Thứ Hai, 17 tháng 10, 2022

MỖI LÁ PHIẾU LÀ MINH CHỨNG RÕ RÀNG VỀ THÀNH TỰU NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 Ngày 11/10/2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, tại phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 tại New York (Mỹ).

14 thành viên mới trúng cử Hội đồng Nhân quyền sẽ đảm nhiệm trọng trách trong nhiệm kỳ 3 năm, bắt đầu vào tháng 1/2023. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, lần đầu nhiệm kỳ 2014-2016 và lần thứ hai nhiệm kỳ 2023-2025 (Theo quy định của Hội đồng Nhân quyền, mỗi thành viên chỉ được bầu và đảm trách một nhiệm kỳ, hai nhiệm kỳ kế tiếp sẽ không được tham gia ứng viên).

Lá phiếu của mỗi quốc gia bầu chọn Việt Nam trúng cử thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là một trong những minh chứng rõ ràng nhất và là sự khẳng định:

Một là, các quốc gia trên thế giới công nhận, tin tưởng vào các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam đã bảo đảm thực hiện quyền con người cho người dân Việt Nam trên các lĩnh vực của đời sống xã hội một cách trách nhiệm, tích cực, thành tâm vô điều kiện, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Hai là, mỗi lá phiếu của các quốc gia đã nói lên Chính phủ Việt Nam đã cam kết thực hiện đúng, có hiệu quả các Công ước quốc tế có liên quan quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc phê chuẩn, các cố gắng này đã và đang được nội luật hóa thành pháp luật trong nước, trở thành công cụ quản lý nhà nước.

Ba là, các quốc gia trên thế giới nói chung, các nước trong khu vực ASEAN nói riêng đã bày tỏ sự tin tưởng vào Việt Nam với tư cách là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, sau khi được bầu vào Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam sẽ tiếp tục “là một thành viên quan trọng của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam sẽ hợp tác với chúng tôi trong việc thúc đẩy quyền con người” như lời của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á - Thái Bình Dương ông Daniel Kritenbrink chúc mừng Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại buổi họp báo chiều 12/10.

Bốn là, mỗi lá phiếu của các quốc gia đã xác nhận Việt Nam đã hoàn thành tốt “Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng nhân quyền và đang tiến hành những khuyến nghị cho UPR chu kỳ 3”. Khẳng định Việt Nam đặc biệt quan tâm tới các công ước quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, tích cực thúc đẩy các Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, loại bỏ các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ… và như bài viết của tờ Washington Times ngày 21/9/2022 khẳng định, việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền sẽ góp phần làm sâu sắc thêm sự tham gia của Việt Nam vào hệ thống quốc tế.

Năm là, mỗi lá phiếu của các quốc gia bầu chọn Việt Nam vào thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã trực tiếp bác bỏ các quan điểm sai trái của các lực lượng thù địch phủ nhận, xuyên tạc, vu khống tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian qua.

Ngày 24/9/1982, Việt Nam đã tham gia Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR). Kể từ khi tham gia, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực vượt bậc để bảo đảm các quyền dân sự và chính trị cơ bản trong ICCPR được tôn trọng và thực thi, bảo đảm trong điều kiện nhiều khó khăn về mọi mặt. Năm 2013, Việt Nam nằm trong nhóm 18 quốc gia được trao Bằng khen của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) chứng nhận việc sớm đạt được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 1 (MDG1) vì đã về đích sớm trước 13 năm so với yêu cầu. Đúng như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã phát biểu tại Phiên toàn thể Diễn đàn cấp cao về cách mạng công nghiệp lần thứ 4, ngày 6/12/2021, nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, đó là điều quan trọng nhất là phát huy tối đa yếu tố con người; đồng thời, giữ vững ổn định chính trị; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, không hy sinh an sinh xã hội, môi trường, tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Với những kết quả của bạn bè quốc tế công nhận, bầu chọn Việt Nam lần thứ hai vào thành viên của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, chúng ta càng cần nhận thức đúng các nội dung sau:

Thứ nhất, về mặt nhận thức, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về quyền con người, quyền công dân.

Trước năm 1945, người dân Việt Nam không được hưởng các quyền công dân, tư cách pháp lý của người dân Việt Nam chỉ là thần dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam ra đời, địa vị của người dân Việt Nam mới được thay đổi từ người nô lệ trở thành chủ nhân của một quốc gia độc lập, các quyền công dân của người Việt Nam lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp. Tuy nhiên, mục tiêu đấu tranh giành quyền con người cho người dân Việt Nam đã được Đảng ta xác định trong Cương lĩnh đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo (“Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt) được Hội nghị thành lập Đảng, ngày 3/2/1930 xác định, thực hiện cuộc cách mạng đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến đem lại quyền con người cho mọi người và “Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền; phổ thông giáo dục…”. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giá trị quyền con người của người dân Việt Nam được long trọng khẳng định trong Bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ ngày 2 tháng 9, được thể chế hóa bằng bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên ở Đông Nam Á.

Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 12/CT/TW về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”, trong đó, xác định “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”. Nhận thức, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về quyền con người, quyền công dân tiếp tục được thể hiện rõ trong các nghị quyết, chỉ thị sau này. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xác định “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013”[1].

Thứ hai, về những thành tựu đạt được trên các mặt.

Bên cạnh những thành tựu như chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, kinh tế vĩ mô duy trì ổn định vững chắc, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp tạo môi trường và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của các quốc gia trên thế giới, trong đó, có Việt Nam, GDP 6 tháng của nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng dương, tăng 1,81%. Sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam cũng được nâng lên rõ rệt: Năm 2013 - 2014 nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 70/148 quốc gia trong bảng xếp hạng. Năm 2019, năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam tăng 10 bậc so với năm 2018, đứng thứ 67/141 nền kinh tế. Chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2019 tăng 8 bậc so với năm 2015, xếp thứ 70/190 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao của thế giới; từ mức 0,654 năm 2010 (thứ hạng 114/189 quốc gia và vùng lãnh thổ) lên mức 0,694 năm 2017 (thứ hạng 116/189 quốc gia và vùng lãnh thổ).

Thành tựu xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao. Tỷ lệ hộ đói, nghèo đã giảm liên tục từ 30% năm 1992 xuống còn 8,3% năm 2004. Đến năm 2000, cơ bản xóa xong tình trạng đói kinh niên. Giai đoạn 2010-2020, tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 14,2% năm 2010 xuống còn 7% năm 2015 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015) và giảm từ 9,2% năm 2016 xuống dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều).

Việt Nam cũng là một trong những nước đã chủ động sản xuất nhiều vaccine phòng bệnh (bệnh tả, bệnh đậu mùa, thương hàn…); bào chế và sản xuất được các thuốc thông thường bằng nguyên liệu tại chỗ; kiểm soát và ngăn ngừa được nhiều dịch bệnh nguy hiểm. Việt Nam là điểm sáng trong thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ và điểm sáng trong phòng, chống đại dịch Covid-19. Hiện nay, Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh, ho gà, bạch hầu. Cả nước có 1.400 bệnh viện với 180.000 giường bệnh, 700 trung tâm y tế huyện, quận, thị xã; hơn 11.100 trạm y tế xã, phường, thị trấn, trong đó, có hơn 60% số trạm y tế đã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2010-2020.

Cùng với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa luôn luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam được bảo đảm ngày càng tốt hơn với hàng trăm ấn phẩm báo chí, đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, báo và tạp chí điện tử, trang, cổng thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Ngoài ra, người dân Việt Nam còn được tiếp cận với hàng chục hãng thông tấn, báo chí và kênh truyền hình nước ngoài, như: Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN và nhiều báo, tạp chí quốc tế lớn khác.

Thứ ba, về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền công dân.

Trong lời nói đầu của Bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 viết “Điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật”. Thể chế hóa quan điểm của Đảng về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 đã đưa vị trí, nội dung quyền con người, quyền công dân lên thành chương thứ hai với 36 điều, đây là chương có số điều quy định nhiều nhất (36/120 điều), có nhiều đổi mới nhất cả về nội dung quy định, cả về cách thức thể hiện. Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên xác định Nhà nước có trách nhiệm “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Khi quy định quyền con người, quyền công dân, các điều của Hiến pháp năm 2013 đều trực tiếp xác định “mọi người có quyền...”, “công dân có quyền”… để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ mà không phải Nhà nước “ban phát”, “ban ơn” các quyền này cho con người, cho công dân.

Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của “luật”, mà không phải hạn chế theo quy định của “pháp luật” và việc hạn chế chỉ áp dụng trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Với quy định này, sẽ không thể có chủ thể nào, kể cả các cơ quan nhà nước được tùy tiện hạn chế các quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp. Cũng từ nguyên tắc này, các quy định liên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người, của công dân (như quyền được sống, quyền không bị tra tấn, quyền bình đẳng trước pháp luật...) là các quy định có hiệu lực trực tiếp. Các quyền, tự do cơ bản khác của con người, của công dân và quyền được bảo vệ về mặt tư pháp được cụ thể hóa nhưng phải bằng luật do Quốc hội ban hành, không phải quy định chung chung “theo quy định pháp luật” như một số quy định trước đây.

Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và tích cực nội luật hóa các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết, phê chuẩn (Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người) hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay đã thể hiện bước tiến mới trong việc mở rộng và phát triển các quyền, phản ánh kết quả của quá trình đổi mới ở Việt Nam. Đây cũng chính là sự khẳng định cam kết của Việt Nam trước nhân dân, trước cộng đồng quốc tế và quan trọng hơn là cam kết của chế độ, phản ánh bản chất của chế độ trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam.

Thứ tư, về sự công nhận, tôn vinh của cộng đồng quốc tế về thành quả đạt được trong việc thúc đẩy, bảo về quyền con người ở Việt Nam.

Khi quyền con người, quyền công dân được Đảng, Nhà nước nhận thức đúng đắn, hành động tích cực, thiết thực, nó cũng đồng nghĩa nhận được kết quả ủng hộ Việt Nam, công nhận Việt Nam của cộng đồng quốc tế khi liên tục Việt Nam được bầu vào các thiết chế bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc. Sau 7 năm (từ năm 2007) Việt Nam chỉ có vị trí pháp lý là quan sát viên tại Hội đồng nhân quyền, nhưng nhờ tích cực tham gia vào các hoạt động, đóng góp nhiều ý kiến, chia sẻ quan điểm, kinh nghiệm về các vấn đề lớn như tăng cường hiệu quả của hội đồng, đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền con người, trong đó có quyền phụ nữ, trẻ em, dân tộc thiểu số, đảm bảo an sinh như bảo hiểm y tế, bình đẳng xã hội, chính sách giáo dục, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh con người…

Việt Nam đã ứng cử và được bầu chọn vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu bầu cao nhất trong 14 quốc gia được bầu chọn vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, khi mức thu nhập đầu người của Việt Nam năm 2014 mới hơn 2.000 USD thấp hơn nhiều so với nhiều quốc gia cùng thời điểm có GDP bình quân đầu người đã trên 10.000, 20.000 USD. Điều này đã minh chứng mọi thành tựu của đất nước đều hướng tới người dân. Tuy phát triển kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nhưng việc thực hiện các Mục tiêu phát triển của Liên hợp quốc luôn được thực hiện tích cực, mạnh mẽ, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân.

Ngày 30/6/2019, Việt Nam và EU chính thức ký kết EVFTA và IPA. Đây là đối tác chỉ ký kết hiệp định thương mại với các quốc gia về cơ bản bảo đảm được các điều kiện về nhân quyền. Đó là minh chứng Việt Nam thực sự coi trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người - một trong ba trụ cột hoạt động chính của Liên hợp quốc, bên cạnh các vấn đề hòa bình, an ninh quốc tế và hợp tác phát triển. Trong Thông điệp của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhân dịp Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 đã khẳng định: “Đây là sự ghi nhận quan trọng và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với vai trò và đóng góp xứng đáng của Việt Nam vào công việc quốc tế và khu vực; thể hiện vị thế, uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là một vinh dự lớn lao, khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, song cũng là trách nhiệm hết sức nặng nề, đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực hết mình để hoàn thành trọng trách mà cộng đồng quốc tế giao phó. Việt Nam đã và sẽ tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; thúc đẩy tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, góp phần tích cực vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển”.

Thứ năm, về các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc.

Thiết nghĩ với những thành công không thể phủ nhận trong thực hiện quyền con người, quyền công dân ở nước ta như đã minh chứng ở trên, tiếc rằng do nhiều lý do khác nhau, thậm chí có cả lý do viết bài xuyên tạc quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam chỉ để được nhận nguồn tiền tài trợ, một số người đã thẳng thừng phủ nhận những kết quả đạt được trong việc thực hiện quyền con người, quyền công dân ở nước ta; trắng trợn vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người, quyền công dân; bịa đặt pháp luật Việt Nam “thích bắt ai thì bắt”… Ngang ngược hơn nữa, họ còn đòi hỏi Việt Nam phải từ bỏ lựa chọn chế độ chính trị, chính họ đã vi phạm nghiêm trọng vào khoản 1, Điều 1 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966 khi long trọng xác định “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”.

Thành quả đạt được về mục tiêu phấn đấu, về bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Việt Nam trong thời gian qua được cộng đồng quốc tế, đông đảo các tầng lớp nhân dân công nhận, ủng hộ là những giá trị, kết quả không thể phủ nhận, nhưng đó cũng là đòn bẩy, là động lực, là mục tiêu phấn đấu của toàn xã hội ta trong bước đường đi chung cùng nhân loại, tất cả đều bắt nguồn từ phẩm giá của con người. Nếu ai đó còn cố tình xuyên tạc, vu khống, kích động, lợi dụng vấn đề nhân quyền ở nước ta cho mục đích cá nhân, gây tổn hại cho lợi ích cộng đồng cần sớm chấm dứt, từ bỏ mục đích xấu. Mượn lời, chia sẻ cụ thể hơn về những thành tựu của Việt Nam trong thúc đẩy quyền con người, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper nói: “Sự phát triển của Việt Nam thể hiện qua những con đường, những sân bay, những tuyến đường đến những vùng rất là xa xôi như miền Bắc hay Tây Nguyên… những thay đổi này đã góp phần thúc đẩy kinh tế, du lịch, thu hút đầu tư, điều này rất có lợi cho cuộc sống của người dân và sinh kế của người dân”.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU DỐI TRÁ “ĐẢNG CÀNG CHỐNG THAM NHŨNG, DÂN CÀNG MẤT NIỀM TIN”

 Thành công của công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay khiến các thế lực xấu, thù địch càng thêm cay cú, điên cuồng. Chúng kiếm cớ xuyên tạc sự thật, gieo rắc tâm lý hoang mang, nghi ngờ rằng, càng đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì niềm tin của Nhân dân vào Đảng càng giảm sút! Sự thật có như chúng rêu rao?

Sự thật sáng ngời bóc trần sự bịa đặt đen tối

Báo cáo tóm tắt tổng kết 10 năm công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022, cho biết: “Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 3 ủy viên Bộ Chính trị, 1 nguyên ủy viên Bộ Chính trị, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Trong 10 năm qua, đã khởi tố, điều tra 19.546 vụ với 33.868 bị can, truy tố 16.699 vụ với 33.037 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế, trong đó tội phạm về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 2.657 vụ với 5.841 bị can.

Nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, kể cả những vụ việc tồn đọng từ nhiều năm trước và các vụ án xảy ra trong các ngành, lĩnh vực chuyên môn sâu, hoạt động khép kín, bí mật, được cho là vùng cấm, nhạy cảm cả khu vực công và khu vực tư đã được tập trung chỉ đạo điều tra, đi sâu làm rõ bản chất chiếm đoạt, vụ lợi. Xử lý nghiêm minh công khai cán bộ sai phạm liên quan đến các vụ án, trong đó có 37 cán bộ thuộc diện trung ương quản lý cả đương chức, nghỉ hưu bị xử lý hình sự”.

 Như vậy, kết quả của công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực cho thấy động cơ trong sáng, tinh thần quyết chiến với tham nhũng tiêu cực của “đội quân tiên phong” vì lợi ích, hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc chứ chẳng phải là “đấu đá” của các phe cánh trong nội bộ. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân và không cho phép bất cứ một phe phái lợi ích nào tồn tại trong bộ máy chính quyền.

Mọi việc làm trong công cuộc phòng chống “giặc nội xâm” đều nhằm đến việc xây dựng một nhà nước kiến tạo sự phát triển, liêm chính, chí công vô tư, phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân. Có thể thấy rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong phòng chống tham nhũng, tiêu cực và ý chí, nguyện vọng của nhân dân đã hòa quyện thành một khối thống nhất, không thể chia tách.

Vì thế, càng đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực bao nhiêu thì nhân dân lại càng thêm ủng hộ, tin tưởng vào “thủ lĩnh chính trị” của mình bấy nhiêu. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành mới đây, tuyệt đại đa số ý kiến của người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Sự thật này khiến cho luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của thế lực xấu, thù địch trở nên trơ trẽn, nực cười.

Điểm tựa vững chắc của niềm tin

Với thủ đoạn “suy diễn ngược” từ những thành công trong phòng chống tham nhũng, các thế lực xấu, thù địch cho rằng tình trạng “đụng đâu đổ đó” của “cuộc đấu đá nội bộ” chứng tỏ rằng, hệ thống chính trị của Việt Nam đang “suy thoái” đến mức “tồi tệ”, cho dù có tìm mỏi mắt cũng chẳng thấy được một tổ chức trong sạch, một cơ quan liêm chính, vì quyền lợi của công chúng.

Chúng xuyên tạc rằng tham nhũng, tiêu cực “khủng”, có tổ chức, có móc nối giữa nhiều cơ quan, bộ, ngành đã trở thành phổ biến, thành “lỗi hệ thống” do bản chất của “chế độ cộng sản” mà ra. Lạm quyền, lộng quyền, “bắt tay, chống lưng” cho doanh nghiệp “tự tung, tự tác” đã trở thành “chuyện thường ngày” của các cán bộ có chức, có quyền, nhất là người có trọng trách cao.

Và nếu “lò” tiếp tục cháy thì nguy cơ hụt hẫng, “rỗng” cán bộ trong bộ máy công quyền là nhãn tiền, khó “cứu chữa”, tâm lý chán nản, thất vọng, hoang mang, “thích ra ngoài nhà nước”, “chủ nghĩa an toàn” của cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên đang lan tràn…

Có thể thấy, tất cả chiêu bài trên đều bị “bóc trần” bởi giá trị tinh thần mang tên “niềm tin” của nhân dân Việt Nam đối với Đảng cộng sản quang vinh. Niềm tin ấy đã được hun đúc, thử thách qua rất nhiều những sóng gió cam go trong lịch sử và hiện tại; đồng thời có nền tảng vững chắc là sự đồng tâm, hiệp lực, gắn bó, keo sơn về mọi phương diện giữa Đảng với Nhân dân.

Điều này được thể hiện khi mỗi vụ án tham nhũng, tiêu cực bị phanh phui, cán bộ tham nhũng bị xử lý thích đáng, nhân dân rất phấn khởi, bởi “bọn sâu mọt phá hoại”, “kẻ ăn cắp của nhân dân” đã bị xử lý nghiêm minh; công lý, lẽ phải, tình người đã lên ngôi, lý tưởng được thắp sáng.

Nhân dân cũng đủ tỉnh táo, sáng suốt để nhận ra rằng, bọn “giặc trong lòng” rất gian manh, quỷ quyệt, tuy nhiên chúng cũng chỉ là một bộ phận, là số ít và đã, đang bị Đảng và Nhân dân đồng sức, chung tay để phòng, chống “sâu, mọt”, để “cứu cả cánh rừng”, trả lại màu xanh “thanh liêm” cho cả hệ thống chính trị. Niềm tin của nhân dân còn được xây dựng trên một sự thật giản dị nhưng hết sức thiêng liêng.

Trước đây (trước năm 2012), công cuộc chống tham nhũng đã được khởi động nhưng không mấy kết quả, thậm chí có những vụ việc gây bức xúc dư luận nhưng vẫn bị trôi vào quên lãng. Giờ đây, ý Đảng đã hòa hợp với lòng dân, sức mạnh chống giặc, trừ gian của toàn Đảng toàn dân được cộng lực, hun đúc, đã xóa bỏ mọi rào cản, băn khoăn, nghi ngờ để “tiền hô, bá ứng, dọc ngang thông suốt, trên dưới một lòng, đồng tâm hiệp lực”.

Luận điệu cho rằng, “đụng đâu đổ đó”, “lỗi hệ thống”, “tha hóa phổ biến” là sự quy chụp theo kiểu lấy số ít quy thành số đông, hiện tượng thành bản chất, bộ phận thay cho toàn thể… để hướng lái dư luận, phá hoại mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Nhân dân, phủ nhận vai trò của Đảng của Nhà nước.

Mỗi bước thắng lợi của cuộc chiến chống giặc nội xâm đều chứng tỏ bản lĩnh, trí tuệ, sự mưu trí, dũng cảm và sức mạnh chính nghĩa của “đội quân tiên phong” trong việc “diệt gian, trừ tà, hàng yêu” ngày càng “thăng hạng”, chứ không phải chứng tỏ sự suy thoái, yếu nhược của hệ thống; cũng càng không phải Đảng sợ những “khoảng trống” để lại sau khi cán bộ tha hóa biến chất bị phanh phui.

Đảng tin vào sức mạnh vô biên, tài trí dồi dào, tinh thần xả thân cống hiến ở Nhân dân. Do vậy, Đảng đã tuyên bố, người nào thấy mình thoái trí, thiếu bản lĩnh, run sợ, cầu an hãy rút lui, “dẹp ra một bên” để người khác làm, chứ không có cái gọi là “rỗng” cán bộ hoặc phải níu kéo những cán bộ có tư tưởng cầu an, “buông chèo”.

Thừa hưởng thành quả của cuộc chiến phòng, chống tham nhũng là Nhân dân chứ không phải bất cứ một phe phái nào khác, quyền “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được củng cố, mở rộng. Bởi vì, Đảng không có lợi ích tự thân, không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân của dân tộc, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.

Vì thế, có thể nói, Đảng là đại diện cho lương tri, chính nghĩa, là Đảng của dân, “về phe” nhân dân và kiên quyết không khoan nhượng với bất cứ một phe phái lợi ích nào đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, của dân tộc.

Như vậy, với sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, sự ủng hộ đồng lòng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ tiếp tục được đẩy mạnh để "hạ những cành cây mục bảo vệ màu xanh của cánh rừng dân chủ”.

Thành quả của công cuộc phòng chống tham nhũng chẳng những thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa mà còn ngày càng thắp sáng niềm tin của nhân dân với Đảng và làm cho mọi luận điệu công kích, xuyên tạc về công cuộc “trừ gian, diệt họa” trở nên lố bịch, nực cười.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TO LỚN TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ

 Thời gian qua, sau khi bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được đăng tải, các thế lực thù địch đã phát tán nhiều bài viết, bình luận trên nền tảng mạng xã hội và một số website, tờ báo nước ngoài có tư tưởng phản động chống phá Việt Nam như: Danlambao, kênh VOA Tiếng Việt, Đài Á Châu Tự Do... với nội dung xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nội dung bài viết trên. Chúng cho rằng Tổng Bí thư đã đưa ra “hệ thống lý luận cũ kỹ, không còn phù hợp với thời đại”, “lạc nhịp”, “lỗi thời” và Việt Nam “lợi dụng tự do, dân chủ, tuyên truyền chống phá các nhà nước tư bản”; phản đối chế độ một đảng lãnh đạo ở Việt Nam; bôi nhọ, nói xấu chế độ ta. Thực chất đây là những luận điệu sai trái, thông tin sai sự thật, “lập lờ đánh lận con đen”, cố tình xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam mà Tổng Bí thư đã trình bày trong bài viết quan trọng của mình!

Trước những lập luận chặt chẽ trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các thế lực thù địch cố gắng dùng mọi thủ đoạn để cố tình xuyên tạc, bôi nhọ bài viết, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng XHCN.

Xuyên tạc những vấn đề lý luận trong bài viết của Tổng Bí thư, các thế lực thù địch, cơ hội cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội chỉ là phương tiện cứu nước, giành độc lập dân tộc, và khi giành độc lập rồi thì cần phải thay đổi phương tiện”(VOA Tiếng Việt). Thực chất đây là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, hòng phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 

Bài viết của Tổng Bí thư đã khẳng định chế độ XHCN là một chế độ xã hội mang bản chất tốt đẹp, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, lấy con người làm trung tâm, dựa trên lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội tư bản “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm đoạt của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”. Vậy mà, luận điệu của các thế lực thù địch lại cho rằng“chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hoàn toàn không có bình đẳng xã hội, không có an sinh, phúc lợi xã hội gì cả, mọi thứ đều phải trả bằng tiền”. Có lẽ nào chúng muốn dân tộc ta phải đi tìm cái bình đẳng của phương Tây khi mà một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng và do đó chi phối toàn xã hội. Trong nhiều bài viết chống phá con đường đi lên CNXH ở nước ta, các thế lực thù địch thường xuyên so sánh vấn đề dân chủ ở Việt Nam và vấn đề dân chủ Phương Tây nhưng họ không hiểu rằng trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át và người dân mất đi chính quyền làm chủ của chính mình. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; núp đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự thống trị của các tập đoàn tư bản.

Bài viết của đồng chí Tổng Bí thư đã làm rõ những vấn đề cốt lõi của chế độ XHCN mà chúng ta kiên định trong quá trình đổi mới đất nước; đồng thời đã khẳng định chế độ XHCN là một chế độ xã hội mang bản chất tốt đẹp, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, lấy con người làm trung tâm, dựa trên lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa cá nhân và phe nhóm. Để đạt được mục tiêu đó, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Không chấp nhận thực tế đó, những kẻ thù địch với chế độ XHCN ở trong và ngoài nước lại cố tình bịa đặt, lèo lái, dẫn dắt đánh lừa dư luận nhằm thực hiện mưu đồ phản động của mình bằng ngôn ngữ xấu, độc, võ đoán khi cho rằng: “Đảng cộng sản dốc tâm lo xây dựng chủ nghĩa xã hội để nắm giữ lợi quyền. Để độc quyền cai trị. Để có cơ nhũng lạm, cướp bóc, làm giàu cho cá nhân, phe nhóm, vinh sang cho một đảng trị vì khiến đất nước cứ mãi lạc hậu đói nghèo”. Tiếp cận dưới góc độ một bài viết có tính lý luận cao, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng lập luận khoa học, thuyết phục qua những thành tựu xây dựng CNXH, thể hiện tập trung ở giải trình bản chất chế độ XHCN ở Việt Nam. Đó là cơ sở phản bác một cách thuyết phục, kể cả phản bác đanh thép, sắc bén trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư khẳng định rằng: Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là không thể phủ nhận; những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta là có thực, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ CNXH ở Việt Nam. Đó là những khó khăn, trở lực cả khách quan lẫn chủ quan đang từng ngày, từng giờ đe dọa đến sự tồn vong của chế độ, mà thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cũng từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãnh phí, thoái hóa… trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị. Thực tế công tác xây dựng Đảng ở nước ta và những quyết tâm của đồng chí Tổng Bí thư trong bài viết là sự tiếp nối của tư tưởng Hồ Chí Minh: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

Từ khi bài viết được công bố ngày 16/5/2021 đến nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, các báo, tạp chí… đã có hàng nghìn bài viết, bài bình luận, tâm tư tình cảm của độc giả, từ cán bộ hưu trí, đảng viên ở cơ sở, nhân dân ở mọi vùng, miền của Tổ quốc; từ đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo cho đến các nhà nghiên cứu, các chính trị gia, học giả quốc tế, văn nghệ sĩ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài… đón nhận bài viết của Tổng Bí thư với lòng yêu mến, niềm tin tưởng và sự hưởng ứng tích cực.

Đối với các Đảng Cộng sản, Đảng Lao động trên thế giới như: Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Cuba, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, … đều bày tỏ sự đồng tình, đánh giá cao bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những nhận định của bạn bè quốc tế năm châu về bài viết của đồng chí Tổng Bí thư không chỉ tiếp thêm niềm tin vững chắc cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đi trên con đường CNXH, mà còn trang bị vũ khí lý luận sắc bén để chúng ta tiếp tục đấu tranh, phản bác với những suy diễn vô căn cứ, chống phá, xuyên tạc những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong hơn 35 năm đổi mới đất nước. Từ tổng kết thực tiễn của Việt Nam, Tổng Bí thư đã đóng góp thêm tiếng nói của Việt Nam vào kho tàng lý luận thế giới về CNXH. Điều đó càng khẳng định rằng, sự lựa chọn và kiên định con đường đi lên CNXH không phải là "sai lầm" mà là sự lựa chọn, kiên định đúng đắn của lịch sử dân tộc, của nhân dân ta, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ra đời cách đây hơn một năm, bài viết của đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã khơi dậy và lan tỏa niềm tin, niềm tự hào, tình cảm thiêng liêng đến các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước về CNXH ở Việt Nam; góp phần quan trọng củng cố niềm tin của nhân dân đối với con đường đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sẽ tiếp tục đưa ra các luận điệu phản động, tìm cách phủ nhận, bôi đen thành tựu xây dựng, phát triển đất nước, xuyên tạc, bóp méo CNXH và con đường đi lên CNXH, hạ thấp uy tín đồng chí Tổng Bí thư. Do đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cần hiểu rõ giá trị bài viết, coi đây là cơ sở khoa học, luận điểm để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch.

Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, thể hiện tầm tư tưởng, giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, là kim chỉ nam tiếp tục chỉ đạo nhiệm vụ quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cho công cuộc đổi mới của đất nước trong thời gian tới. "Hiện nay, gần 1,5 tỷ người trên hành tinh vẫn đang đi theo con đường XHCN với những thành tựu đáng trân trọng và tự hào. Dù còn nhiều khó khăn, thách thức, phức tạp, nhưng sự phát triển của các nước XHCN hiện nay (Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba...) đã chứng minh rằng CNXH vẫn là hiện thực, là thực tế, là một chế độ xã hội tốt đẹp nhất trong lịch sử nhân loại đến ngày nay". Nhân dân tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta sẽ tiếp tục giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA NGƯỜI DÂN

 Bảo vệ bí mật nhà nước là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước, liên quan đến sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bảo vệ bí mật nhà nước có mối quan hệ mật thiết với bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tiếp cận thông tin. Do đó, việc xác định đúng phạm vi bí mật nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc vừa bảo đảm bảo vệ bí mật nhà nước vừa bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.

Quyền tiếp cận thông tin của người dân ở Việt Nam luôn được bảo đảm

Quyền tiếp cận thông tin là một trong các quyền cơ bản của con người, của công dân thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự năm 1966 mà Việt Nam là thành tiếp cận thông tin viên. Quyền tiếp cận thông tin liên tục được khẳng định trong nhiều điều ước quốc tế khác như Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển, Công ước UNECE về Quyền tiếp cận thông tin môi trường.

Ở nước ta, để đảm bảo quyền được thông tin, Đảng ta đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua Đại hội VII năm 1991. Điều 69 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 sau đó ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật”. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước và quyền con người nói chung, quyền tiếp cận thông tin nói riêng có mối quan hệ tác động qua lại rất mật thiết. Quyền được thông tin có vai trò tích cực và tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân. Trong thời gian qua, quyền tiếp cận thông tin cũng được sự quan tâm thích đáng của Đảng và đã được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng. Cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước.

Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, thực hiện chủ trương của Đảng, đồng thời nội luật hoá một số quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành có quy định về quyền được thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước đang nắm giữ (các thông tin về môi trường, thông tin về quy hoạch, về xây dựng, về đất đai, về các dự án, về vệ sinh, an toàn thực phẩm, về chi tiêu ngân sách...), như Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Kiểm toán, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm và chống lãng phí, Luật Nhà ở... Việc quy định trách nhiệm công khai, minh bạch và cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước trong các văn bản pháp luật được ban hành sau ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn so với các văn bản được ban hành trước.
Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, ngày 06-4-2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật tiếp cận thông tin số 104/2016/QH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2018. Luật tiếp cận thông tin quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Bảo vệ bí mật nhà nước phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết nhưng không được hạn chế quyền tiếp cận thông tin.

Trong từng thời kỳ phát triển của đất nước, bí mật nhà nước luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của đất nước. Luật An ninh quốc gia năm 2004, Điều 14 đã xác định bảo vệ bí mật nhà nước là một trong năm nhiệm vụ quan trọng của bảo vệ an ninh quốc gia.

Ngay trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 154-SL ngày 17/11/1950 ấn định những hình phạt, trừng trị việc tiết lộ bí mật cơ quan hay công tác của Chính phủ; Sắc lệnh số 69-SL về giữ gìn bí mật quốc gia. Hội đồng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các văn bản: Nghị định số 69-CP ngày 14/6/1962 quy định những vấn đề thuộc phạm vi bí mật nhà nước và trách nhiệm giữ gìn bí mật nhà nước; Thông tư số 67-TTg ngày 02/6/1962 quy định về biện pháp, tổ chức giữ gìn bí mật nhà nước. Ngày 28/10/1991, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước và ngày 28/12/2000 và sau gần 10 năm triển khai thực hiện, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH.
Đây là những văn bản pháp lý quan trọng để bảo vệ bí mật nhà nước, qua đó góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong từng giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong thời điểm hiện nay, đất nước ta đang ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, bên cạnh những thời cơ, vận hội mới, chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng điều kiện mở cửa, hội nhập, sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, nhất là Internet, thông tin, truyền thông, lợi dụng quá trình toàn cầu hóa với những đòi hỏi phải xóa bỏ mọi rào cản để dân chủ hóa, công khai, minh bạch hóa trên các mặt của đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, xuất bản… để thu thập, lấy cắp, chiếm đoạt bí mật nhà nước nhằm chống phá Việt Nam. Do đó, bảo vệ vững chắc an ninh nội bộ, phòng chống âm mưu, hoạt động thu thập bí mật nhà nước của các thế lực thù địch và tội phạm đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, để pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước trở thành công cụ pháp lý quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Xác định rõ được tầm quan trọng của công tác này, ngày 15/11/2018, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 29/2018/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/07/2020. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước được ban hành thay thế Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước số 30/2000/PL-UBTVQH.

Để tránh lạm dụng bảo vệ bí mật nhà nước dẫn đến hạn chế quyền tiếp cận thông tin của công dân. Khuynh hướng này tuyệt đối hóa việc bảo vệ bí mật nhà nước, xác định phạm vi bí mật nhà nước quá rộng, cái gì cũng cho là bí mật nhà nước, không phải bí mật nhà nước cũng đóng dấu mật, lợi dụng yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước để từ chối việc cung cấp thông tin, từ chối cho công dân tiếp cận thông tin, thậm chí lợi dụng yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước để che giấu hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời, không để các thế lực thù địch xem nhẹ yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, lạm dụng quyền tiếp cận thông tin dẫn đến xâm phạm bí mật nhà nước, tuyệt đối hóa quyền tiếp cận thông tin, xem nhẹ yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, cung cấp thông tin tùy tiện, dẫn đến lộ, lọt, mất bí mật nhà nước. Cần chú ý giải quyết tốt một số vấn đề sau:

Một là, cần nhận thức cho đúng về vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa bảo vệ bí mật nhà nước với bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Hai là, cần quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”; cần ưu tiên hoàn thiện các luật về quyền con người.

Ba là, cần xác định phạm vi bí mật nhà nước phù hợp, bảo đảm vừa bảo vệ được các thông tin bí mật quan trọng; vừa thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi thực hiện và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.
Luật bảo vệ Bí mật nhà nước ra đời với sứ mệnh tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, vững chắc cho công tác bảo vệ bí mật nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Bảo đảm tốt các quyền con người, quyền công dân; phòng ngừa lộ, mất bí mật nhà nước; nghiêm cấm các hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng bảo vệ bí mật nhà nước để che giấu hành vi vi phạm pháp luật. Trong quá trình xây dựng Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, một trong những tiêu chí được Đảng và Nhà nước đặt ra là bảo vệ bí mật nhà nước phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết nhưng không được hạn chế quyền tiếp cận thông tin.

Và hơn bao giờ hết, chúng ta cần khẳng định rằng, sau hơn 2 năm triển khai thực hiện Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành, các bộ, ban, ngành, địa phương đã tổ chức triển khai nghiêm túc và đạt được nhiều kết quả tích cực, nhận thức của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân được nâng cao, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước ngày càng được củng cố chặt chẽ hơn và đi vào chiều sâu; công tác phòng chống âm mưu, hoạt động thu thập bí mật nhà nước của các thế lực thù địch và các loại tội phạm khác được triển khai có hiệu quả. Những kết quả đó đã góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia nói chung, an ninh nội bộ nói riêng, từ đó giữ vững ổn định chính trị, phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và đối ngoại của đất nước.

ĐẤU TRANH, BẢO VỆ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

 

Văn hóa truyền thống là hồn cốt của dân tộc, được coi như giá trị thương hiệu, quyền lực mềm, vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển bền vững ở Việt Nam.

Tuy nhiên, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, giao lưu, tiếp biến văn hóa của Đảng, Nhà nước, các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi phương thức, thủ đoạn chống phá văn hóa truyền thống, sử dụng không gian mạng để du nhập, cổ xúy cho văn hóa ngoại lai, độc hại. 

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những tinh hoa, giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã được hun đúc, vun đắp và trở thành truyền thống quý báu, đó là: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”. Những giá trị văn hóa truyền thống này đã cố kết những người dân nước Việt thành một cộng đồng thống nhất trong mọi hoạt động sống, lao động, bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

 Những năm gần đây, các thế lực thù địch ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa truyền thống. Sự chống phá này đã tạo ra hệ lụy không hề nhỏ, là một thứ “giặc nội xâm” đã và đang làm băng hoại thuần phong mỹ tục, giá trị truyền thống của dân tộc. Xét về mục tiêu, nội dung và lực lượng tiến hành của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa bao gồm hai điểm chính, đan xen, hỗ trợ và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là:

Thứ nhất: Truyền bá, tiêm nhiễm các sản phẩm văn hóa ngoại lai có tính chất xấu độc, làm xói mòn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc để tác động vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất của mỗi người dân; từng bước làm thay đổi các thang giá trị xã hội, đạo đức, lối sống, làm cho một bộ phận nhân dân nhận thức không đầy đủ về trách nhiệm cộng đồng; chạy theo lợi ích vật chất, chỉ biết đến “cái tôi” mà quên đạo nghĩa, quay lưng lại với truyền thống và những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Thứ hai: Từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, coi văn hóa là tự do sáng tạo, không cần tính định hướng và xa rời chính trị; từ lĩnh vực văn hóa chuyển hóa dần sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.

Chúng vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển các lực lượng và phương tiện ở trong nước, tạo ra sự chống đối từ xã hội, từng bước làm cho nhân tố chống đối bên trong phát triển để tập hợp lực lượng phá ta từ bên trong nội bộ Đảng và xã hội ta. Đối tượng tác động mà chúng hướng tới là quần chúng nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ sinh ra trong thời bình, đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách, dễ dàng chạy theo cái mới, bản lĩnh chính trị chưa vững vàng, còn ít kinh nghiệm sống. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, chiêu trò thâm hiểm; đặc biệt là chiến thuật “tâm công” theo phương châm “mưa dầm thấm lâu” để đánh vào lòng người.

Về hình thức và thủ đoạn tiến hành: Trên nền tảng của mạng xã hội, các thế lực thù địch đã thành lập các website, nhiều chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt; lập hàng nghìn blog, trang Facebook, Twitter, YouTube, Zalo... để livestream, tung clip, đăng tải những nội dung xuyên tạc, bài xích; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm trực tuyến hoặc qua tiếp xúc với các cá nhân, cơ quan trong nước. Các kênh phát thanh, truyền hình trên không gian mạng được chúng tạo giao diện như thật, mô phỏng theo các kênh chính thống của Đảng, Nhà nước nhằm lập lờ, lộn sòng đen trắng, nhào nặn trộn lẫn những thông tin đúng-sai, thật-giả, đưa thông tin giật gân, lấp lửng giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người, gây tâm lý bi quan, hoài nghi, hoang mang trong dư luận.

Trong tập hợp lực lượng, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường dùng nhiều thủ đoạn rất nham hiểm, thường qua 4 bước gồm: 1. Đồng cảm: Chúng đóng vai “một người lạ” để tiếp xúc với một bộ phận người dân, những người đã từng vi phạm pháp luật, rồi giả nhân, giả nghĩa, vờ đồng cảm, tự cho mình “đại diện” để nói lên tiếng nói cho họ, rồi kích động người dân đấu tranh với chính quyền để đòi công bằng. 2. Tôn vinh: Chúng vờ coi những người có tư tưởng bất mãn, chống đối ở lĩnh vực văn hóa là những người đúng đắn, cấp tiến, đại diện của nền văn hóa hiện đại, rồi tổ chức tọa đàm, livestream để tôn vinh hoặc trao những “giải thưởng”. 3. Dụ dỗ, mua chuộc: Sau khi vờ đồng cảm và tôn vinh, các thế lực thù địch sẽ tìm mọi cách để dụ dỗ, mua chuộc đối tượng mà chúng hướng tới. Sự dụ dỗ, mua chuộc được thực hiện bằng cả vật chất, tinh thần cũng như những viễn cảnh tốt đẹp do chúng tạo dựng lên. 4. Khống chế: Sau khi bị dụ dỗ, mua chuộc, những đối tượng này sẽ bị các phần tử phản động từng bước khống chế, nói và làm theo ý muốn của chúng.

Để góp phần đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn và luận điệu xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống dân tộc trên không gian mạng, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về mục tiêu, định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để thực hiện tốt biện pháp này, trước hết cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý của các cơ quan, tổ chức trên lĩnh vực văn hóa để đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cấp ủy, tổ chức đảng và tổ chức hành chính các cấp cần xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách phù hợp, chú ý đến tính đặc thù của hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Nâng mức đầu tư một cách hợp lý từ các nguồn lực cho phát triển văn hóa, chú trọng đầu tư vào dòng chủ lưu của văn hóa cách mạng để làm nòng cốt và dẫn dắt, truyền cảm hứng chủ đạo trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tâm hồn, tình cảm trong sáng, lành mạnh, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội.

Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, giáo dục ý thức sử dụng và xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng. Phát triển và ứng dụng dịch vụ internet, không gian mạng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, mang lại nhiều giá trị đích thực. Song, những mặt trái, tiêu cực của không gian mạng cũng đặt ra yêu cầu và thách thức không nhỏ cho công tác quản lý; đòi hỏi cần đẩy mạnh thực hiện những giải pháp công nghệ như: Cung cấp thông tin chính thống; bảo vệ thông tin cá nhân; kỹ thuật dự báo, phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ, khóa tài khoản của đối phương. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, hiệu quả, có tính răn đe cao đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật khi tham gia mạng xã hội. Cấp ủy, tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động trên không gian mạng.

Ba là, chủ động hợp tác quốc tế, thường xuyên trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý mạng xã hội với các nước trên thế giới. Cơ quan chức năng cần chủ động hợp tác quốc tế, nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá trên mạng xã hội của các tài khoản, máy chủ ở nước ngoài để đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam trên mạng xã hội như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá; kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới. Chủ động hợp tác, nắm bắt và yêu cầu các tập đoàn truyền thông như: Google, YouTube, Facebook, Twitter... cần tuân thủ pháp luật Việt Nam khi tham gia hoạt động trên đất nước ta. Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các dịch vụ mạng xã hội để gỡ bỏ các clip, bài viết với nội dung xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống Việt Nam trên không gian mạng.

Văn hóa là sản phẩm của lịch sử và là phương thức tồn tại của một dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam luôn mang trong mình những yếu tố lịch sử, truyền thống, tâm lý gắn với các biểu tượng, phong tục, tập quán của một cộng đồng dân tộc. Nhận diện những luận điệu xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống do các thế lực thù địch tiến hành trên không gian mạng là hết sức cần thiết, góp phần giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo ra sức mạnh vô song để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phồn vinh.

VIỆT NAM - MỘT QUỐC GIA CÓ TRÁCH NHIỆM GIỮA NÓI VÀ LÀM VỀ NHÂN QUYỀN

 Tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao ngày 22/9 vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: “Chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Điều này đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan”.

Quyền con người ở Việt Nam đã được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong hiến pháp-đạo luật nền tảng của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 2013, đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 đã dành riêng một chương gồm 36 điều chế định và hiến định rõ ràng các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Đây là bản hiến pháp được quốc tế đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Đơn cử như Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Cùng với hiến pháp và các bộ luật, đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật...

Dù là quốc gia phải chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh tàn phá, nhưng đến nay, chúng ta có quyền tự hào, tự tin khi Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá toàn diện, trong đó lấy con người làm trung tâm.

Việc Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là phù hợp với thực tiễn. Việt Nam không những đã có nhiều đóng góp tích cực mà còn có kinh nghiệm khi phấn đấu cho quyền con người.

Trước đó, năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu 184/192, cao nhất trong số các nước thành viên mới. Khi đó, những sáng kiến của Việt Nam trong nhiệm kỳ 2014-2016 được quốc tế đánh giá cao, tiêu biểu như việc Việt Nam phối hợp cùng các quốc gia khác đưa ra: Vấn đề về bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật; về bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển; Nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu với quyền trẻ em; về nâng cao giáo dục trong phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái... 

Việc Việt Nam tiếp tục trúng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là hoàn toàn xứng đáng. Đó là minh chứng xác đáng cho những thành tựu và nỗ lực không ngừng của Việt Nam cho một cuộc sống tươi đẹp trên hành tinh xanh.

AI ĐANG ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM NHÂN QUYỀN?

 

Cái gọi là “thư ngỏ” của một vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền gửi tới các quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) nhằm vận động không bỏ phiếu cho Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 thật thiếu cơ sở. Ngoài việc thường xuyên “đâm bị thóc, chọc bị gạo” vấn đề nhân quyền của các quốc gia mà họ thù địch, thì vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền này đã làm được gì để quyền con người trên thế giới tốt đẹp hơn? Thật lố bịch khi họ lại tự cho mình có quyền phán xét, mặc cả, ra điều kiện về nhân quyền đối với các quốc gia có chủ quyền như Việt Nam.

Thư ngỏ của một số tổ chức này giống như một tổ ong. Nó chỉ có phần lõm mà không có phần lồi. Thôi thì vẫn còn một chút niềm tin vớt vát rằng, nhiều khả năng nguồn thông tin mà các tổ chức nhân danh nhân quyền này tiếp nhận được về Việt Nam thông qua một lăng kính méo mó.

Vì họ không được mắt thấy, tai nghe, tiếp nhận thông tin sai lệch nên họ mới đưa ra kiến nghị rằng “Việt Nam là một quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và triền miên, không tuân thủ các cam kết, có thành tích hợp tác kém với Hội đồng Nhân quyền (HRC)”.

Họ tiếp tục chụp mũ: Tình hình nhân quyền đang xấu đi ở Việt Nam như đàn áp các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo độc lập, các nhóm tôn giáo, những người bảo vệ môi trường và đất đai, những người ủng hộ nhân quyền...

Trong khi đó, báo cáo của họ lại phớt lờ, không đề cập đến những thành tựu với sự nỗ lực không mệt mỏi mà Việt Nam đã đạt được khi phấn đấu cho quyền con người. Những thành tựu ấy không chỉ được “tai nghe, mắt thấy” ở Việt Nam, mà còn được chính các tổ chức lớn của LHQ báo cáo, đánh giá định kỳ, như Chương trình Phát triển của LHQ (UNDP); Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hay chính Hội đồng Nhân quyền (HRC)...

Đến đây thì “thư ngỏ” đã “lòi đuôi cáo” khi nó rất không công bằng, cố tình chỉ thấy cây mà không chịu thấy rừng. Không chỉ dịp này, năm nào cũng vậy, họ luôn cùng nhau “tiền hô hậu ủng” để cho ra đời những bản báo cáo về nhân quyền đầy màu sắc chính trị, sai sự thật để chống phá Việt Nam và một số quốc gia mà họ cho là đối lập về hệ tư tưởng.

 Điều đầu tiên cần nói rõ, những tổ chức nhân danh nhân quyền trên không có tư cách để đánh giá, chấm điểm, xếp loại về nhân quyền ở Việt Nam, chứ chưa nói đến việc làm sai trái khi cố tình gửi yêu sách đến LHQ.

Chính lịch sử hàng trăm năm đấu tranh cho sự tiến bộ của loài người, vì quyền con người, các quốc gia trong mái nhà chung LHQ đã thống nhất một quan điểm: “Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền cho một quốc gia là vô lý”. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau, thể chế chính trị khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn về dân chủ, nhân quyền của nước này áp đặt cho nước khác. Các văn kiện pháp lý về quyền con người được LHQ quy định rất rõ ràng.

Không quốc gia nào, kể cả LHQ, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia, chứ đừng nói gì đến các tổ chức nhân danh. Mục 7, Điều 2, Chương I, Hiến chương LHQ khẳng định: “Hiến chương này hoàn toàn không cho phép LHQ được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào...”

Trong môi trường hội nhập, sự trao đổi, hợp tác, đối thoại trên lĩnh vực quốc tế về nhân quyền là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm cơ chế, kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người, tuy nhiên, theo các quy định pháp lý, nó chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế về bảo đảm quyền con người đang vận hành tại các quốc gia.

Vậy thì mấy tổ chức nhân danh nhân quyền kia lấy tư cách gì để đòi tước tư cách một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam? Họ chẳng có tư cách gì!

PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động

Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga - quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.

Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .

Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.

Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB.

Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH tư bản chủ nghĩa. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.

Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.

Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.

Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.

Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”.

Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN” là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi.  

Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam.

QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN MẠNG XÃ HỘI KHÔNG THỂ BẤT TUÂN PHÁP LUẬT

 Đảng, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do ngôn luận của công dân. Tuy nhiên, đối với việc sử dụng mạng xã hội để dàn dựng, xuyên tạc sự thật, tung tin sai trái, thất thiệt với ngôn ngữ, nội dung phản cảm, thô tục, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đến các tổ chức, cá nhân, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc thì phải chấn chỉnh, xử lý để răn đe người vi phạm và phòng ngừa chung.

Không chỉ riêng Việt Nam, mà nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều có các biện pháp khuyến khích công dân ứng xử có văn minh trên mạng xã hội, bảo đảm cho tự do ngôn luận đi theo chiều hướng tích cực, có lợi, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi khách quan. Việc xây dựng các quy định luật pháp về tự do ngôn luận của mỗi quốc gia đều căn cứ truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán, những điều kiện, bối cảnh lịch sử cụ thể… Như tại Singapore, luật pháp quy định phạt đến 100.000 đôla Singapore hoặc phạt tù tới 3 năm với hành vi nói xấu, phỉ báng, vu khống trong sinh hoạt hằng ngày và trên mạng xã hội; nếu bị phát hiện đưa tin giả lên mạng xã hội, khi nhà chức trách yêu cầu cải chính mà không chấp hành, có thể sẽ bị phạt đến 20.000 đôla Singapore hoặc 12 tháng tù. Luật pháp nước này nghiêm cấm các hành vi đi ngược lợi ích và ổn định cộng đồng, làm tổn hại an ninh và an toàn cộng đồng, làm tổn hại sức khỏe, kích động sự hận thù giữa các nhóm xã hội, suy giảm niềm tin vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, làm tổn hại quan hệ giữa Singapore với các quốc gia khác

Ngay như ở một số nước tư bản phát triển, quyền tự do ngôn luận không thể bất tuân pháp luật. Như ở Mỹ, Tối cao pháp viện nước này đã khẳng định, tự do ngôn luận không có nghĩa là có quyền bịa chuyện vu khống, phỉ báng cá nhân; giới hạn về tự do ngôn luận thể hiện qua án lệ của tòa án, cho phép chính quyền có quyền ngăn chặn, trừng phạt phát ngôn có tính khiêu dâm, phỉ báng, tục tĩu, xúc phạm, gây hấn. Ở Pháp, pháp luật cũng quy định những giới hạn, có các chế tài nghiêm khắc đối với hành vi lạm dụng tự do ngôn luận xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, đồng thời chống lại việc vu khống, bôi nhọ, phân biệt chủng tộc, tôn giáo, kích động bạo lực, gây hận thù. Bộ luật Dân sự của Pháp cấm xâm phạm đời tư cá nhân; Luật Hình sự nước này cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia; Luật Tự do báo chí điều chỉnh hành vi tổ chức, cá nhân trên mạng internet. Ở Anh ban hành “Quy tắc hành nghề cho các nhà cung cấp nền tảng truyền thông xã hội trực tuyến” hay ở Australia cũng ra “Bộ Quy tắc ứng xử trên truyền thông xã hội và bình luận trực tuyến”, điều này cho phép các quốc gia này kiểm soát vấn đề ngôn luận trên nền tảng mạng xã hội, truyền thông.

 Không chỉ mỗi quốc gia riêng biệt, Liên minh châu Âu (EU) cũng ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google, TikTok; cam kết bảo đảm các công ty, tổ chức, cá nhân tiếp cận nhanh chóng, đánh dấu và gỡ bỏ các phát ngôn thù địch cùng nội dung bất hợp pháp trên các nền tảng của họ. Việc các nền tảng mạng xã hội chủ động tuân theo bộ quy tắc xuất phát từ việc EU sẽ trực tiếp giám sát hoạt động này. Báo cáo mới nhất của EU đánh giá kết quả thực thi của Bộ Quy tắc năm 2020 đã ghi nhận 71% nội dung xác nhận là phát ngôn thù địch bất hợp pháp đã bị gỡ bỏ, tăng so với con số 26% của năm 2016.

Tự do ngôn luận là một trong các quyền cơ bản của con người, tuy nhiên quyền này không thể đặt ngoài khuôn khổ pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 chỉ rõ: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 xác định mọi người đều có quyền tự do quan niệm, tự do phát biểu quan điểm, tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức, ý kiến bằng phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. Đồng thời, Điều 29 Tuyên ngôn cũng bắt buộc mọi người phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng quyền của người khác, đáp ứng các đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

Theo đó, luật pháp quốc tế khẳng định quyền tự do ngôn luận không phải là tự do vô hạn, bất tuân pháp luật; trong một số trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh, ở các quốc gia tự do ngôn luận bị giới hạn. Từ thực tế trên cho thấy, không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối trong bất cứ chế độ chính trị nào, các quốc gia đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung; những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận mà gây hại đến tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia - dân tộc đều bị xử lý.

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để quyền tự do ngôn luận của người dân được thực thi nghiêm túc và toàn diện, các luật, văn bản dưới luật về tự do ngôn luận đã cụ thể hóa Hiến pháp, ngày càng được hoàn thiện để vừa bảo đảm quyền của công dân, vừa giúp quyền đó thực hiện trên cơ sở luật pháp. Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018 nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Nghiêm cấm những hành vi đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội quy định cho tổ chức, cá nhân khi tham gia mạng xã hội có những ứng xử phù hợp.

Để lành mạnh hóa môi trường mạng xã hội, góp phần thúc đẩy, bảo đảm tự do ngôn luận của các tổ chức, cá nhân, điều cần thiết là mỗi người dân cần nhận thức đúng đắn về quyền tự do ngôn luận, nêu cao ý thức trách nhiệm khi ứng xử trên mạng xã hội, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, phản bác các âm mưu, thủ đoạn sai trái về tự do ngôn luận ở Việt Nam.