Thứ Hai, 17 tháng 10, 2022

PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động

Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga - quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.

Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .

Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.

Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB.

Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH tư bản chủ nghĩa. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.

Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.

Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.

Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.

Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”.

Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN” là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi.  

Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam.

QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN MẠNG XÃ HỘI KHÔNG THỂ BẤT TUÂN PHÁP LUẬT

 Đảng, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do ngôn luận của công dân. Tuy nhiên, đối với việc sử dụng mạng xã hội để dàn dựng, xuyên tạc sự thật, tung tin sai trái, thất thiệt với ngôn ngữ, nội dung phản cảm, thô tục, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đến các tổ chức, cá nhân, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc thì phải chấn chỉnh, xử lý để răn đe người vi phạm và phòng ngừa chung.

Không chỉ riêng Việt Nam, mà nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều có các biện pháp khuyến khích công dân ứng xử có văn minh trên mạng xã hội, bảo đảm cho tự do ngôn luận đi theo chiều hướng tích cực, có lợi, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi khách quan. Việc xây dựng các quy định luật pháp về tự do ngôn luận của mỗi quốc gia đều căn cứ truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán, những điều kiện, bối cảnh lịch sử cụ thể… Như tại Singapore, luật pháp quy định phạt đến 100.000 đôla Singapore hoặc phạt tù tới 3 năm với hành vi nói xấu, phỉ báng, vu khống trong sinh hoạt hằng ngày và trên mạng xã hội; nếu bị phát hiện đưa tin giả lên mạng xã hội, khi nhà chức trách yêu cầu cải chính mà không chấp hành, có thể sẽ bị phạt đến 20.000 đôla Singapore hoặc 12 tháng tù. Luật pháp nước này nghiêm cấm các hành vi đi ngược lợi ích và ổn định cộng đồng, làm tổn hại an ninh và an toàn cộng đồng, làm tổn hại sức khỏe, kích động sự hận thù giữa các nhóm xã hội, suy giảm niềm tin vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, làm tổn hại quan hệ giữa Singapore với các quốc gia khác

Ngay như ở một số nước tư bản phát triển, quyền tự do ngôn luận không thể bất tuân pháp luật. Như ở Mỹ, Tối cao pháp viện nước này đã khẳng định, tự do ngôn luận không có nghĩa là có quyền bịa chuyện vu khống, phỉ báng cá nhân; giới hạn về tự do ngôn luận thể hiện qua án lệ của tòa án, cho phép chính quyền có quyền ngăn chặn, trừng phạt phát ngôn có tính khiêu dâm, phỉ báng, tục tĩu, xúc phạm, gây hấn. Ở Pháp, pháp luật cũng quy định những giới hạn, có các chế tài nghiêm khắc đối với hành vi lạm dụng tự do ngôn luận xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, đồng thời chống lại việc vu khống, bôi nhọ, phân biệt chủng tộc, tôn giáo, kích động bạo lực, gây hận thù. Bộ luật Dân sự của Pháp cấm xâm phạm đời tư cá nhân; Luật Hình sự nước này cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia; Luật Tự do báo chí điều chỉnh hành vi tổ chức, cá nhân trên mạng internet. Ở Anh ban hành “Quy tắc hành nghề cho các nhà cung cấp nền tảng truyền thông xã hội trực tuyến” hay ở Australia cũng ra “Bộ Quy tắc ứng xử trên truyền thông xã hội và bình luận trực tuyến”, điều này cho phép các quốc gia này kiểm soát vấn đề ngôn luận trên nền tảng mạng xã hội, truyền thông.

 Không chỉ mỗi quốc gia riêng biệt, Liên minh châu Âu (EU) cũng ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google, TikTok; cam kết bảo đảm các công ty, tổ chức, cá nhân tiếp cận nhanh chóng, đánh dấu và gỡ bỏ các phát ngôn thù địch cùng nội dung bất hợp pháp trên các nền tảng của họ. Việc các nền tảng mạng xã hội chủ động tuân theo bộ quy tắc xuất phát từ việc EU sẽ trực tiếp giám sát hoạt động này. Báo cáo mới nhất của EU đánh giá kết quả thực thi của Bộ Quy tắc năm 2020 đã ghi nhận 71% nội dung xác nhận là phát ngôn thù địch bất hợp pháp đã bị gỡ bỏ, tăng so với con số 26% của năm 2016.

Tự do ngôn luận là một trong các quyền cơ bản của con người, tuy nhiên quyền này không thể đặt ngoài khuôn khổ pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 chỉ rõ: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 xác định mọi người đều có quyền tự do quan niệm, tự do phát biểu quan điểm, tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức, ý kiến bằng phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. Đồng thời, Điều 29 Tuyên ngôn cũng bắt buộc mọi người phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng quyền của người khác, đáp ứng các đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

Theo đó, luật pháp quốc tế khẳng định quyền tự do ngôn luận không phải là tự do vô hạn, bất tuân pháp luật; trong một số trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh, ở các quốc gia tự do ngôn luận bị giới hạn. Từ thực tế trên cho thấy, không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối trong bất cứ chế độ chính trị nào, các quốc gia đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung; những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận mà gây hại đến tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia - dân tộc đều bị xử lý.

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để quyền tự do ngôn luận của người dân được thực thi nghiêm túc và toàn diện, các luật, văn bản dưới luật về tự do ngôn luận đã cụ thể hóa Hiến pháp, ngày càng được hoàn thiện để vừa bảo đảm quyền của công dân, vừa giúp quyền đó thực hiện trên cơ sở luật pháp. Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018 nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Nghiêm cấm những hành vi đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội quy định cho tổ chức, cá nhân khi tham gia mạng xã hội có những ứng xử phù hợp.

Để lành mạnh hóa môi trường mạng xã hội, góp phần thúc đẩy, bảo đảm tự do ngôn luận của các tổ chức, cá nhân, điều cần thiết là mỗi người dân cần nhận thức đúng đắn về quyền tự do ngôn luận, nêu cao ý thức trách nhiệm khi ứng xử trên mạng xã hội, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, phản bác các âm mưu, thủ đoạn sai trái về tự do ngôn luận ở Việt Nam.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Hồi tháng 3/2022, Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, sinh năm 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, trú tại 17-19 Ngô Đức Kế, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh với tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331, Bộ luật Hình sự. Điều đáng nói là dù việc khởi tố điều tra, tạm giam với bà Nguyễn Phương Hằng là thực hiện theo các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và được thông báo công khai trên các phương tiện truyền thông, song một số tổ chức, cá nhân lại tìm cách “bẻ lái, xoay chiều”. Một số tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, sai trái rồi quy chụp “Ở Việt Nam này luật pháp không tồn tại”, “quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt”… Số này đưa ra các bài viết tô vẽ, đánh bóng hình ảnh bị can Nguyễn Phương Hằng như một thần tượng, từ đó hướng lái dư luận rằng ở Việt Nam, hễ ai “cứ nổi tiếng trên mạng xã hội thì sẽ bị “diệt”!

Trước đó, sau khi phiên toà xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh và đồng phạm kết thúc, trang BBC giật tít: “Vụ xử “Báo Sạch”: Việt Nam đừng nên coi truyền thông là kẻ thù”. Bài báo dẫn lời Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch), ông Phil Robertson nói rằng “Việt Nam không nên coi truyền thông là kẻ thù của nhà nước, việc bỏ tù thêm nhiều nhà báo công dân sẽ không ngăn được người dân lên tiếng, hoặc yêu cầu cải cách ở Việt Nam”. Từ đó kêu gọi “Chính phủ nên công nhận các nhà báo công dân và truyền thông độc lập là đồng minh của công tác quản trị nhà nước tốt”

Việc xử phạt vi phạm hành chính áp dụng đối với những cá nhân vi phạm ít nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc xử phạt được thực hiện kịp thời để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

Chẳng hạn, ngày 22/8/2022, Công an tỉnh Lâm Đồng có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H.N.M, chủ tài khoản TikTok H.M số tiền 10 triệu đồng do người này đăng clip miệt thị người miền Trung. Dư luận cho rằng, những lời lẽ H.N.M đưa ra là không có cơ sở nhưng đã gây hiệu ứng mạng nguy hiểm, nội dung trong video đã thể hiện sự phân biệt đối xử, kỳ thị vùng miền, tạo tâm lý đố kỵ, chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, đi ngược với tinh thần xây dựng nếp sống văn hoá, đoàn kết toàn dân. Điều đáng nói là dù việc xử phạt đã được tiến hành công khai và đúng quy định pháp luật, người vi phạm cũng thừa nhận hành vi sai trái, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội nhưng một số kênh thông tin lại “bẻ lái”, cho rằng việc đăng clip như vậy “là cần thiết” và việc cơ quan chức năng xử phạt H.N.M là “bịt miệng người dân, trấn áp vô lý”!

Đặc biệt, đối tượng mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá là một số cá nhân nổi tiếng có lượt người theo dõi, tương tác cao trên các nền tảng mạng xã hội. Khi những phát ngôn gây sốc, lệch chuẩn, những hành vi vi phạm pháp luật trên mạng xã hội gây bức xúc trong dư luận được cơ quan chức năng xử lý theo luật định, họ lại tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho những hành vi sai trái đó. Đồng thời, họ đưa ra luận điệu bóp méo, bôi đen bức tranh hiện thực về tình hình tự do ngôn luận ở Việt Nam, công kích cơ quan chức năng, phủ nhận hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề tự do ngôn luận trên không gian mạng.

Mục đích của các thế lực thù địch là đánh tráo bản chất các sai phạm về tự do ngôn luận trên mạng xã hội, biến đối tượng vi phạm pháp luật từ có sai phạm thành không sai phạm. Họ thậm chí tán dương cho lối ứng xử thiếu văn hóa, phát ngôn sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Thực chất của âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm gây phân tâm trong cộng đồng xã hội, tạo ra sự hoài nghi về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận; từ đó, phủ nhận những thành tựu, nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người trên không gian mạng; hạ thấp vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế. Những hành vi như vậy cần đáng được mọi người nhận rõ, vạch trần và lên án.

Nâng sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 21-1-2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La về “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn, gắn với củng cố hệ thống chính trị cơ sở”, thời gian qua, công tác xây dựng đảng ở địa phương có nhiều chuyển biến tích cực; hệ thống chính trị cơ sở ngày càng được củng cố. Đảng mạnh nhờ có chi bộ tốt Đưa chúng tôi tham quan vườn cây ăn quả cho giá trị kinh tế cao, như: Cam, hồng giòn, dâu tây thuộc khu du lịch cộng đồng tại bản Hua Tạt, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, đồng chí Đặng Phi Hùng, Chủ tịch UBND xã Vân Hồ tự hào cho biết: "Thời gian qua, tuy chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nhưng kinh tế của xã vẫn chuyển dịch theo hướng tích cực, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 6,17%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 36,5 triệu đồng/người/năm. Có được kết quả ấy là nhờ Đảng bộ xã Vân Hồ phát huy vai trò lãnh đạo, triển khai hiệu quả các nghị quyết phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn". Nhiều năm về trước, sở dĩ xã Vân Hồ được ví như “nàng công chúa ngủ quên” là bởi tiềm năng, thế mạnh thì có nhưng không đủ sức bật dậy. Nguyên nhân một phần là do năng lực lãnh đạo của một số cấp ủy, chi bộ còn hạn chế, chưa thể hiện rõ vai trò tiên phong. Nhiều nghị quyết phát triển kinh tế chưa đi vào cuộc sống. Đồng chí Đặng Phi Hùng quả quyết: "Từ khi có nghị quyết của Tỉnh ủy về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng gắn với củng cố hệ thống chính trị cơ sở, Đảng bộ xã Vân Hồ xác định đây là việc cấp thiết và bắt đầu công cuộc “phẫu thuật”, kiểm điểm, đánh giá những hạn chế, khuyết điểm đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên". Với 19 chi bộ trực thuộc, 349 đảng viên, 14 chi bộ bản, tiểu khu trực thuộc, để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, duy trì nghiêm chế độ các nguyên tắc, phát huy dân chủ, Đảng bộ xã Vân Hồ duy trì nghiêm họp ban chấp hành định kỳ và đột xuất, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, nảy sinh ở cơ sở. Đồng thời, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín. Đảng bộ xã đã phân công ủy viên ban chấp hành theo dõi các chi bộ trực thuộc, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai, thực hiện toàn diện, nhờ đó hiệu quả triển khai các nghị quyết được nâng cao. Xác định là nhiệm vụ trọng tâm, yêu cầu cấp thiết trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tháng 4-2022 vừa qua, Đảng bộ tỉnh Sơn La tổ chức hội nghị đánh giá hiệu quả của Nghị quyết số 02-NQ/TU. Các ý kiến thống nhất đánh giá: Sau một năm thực hiện, chất lượng sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy có chuyển biến tích cực. Công tác kiện toàn, sắp xếp đội ngũ cán bộ, kết nạp đảng viên được quan tâm. Đảng bộ tỉnh đã kết nạp hơn 2.560 đảng viên, trong đó kết nạp 93 đảng viên trong doanh nghiệp; 1.121/2.509 đồng chí bí thư chi bộ đồng thời là trưởng bản. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội được phát huy. Đời sống nhân dân, bộ mặt nông thôn mới được nâng lên trông thấy. Tháo gỡ rào cản, vướng mắc Bên cạnh kết quả đạt được, các cấp ủy, chính quyền tỉnh Sơn La cũng thẳng thắn nhìn nhận, hiện nay, trước những tác động khách quan, tổ chức cơ sở đảng đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, đòi hỏi cấp có thẩm quyền phải sớm vào cuộc, tập trung tháo gỡ. Thực tiễn cho thấy, hiện nay, một số cấp ủy, chi bộ thực hiện nhiệm vụ xây dựng đảng còn hạn chế, nhất là công tác phát triển đảng viên chưa vững chắc, nguy cơ tái bản "trắng" đảng viên vẫn còn. Chất lượng sinh hoạt chi bộ một số nơi chưa cao dẫn đến việc đưa các chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống ở nhiều địa phương còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là do xuất phát điểm của Sơn La là một tỉnh vùng cao Tây Bắc, điều kiện kinh tế-xã hội gặp nhiều khó khăn, nguồn lực hạn chế, khó huy động, phát huy hiệu quả. Địa bàn rộng, nhiều thành phần dân tộc sinh sống, đời sống còn khó khăn nhiều mặt; trình độ văn hóa của một số cấp ủy chưa đồng đều, chưa phát huy hết vai trò nêu gương trong lãnh đạo, chỉ đạo. Thực hiện chủ trương bí thư chi bộ đồng thời là trưởng bản ở Sơn La, một số bí thư chi bộ đã trải qua quá trình công tác lâu năm, có kinh nghiệm lãnh đạo nhưng do tuổi tác, nguồn phụ cấp chưa tương xứng nên họ không muốn kiêm nhiệm thêm chức danh. Thực hiện việc tinh giản bộ máy biên chế, sau sáp nhập, một bộ phận cán bộ, đảng viên gần dân bị cắt giảm. Trong khi đó, nguồn kinh phí “bồi dưỡng” cho đội ngũ hoạt động không chuyên trách ở các bản, tiểu khu quá thấp nên họ không mặn mà... Để tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đồng chí Nguyễn Hữu Đông, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Sơn La khẳng định: “Ngoài việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới, cần đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Thực hiện nghiêm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, đẩy mạnh tuyên truyền, nhân rộng các mô hình mới, cách làm hay; biểu dương, khen thưởng kịp thời các tổ chức đảng, đảng viên tiêu biểu”. Mặt khác, các cơ quan chức năng cần tiếp tục nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, bảo đảm chế độ, chính sách cho các cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng ở cơ sở.

NƯỚC VIỆT NAM LÀ MỘT- ĐÓ LÀ SỰ THẬT KHÔNG THỂ CÃI BÀN!


Trích đoạn bài viết “Người trong một nước” của Nguyễn Gia Kiểng trong “Tổ quốc ăn năn” đăng trên trang Tập hợp dân chủ đa nguyên ngày 2/10/2022 về thực chất cũng vẫn là những luận điệu phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 92 năm qua; đồng thời chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua việc khơi dậy những vấn đề đã thuộc về lịch sử và bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Một là, trải bao đời dựng và giữ nước; trải qua bao biến cố lịch sử thì vẫn khẳng định chắc chắn rằng tâm nguyện của muôn đời những người dân Việt Nam yêu nước luôn là một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; luôn là một đất nước phát triển ổn định, bền vững để các thế hệ người Việt Nam được sống trong hạnh phúc, ấm no, tự do. Nguyễn Gia Kiểng khi viết “Tổ quốc ăn năn” cũng nhìn lại lịch sử dân tộc, lịch sử của mảnh đất miền Nam Việt Nam. Song góc nhìn và chiều cạnh tiếp cận không khách quan và có chủ kiến suy diễn nên ông đã không chịu thừa nhận những thành quả cách mạng của nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Gia Kiểng sau khi dẫn giải việc Nguyễn Hoàng bắt đầu khai phá đất phương Nam; thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh; thời kỳ Tây Sơn và hậu Tây Sơn; thời kỳ nhà Nguyễn thống nhất quốc gia… đã nhận định không chính xác rằng “nói chung là từ ngày bắt đầu mở ra miền Nam, cách đây trên bốn trăm năm, chúng ta có được tám mươi năm thống nhất” và “từ bốn thế kỷ qua, đất nước Việt Nam ít khi là một, còn dân tộc Việt Nam thì chưa bao giờ là một cả. Không những có chia cắt và chia rẽ, mà còn chia cắt để tàn sát lẫn nhau, chia rẽ để chà đạp và bách hại lẫn nhau”.
Thực tế, lịch sử mỗi một quốc gia – dân tộc trong hành trình xây dựng và phát triển đều có những khúc quanh. Song đi qua những thăng trầm, biến thiên ấy thì không phải chỉ dân tộc Việt Nam/nhân dân Việt Nam mà bất cứ một quốc gia nào cũng khát khao được thống nhất, được độc lập và hòa bình. Điều này, hẳn không phải Nguyễn Gia Kiểng không biết, không hiểu mà chỉ là ông cố tình khơi lại lịch sử để quy chụp và kích động lòng người.
Chỉ giản dị muốn nói với Nguyễn Gia Kiểng rằng, kể sau khi nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp bằng Hiệp ước Giáp Thân 1884 (hiệp ước Patơnốt), ở Việt Nam đã chấm dứt sự tồn tại độc lập của triều đại phong kiến nhà Nguyễn với tư cách là một quốc gia độc lập và thay vào đó là chế độ thực dân nửa phong kiến. Đất nước đắm chìm trong đêm dài nô lệ dưới ánh thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật cho đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh giành chính quyền bằng cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công. Và cũng phải 30 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập (1945), với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 – cho đến nay, đất nước Việt Nam mới lại “non sông liền một dải”, “Bắc Nam sum họp một nhà”. Điều này thì ông không thể bẻ cong được!
Hai là, trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Nước Nam là một khối thống nhất có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một giọng nói”[1]. Đặc biệt, không lâu sau ngày Việt Nam tuyên bố độc lập, thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”[2]; “Nam Bộ là miếng đất của Việt Nam, đó là thịt của chúng tôi”[3] và “Trung, Nam, Bắc đều là đất nước Việt Nam. Chúng ta đều chung một tổ tiên dòng họ, đều là ruột thịt anh em. Nước có Trung, Nam, Bắc, cũng như một nhà có ba anh em… Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia rẽ nước Pháp, thì cũng không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta”[4]…
Sau đó, khi đế quốc Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam, không tôn trọng những điều khoản về việc một cuộc tổng tuyển cử tự do, thống nhất hai miền Nam – Bắc sẽ được thực hiện vào năm 1956 và phá hoại Hiệp định Giơnevơ, từng bước tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam và Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà…Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng”[5]. Đồng thời, Người đã cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thực tế, tinh thần đoàn kết Bắc – Nam, nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Thế nên, luận điệu mà Nguyễn Gia Kiểng cố tình bóp méo khi cho rằng câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “nước Việt Nam là một”- “chỉ có thể là một quyết tâm chứ không phải là một sự thực nếu nhìn vào lịch sử nước ta” thật là nực cười và dối trá. Chẳng phải đó không chỉ là khát vọng, quyết tâm, khẩu hiệu thống nhất trong tư tưởng và hành động mà đã sự thật, biến thành hiện thực sinh động trên đất nước Việt Nam sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975 hay sao? Hả ông Nguyễn Gia Kiểng?
Ba là, một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự thật. Việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta từ mùa Xuân năm 1930, chứ đó không phải chỉ là “sự áp đặt” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cho nên, sự xuyên tạc của Nguyễn Gia Kiểng khi cho rằng câu nói “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự “bày tỏ quyết tâm sắt đá áp đặt bằng mọi giá chế độ cộng sản trên toàn cõi Việt Nam” và “Ông Hồ Chí Minh coi tất cả những người cộng sản trên thế giới là anh em, nhưng ông lại coi những đồng bào Việt Nam của ông không chia sẻ lý tưởng Mác-Lênin của ông là thù địch…” là sự dối trá, là vu khống và bôi nhọ Người.
Hơn nữa, kể từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo các tầng lớp nhân dân tiến hành sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc (1930-1945), tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975) để bảo vệ nền độc lập, xây dựng và phát triển đất nước, thì ở Việt Nam đại đoàn kết toàn dân tộc giữa các giai tầng trong xã hội; giữa 3 miền Bắc, Trung, Nam; giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau… đều được củng cố, phát triển thông qua các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Nên dù miền Bắc và miền Nam tạm thời bị chia cắt trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thì cũng không có chuyện nhân dân hai miền “nhìn nhau không phải như người cùng một nước… Không những chia rẽ nhau mà còn thù ghét nhau” như Nguyễn Gia Kiểng suy diễn, đơm đặt.
Một thực tế nữa là, nước Việt Nam đã thống nhất và dân tộc Việt Nam đã hòa hợp sau những năm dài chiến tranh. Đó là sự thật và “là cái đã có” chứ không phải là “chưa sẵn có” như Nguyễn Gia Kiểng nhận định. Vấn đề là, khi cùng hướng về tương lai, cùng chung một khát vọng đất nước Việt Nam phát triển phồn vinh, nhân dân Việt Nam được tự do, ấm no, hạnh phúc thì mỗi một người dân Việt Nam yêu nước chân chính dù đang sinh sống ở Việt Nam hay ở nước ngoài cũng đều có thể góp phần nhỏ bé của mình! “Tinh thần mới” phải là cùng góp phần xây dưng, bảo vệ và phát triển đất nước, chứ không phải là kích động, là chia rẽ, là kêu gọi và tập hợp lực lượng nhằm chống phá Đảng và chế độ, nhằm bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh như Nguyễn Gia Kiểng nói riêng, nhóm Tập hợp dân chủ đa nguyên nói chung đã và đang tiến hành! Nên là, chừng nào Nguyễn Gia Kiểng còn kích động, xuyên tạc sự thật và bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh thì chừng đó ông vẫn còn phải “ăn năn”, “hối lỗi” trước Tổ quốc và Nhân dân đó ông “ngáo” dân chủ tư sản à!
ST
[1] Nguyễn Ái Quốc: Bản án chế độ thực dân Pháp, Nxb. Sự thật, Hà Nội,1986, tr.132
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.280
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984, t.4, tr.147
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.469-470
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.10, tr.359-360
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'NHÂN DIỆN SỰ THẬT'
62
19 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Luận điệu lạc lõng, sáo rỗng

Vừa qua, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ) phát đi thông cáo kêu gọi chính phủ nước này cần sử dụng vòng đối thoại nhân quyền để thúc ép Việt Nam trả tự do cho những "tiếng nói bất đồng" đang bị giam giữ và có những cải thiện về nhân quyền. Thực tế, đây không phải lần đầu tổ chức này tự cho mình quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Mượn cớ thông tin đó, một số tờ báo, trang mạng nước ngoài a dua "theo đóm ăn tàn" để xuyên tạc, có thái độ hằn học, thể hiện luận điệu sáo rỗng, cho rằng Việt Nam hạn chế nhân quyền, bắt người vô cớ. Cần nhắc lại và nhận thức rằng, không chỉ ở Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, bảo đảm theo đúng Hiến pháp và pháp luật. Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (ngày 15-9-2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: "Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hòa thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp... Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có nội quy; một tổ chức, đoàn thể phải có quy chế, có điều lệ... Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước". Chính vì thế, đã là tội phạm thì phải có luật pháp để xử lý nghiêm minh, giữ gìn sự ổn định đất nước và bảo đảm an toàn cho nhân dân. Do đó, những luận điệu của các thành phần thiếu thiện chí, mượn cớ để quy chụp, cố tình chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng, sáo rỗng cần phải lên án, phê phán mạnh mẽ.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 18/10


“Đồng bào chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, phải tranh đấu đến cùng để mưu tự do, hạnh phúc cho dân tộc”.
Lời của Bác trong “Thư gửi đồng bào tỉnh Lào Cai”, ngày 18/10/1945, báo Cứu quốc, đăng số 71, ngày 19/10/1945.
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước ta đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách. Trước vận mệnh của chính quyền cách mạng được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”; trên cương vị Chủ tịch nước, với bộn bề lo lắng, nhưng Bác vẫn dành sự quan tâm ân cần, sâu sắc đến đồng bào các dân tộc miền núi và chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững chắc, làm tiền đề quan trọng để thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng Việt Nam.
Theo Bác, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng to lớn, để làm cách mạng xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Do đó, đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở những lời kêu gọi, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta xác định, đại đoàn kết dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng. Sứ mệnh lịch sử của Đảng là thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn nhằm chuyển những nhu cầu, đòi hỏi khách quan, chính đáng nhưng mang tính tự phát của quần chúng thành sự tự giác, có tổ chức trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì độc lập dân tộc, vì tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Chính sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đoàn kết và xây dựng tinh thần đoàn kết đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhờ xây dựng tốt tinh thần đoàn kết gắn bó đồng chí, đồng đội, cấp trên với cấp dưới như ruột thịt, lúc thường cũng như lúc ra trận; đoàn kết quân với dân như cá với nước và đoàn kết quốc tế trong sáng, thuỷ chung… đã tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Thực tế đã chứng minh, ở đâu, khi nào mà cấp uỷ, chỉ huy các cấp quan tâm chăm lo lãnh đạo xây dựng tốt mối quan hệ đoàn kết, thì cơ quan, đơn vị đó luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao và ngược lại. Do vậy, đặt ra yêu cầu với cấp uỷ, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó, chung sức, đồng lòng xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH Há CHÍ MINH'

NGƯỜI MỸ NÓI VỀ SAI LẦM CỦA CHÍNH MÌNH TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

 

Giáo sư Ronald Spector nhà nghiên cứu và giảng dạy lịch sử quân sự Mỹ tại trường Đại học George Washington:
“Có người cho rằng Mỹ không thua tại Việt Nam mà Tổng thống Nixon chỉ rút quân và từ bỏ cuộc chiến trước sức ép, trước sự mất kiên nhẫn của người dân và Quốc hội Mỹ. Có người nhận định Mỹ thất bại là do chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã không nhận được sự ủng hộ rộng rãi của người dân do tình trạng tham nhũng và hoạt động kém hiệu quả, thậm chí ngay cả những người chống Cộng tại miền Nam khi đó cũng không thể đoàn kết hành động với nhau. Bên cạnh đó, có những ý kiến cho rằng Mỹ đã mắc sai lầm, chẳng hạn như phải cắt đứt nguồn tiếp tế từ Lào cho bộ đội Việt Nam thay vì tập trung quá nhiều vào việc đối phó với lực lượng khởi nghĩa ở miền Nam”.
“Nhiều người trong Chính phủ cũng như báo giới Mỹ đều kỳ vọng rằng sự can thiệp của quân đội Mỹ vào miền Nam Việt Nam sẽ dẫn đến một thắng lợi chớp nhoáng hoặc chí ít là buộc quân đội Bắc Việt Nam lùi bước. Nhưng phía Mỹ đã đánh giá thấp Việt Nam. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara khi đó từng tuyên bố nếu chúng ta cho đối phương thấy được rằng họ không thể chiến thắng thì họ sẽ bỏ cuộc. Nhưng miền Bắc đã không bỏ cuộc. Tôi cho rằng Tổng Bí thư Lê Duẩn và Bộ Chính trị Việt Nam khi đó nhận định rằng một khi Mỹ nhận thấy quyết tâm chiến đấu của miền Bắc thì họ sẽ nản lòng. Và đúng là phía Mỹ đã nản lòng”.
-----
Đại tá Andres Sauvageot từng có 9 năm tham chiến ở Việt Nam trong vai trò cố vấn cho chính quyền VNCH:
“Đáng lẽ Tổng thống Nixon phải rút quân khỏi Việt Nam sớm hơn. Pháp hay Mỹ đều phải viễn chinh đến một đất nước xa xôi trong khi người Việt Nam chiến đấu ngay trên chính đất nước của họ vì độc lập, tự do của chính họ. Đây là sự khác biệt, nhất là khi Việt Nam có những con người anh dũng, yêu hòa bình, ghét chiến tranh nhưng nếu bị xâm lược, cho dù kẻ đó là ai, Trung Quốc, Nhật, Pháp hay Mỹ thì cuối cùng những kẻ đó cũng đều thất bại. Nếu sinh ra ở Việt Nam, tôi cũng sẽ đứng về phía cách mạng, sẽ không chấp nhận bất kỳ kẻ ngoại xâm nào”.
-----
David Lamb, phóng viên chiến trường của hãng tin UPI của Mỹ:
“Trước khi đến Việt Nam, về cơ bản tôi ủng hộ chiến tranh, cho rằng đó là điều Mỹ nên làm, tức là chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Chúng ta nên đặt những suy nghĩ của tôi trong bối cảnh thời gian vì khi đó đang là thời kỳ Chiến tranh lạnh và cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng kết thúc cách đó chưa lâu. Nhưng trong 2 năm ở Việt Nam, quan điểm của tôi đã hoàn toàn đảo ngược. Tôi nhận ra rằng đây là cuộc chiến mà Mỹ sẽ không thể chiến thắng, cuộc chiến mà đáng lẽ Mỹ không nên tham gia.”
“Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng tôi là không hiểu người Việt Nam, không hiểu lòng kiên nhẫn, sự ngoan cường, chủ nghĩa dân tộc, khả năng chiến đấu, lịch sử, văn hóa, và ngôn ngữ của các bạn. Đối với thắng bại trong chiến tranh thì đó là sự thiếu hiểu biết chết người. Tôi ước rằng Mỹ đã có thể rút ra được bài học kinh nghiệm từ Việt Nam nhưng đáng tiếc là chúng tôi lại sa vào cuộc chiến tại Iraq, một thảm họa không khác cuộc chiến tranh Việt Nam”.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và ngoài trời