với Việt Nam. Tổ chức này luôn luôn đánh đồng, quy chụp rằng trong chế độ chính trị một đảng lãnh đạo là không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền. Không riêng Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng liên tục bị Freedom House cho vào “tầm ngắm”. Mục đích của tổ chức này là thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền để tấn công, can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Trong một bài trả lời phỏng vấn VTV, ông Yerlan Baizhanov - Đại sứ Kazakhstan tại Việt Nam đã đánh giá: “Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như Freedom House mà Nhà nước của chúng ta hoạt động để người dân có cuộc sống tốt lên trên thực tế. Đó mới là điều quan trọng nhất”. Phải khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của người dân. Các chính sách phát triển con người được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, từ xoá đói giảm nghèo đến phát triển giáo dục, y tế, lao động, việc làm. Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để tất cả mọi người trong xã hội tiếp tục thừa hưởng, thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, có chất lượng, thực chất và hiệu quả hơn. Không chỉ riêng Việt Nam mà với tất cả các nước trên thế giới, nếu muốn đánh giá về sự tự do, dân chủ, nhân quyền thì chắc chắn phải dựa vào ý kiến của đại đa số người dân của đất nước đó. Việc một số cá nhân, tổ chức như Freedom House không ở Việt Nam, không nhìn nhận bằng các khảo sát khách quan nhưng lại liên tục đưa ra đánh giá, phán xét về Việt Nam với gam màu xám cho thấy rõ chiêu trò quy chụp, và vì thế hiển nhiên không đủ độ tin cậy. Hiện nay Việt Nam là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thế giới với khoảng 70 triệu người dùng (chiếm gần 70% dân số). Vì vậy, nếu không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền thì chính người dân Việt Nam sẽ lên tiếng, đấu tranh bảo vệ các quyền của bản thân. Người dân Việt Nam không cần sự “ban phát tự do, nhân quyền” của Freedom House hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Với những cáo buộc của Freedom House khi cho rằng Việt Nam không có tự do, chính quyền đang tiến hành “tấn công mạng”, “đàn áp xuyên biên giới”, rõ ràng đây là những luận điệu phi lý, xuyên tạc một cách trắng trợn. Những dẫn chứng được tổ chức này đưa ra là hết sức kệch cỡm. Trong danh sách “nạn nhân” của “đàn áp xuyên biên giới” được Freedom House lấy làm ví dụ như A Ga và tổ chức VOICE, đây đều là thành phần chống phá đất nước, có nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam. Về A Ga, đây là đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai truy nã về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”. Tháng 9/2020, A Ga chính thức thành lập cái gọi là “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” - một tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Thông tin về tổ chức này đã được Công an tỉnh Đắk Lắk công bố trên mạng Internet. Đối với cái gọi là “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại” - VOICE, đây thực chất là tổ chức phản động ngoại vi của Việt Tân. Các cơ quan báo chí đã nhiều lần vạch trần bản chất của tổ chức này. Trong đó có thể kể đến như: bài báo “Về Trịnh Hội và tổ chức VOICE” đăng ngày 27/7/2015 trên Báo Nhân dân; loạt bài “Bản chất của các tổ chức “xã hội dân sự” - tổ chức ngoại vi của Việt Tân” đăng trên Báo CAND tháng 1/2022… Rõ ràng, Freedom House và các đối tượng chống đối đã diễn một “màn kịch dân chủ” hết sức vụng về nhằm mục đích tấn công chống phá Việt Nam. Các hoạt động của Freedom House ngày càng khẳng định rõ bộ mặt gian trá, lợi dụng danh nghĩa thúc đẩy tự do, dân chủ để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là hoạt động lợi dụng dân chủ, vi phạm quy định của pháp luật quốc tế, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân Việt Nam.

ĐỪNG VÔ TÌNH TIẾP TAY CHO KẺ XẤU

Vừa thấy tiếng xe máy của tôi về đến cổng, ông chú hàng xóm đã chạy ra chặn lại nhờ vả: “Cháu chơi thân với con trai chú, nhờ cháu khuyên em gỡ ngay mấy cái bài viết xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước trên Facebook xuống cho chú với”. Nghe vậy, tôi lo lắng hỏi lại: “Cháu tưởng em ấy đang đi công tác ở trong Nam? Với lại, con trai chú là người điềm đạm, có nhận thức tốt, sao tự nhiên lại viết bài xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước được?”. Thấy tôi hỏi vậy, chú liền lôi điện thoại ra, vừa lập cập bấm vào trang Facebook, vừa nói: “Nó viết bài yêu cầu Nhà nước ta phải lên tiếng về chiến sự ở Ukraine. Nó còn chê đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước, rồi lên tiếng phê phán này nọ. Như vậy không phải xuyên tạc, ngấm ngầm chống phá thì là gì hả cháu? Tuổi trẻ chúng nó đã làm sao hiểu được để có nền hòa bình, độc lập, sự ổn định cho phát triển đất nước suốt mấy chục năm qua một phần là nhờ đường lối đối ngoại khoa học, sáng tạo "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Đảng, Nhà nước ta. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Chúng ta kiên quyết không liên minh với nước này để chống nước kia. Vậy mà một số người trẻ không nhận thức đầy đủ, chỉ vì chút cảm tính bồng bột yêu ghét nhất thời mà lại thể hiện phản ứng một cách thiếu kiềm chế, thiếu hiểu biết, thế có nguy hiểm không!”. Trước sự nóng giận, lo lắng của một cựu chiến binh, tôi động viên chú cứ bình tĩnh, đưa bài viết của cậu em cho tôi xem để hiểu rõ sự việc. Quả thực, trên Facebook của con trai chú ấy chia sẻ một số bài viết từ nhiều nguồn khác nhau bình luận về chiến sự ở Ukraine, nhưng không phải do cậu ta trực tiếp viết ra. Rồi tôi giải thích: “Em ấy mới chỉ chia sẻ lại bài viết từ một số phần tử xấu bị kích động, chống phá thôi. Có thể do em mới đọc lướt qua, thấy thích nên vội vàng chia sẻ ngay chứ chưa chắc đã có cùng suy nghĩ, tư tưởng như người viết những bài này. Chú cứ bình tĩnh tìm hiểu để có cách xử lý phù hợp. Giờ cháu sẽ gọi điện trao đổi trực tiếp để xem em ấy nói gì, chú nhé”. Dứt lời, tôi rút điện thoại gọi cho cậu em hàng xóm, bấm loa ngoài để chú cùng nghe. Ban đầu, cậu khẳng định việc mình chia sẻ các bài viết kia là việc... bình thường. Sau khi được tôi phân tích hậu quả của hành động chia sẻ ấy, cậu đã hiểu ra sự nguy hại và đồng ý gỡ bỏ. Trước khi tắt máy, cậu em cười nói qua điện thoại: “Chúng em còn trẻ, nhiều chuyện tầm vĩ mô chưa thể nhận thức hết được nên đôi khi nóng vội, thiếu thận trọng khi tham gia mạng xã hội. Từ nay em sẽ cẩn thận hơn kẻo vô tình tiếp tay cho kẻ xấu mà không biết”. Nghe con trai mình nói vậy, chú hàng xóm phấn khởi: “Thế là nó vẫn phân biệt được đúng-sai cháu nhỉ”.

CON TIN VÀO ĐIỀU MÌNH ĐÃ CHỌN!

Là học sinh giỏi tốp đầu của lớp, chỉ còn hơn một tháng nữa, Minh sẽ đặt bút vào hồ sơ đăng ký tuyển sinh đại học. Từ nhỏ đã yêu màu áo bộ đội và luôn mến phục các chú bộ đội, Minh quyết tâm dự tuyển vào một trường quân sự để được phục vụ quân đội lâu dài. Thế nhưng trong bữa cơm chiều, Minh chia sẻ dự định với gia đình thì bị mẹ phản đối. Đưa ra những hình ảnh, clip đã được cắt ghép, dàn dựng trên mạng xã hội, mẹ bảo Minh rằng, vào môi trường quân đội sẽ không khác gì đi làm thuê cả đời; không có thời gian, tiền bạc cho gia đình, vợ con. Thậm chí, trên một diễn đàn Facebook có nhiều ý kiến khuyên không nên theo học các trường quân đội vì các trường này chỉ đào tạo về chiến tranh, đánh nhau, khiến người học trở nên khô cứng; ai cho con học theo nghề bộ đội thì coi như mất con... Từ những dẫn chứng đó, mẹ của Minh yêu cầu con trai phải học các trường dân sự để còn đi du học, nâng cao trình độ, có cơ hội tiến thân và không phải thường xuyên xa nhà như bộ đội. Nghe những lời con dâu nói, ông nội Minh, là một cựu chiến binh đã từng cùng đồng đội vào sinh ra tử trong chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc, khá bất ngờ và bất bình. Khi biết cháu nội có ý định sẽ đăng ký vào trường quân đội, ông rất vui. Thế nhưng nhận thức của mẹ cháu Minh về quân ngũ và các trường quân đội đang có phần lệch lạc khiến ông thất vọng. Hơn nữa, ông nhận thấy, con dâu đang cả tin vào những thông tin phản động, sai trái ở trên mạng xã hội mà kẻ xấu bịa đặt, xuyên tạc, cố tình dựng lên với dụng ý chống phá quân đội và đất nước. Ông cố giữ bình tĩnh, ôn tồn nói: "Con à, bố cũng từng là một người lính, cả cuộc đời cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Vậy mà bố vẫn cùng mẹ con nuôi chồng con và các em trưởng thành. Hơn nữa, những điều mà con nói là nhận thức chưa đúng về quân đội và các nhà trường quân đội. Khi con của con vào học ở đây là được học ở một trong những môi trường đào tạo hàng đầu của đất nước, không chỉ dạy kiến thức, dạy nghề mà còn đặc biệt quan tâm dạy dỗ, rèn luyện học viên làm người vừa hồng, vừa chuyên. Ở các trường học quân đội, nếu học tập tốt, cháu Minh vẫn có cơ hội được cử đi nước ngoài du học. Mặt khác, dù biết rằng bộ đội vẫn có nhiều thiệt thòi, vất vả nhưng Nhà nước cũng đã và đang có những đãi ngộ cho bộ đội và thân nhân... Thứ cần nhất là sức khỏe, đạo đức, tư cách thì các nhà trường quân đội đều chú trọng trong quá trình giáo dục, đào tạo. Bố tự hào với lựa chọn của cháu Minh. Bố nghĩ, anh chị cũng nên ủng hộ nó". Thấy tình hình như vậy, Minh nói: “Thưa ông, thưa bố mẹ! Trước khi quyết định sẽ dự tuyển vào nhà trường quân đội, con đã tìm hiểu kỹ. Môi trường này thực sự phù hợp và rất tốt để con học tập, rèn luyện, trưởng thành. Hơn nữa, đây là mong muốn của con. Con vững tin vào lựa chọn của mình. Mong ông và bố mẹ ủng hộ”. Trước sự cương trực, quyết tâm của con và những lời gan ruột của bố chồng, mẹ của Minh nhận ra mình đã suy nghĩ chưa thấu đáo, thậm chí còn sai lầm khi chỉ tin vào những thông tin cố tình nói xấu quân đội nhằm thực hiện mưu đồ đen tối. Mẹ của Minh đã nói lời xin lỗi bố chồng và đồng ý với quyết định của con trai.

BIỂU HIỆN THỨ NĂM VÀ THỨ SÁU CỦA CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN CẦN ĐẤU TRANH

         Thứ năm: Ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, "thấy đúng không bảo vệ", "thấy sai không đấu tranh"; tinh thần tự phê bình và phê bình thấp, lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ và mụcđích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức.

        Thứ sáu: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

VTT (St)

BIỂU HIỆN THỨ BA VÀ THỨ TƯ CỦA CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN CẦN ĐẤU TRANH

     - Ba là: Thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kenschonj chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm,tận lực với công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp các mạng.

    - Bốn là: Thổi phồng thành tích, đánh bóng tên, tuổi; sợ trách nhiệm; tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm.

VTT (St)

ĐÁNH CHO CHÚNG BIẾT NHƯ THẾ NÀO LÀ KHÍ PHÁCH VIỆT NAM

 

“Năm 1978, bầu trời sáng lóa, chớp giật bởi hàng loạt tiếng nổ rền vang, mặt đất rung chuyển dữ dội bởi hàng vạn quả cối 82, 60 & pháo 105, 130mm cùng hàng ngàn khẩu AK, B40, B41, M79, thủ pháo, lựu đạn… Đồn biên phòng Hoa Lư (đồn 717) nằm trên Quốc Lộ 13 giáp ranh Bình Phước – Krochie bị tấn công.
Gần 2.000 tên lính Polpot thiện chiến dồn dập đột kích vào đồn biên phòng bé nhỏ heo hút chỉ có 90 tay súng trấn giữ. Trận đánh dai dẳng từ 4 giờ sáng đến tối mịt, cách chục cây số mà vẫn nghe văng vẳng tiếng hô xung phong của bọn Polpot, tiếng súng chống cự yếu ớt dần, thưa dần cho tới khuya hôm sau.
Trên đoạn biên giới Lộc Ninh khi đó có các trung đoàn 88, 205, 174, Q16.. cùng 3 đơn vị pháo binh & 1 lữ đoàn tăng thiết giáp. Hơn 20.000 người lính không ăn không ngủ suốt 2 ngày đó. Tất cả nai nịt gọn gàng, súng ống lăm lăm trong tay, mắt quắc lên rực lửa. Tất cả các nòng pháo của pháo binh, xe tăng đều lấy sẵn tọa độ bắn, các pháo thủ ôm đạn đứng chờ mệnh lệnh. Tất cả chỉ chờ đợi mệnh lệnh xuất kích, các máy bộ đàm đều mở kênh liên lạc với đồn 717, từ trong đó vang lên tiếng gọi thống thiết của vị đồn trưởng:
“Các đồng chí hãy tập trung hỏa lực pháo bắn vào mục tiêu là chỉ huy sở của đồn. Chúng tôi sắp hết đạn, địch đang tràn vào sân đồn, anh em đang đánh giáp lá cà, tình thế nguy ngập rồi, làm ơn bắn đi!…”
– Mười phút sau, cũng tiếng nói ấy:
“Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng, chúng tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Hãy trả thù cho chúng tôi. Vĩnh biệt các đồng chí!”.
Tất cả chúng tôi mắt nhòe lệ, những người lính già nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra, mắt trừng trừng như muốn nổ con ngươi. Nhưng là người lính, chúng tôi phải phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Nguyên nhân vì sao mà Tư lệnh Quân khu không cho động binh có lẽ chỉ có những người có hiểu biết và có trách nhiệm trước Tổ Quốc cao hơn chúng tôi mới hiểu và tin rằng họ cũng đau lòng như chúng tôi. Từ hôm đó những người lính trẻ không còn bông đùa nghịch ngợm nữa, tất cả như già đi dăm tuổi. Chúng tôi ngồi lặng lẽ lau súng, chuốt lại lưỡi lê, thủ thỉ trò chuyện với những viên đạn. Không ai bảo ai, trên vành mũ cối xuất hiện những khẩu hiệu: “Ôi Tổ Quốc mà ta yêu quý nhất, Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi, Việt Nam ơi!” Hoặc:“Hãy yên nghỉ, hỡi những người anh hùng. Chúng tôi sẽ trả thù!”…
Ngày tấn công được mòn mỏi trông chờ rồi cũng tới. Chúng tôi ào ạt xông lên tấn công vỗ mặt tiền duyên, thọc sâu – dùi xuyên hông, xẻ sườn phòng tuyến địch, vu hồi chặn đường chi viện/tháo chạy của chúng. Thê đội 1 tổn thất nặng thì thê đội 2 tràn lên như thác lũ, chúng tôi như dòng thép nung chảy tưới vào kẻ thù.
Tiếng chính trị viên sang sảng: “Đánh cho chúng biết thế nào là khí phách Việt Nam!”.
Chưa đầy 3 giờ, 2.000 tên đồ tể khát máu Polpot bị đẩy xuống địa ngục. Trận đánh đó không hề có tù binh! Gần 1/3 trung đoàn tôi hy sinh trong trận đánh mở màn, có nghĩa hơn 800 chàng trai ưu tú của nước Việt nằm xuống ở tuổi đôi mươi…”
ST
(Trích “Giấc mơ cao cả” – CCB Lê Văn Lự)

NỮ DU KÍCH QUẢ CẢM VÀ CÓ TẤM LÒNG NHÂN ÁI… NHẤT LỊCH SỬ!


Cô gái nhỏ nhắn, xinh xắn trong ảnh chính là nữ du kích Võ Thị Mô!
Sinh ra và lớn lên ở Củ Chi – mảnh đất còn được gọi bằng một cái tên khác là “Tọa độ hủy diệt”. Ngay từ khi còn ở tuổi thiếu niên, Bảy Mô (Võ Thị Mô) đã ý thức về cuộc sống chiến đấu gian khổ của người thân và hàng xóm xung quanh, mặc dù cha muốn chuyển bà đến nơi khác để tiếp tục học hành, nhưng bà vẫn kiên quyết ở lại đào địa đạo cùng các anh, các chú, và tích cực tham gia vào các phong trào thanh niên của huyện như đi tải đạn, đào hầm hào, giao liên, văn nghệ. Đến năm 15 tuổi, Bảy Mô tham gia dân công hỏa tuyến, vận chuyển vũ khí cho bộ đội, tích cực tham gia ở mọi lĩnh vực. Bộ đội đánh ở đâu, bà theo đó. Ai bị thương, bà xốc lên vai chuyển về tuyến sau. Đến nỗi, có người đã nói: “Có đồng chí Mô là tôi an tâm, không sợ bị bỏ lại trận địa”.
Tháng 12/1966, bà tham gia đội nữ du kích Củ Chi, được bầu làm trung đội trưởng trực tiếp chỉ huy đội nữ du kích Củ Chi khi mới 19 tuổi. Bản thân bà luôn hăng hái, xông pha, chủ động thực hiện nhiều trận đánh làm tiêu hao sinh lực địch. Cũng năm này, bà đã được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” cấp ưu tú. Bà kể lại rằng: dũng sĩ diệt Mỹ có các cấp phụ thuộc vào tỷ lệ giết được lính Mỹ, dũng sĩ diệt Mỹ cấp 3 là diệt được 3 lính Mỹ, cấp 2 là 6 lính Mỹ, cấp 1 là diệt được 9 lính Mỹ, còn cấp ưu tú là 10 lính Mỹ trở lên.
Trong quá trình chỉ huy đội nữ du kích, đơn vị bà đã kết hợp với nhiều đơn vị khác tổ chức nhiều trận đánh. Năm 1967, đội của bà kết hợp với tiểu đoàn C15 diệt được xe tăng và nhiều bộ binh. Tiếp đó bà chỉ huy đơn vị nữ của mình đánh trận ở Rừng Tre (Bến Cát Bình Dương). Tại đây do sự chỉ điểm của bọn do thám, địch đã tấn công tại rừng tre 17 đợt trong ngày nhưng nhờ sự dũng cảm của trung đội nữ du kích Củ Chi đã đẩy lùi cuộc tấn công của địch. Kể từ đây đơn vị của bà còn mang tên “Tiểu đoàn lửa”.
Người con gái vóc người nhỏ nhắn với lòng quả cảm phi thường, không chỉ yêu thương đồng đội, mà còn có tấm lòng nhân ái với cả kẻ thù. Trong một lần tổ chức phục kích, đội của bà gặp 4 lính Mỹ dừng chân đúng nơi bà đã cài mìn. Một tên móc lá thư ra đọc rồi khóc. Thấy vậy, tên khác cũng lấy ảnh ra xem và rơi nước mắt, rồi cả bốn cùng ôm nhau khóc. Dù đồng đội đi sau hối thúc: “Bắn đi”nhưng bà vẫn kiên quyết:“Không thấy chúng đang khóc à? Tao tha”.
Sau này, 1 trong 4 lính Mỹ ấy lặn lội sang Việt Nam để tìm bà Mô và hỏi: “Bà thích món quà gì tôi sẵn sàng tặng”. Bà trả lời:“Tôi chỉ mong đừng ai xâm chiếm đất nước tôi. Nếu đất nước tôi bị xâm chiếm lần nữa, tôi quyết đánh”.
Đến tháng 12 năm 1970, bà được cử đi học trường sĩ quan lục quân, học xong bà ở lại làm giáo viên của trường cho đến ngày đất nước giải phóng. Sau giải phóng, bà trở về làm công tác thuyết minh tại di tích lịch sử địa đạo Củ Chi (đình Bến Dược) đến khi về hưu.
St

CÓ CON NGƯỜI NHƯ CHÂN LÝ SINH RA...

 

Ngày 15/10/1964, Mỹ ngụy đã xử bắn Anh. Trước họng súng của kẻ thù, Anh đã gọi tên Bác 3 lần: Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hãy nhớ lấy lời tôi: Đế quốc Mỹ cút khỏi Việt Nam. Trả lời báo chí quốc tế, Anh nói: Tôi chỉ hối hận là chưa giết được tên McNamara BT Quốc phòng Mỹ.
Máu Anh chảy đã thôi thúc thanh niên cả nước lên đường chống Mỹ. Miền Bắc vượt Trường Sơn vào Nam. Miền Nam ra bưng biền, rừng núi tham gia Giải phóng quân. Đô thị miền Nam sục sôi phong trào học sinh, sinh viên, trí thức, nhân sĩ xuống đường đấu tranh đòi Mỹ cút khỏi Việt Nam.
Nhà thơ Tố Hữu đã thốt lên :
"Có những phút làm nên lịch sử.
Có cái chết hóa thành bất tử.
Có những lời hơn vạn bài ca.
Có con người như chân lý sinh ra...".
Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi hy sinh khi mới 24 tuổi, cưới vợ chỉ được vài tháng. Tinh thần kiên trung bất khuất của Anh trước quân thù đã khiến Mỹ ngụy phải khiếp sợ. Anh hy sinh để đất nước được hòa bình độc lập như hôm nay.
ST

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ BẢO VỆ ĐẢNG VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” . Tuy nhiên, các tổ chức phản động lưu vong tiếp tục tăng cường hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng, với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc. Chúng lợi dụng “một bộ phận cán bộ, đảng viên... chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật...” ; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc tạo sự hoài nghi, gây ra tâm trạng bức xúc trong một bộ phận quần chúng nhân dân, từ đó kích động tập trung đông người gây rối, leo thang các hoạt động bạo lực, phá hoại.
Như một yêu cầu khách quan của mọi cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là “Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng...” .
1. Quan điểm của V.I.Lênin về bảo vệ Đảng
Bảo vệ Đảng là yêu cầu tất yếu khách quan của đấu tranh giai cấp.
Kể từ lúc ra đời cho đến nay, học thuyết Mác - Lênin luôn vấp phải sự “ghen ghét, đố kỵ” của các thế lực thù địch và những kẻ chủ nghĩa cơ hội. Chúng điên cuồng phá hoại chủ nghĩa Mác - Lênin; ra sức tác động, làm suy yếu của tổ chức đảng cộng sản từ bên trong. Vì thế, Ph.Ăngghen đã chỉ ra: “chủ nghĩa cơ hội biến chủ nghĩa Mác thành một thứ “chủ nghĩa Mác” bị xuyên tạc méo mó” . Thực chất của các luận điệu này là thù địch của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng sẵn sàng hy sinh lợi ích cơ bản, để đạt lợi ích trước mắt; chủ trương hành động vô nguyên tắc: phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng.
Vào đêm trước của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, trên báo Người vô sản, số 10, ngày 6 tháng 9 năm 1917, V.I.Lênin đã viết bài “Một vụ săng-ta chính trị” nhằm đấu tranh chống lại bọn săng-ta chính trị, mục đích của bọn phản động này là: bịa đặt, dọa dẫm, vu khống Đảng và các lãnh tụ của Đảng, đặc biệt là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng.
Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, bảo vệ Đảng trong những thời khắc vô cùng khó khăn khi mà các lực lượng đối lập, thù địch bôi nhọ Đảng, chia rẽ Đảng với quần chúng nhân dân, giai cấp công nhân với nông dân và trí thức, V.I.Lênin đã viết: “chúng ta tin tưởng ở đảng, chúng ta thấy ở đó trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta” . Trước “phút giao thừa” của cuộc cách mạng, quyết tâm “bảo vệ năng lực công tác của đảng ta, bảo vệ các lãnh tụ của đảng” . V.I.Lênin đã kêu gọi toàn thể đảng viên nâng cao nhận thức, cảnh giác trước các âm mưu chia rẽ nội bộ và hãy đoàn kết, siết chặt đội ngũ, tin tưởng vào tư cách của một đảng chân chính cách mạng và bảo vệ nền tảng chủ nghĩa Mác, bảo vệ các lãnh tụ của Đảng .
Bảo vệ Đảng trước hết là bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Theo V.I.Lênin, Đảng là một khối đoàn kết thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. V.I.Lênin đặc biệt quan tâm tới sự đoàn kết, thống nhất trong điều kiện Đảng cầm quyền, cho rằng bất cứ sự bất đồng nào, ngay cả sự bất đồng không đáng kể, cũng có thể trở thành nguy hiểm về mặt chính trị. Đây là nguồn gốc của sự chia rẽ trong nội bộ, tự nó phá hoại sức mạnh của Đảng.
Người xác định, muốn bảo vệ Đảng, trước hết phải đoàn kết, thống nhất về tư tưởng, chính trị và tổ chức trong Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất ở đây không phải là xuôi chiều, cả nể mà phải trên cơ sở thường xuyên và nghiêm túc tự phê bình và phê bình để khắc phục sai lầm và khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Người cho rằng, chuyên chính vô sản không thể thực hiện được nếu không có sự đoàn kết nhất trí của những người lao động và “công khai thừa nhận sai lầm” của một đảng là tiêu chí quan trọng để đánh giá xem đảng đó có thật sự là đảng mácxít hay không hoặc “cần phải để cho tất cả các đảng viên được hết sức tự do phê bình các cơ quan trung ương và công kích các cơ quan trung ương” . Sự đoàn kết, thống nhất trong đảng phải dựa trên cương lĩnh, điều lệ, đường lối, chính sách của Đảng, là sự đoàn kết có nguyên tắc trên cơ sở lợi ích chung của đất nước, dân tộc và giai cấp.
Giữ mối liên hệ mật thiết với giai cấp công nhân và nhân dân lao động là điều kiện tiên quyết để bảo vệ Đảng. V.I.Lênin cho rằng, muốn tự bảo vệ mình, Đảng phải gắn bó chặt chẽ với quần chúng, kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa và khắc phục bệnh quan liêu, xa rời quần chúng; phải được sự ủng hộ của chính giai cấp. Đây là vấn đề luôn được V.I.Lênin lưu ý đối với chính đảng cách mạng trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền, muốn trở thành một đảng dân chủ - xã hội.
Bởi vì, đảng không thể lãnh đạo được giai cấp, nếu không có mối liên hệ chặt chẽ với giai cấp công nhân ngoài đảng và các tầng lớp lao động khác. Người lưu ý rằng, một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là sự cắt đứt liên hệ với quần chúng. V.I.Lênin tiếp tục nhấn mạnh, đó “là nguy hiểm nhất và đáng sợ nhất” để thấy tầm quan trọng của vấn đề. Đồng thời, khi trở thành đảng cầm quyền, đảng cách mạng cần chú ý một nguy cơ dễ xuất hiện đó là bệnh quan liêu, xa rời quần chúng, những thói hư, tật xấu, như theo đuôi quần chúng hoặc xa rời quần chúng…
Cảnh giác và đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, cơ hội xét lại là công tác thường xuyên trong bảo vệ Đảng. V.I.Lênin khẳng định, một trong những “kẻ thù phá hoại đảng” là chủ nghĩa cơ hội. Thứ chủ nghĩa mà Người vạch rõ bộ mặt thật là “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế” . Nguy hại của chủ nghĩa cơ hội khi xuất hiện trong đảng là họ sẵn sàng thỏa hiệp chính trị. Ngoài ra, V.I.Lênin phê phán bọn chủ nghĩa cơ hội hiểu chủ nghĩa Mác một cách phiến diện, siêu hình, không có hệ thống. Và do vậy, họ luôn “nhảy từ một cực đoan bất lực này sang một cực đoan bất lực khác”, rất nguy hại cho đảng. Những kẻ cơ hội chủ nghĩa rất tinh vi và xảo quyệt, song bằng trí tuệ uyên bác, tư duy khoa học, V.I.Lênin đã nhắc nhở một cách nghiêm túc: “bổn phận của chúng ta, nếu chúng ta vẫn muốn còn là những người xã hội chủ nghĩa, là phải đi sâu, đi sát hơn vào quần chúng thật sự: đấy là toàn bộ ý nghĩa của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và toàn bộ nội dung cuộc đấu tranh đó” .
V.I.Lênin ý thức rất cao về sự nguy hại của chủ nghĩa cơ hội trong đảng, đây là bộ phận thoái hóa, biến chất làm cho đảng cách mạng suy yếu, đặc biệt trong những giai đoạn khó khăn. Vì vậy, thường xuyên đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong đảng sẽ làm cho đảng mạnh lên. Theo đó, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong nội bộ, sẽ có tác dụng tích cực, vừa bảo vệ đảng, vừa làm cho đảng mạnh hơn.
Quan điểm lịch sử, cụ thể, phát triển trong bảo vệ Đảng. Với thái độ kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống mọi kẻ thù lớn nhỏ của chủ nghĩa Mác: “Điều rất cần thiết hiện nay là, về mặt tổ chức, phải hoàn toàn tách hẳn những phần tử cơ hội chủ nghĩa ấy ra khỏi các đảng công nhân” và dù cho bản thân đảng có “phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa” . Sự say mê lao động khoa học, tìm tòi nghiên cứu, V.I.Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận - thực tiễn của chủ nghĩa Mác. Người đã nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - hệ tư tưởng của đảng vô sản trong điều kiện mới với tầm nhìn mới.
Bằng tư duy khoa học, sắc bén, V.I.Lênin không hề coi lý luận của C.Mác như một cái gì đó đã xong xuôi và bất khả xâm phạm, mà trái lại, ông cho rằng, lý luận của C.Mác mới chỉ đặt nền móng cho một môn khoa học mà những người cộng sản cần phải phát triển hơn nữa, nếu không muốn trở thành lạc hậu và bị cuộc sống đào thải.
Cách tiếp cận khoa học và cách mạng của V.I.Lênin về bảo vệ Đảng phù hợp với sự vận động, biến đổi của thực tiễn lịch sử. Cách tiếp cận và tư tưởng của V.I.Lênin về bảo vệ Đảng đến nay vẫn còn nguyên giá trị, là một đóng góp to lớn cả về lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở lý luận khoa học, thực tiễn quan trọng cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.
2. Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về bảo vệ Đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay
Kiên định và khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Từ nghiên cứu lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” .
Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội VII của Đảng (1991), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn nhất quán kiên định và khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh giành chính quyền, đập tan xiềng xích đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; tiếp đến là chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, đánh thắng hai đế quốc có tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, vững bước đưa đất nước đi lên xây dựng CNXH. Trong hơn 35 năm đổi mới, nước ta luôn giữ vững ổn định chính trị, xã hội, đạt thành tựu to lớn trên mọi mặt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay…
Từ điều kiện thực tiễn của cách mạng, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là minh chứng sống động và thuyết phục, khẳng định tính đúng đắn, khoa học của đường lối cách mạng Việt Nam, đúng đắn trong việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên đều khẳng định và kiên định chân lý đó.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học” .
Kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thực tiễn luôn vận động, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài các hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân,…
Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Chính Ph.Ăngghen từng nói: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc” . Sau này, V.I.Lênin cũng khẳng định và nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống” .
Phương pháp tốt nhất để phát triển, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là tiếp tục phát triển hệ thống các nguyên lý, lý luận khoa học trên cơ sở thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung lý luận, giải quyết thành công những nhiệm vụ mới và trả lời được những vấn đề do cuộc sống đặt ra, nhất là trong hội nhập quốc tế.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống” .
Theo đó, cần tập trung nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề căn bản nhất trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, như: Kinh tế thị trường định hướng XHCN; con đường CNH, HĐH theo định hướng XHCN ở nước ta; đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị; phát huy dân chủ; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới; phát triển văn hóa, con người và nguồn lực con người; đặc điểm nội dung của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển của kinh tế tri thức, phát triển bền vững...
Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam, tập trung tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, “đồng thanh” phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thâm độc hơn, chúng đưa ra luận điệu đòi tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lênin, nhằm phủ nhận nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh; thực chất là để phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin và cũng phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng của V.I.Lênin về bảo vệ Đảng trong đấu tranh để bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là chỉ dẫn để công tác này đạt kết quả trong điều kiện mới.
NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ BÀI HỌC TU DƯỠNG, TRÁNH CÁM DỖ Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: "Một người lo bằng kho người làm", triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi "nhà dột từ nóc". Lại có câu ca dao: "Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào" là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải "lo" đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng. Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại "nhúng chàm" để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành "tấm gương mờ" để người đời bêu riếu... "Tài" và "đức" là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có "tài" nhưng còn thiếu "đức". Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: "Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang"(1). Những "tấm gương mờ" kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không "gánh được nặng" và chẳng "đi được xa". Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là "cần, kiệm, liêm, chính". Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự "thực hành": "Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời"(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay! Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức "vô liêm", không trong sạch thì làm sao "được lòng dân". Người xưa rất coi trọng chữ "liêm". Cụ Khổng Tử mỉa mai: "Người mà không liêm, không bằng súc vật". Cụ Mạnh Tử trăn trở: "Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy". Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về "tấm gương" của Napoléon "đại tài nhưng tham lam", từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: "Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không "tri túc" (chừng mực) mà thất bại"(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng "kết quả bị rơi xuống đất", theo Bác Hồ có 3 lý do là "tham lam", "không khiêm tốn", "không biết lượng sức mình". Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng "đã làm con giời lại muốn làm cả giời". Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề. Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và "kết quả" thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy! Phật giáo coi tính "tham" là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến "bể khổ". Khổng Tử coi sự "tham lợi" chỉ có ở kẻ "tiểu nhân". Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: "Ít lòng tham muốn về vật chất"! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế! Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ "trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng", đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: "Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách "hứa" sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ "làm gương" như thế nào, bằng cách nào? Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương "đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ"(4). Hình tượng ẩn dụ "cây" Đảng ta tươi tốt là nhờ "gốc rễ" được "thấm nhuần" máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo. Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: "Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được"(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào "sáng" hơn "đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng". Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ "coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài"(6). Xa dân nên thành "quan cách", không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không "cần kiệm" mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía "một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào" nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy "hoang phí là một tội ác" thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình. Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý "chín bỏ làm mười", "xuê xoa", "an phận thủ thường", "đấu tranh là... tránh đâu"... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn. Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải "gương mẫu", "nêu gương", phải là "đầu tàu"... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải "thực hành trước" các nguyên tắc "Cần, kiệm, liêm, chính", "chí công", "vô tư" . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình! Hải Ninh 30A ST

CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

 

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Bắc năm 1952 có ý nghĩa quan trọng về quân sự và chính trị, khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường, tạo cơ sở vững chắc để quân và dân ta tiếp tục phát huy quyền chủ động chiến lược, mở các chiến dịch và tiến hành cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Thắng lợi đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó, công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) đã khẳng định rõ vai trò là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội ta.
Phát huy kết quả của Chiến dịch Hòa Bình, với quyết tâm không cho địch rảnh tay bình định, củng cố thế chiếm đóng của chúng ở đồng bằng và trung du, đặc biệt là chiến trường chính Bắc Bộ, cùng với lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân bước vào cuộc chỉnh huấn về chính trị, quân sự, về tổ chức, biên chế và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong bộ đội chủ lực, Trung ương Đảng đã chỉ đạo Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh (BTTL) hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến trong Thu-Đông 1952, trong đó xác định hướng tiến công chính là vùng Tây Bắc.
Tháng 9-1952, căn cứ đề nghị của Tổng Quân ủy và BTTL, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc nhằm: Tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc; giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc và cử đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng-Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị-Phó bí thư Đảng ủy chiến dịch; đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng; đồng chí Trần Đăng Ninh làm Chủ nhiệm Cung cấp. Phương châm tác chiến chiến dịch được Tổng Quân ủy, BTTL xác định là “đánh điểm, diệt viện”; tuy nhiên, tùy vào tình hình mà định ra kế hoạch linh hoạt và phù hợp.
Từ ngày 6 đến ngày 9-9-1952, Tổng Quân ủy và BTTL tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia chiến dịch. Chỉ đạo CTĐ, CTCT, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: Công tác chính trị phải nắm vững chiến dịch này là chiến dịch có thời gian dài, bộ đội phải liên tục chiến đấu... Việc lãnh đạo tư tưởng cần phải làm cho thấu triệt quyết tâm động viên liên tục chiến đấu, phát huy đến cùng tinh thần khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ. Đối với dân thì phải bảo đảm việc giữ vững đúng kỷ luật chính trị, đối với đơn vị bạn thì giữ vững tinh thần đoàn kết, phối hợp. Đó là một bảo đảm rất quan trọng cho chiến dịch được thành công.
Để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp đến dự Hội nghị cán bộ chuẩn bị Chiến dịch Tây Bắc và huấn thị: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến, và quyết tâm là chiến dịch này đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phải để cho các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sĩ".
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam đã chủ động xây dựng kế hoạch, chỉ đạo “Chuẩn bị công tác chính trị Chiến dịch Tây Bắc” với những nội dung, nhiệm vụ cụ thể. Tổng cục Chính trị yêu cầu: Phải phát huy sức mạnh lãnh đạo của các cấp ủy đảng và chi bộ để hoàn thành tốt nhiệm vụ của công tác chính trị chiến dịch. Các cấp ủy phải thảo luận kỹ để hiểu rõ quyết tâm của Trung ương và bàn kỹ về công tác lãnh đạo, đồng thời động viên các cấp ủy cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ. Song song với việc tăng cường công tác lãnh đạo của các cấp ủy, phải phát huy cho được sức mạnh của công tác lãnh đạo chi bộ.
Thực tiễn cho thấy, CTĐ, CTCT trong Chiến dịch Tây Bắc là một quá trình được tiến hành liên tục qua các giai đoạn, từ chuẩn bị đến thực hành tác chiến và kết thúc chiến dịch. Trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đã tập trung xây dựng quyết tâm chiến đấu cho bộ đội; kiện toàn các tổ chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của chiến dịch; tập trung giáo dục nâng cao nhận thức, phát huy vai trò trách nhiệm của mọi người trong thực hiện nhiệm vụ cung cấp; chú trọng công tác lãnh đạo đối với dân công phục vụ tiền tuyến.
Bám sát yêu cầu, nhiệm vụ của chiến dịch, công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đã quán triệt sâu sắc chủ trương của Trung ương Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của Tổng Quân ủy và BTTL, của Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch, thư căn dặn của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiệm vụ của chiến dịch, nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị, âm mưu, thủ đoạn của địch... Đồng thời, phổ biến các quy định về chấp hành kỷ luật chiến trường, đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng “giết giặc lập công”, kịp thời động viên tinh thần chiến đấu của bộ đội và tinh thần bền bỉ phục vụ tiền tuyến của dân công và nhân dân cả nước.
Đảng ủy, Bộ chỉ huy và cơ quan chính trị (CQCT) chiến dịch đã lãnh đạo, chỉ đạo tốt việc củng cố, kiện toàn các tổ chức đảng, đoàn, hội đồng quân nhân, tổ 3 người, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu. Định hướng về công tác tổ chức, ngay tại Hội nghị cán bộ Chiến dịch Tây Bắc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: Bộ đội phải được chấn chỉnh một cách nhanh chóng. Chúng ta phải chuẩn bị sẵn tân binh và cán bộ để kịp thời bổ sung cho chiến dịch. CQCT đã chỉ đạo các đơn vị rà soát, bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ các cấp bảo đảm chất lượng trước khi bước vào chiến đấu, chú trọng đội ngũ cán bộ trên các hướng, mũi chủ yếu. Các tổ chức đảng được kiện toàn theo Nghị quyết của Trung ương Đảng về “Tổ chức đảng trong bộ đội chủ lực”; gắn kiện toàn cấp ủy với kiện toàn tổ chức chỉ huy, nhằm tăng cường sức lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ trong chiến đấu. Hội đồng quân nhân và chi đoàn được kiện toàn theo quy định của Đảng, hoạt động đúng chức năng, dân chủ quân sự được mở rộng, trí tuệ tập thể không ngừng được phát huy. Đây là những nhân tố hết sức quan trọng góp phần làm tốt công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch.
Nhận thức rõ đặc điểm tình hình và những khó khăn về công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch, ngay khi có kế hoạch tác chiến, Đảng ủy, Bộ chỉ huy và CQCT chiến dịch đã chỉ rõ nhiệm vụ của công tác cung cấp; yêu cầu, biện pháp nhằm tăng cường giáo dục cho mọi người thấy được tầm quan trọng của việc bảo đảm công tác cung cấp cho chiến dịch, thấy rõ những khó khăn, từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi người. Đồng thời, làm tốt công tác giáo dục chính trị, động viên lực lượng dân công quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ phục vụ tiền tuyến, chấp hành nghiêm các quy định sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu...
Trong giai đoạn thực hành chiến dịch, Đảng ủy, Bộ chỉ huy và CQCT chiến dịch đã lãnh đạo tư tưởng, khắc phục mọi khó khăn gian khổ, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu liên tục cho cán bộ, chiến sĩ; không ngừng phát huy dân chủ quân sự, đề cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cổ động, động viên bộ đội ra sức thi đua giết giặc lập công; thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo chấp hành nghiêm các chính sách trong chiến đấu; tăng cường CTĐ, CTCT đối với công tác cung cấp và dân công phục vụ tiền tuyến.
Đây là chiến dịch ta đánh công kiên với quy mô lớn, lực lượng và hỏa lực của địch tương đối mạnh, bộ đội phải chiến đấu trong điều kiện ác liệt và có nhiều khó khăn. Vì vậy, công tác lãnh đạo tư tưởng tập trung thực hiện bằng được yêu cầu tác chiến trong các bước, các thời điểm quan trọng của chiến dịch. Trước những khó khăn, nguy hiểm, để bộ đội có quyết tâm cao trong vượt sông, hành quân chiến đấu, công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đã làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn của mỗi lần vượt sông; đề cao tinh thần cảnh giác, tuyệt đối giữ bí mật, chấp hành nghiêm các quy định trong vượt sông, hành quân chiến đấu; giáo dục tinh thần đoàn kết giữa các lực lượng, yêu thương, động viên, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ.
Trong các đợt chiến đấu, Đảng ủy, Bộ chỉ huy và CQCT chiến dịch đã có những biện pháp tích cực, chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và giữ vững quyết tâm chiến đấu. CTĐ, CTCT đã bám sát phương châm hoạt động tác chiến chiến dịch, nắm chắc diễn biến tư tưởng, xử trí kịp thời mọi tình huống. Đặc biệt, trên hướng, mũi chủ yếu, trong các trận đánh then chốt đã tập trung lãnh đạo quyết tâm giành thắng lợi để củng cố niềm tin chiến thắng cho cán bộ, chiến sĩ như trong hai trận then chốt ở Phân khu Nghĩa Lộ và Mộc Châu. CQCT chiến dịch đã chỉ đạo các cấp ủy, CQCT và cán bộ chính trị các cấp phải bám sát diễn biến chiến trường, kịp thời lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm chiến đấu, biểu dương kịp thời những đơn vị và cá nhân có thành tích.
Bước vào đợt 2 chiến dịch, CQCT chiến dịch đã chủ động ra chỉ thị “Về công tác chính trị đợt 2”, chỉ đạo các đơn vị làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, phát huy tinh thần khắc phục khó khăn, anh dũng chiến đấu, chống tư tưởng chủ quan, khinh địch và đề phòng đánh giá quá cao về địch dẫn đến bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch, phải quyết tâm thực hiện tốt yêu cầu chiến thuật. Nhờ đó tinh thần chiến đấu của bộ đội không ngừng được nâng cao. Đã có nhiều trận đánh tiêu biểu, nhất là trận Chân Mộng-Trạm Thản (17-11-1952) của Trung đoàn 36, Đại đoàn 308, bộ đội đã không sợ hy sinh, gian khổ, liên tục chiến đấu, lợi dụng địa hình hiểm trở, khôn khéo bí mật phục kích, chờ địch lọt vào trận địa mới nổ súng, đánh giáp lá cà, tiêu diệt và bắt hơn 400 tên địch, phá hủy 44 xe cơ giới.
Cấp ủy, CQCT các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác phát huy dân chủ quân sự, đặc biệt trước những khó khăn, thử thách, trước mỗi vấn đề quan trọng đặt ra trong quá trình tác chiến và từng đợt chiến dịch, từng trận đánh với những biện pháp linh hoạt, nhằm phát huy trí tuệ của tập thể để xác định cách đánh, cách giải quyết những vấn đề vướng mắc nảy sinh, chưa mang tính thống nhất. Các phương án chiến đấu của đơn vị đều được dân chủ bàn bạc, thảo luận, tranh luận sôi nổi; kết luận chính xác, bảo đảm chắc thắng.
CQCT chiến dịch đã chỉ đạo các đơn vị: Phải triệt để dùng mọi hình thức tuyên truyền cổ động để phổ biến thành tích. Cấp ủy, CQCT các đơn vị đã hướng dẫn và trực tiếp tiến hành công tác cổ động chiến trường, cổ vũ tinh thần chiến đấu dũng cảm, thi đua giết giặc lập công và nâng cao quyết tâm chiến đấu, nhất là những tình huống khẩn trương, phức tạp. Công tác cổ động chiến trường đã được các đơn vị vận dụng linh hoạt. Những bức thư của Trung ương Đảng, những lời khen ngợi, động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch sau mỗi thắng lợi đều được các đơn vị truyền đạt đến cán bộ, chiến sĩ, qua đó đã khích lệ tinh thần anh dũng chiến đấu, thúc đẩy phong trào thi đua và nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật, mệnh lệnh chiến đấu. Sau mỗi đợt của chiến dịch, CQCT chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tiến hành kiểm điểm kết quả thực hiện phong trào thi đua, tổ chức bình công, báo công, kịp thời khen thưởng, biểu dương tập thể, cá nhân có thành tích, đồng thời khắc phục những hạn chế, khuyết điểm.
Chấp hành tốt công tác chính sách trong chiến đấu không những thể hiện ý thức tự giác chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, mà còn là một nhiệm vụ quan trọng của chiến dịch. Vì vậy, Đảng ủy, Bộ chỉ huy và CQCT chiến dịch đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách trong chiến đấu, từ công tác chính sách đối với thương binh, tử sĩ; công tác chính sách đối với tù hàng binh; công tác binh, địch vận; công tác dân vận... Những nhân tố đó đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.
CTĐ, CTCT đã bám sát diễn biến của chiến dịch, kịp thời động viên lực lượng cấp dưỡng nâng cao trách nhiệm phục vụ cơm chín, nước sôi, bảo đảm cho bộ đội ăn no, ăn nóng, có sức khỏe tốt nhất. Lãnh đạo, chỉ đạo bổ sung cán bộ thực hiện nhiệm vụ cung cấp, tăng cường kiểm tra công tác bảo đảm đời sống cho cán bộ, chiến sĩ. Tăng cường lãnh đạo nâng cao nhận thức cho mọi người về trách nhiệm chung đối với công tác cung cấp và thái độ, trách nhiệm phục vụ của nhân viên cung cấp. Nhất quán quan điểm công tác hậu cần không chỉ là trách nhiệm của cán bộ, nhân viên hậu cần mà là trách nhiệm chung của các cấp ủy, chỉ huy, cơ quan và mọi người trong đơn vị. Chính vì thế, trong suốt chiến dịch, công tác cung cấp đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, giữ vững sức khỏe bộ đội, bảo đảm tốt cho việc tác chiến dài ngày.
Cùng với động viên công tác cung cấp, CQCT chiến dịch đã chỉ đạo cấp ủy các đơn vị giải quyết kịp thời tình hình tư tưởng, tăng cường động viên đối với dân công trước mỗi trận chiến đấu, trước mỗi khó khăn để lực lượng dân công nêu cao tinh thần phục vụ bộ đội kịp thời, có đủ lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc men đáp ứng yêu cầu của chiến dịch. Tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ dân công những kiến thức cơ bản về công tác động viên dân công; phân công cán bộ trực tiếp sinh hoạt với bộ phận dân công, phát huy dân chủ trong sinh hoạt để khơi dậy tinh thần sáng tạo của dân công trong phục vụ chiến dịch. Trong chiến dịch, dân công luôn yên tâm công tác, quan hệ giữa bộ đội và dân công đoàn kết, gắn bó, hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ chiến dịch.
Ngay từ khi chuẩn bị chiến dịch, Tổng cục Chính trị đã quan tâm đến công tác vận động quần chúng, đề nghị Tổng Quân ủy tăng cường cán bộ dân vận cho chiến trường Tây Bắc, đồng thời chỉ đạo cơ sở các cấp và bộ đội luồn sâu, đi sát, sống giữa lòng nhân dân, nắm tình hình, giác ngộ, động viên, vận động quần chúng một lòng một dạ tin theo Đảng, Bác Hồ, tận tâm phục vụ và tham gia đóng góp sức người, sức của cho chiến dịch. Nhờ làm tốt công tác dân vận, trong chiến dịch ta đã huy động được một lực lượng lớn nhân lực, vật lực từ trong nhân dân. Khi tổ chức cho bộ đội vượt sông Thao để tham gia đợt 1 chiến dịch, ta huy động được hơn 400 thuyền nan, 350 thuyền gỗ của nhân dân hai tỉnh Yên Bái và Phú Thọ. Khi khả năng huy động lương thực từ hậu phương lên gặp khó khăn, Tổng Quân ủy đã chỉ đạo các đơn vị tổ chức giúp dân gặt hái, xay giã và vận động nhân dân ủng hộ bộ đội. Nhờ vậy, ta đã huy động được 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 15.500 dân công. Với khẩu hiệu “Tất cả vì tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng”, nhiều nơi giáp hạt thiếu ăn nhưng nhân dân vẫn tự nguyện đóng góp lương thực, thực phẩm, hăng hái đi dân công, vừa phục vụ tiền tuyến, vừa bảo vệ hậu phương.
Trải qua 3 đợt tiến công, trên cả hai mặt trận hướng chính Tây Bắc và hướng phối hợp ở trung du, đồng bằng Bắc Bộ, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch. Nhiều tiểu đoàn và đại đội thuộc lực lượng cơ động của địch bị xóa sổ, ta giải phóng một vùng rộng lớn gần 30.000km2 với 250.000 dân, nối liền Tây Bắc với căn cứ Việt Bắc và Thượng Lào, làm thất bại âm mưu lập “xứ Thái tự trị” và “xứ Nùng tự trị” của thực dân Pháp.
Kết thúc chiến dịch, Đảng ủy, Bộ chỉ huy và CQCT chiến dịch đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tiếp tục củng cố, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu tiếp theo và làm tốt nhiệm vụ củng cố địa bàn Tây Bắc. Triển khai kiện toàn tổ chức theo yêu cầu nhiệm vụ mới, tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm chiến đấu, giải quyết những vấn đề còn tồn đọng về chính sách, tổ chức bình công, báo công. CQCT chiến dịch đã chỉ đạo các đơn vị nắm chắc diễn biến tư tưởng của bộ đội, tuyệt đối giữ bí mật sau khi kết thúc chiến dịch, khắc phục tư tưởng tự kiêu, say sưa với chiến thắng hoặc bi quan, chán nản, vô kỷ luật. Kịp thời khuếch trương chiến thắng, biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong chiến đấu.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và BTTL; kế thừa kinh nghiệm các chiến dịch trước, CTĐ, CTCT trong Chiến dịch Tây Bắc năm 1952 đã có bước phát triển mới; trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ, bám sát diễn biến của chiến dịch, tiến hành các hoạt động phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến chiến dịch. Xây dựng cho bộ đội và dân công quyết tâm chiến đấu cao, chấp hành nghiêm kỷ luật và các chính sách trong chiến đấu. Cùng với công tác quân sự, hậu cần..., CTĐ, CTCT đã đóng góp một phần quan trọng, làm nên thắng lợi của chiến dịch, tạo đà cho giai đoạn tổng phản công kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến của dân tộc.
70 năm trôi qua, thời gian và chứng cứ lịch sử giúp chúng ta đánh giá ngày càng sâu sắc, toàn diện hơn thắng lợi của Chiến dịch Tây Bắc năm 1952 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Từ thực tiễn quá trình tiến hành CTĐ, CTCT trong Chiến dịch Tây Bắc, để tiếp tục xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi hoạt động CTĐ, CTCT trong quân đội cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:
Thứ nhất, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về vị trí, vai trò của CTĐ, CTCT trong thực hiện nhiệm vụ quân sự-quốc phòng.
CTĐ, CTCT là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, một mặt công tác cơ bản của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp, nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với quân đội; bảo đảm cho quân đội luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, cần tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp nhận thức đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của CTĐ, CTCT. Xác định rõ đây là mặt công tác cơ bản của lãnh đạo, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và CQCT các cấp, bảo đảm ở đâu có bộ đội là ở đó có hoạt động CTĐ, CTCT; là “linh hồn, mạch sống”, là nhân tố quyết định đến thắng lợi trong chiến đấu và thực hiện nhiệm vụ của Quân đội ta.
Thứ hai, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động CTĐ, CTCT ở từng cơ quan, đơn vị và toàn quân.
Thực tiễn cho thấy, ở đâu, đơn vị nào mà hiệu lực và vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng được phát huy thì ở đó CTĐ, CTCT được tăng cường và đạt hiệu quả cao; ngược lại, ở đâu thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, nghiêm túc thì ở đó CTĐ, CTCT kém hiệu lực và kết quả không cao. Do đó, phải thường xuyên xây dựng, củng cố hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quân đội, nhất là tổ chức đảng ở cơ sở thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Nội dung lãnh đạo phải toàn diện, song cần tập trung làm tốt công tác xây dựng Đảng, giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng; phát huy vai trò CTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ mới, khó khăn, phức tạp. Cùng với đó, phải thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, tích cực bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị về CTĐ, CTCT cho cấp ủy và tổ chức đảng các cấp; xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị của đơn vị.
Thứ ba, nâng cao năng lực tiến hành CTĐ, CTCT cho đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong quân đội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cán bộ là gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Do vậy, chất lượng, hiệu lực, hiệu quả CTĐ, CTCT phụ thuộc vào năng lực của người trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn và tiến hành. Trước hết cần quán triệt, thực hiện tốt Quy định số 236/QĐ-CT ngày 21-2-2019 của Tổng cục Chính trị “Về chức trách, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của chính ủy, chính trị viên, chủ nhiệm chính trị; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của CQCT các cấp trong QĐND Việt Nam”. Đội ngũ cán bộ chính trị các cấp phải được kiện toàn về số lượng, nâng cao về chất lượng, làm cơ sở để phát huy vai trò nòng cốt trong chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện. Mỗi cán bộ chính trị, nhất là chính ủy, chính trị viên phải luôn nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của mình đối với công việc; phải thường xuyên rèn luyện về nhân cách, không ngừng học tập, phấn đấu nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ ở mọi lúc, mọi nơi; nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý, tham mưu, giảng dạy theo chức trách, nhiệm vụ. Đồng thời, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, khoa học kỹ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới. Chủ động đấu tranh, phản bác kịp thời các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch; phòng, chống hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Thứ tư, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành CTĐ, CTCT phù hợp với đối tượng, nhiệm vụ.
Chất lượng, hiệu quả của hoạt động CTĐ, CTCT phụ thuộc vào tính đúng đắn, khoa học của nội dung, sự phong phú đa dạng, sinh động và hấp dẫn của hình thức, biện pháp tiến hành. Do đó, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành CTĐ, CTCT là yêu cầu khách quan, giúp cho CTĐ, CTCT không rơi vào đường mòn, lối cũ, hình thức chủ nghĩa, đơn điệu, kém chất lượng và kém hiệu quả. Trên cơ sở bám sát đời sống xã hội, tình hình thế giới và khu vực, tình hình tư tưởng và hoạt động của bộ đội, yêu cầu, nhiệm vụ... cấp ủy đảng, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, CQCT các cấp phải kịp thời tham mưu, đề xuất chủ trương, biện pháp lãnh đạo, nhằm phát huy tốt nhân tố tích cực, hạn chế tác động tiêu cực, ngăn chặn và loại bỏ những ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, ý chí quyết tâm và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Việc đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành CTĐ, CTCT cần bảo đảm tính cơ bản, hệ thống và khoa học, vừa cập nhật thông tin mới, vừa trang bị kiến thức toàn diện, trực tiếp góp phần vào xây dựng hệ thống phẩm chất, nhân cách tốt đẹp của quân nhân cách mạng, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội. Đồng thời, tích cực xây dựng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, cách làm hiệu quả, gắn với xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách nâng cao chất lượng hoạt động CTĐ, CTCT.
Thứ năm, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, phương tiện trong tiến hành CTĐ, CTCT.
CTĐ, CTCT trong quân đội gồm nhiều mặt công tác, nhiều hoạt động với nhiều tổ chức, nhiều lực lượng cùng tham gia. Do vậy, để nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT cần tiếp tục phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể, lực lượng để tiến hành giáo dục, động viên bộ đội và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Cần phối hợp chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; giữa lãnh đạo, chỉ huy, CQCT các cấp trong Quân đội với cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp trong hệ thống chính trị để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT. Sử dụng mọi nguồn lực, phương tiện vào tiến hành CTĐ, CTCT; quan tâm chăm lo bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho bộ đội; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp, cơ quan tham mưu, hậu cần, kỹ thuật trong đơn vị cùng tham gia tiến hành CTĐ, CTCT; không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng các thiết chế và các phương tiện đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động CTĐ, CTCT.
Chiến dịch Tây Bắc năm 1952 giành thắng lợi đã khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và BTTL. Đồng thời, khẳng định vai trò to lớn của CTĐ, CTCT trong việc xây dựng nhân tố chính trị-tinh thần, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch. Trong giai đoạn hiện nay, quán triệt, triển khai và thực hiện đồng bộ các yêu cầu trên là việc làm quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ, CTCT-nhân tố quyết định xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Trung tướng TRỊNH VĂN QUYẾT, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam
Báo QĐND