Thứ Tư, 19 tháng 10, 2022

“Bắt mạch” thủ đoạn lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí

 Xã hội hiện đại, báo chí có vai trò quan trọng trong việc truyền tải các quan điểm, ý chí của Nhà nước và tiếng nói của nhân dân, là công cụ của tự do biểu đạt. Ngày nay, tự do ngôn luận, tự do báo chí có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của từng cá nhân và cộng đồng, được coi là một phần biểu hiện quyền bình đẳng, dân chủ, có tác động thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Cứ thành thói quen, vào dịp Ngày Tự do báo chí thế giới (3/5) hay kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6), trên nhiều trang mạng trong và ngoài nước cũng như một số phương tiện truyền thông quốc tế đã có những đánh giá sai lệch, xuyên tạc thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.

Sự thật đằng sau chiêu bài lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn trong và ngoài nước lấy danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền” ra sức nguỵ biện để đổi trắng thay đen, nói không thành có, có thành không về thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, họ triệt để lợi dụng sự đánh giá không khách quan, trung thực, thiếu thiện chí của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Để đạt được mục đích, họ thành lập một số tổ chức nhân danh báo chí như: “Phóng viên không biên giới”, “The project 88”… để đấu tranh cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”, đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam và một số quốc gia, vu khống Việt Nam bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do báo chí. Gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam như: Trần Thị Tuyết Diệu, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Đoan Trang, Lê Trọng Hùng, Trần Quốc Khánh, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Phước Trung Bảo… Sâu xa hơn là lợi dụng danh nghĩa đấu tranh “tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống đối lật đổ chính quyền.

Cần khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”.

Tuyên ngôn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa nhân văn cao cả, luôn được Nhà nước Việt Nam tuân thủ, kế thừa, phát triển phù hợp trong từng điều kiện hoàn cảnh. Ngược dòng lịch sử, ngày 9/11/1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều, trong đó, quyền tự do ngôn luận được hiến định ở Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

Kế thừa quy định về quyền tự do ngôn luận từ bản Hiến pháp đầu tiên, các văn kiện của Đảng, các bản Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được bảo đảm, thực thi trong thực tế đời sống, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí sửa đổi năm 2016. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

Đối với quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11, Luật Báo chí sửa đổi: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”.

Điều 13 chỉ rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Như vậy, từ khi Nhà nước ta ra đời đến nay, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được tôn trọng, bảo đảm và ngày càng được thực thi trong cuộc sống, tạo điều kiện cho công dân được nói lên tiếng nói của mình, đóng góp tài năng, trí tuệ công sức của mình vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Đồng thời với việc bảo vệ, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật; không để các tổ chức, cá nhân lợi dụng để thực hiện sự tự do vượt quá luật định, với những mưu lợi bất chính, đi ngược lại giá trị của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Những con số biết nói

Đến hết năm 2020, Việt Nam có 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền. Việt Nam còn được ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng Internet cao nhất trên thế giới. Công nghệ thông tin và mạng xã hội đã và đang được sử dụng rộng rãi trong đời sống, sinh hoạt ở Việt Nam. 

Theo báo cáo "Thị trường ứng dụng di động 2021" do Appota phát hành, Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, trong đó có 64% các thuê bao đã kết nối 3G và 4G. Tỷ lệ dân số sử dụng Internet cũng chiếm 70%, lượng người dùng sử dụng Internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95% và trung bình họ có 3 giờ 18 phút để sử dụng Internet qua di động. Đây là con số khá ấn tượng, chứng minh smartphone đang được ưu tiên làm thiết bị kết nối chính nhờ sự tiện lợi và phổ biến.

Số người dùng Facebook tại Việt Nam (năm 2020) có 69.280.000 người, chiếm 70,1% dân số. Chất lượng truy cập Internet Việt Nam cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn, một số thông số cao hơn số liệu công bố bởi các hệ thống quốc tế. Điều này phản ánh nỗ lực của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam phục vụ nhu cầu sử dụng Internet. Sóng của những hãng thông tấn, báo chí lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… đều được tiếp cận dễ dàng tại Việt Nam.

Những minh chứng trên cho thấy, không thể phủ nhận những thành thành tựu to lớn, vững chắc đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam và sự chủ động thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các cam kết quốc tế nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí mà Việt Nam tham gia. Hãy để người dân Việt Nam tự chấm điểm về thực tế việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mình, vì không ai khác, chính mỗi công dân Việt là người trong cuộc, rõ hơn hết việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ đó đến đâu.

Những luận điệu xuyên tạc, vu khống không xuất phát từ tiếng nói của dân, không đại diện cho dân, không do dân và vì dân thì làm sao có thể gọi là khách quan, làm sao thể hiện tiếng nói dân chủ như những gì các thế lực thù địch, cơ hội chính trị rêu rao.

Hiển nhiên, tự do ngôn luận, tự do báo chí đều có những giới hạn nhất định, không phải là tự do quá trớn. Chúng ta rất hoan ngênh những ý kiến xây dựng, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời lên án, phê phán những ý kiến với mưu đồ phá hoại công cuộc đổi mới, phát triển ở nước ta.

Không xâm phạm quyền tự do ngôn luận

 Các hành vi nghiêm cấm trong Luật An ninh mạng có vi phạm quyền con người, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận không là vấn đề được rất nhiều người quan tâm. Những dẫn chiếu từ Luật An ninh mạng cho thấy, Luật này không xâm phạm những quyền như vừa nêu.

Luật An ninh mạng quy định những hành vi bị nghiêm cấm, cụ thể là 6 nhóm hành vi chính. Đó là các hành vi phương hại đến chế độ và nhà nước CHXHCN Việt Nam, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Những hành vi bị nghiêm cấm này đã được quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật trong nước, cụ thể nhất là Bộ luật Hình sự đã quy định 29 hành vi.

Do đa số hành vi vi phạm pháp luật đã được quy định và dẫn chiếu từ đời sống thực lên không gian mạng, một số hành vi cũng được một số văn bản luật của quốc gia khác quy định nên không có căn cứ để cho rằng, các hành vi bị nghiêm cấm trong Luật An ninh mạng vi phạm quyền con người, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận. Cụ thể:

- Luật An ninh mạng không ngăn cản, xâm phạm quyền tự do ngôn luận của công dân.

- Các hoạt động liên lạc, trao đổi, đăng tải, chia sẻ thông tin, mua bán, kinh doanh, thương mại vẫn diễn ra bình thường trên không gian mạng, không hề bị ngăn cảm, cấm đoán miễn là những hoạt động đó không vi phạm pháp luật của Việt Nam.

- Công dân có thể làm bất xử điều gì trên không gian mạng mà pháp luật Việt Nam không cấm.

- Luật An ninh mạng bảo vệ cho các hoạt động tự do ngôn luận, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân khi mua bán, kinh doanh, trao đổi, thương mại trên không gian mạng.

Trước đây, có ý kiến cho rằng, Luật An ninh mạng có quy định cấm truy cập Facebook, Google, Youtube. Đây là cách hiểu sai, mọi người Việt Nam được tự do truy cập vào trang mạng nêu trên hay bất kỳ trạng mạng xã hội nào khác ở trong và ngoài nước. Luật này còn quy định các biện pháp bảo vệ về an ninh mạng cho người dân khi tham gia hoạt động trên các trang mạng xã hội như Facebook, Google…

Những quy định tại Luật An ninh mạng bảo vệ cho các hoạt động tự do ngôn luận, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khi mua bán, kinh doanh, trao đổi thương mại trên không gian mạng.


“Tự do ngôn luận” và “ngôn luận tự do”

 Trong đó, ca sĩ Hòa Minzy lan truyền tin giả mạo phát ngôn của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam về tình hình dịch bệnh. Rồi trên tài khoản Facebook cá nhân của Nguyễn Ngọc Thuý, Á hậu doanh nhân Việt Nam toàn đăng video được quay bằng ứng dụng TikTok có nội dung "kỳ thị, xúc phạm người Đà Nẵng"...  

Những thông tin này đã có nhiều người vào xem, chia sẻ và bình luận gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong đời sống xã hội. Trong tuần, cơ quan chức năng đã xử phạt gần 30 trường hợp đăng tải thông tin sai sự thật về dịch COVID-19.

Việt Nam luôn khuyến khích và mở rộng tự do ngôn luận, nhằm mục đích tiếp nhận những ý kiến phản ánh, kiến nghị, thậm chí là những ý kiến phản biện trái chiều để kịp thời chấn chỉnh, bổ sung, sửa đổi những cơ chế, chính sách pháp luật cho phù hợp với quá trình phát triển đi lên của đất nước. 

Điều này đã được quy định rõ tại Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng như trong các luật được ban hành thời gian gần đây, như: Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí, Luật An ninh mạng… 

Theo đó, quyền tự do ngôn luận luôn được tôn trọng và bảo đảm. Mỗi người dân Việt Nam cũng đều có quyền tiếp cận tin tức của các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới hay các trang cá nhân của mọi “công dân toàn cầu” và được quyền chia sẻ thông tin mà không gặp phải bất cứ sự hạn chế, ngăn chặn, cấm đoán nào...

Tuy nhiên, không chỉ ở Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia, dân tộc nào đều có một điểm chung bắt buộc là các quyền tự do ngôn luận phải trong khuôn khổ pháp luật, những ý kiến phát biểu có trách nhiệm và đúng sự thật.

Kể từ khi hòa mạng internet toàn cầu ngày 1/12/1997, Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tìm kiếm, trao đổi, thụ hưởng thông tin mọi lúc, mọi nơi, mọi mặt của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế - văn hóa, quốc phòng - an ninh của đất nước. Người dân Việt Nam có thể dễ dàng truy cập vào tất cả các trang web, báo chí trên thế giới; có thể bày tỏ mọi suy nghĩ, trăn trở, mong muốn chính đáng, hợp pháp, bảo đảm thuần phong mỹ tục, giá trị nhân văn, đạo đức... của mình trên mạng xã hội hằng ngày, hằng giờ.

Tự do chia sẻ trên mạng xã hội những bài viết, ảnh, video clip được cắt ghép từ nhiều nguồn tin, từ những tin đồn, mà không kiểm chứng chỉ là kiểu “ngôn luận tự do”, “nói cho sướng mồm” mà không biết mình có thể đang vi phạm pháp luật, đang cổ súy cho một số kẻ có dã tâm, chủ đích chống phá nhằm gây rối an ninh, trật tự, phá hoại các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ta.

Tự do là quyền của con người nhưng đó không phải là tự do vô lối, tùy tiện, vô chính phủ, thích nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, mà nó chỉ được bảo đảm khi con người nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và hành động phù hợp pháp luật, với thỏa ước về tự do của tập thể, của cộng đồng, của xã hội. Sự phát tán thông tin hỗn độn và sai lệch sẽ làm cho nhiều người mất niềm tin vào cả nguồn thông tin, dẫn đến hậu quả là những thông tin tốt đẹp cũng có thể bị loại trừ, tẩy chay.

Trong khi các cơ quan chức năng đang tiếp tục hoàn chỉnh luật pháp để quản lý chặt chẽ hơn, đẩy lùi các thông tin xuyên tạc bịa đặt, thông tin “xấu, độc”, thì mỗi người  dân chúng ta cần phải sáng suốt nhận biết và hiểu đúng về “tự do ngôn luận” và “ngôn luận tự do” để không rơi vào “bẫy” của những kẻ bất mãn, có quan điểm thù địch, vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá; không hùa theo những quan điểm mang tính trào lưu, cần phải tỉnh táo, cần biết "gạn đục khơi trong”, cảnh giác với những thông tin xấu độc, không chia sẻ bừa bãi trên mạng xã hội một cách vô cảm, để rồi có các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa, thậm chí vô tình vi phạm pháp luật.

Tiếng nói của người dân, của xã hội luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm ghi nhận, đây là nguồn thông tin có vai trò rất quan trọng đối với việc quyết định công tác lãnh đạo, quản lý xã hội. Xã hội càng phát triển thì nhân tố "lòng dân" càng quan trọng. Chính vì thế, đối với những ý kiến đóng góp, phản ánh đúng, chân thành, mang tinh thần xây dựng, vì lợi ích chính đáng của người dân hoặc của quốc gia, dân tộc thì cần phải được tiếp thu, kịp thời giải quyết, đáp ứng các đòi hỏi, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Chính quyền các cấp, các ngành chức năng cần kịp thời cung cấp thông tin chính xác, khách quan để đấu tranh phản bác, định hướng dư luận trước những thông tin sai trái. Không để người dân bị cuốn vào những luồng thông tin xấu, độc; qua đó, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền tự do ngôn luận và các quyền tự do khác của công dân.


Không thể cổ xúy hành vi núp bóng tự do internet để miệt thị cá nhân, cộng đồng

 Sự bùng nổ mạnh mẽ của mạng xã hội những năm gần đây đã tăng thêm tiện ích để mọi người thể hiện quyền tự do cá nhân. Tuy nhiên, mặt trái của mạng xã hội là các phát ngôn lệch chuẩn, các thông tin giả, độc hại được lan truyền ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội.

Điều đáng nói là một số hành vi sai trái trên mạng xã hội bị phát giác và được xử lý theo đúng quy định của pháp luật, song các thế lực thù địch cố ý vin vào để chống phá.

Luận điệu sai trái, xuyên tạc tự do ngôn luận trên mạng xã hội

Hồi tháng 3/2022, Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, sinh năm 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, trú tại 17-19 Ngô Đức Kế, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh với tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331, Bộ luật Hình sự. Điều đáng nói là dù việc khởi tố điều tra, tạm giam với bà Nguyễn Phương Hằng là thực hiện theo các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và được thông báo công khai trên các phương tiện truyền thông, song một số tổ chức, cá nhân lại tìm cách “bẻ lái, xoay chiều”. Một số tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, sai trái rồi quy chụp “Ở Việt Nam này luật pháp không tồn tại”, “quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt”… Số này đưa ra các bài viết tô vẽ, đánh bóng hình ảnh bị can Nguyễn Phương Hằng như một thần tượng, từ đó hướng lái dư luận rằng ở Việt Nam, hễ ai “cứ nổi tiếng trên mạng xã hội thì sẽ bị “diệt”!

Trước đó, sau khi phiên toà xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh và đồng phạm kết thúc, trang BBC giật tít: “Vụ xử “Báo Sạch”: Việt Nam đừng nên coi truyền thông là kẻ thù”. Bài báo dẫn lời Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch), ông Phil Robertson nói rằng “Việt Nam không nên coi truyền thông là kẻ thù của nhà nước, việc bỏ tù thêm nhiều nhà báo công dân sẽ không ngăn được người dân lên tiếng, hoặc yêu cầu cải cách ở Việt Nam”. Từ đó kêu gọi “Chính phủ nên công nhận các nhà báo công dân và truyền thông độc lập là đồng minh của công tác quản trị nhà nước tốt”!

Việc xử phạt vi phạm hành chính áp dụng đối với những cá nhân vi phạm ít nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc xử phạt được thực hiện kịp thời để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

Chẳng hạn, ngày 22/8/2022, Công an tỉnh Lâm Đồng có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H.N.M, chủ tài khoản TikTok H.M số tiền 10 triệu đồng do người này đăng clip miệt thị người miền Trung. Dư luận cho rằng, những lời lẽ H.N.M đưa ra là không có cơ sở nhưng đã gây hiệu ứng mạng nguy hiểm, nội dung trong video đã thể hiện sự phân biệt đối xử, kỳ thị vùng miền, tạo tâm lý đố kỵ, chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, đi ngược với tinh thần xây dựng nếp sống văn hoá, đoàn kết toàn dân. Điều đáng nói là dù việc xử phạt đã được tiến hành công khai và đúng quy định pháp luật, người vi phạm cũng thừa nhận hành vi sai trái, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội nhưng một số kênh thông tin lại “bẻ lái”, cho rằng việc đăng clip như vậy “là cần thiết” và việc cơ quan chức năng xử phạt H.N.M là “bịt miệng người dân, trấn áp vô lý”!

Đặc biệt, đối tượng mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá là một số cá nhân nổi tiếng có lượt người theo dõi, tương tác cao trên các nền tảng mạng xã hội. Khi những phát ngôn gây sốc, lệch chuẩn, những hành vi vi phạm pháp luật trên mạng xã hội gây bức xúc trong dư luận được cơ quan chức năng xử lý theo luật định, họ lại tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho những hành vi sai trái đó. Đồng thời, họ đưa ra luận điệu bóp méo, bôi đen bức tranh hiện thực về tình hình tự do ngôn luận ở Việt Nam, công kích cơ quan chức năng, phủ nhận hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề tự do ngôn luận trên không gian mạng.

Mục đích của các thế lực thù địch là đánh tráo bản chất các sai phạm về tự do ngôn luận trên mạng xã hội, biến đối tượng vi phạm pháp luật từ có sai phạm thành không sai phạm. Họ thậm chí tán dương cho lối ứng xử thiếu văn hóa, phát ngôn sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Thực chất của âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm gây phân tâm trong cộng đồng xã hội, tạo ra sự hoài nghi về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận; từ đó, phủ nhận những thành tựu, nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người trên không gian mạng; hạ thấp vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế.

Quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội không thể bất tuân pháp luật

Đảng, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do ngôn luận của công dân. Tuy nhiên, đối với việc sử dụng mạng xã hội để dàn dựng, xuyên tạc sự thật, tung tin sai trái, thất thiệt với ngôn ngữ, nội dung phản cảm, thô tục, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đến các tổ chức, cá nhân, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc thì phải chấn chỉnh, xử lý để răn đe người vi phạm và phòng ngừa chung.

Không chỉ riêng Việt Nam, mà nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều có các biện pháp khuyến khích công dân ứng xử có văn minh trên mạng xã hội, bảo đảm cho tự do ngôn luận đi theo chiều hướng tích cực, có lợi, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi khách quan. Việc xây dựng các quy định luật pháp về tự do ngôn luận của mỗi quốc gia đều căn cứ truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán, những điều kiện, bối cảnh lịch sử cụ thể… Như tại Singapore, luật pháp quy định phạt đến 100.000 đôla Singapore hoặc phạt tù tới 3 năm với hành vi nói xấu, phỉ báng, vu khống trong sinh hoạt hằng ngày và trên mạng xã hội; nếu bị phát hiện đưa tin giả lên mạng xã hội, khi nhà chức trách yêu cầu cải chính mà không chấp hành, có thể sẽ bị phạt đến 20.000 đôla Singapore hoặc 12 tháng tù. Luật pháp nước này nghiêm cấm các hành vi đi ngược lợi ích và ổn định cộng đồng, làm tổn hại an ninh và an toàn cộng đồng, làm tổn hại sức khỏe, kích động sự hận thù giữa các nhóm xã hội, suy giảm niềm tin vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, làm tổn hại quan hệ giữa Singapore với các quốc gia khác

Ngay như ở một số nước tư bản phát triển, quyền tự do ngôn luận không thể bất tuân pháp luật. Như ở Mỹ, Tối cao pháp viện nước này đã khẳng định, tự do ngôn luận không có nghĩa là có quyền bịa chuyện vu khống, phỉ báng cá nhân; giới hạn về tự do ngôn luận thể hiện qua án lệ của tòa án, cho phép chính quyền có quyền ngăn chặn, trừng phạt phát ngôn có tính khiêu dâm, phỉ báng, tục tĩu, xúc phạm, gây hấn. Ở Pháp, pháp luật cũng quy định những giới hạn, có các chế tài nghiêm khắc đối với hành vi lạm dụng tự do ngôn luận xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, đồng thời chống lại việc vu khống, bôi nhọ, phân biệt chủng tộc, tôn giáo, kích động bạo lực, gây hận thù. Bộ luật Dân sự của Pháp cấm xâm phạm đời tư cá nhân; Luật Hình sự nước này cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia; Luật Tự do báo chí điều chỉnh hành vi tổ chức, cá nhân trên mạng internet. Ở Anh ban hành “Quy tắc hành nghề cho các nhà cung cấp nền tảng truyền thông xã hội trực tuyến” hay ở Australia cũng ra “Bộ Quy tắc ứng xử trên truyền thông xã hội và bình luận trực tuyến”, điều này cho phép các quốc gia này kiểm soát vấn đề ngôn luận trên nền tảng mạng xã hội, truyền thông.

 Không chỉ mỗi quốc gia riêng biệt, Liên minh châu Âu (EU) cũng ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google, TikTok; cam kết bảo đảm các công ty, tổ chức, cá nhân tiếp cận nhanh chóng, đánh dấu và gỡ bỏ các phát ngôn thù địch cùng nội dung bất hợp pháp trên các nền tảng của họ. Việc các nền tảng mạng xã hội chủ động tuân theo bộ quy tắc xuất phát từ việc EU sẽ trực tiếp giám sát hoạt động này. Báo cáo mới nhất của EU đánh giá kết quả thực thi của Bộ Quy tắc năm 2020 đã ghi nhận 71% nội dung xác nhận là phát ngôn thù địch bất hợp pháp đã bị gỡ bỏ, tăng so với con số 26% của năm 2016.

Tự do ngôn luận là một trong các quyền cơ bản của con người, tuy nhiên quyền này không thể đặt ngoài khuôn khổ pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 chỉ rõ: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 xác định mọi người đều có quyền tự do quan niệm, tự do phát biểu quan điểm, tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức, ý kiến bằng phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. Đồng thời, Điều 29 Tuyên ngôn cũng bắt buộc mọi người phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng quyền của người khác, đáp ứng các đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

Theo đó, luật pháp quốc tế khẳng định quyền tự do ngôn luận không phải là tự do vô hạn, bất tuân pháp luật; trong một số trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh, ở các quốc gia tự do ngôn luận bị giới hạn. Từ thực tế trên cho thấy, không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối trong bất cứ chế độ chính trị nào, các quốc gia đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung; những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận mà gây hại đến tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia - dân tộc đều bị xử lý.

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để quyền tự do ngôn luận của người dân được thực thi nghiêm túc và toàn diện, các luật, văn bản dưới luật về tự do ngôn luận đã cụ thể hóa Hiến pháp, ngày càng được hoàn thiện để vừa bảo đảm quyền của công dân, vừa giúp quyền đó thực hiện trên cơ sở luật pháp. Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018 nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Nghiêm cấm những hành vi đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội quy định cho tổ chức, cá nhân khi tham gia mạng xã hội có những ứng xử phù hợp.

Để lành mạnh hóa môi trường mạng xã hội, góp phần thúc đẩy, bảo đảm tự do ngôn luận của các tổ chức, cá nhân, điều cần thiết là mỗi người dân cần nhận thức đúng đắn về quyền tự do ngôn luận, nêu cao ý thức trách nhiệm khi ứng xử trên mạng xã hội, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, phản bác các âm mưu, thủ đoạn sai trái về tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Những kinh nghiệm đẩy lùi tà đạo “Bà Cô Dợ”

 Lợi dụng đời sống của bà con người Mông ở các tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp… Vừ Thị Dợ, đối tượng cầm đầu đẩy mạnh tuyên truyền về tà đạo “Bà Cô Dợ”, dưới hình thức biến tướng của tôn giáo. Mục đích của đối tượng là lợi dụng niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng của quần chúng để tuyên truyền, phát triển lực lượng; lợi dụng mạng Internet để tuyên truyền các nội dung chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động tư tưởng ly khai, tự trị, kêu gọi thành lập “Nhà nước riêng”…

Các luận điệu hoang đường của tà đạo “Bà Cô Dợ”

Tà đạo “Bà Cô Dợ” (Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta) do Vừ Thị Dợ, SN 1977, người Mông, gốc Lào, quốc tịch Mỹ, hiện đang sinh sống tại bang Wiscosin, Mỹ lập ra và làm Hội trưởng từ cuối năm 2016.

Từ năm 2017, Vừ Thị Dợ đã sử dụng các đoạn video, clip tuyên truyền, lôi kéo trên mạng xã hội để lôi kéo người Mông tin theo cái gọi là tà đạo “Bà Cô Dợ” nhằm lập “Nhà nước riêng” của người Mông.

Tà đạo “Bà Cô Dợ” không có giáo lý, giáo luật, đối tượng cắt, sửa có sự vay mượn, xuyên tạc giáo lý của Ki tô giáo nhưng không thừa nhận Chúa Giê-su và tuyên truyền, lừa mị Vừ Thị Dợ là người được “Đức Chúa Trời” chọn để sinh ra Chúa Giê-su lần thứ hai (tái lâm lần thứ hai) có tên là Cứ Nu Si Lông (Bố Nù Sì Lông), người này sẽ cai trị thế giới 1000 năm, là Vua của người Mông thống trị thế giới. Khi có chiến tranh, thiên tai, lũ lụt xảy ra, những người tin theo “Bà Cô Dợ” sẽ được Chúa Cứ Nu Si Lông đưa lên đất nước của Chúa sinh sống; không tổ chức lễ Lễ phục sinh, chỉ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 22/11 hằng năm (không phải ngày 25/12) là ngày sinh của Chúa Cứ Nu Si Lông; không phải đóng 10% thu nhập, ai theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ được chia tiền…

Vào sáng chủ nhật hàng tuần, các đối tượng và những người tin theo tập trung sinh hoạt tại điểm, nhóm. Trong quá trình giảng dạy, các đối tượng sử dụng các bài hát về Chúa đã được cải biên trên nền nhạc trẻ, nội dung chủ yếu là tuyên truyền mê tín dị đoan, xuyên tạc kinh thánh; đả kích các tôn giáo chính thống; chê bai, phỉ báng phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, tuyên truyền về ngày tận thế, việc vua Mông ra đời, kích động ly khai, tự trị, lôi kéo người theo tổ chức “Bà Cô Dợ” tham gia thành lập “Nhà nước Mông”.

Đáng chú ý, vào thời điểm đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, trong lúc Đảng, Nhà nước Việt Nam đang triển khai thực hiện nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá vùng dân tộc và miền núi, phòng, chống dịch bệnh COVID[1]19 thì Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu lại tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ Việt Nam như: “Chính quyền không quan tâm đến chế độ, chính sách đối với nhân dân nên đời sống đồng bào rất khó khăn”; “Không được đi tiêm phòng dịch bệnh vaccine COVID – 19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại cho sức khoẻ con người”, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn cách đối phó với công tác tuyên truyền, phòng, chống dịch của cơ quan y tế.

Để thực hiện âm mưu và hoạt động của mình, bên cạnh việc kích động các hoạt động chống đối chính quyền, đối tượng cầm đầu Vừ Thị Dợ đã gửi tiền cho số đối tượng trong nước để tuyên truyền, lôi kéo người tham gia phát triển tổ chức.

Thời điểm cao nhất (năm 2017 - 2019), tà đạo “Bà Cô Dợ” có hàng ngàn người tin theo tại nhiều tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, trong đó tập trung chủ yếu là khu vực tuyến biên giới Việt - Lào, Việt - Trung nơi có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống.

Qua các nội dung của các luận điệu tuyên truyền và hoạt động của các đối tượng tại địa bàn, chúng ta có thể nhận thấy: Âm mưu xuyên suốt của tổ chức “Bà Cô Dợ” đó là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa đồng bào dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng ly khai, tự trị, kêu gọi người Mông trên toàn thế giới đoàn kết, đòi quyền tự quyết, lập “Nhà nước Mông”.

Đồng thời tuyên truyền, vu cáo Nhà nước Việt Nam đàn áp người Mông trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; tuyên truyền sai tự thật về chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công tác phòng, chống COVID[1]19; chỉ đạo đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước đối phó với chính quyền và cán bộ đến tuyên truyền và hỗ trợ kinh phí cho các đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước để mua, sắm phương tiện hoạt động. Các đối tượng cầm đầu tà đạo này còn xúc phạm các phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc và niềm tin của các tôn giáo chính thống.

Để thực hiện âm mưu trên, các đối tượng triệt để lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong vùng dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp dân tộc, tôn giáo. Bên cạnh đó, Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu đã vay mượn thậm chí xuyên tạc một cách trắng trợn kinh thánh và các giáo lý của Ki tô giáo như tự coi mình là Đức Chúa Trời, không thừa nhận Đức Chúa Giê-su… để lừa bịp một bộ phận quần chúng đồng bào người Mông nhận thức còn thấp, nhất là về các vấn đề liên quan đến tôn giáo để lôi kéo họ tham gia tổ chức.

Cùng với đó, các đối tượng cầm đầu cũng đã triệt để lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, thông qua mạng xã hội để tổ chức hội luận, đào tạo trực tuyến, tuyên truyền, móc nối, lôi kéo, phát triển lực lượng.

Với những luận điệu tuyên truyền có nội dung rất phản khoa học, bài xích các tôn giáo chính thống, đả kích phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, Vừ Thị Dợ và cái tổ chức gọi là “Bà Cô Dợ” bị rất nhiều người Mông không chỉ ở Việt Nam mà cả cộng đồng người Mông quốc tế đấu tranh, phản bác. Ngay cả những người được coi là “cùng hội, cùng thuyền” với Vừ Thị Dợ, suốt ngày kêu gọi thành lập “Nhà nước Mông”, vu cáo Việt Nam đàn áp dân tộc, tôn giáo như Vàng Chỉnh Mình ở Mỹ thông qua tài khoản Youtube Kev Vaam Meej cũng phải thừa nhận: Vừ Thị Dợ là người không có đức tin về Chúa Giê-su và đã bị các tổ chức Tin lành ở Mỹ đuổi khỏi Hội Thánh; những ai tin theo Vừ Thị Dợ là những người không hiểu biết nên mới tin theo. Việc một số người Mông tin theo Dợ đã để lại những hậu quả tai hại về đời sống và đức tin.

Sự chuyển hoá ở một địa bàn khi người dân từ bỏ “Bà Cô Dợ”

“Nhờ được tuyên truyền, giải thích, vợ chồng tôi đã hiểu được cái sai… Bây giờ, tôi yên tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế của gia đình, không nghe theo lời của những kẻ xấu”, gặp các cán bộ Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Sơn La, ông Giàng Khúa Dua (SN 1953), một người dân sinh sống tại huyện Sốp Cộp cho biết. Ông Giàng A Khua chỉ là một trong nhiều người ở bản Huổi Luông đã từ bỏ tham gia tà đạo “Bà Cô Dợ”. Trong bản còn có nhiều người khác như anh Vừ A Cho (SN 1982) và Giàng A So (SN 1987, cùng trú tại bản Huổi Luông, xã Mường Lèo, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La)… hiện giờ cũng đã từ bỏ đạo lạ, quay trở lại với sinh hoạt tôn giáo thuần tuý.

Sơn La từng là một trong những địa bàn phức tạp về hoạt động của tổ chức “Bà Cô Dợ”... Qua vận động, tuyên truyền, đến nay có 21 trường hợp từng theo “Bà Cô Dợ” đã từ bỏ, trở lại với sinh hoạt tôn giáo thuần túy. Một trong những bí quyết thành công của Công an tỉnh Sơn La là việc vận dụng linh hoạt các biện pháp công tác; việc vận động, tuyên truyền để người dân hiểu được âm mưu, phương thức hoạt động của các đối tượng. Từ đó, nhiều người đã chủ động từ bỏ, không tham gia… Những chia sẻ của những người trong cuộc, phần nào đã cho thấy một cách làm đúng hướng, sẽ giúp người dân đã và đang lạc lối đi theo luận điệu tuyên truyền của các đối tượng cầm đầu tổ chức thực sự tỉnh táo, nhận diện đúng bản chất của tà đạo “Bà Cô Dợ”.

Từ những khó khăn, vất vả được tận mắt nhìn thấy trong những ngày 4 cùng ở địa bàn, cán bộ đơn vị thấu hiểu hơn tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những vướng mắc trong cuộc sống của người dân để chia sẻ.

Từ đó, mỗi trinh sát Phòng An ninh nội địa lại tìm tòi, học hỏi những cách làm hay, sáng tạo trong nông nghiệp. Sau đó, bằng những hiểu biết, kinh nghiệm học hỏi của mình để hướng dẫn bà con thực hiện việc trồng lúa nương, ngô, sắn đạt năng suất cao, ít sâu bệnh và chăm bón đúng kỹ thuật, sử dụng đúng các quy định của nhà sản xuất về thuốc bảo vệ thực vật; kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm như tiêm, uống thuốc phòng, chống dịch bệnh trong thời gian chuyển mùa và cách làm chuồng trại hợp vệ sinh; tận dụng phân động vật để làm phân bón, cách thu hoạch và bảo quản nông sản chất lượng, hiệu quả…

“Lời nói đi đôi với hành động”, bằng những việc làm tuy nhỏ nhưng đầy thiết thực như vậy, trinh sát Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Sơn La đã xây dựng hình ảnh đẹp, ấn tượng sâu sắc trong lòng dân trên địa bàn. Từ sự gắn bó, tình cảm của người già đến các em nhỏ, phụ nữ và thanh niên trên địa bàn nên công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, vận động người dân chấp hành các quy định của Đảng, Nhà nước của trinh sát, đơn vị đã đạt được hiệu quả và mang tính lan tỏa sâu rộng.

Cùng với việc tuyên truyền, chính quyền các địa phương đã tiếp tục ưu tiên đầu tư, phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở các địa bàn; vận động nhân dân tích cực tham gia các chương trình xây dựng nông thôn mới; đồng thời thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn; đẩy mạnh việc phát động phong trào “Bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phù hợp thiết thực với từng địa bàn. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò của người dân tộc thiểu số, nhất là những người có uy tín trong công tác tuyên truyền.

Ở mỗi địa bàn lại có những cách làm hay, hiệu quả…

Cùng với việc vận động, truyên truyền đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Trong thời gian qua, Cục An ninh nội địa đã phối hợp với Công an các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp nắm tình hình, quản lý, đấu tranh với các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Trong đó, kiên quyết xử lý, răn đe các đối tượng có hoạt động tuyên truyền sai sự thật về việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19, xử lý về hành vi vi phạm trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin.

Dù đã đạt được những hiệu quả nhất định nhưng công tác đấu tranh, xoá bỏ tà đạo này đã và đang đặt ra cho lực lượng chức năng những khó khăn bởi âm mưu của các đối tượng cầm đầu “Bà Cô Dợ” không thay đổi. Chúng tiếp tục lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo người Mông tham gia lập “Nhà nước riêng”. Trong đó, các đối tượng cầm đầu tà đạo “Bà Cô Dợ” từ nước ngoài tiếp tục tuyên truyền, móc nối, chỉ đạo gửi tiền tài trợ số cầm đầu, cốt cán tại các địa bàn để lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia tổ chức.

Cùng với đó là địa bàn hoạt động của tà đạo ở các xã vùng sâu, vùng cao, biên giới, giao thông đi lại khó khăn; đối tượng tin theo phần lớn là người Mông, có cuộc sống khó khăn; nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân về pháp luật, giáo lý và giáo luật còn hạn chế nên dễ bị dụ dỗ, lôi kéo tham gia tà đạo này.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 19/10


“Từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật là anh hùng”.
Đây là lời khẳng định và khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ Việt Nam trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm lần thứ 20, Ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (20/10/1946-20/10/1966), tổ chức ngày 19 tháng 10 năm 1966.
Cả cuộc đời phấn đấu hy sinh cho dân tộc, giải phóng phụ nữ luôn là khát vọng cháy bỏng của Hồ Chí Minh và Người luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ ở thế kỷ XX. Nhưng đồng thời Bác cũng luôn thức tỉnh phụ nữ muốn được giải phóng, chị em cũng phải đấu tranh, không ngừng học hỏi, đoàn kết, làm trọn nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Đã có rất nhiều phụ nữ nước ta được Bác khen tặng bởi những thành tích trong học tập, rèn luyện và đóng góp trên mọi lĩnh vực… trong chiến tranh đã xuất hiện nhiều những tấm gương phụ nữ chiến đấu anh dũng, kiên cường, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc; tiêu biểu như: Chị Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Lý, Nguyễn Thị Định… xứng đáng là con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu, với lời khen tặng của Bác Hồ kính yêu.
Vinh dự, tự hào với lời khen tặng của Bác kính yêu, tự hào về truyền thống hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữu nước của dân tộc, Phụ nữ Việt Nam không ngừng thi đua học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, là những nhân tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của xã hội. Nhiều chị em đã trở thành những nhà khoa học, văn nghệ sĩ tài năng, những vị lãnh đạo có giữ cương vị cao trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến Trung ương, xứng đáng với sự quan tâm và tin tưởng của Bác Hồ.
Phát huy truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, khắc ghi lời Bác dạy, phụ nữ Quân đội tiếp tục nêu cao tinh thần, trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, học tập, lao động sáng tạo, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc để xứng đáng với lời khen tặng của Bác kính yêu.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH Há CHÍ MINH'

Nghĩa tình quân dân trong mưa bão

Nghĩa tình quân dân trong mưa bão

Mặc dù bão số 4  không trực tiếp đổ bộ vào địa bàn các tỉnh Quân khu 4, nhưng với tinh thần “Phía trước là Nhân dân” các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã nêu cao tinh thần ứng phó, phòng chống bão. Tại địa bàn các tỉnh dự báo ảnh hưởng của bão, bằng những phần việc cụ thể, cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng cấp ủy, chính quyền và bà con Nhân dân. Qua thiên tai, bão lụt một lần nữa nghĩa tình quân dân lại càng thêm bền chặt.

Trước ngày bão số 4 đang ở ngoài biển Đông, đi đến các địa phương trên địa bàn Quân khu 4, chúng tôi chứng kiến tinh thần “Sát cánh cùng Nhân dân, chủ động phòng chống, ứng phó kịp thời” của cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị. Từ sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, các cơ quan, đơn vị đã triển khai lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng cứu Nhân dân. Tại các khu vực xung yếu, dự báo ảnh hưởng trực tiếp của bão số 4 như, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị… các cơ quan, đơn vị đã duy trì 100% quân số trực tại doanh trại, sẵn sàng cơ động giúp dân và đã sơ tán di dời hàng nghìn hộ dân đến nơi an toàn; giúp Nhân dân chằng chống nhà cửa... Những nơi bị ảnh hưởng, thiệt hại do mưa bão gây ra lực lượng vũ trang các địa phương kịp thời có mặt hỗ trợ nhu yếu phẩm, khắc phục hậu quả.

Chúng tôi có mặt tại thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang khi bão số 4 cách đất liền hàng trăm km. Vậy nhưng, không khí sẵn sàng ứng phó với cơn bão của lực lượng vũ trang và các ban, ngành, đoàn thể cùng bà con Nhân dân hết sức khẩn trương. Trên hệ thống truyền thanh các thôn xóm liên tục phát các bản tin về cơn bão và tuyên truyền, nhắc nhở bà con Nhân dân của  cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc ứng phó với cơn bão. Trên âu thuyền Thuận An rộn ràng tiếng hô, tiếng nói của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và ngư dân chằng néo tàu thuyền. Các thôn xóm khu vực trũng thấp, có nguy cơ ngập úng mặc cho dưới cơn mưa xối xả trên những chiếc xe máy các chiến sĩ dân quân và đoàn thanh niên hối hả chở các cụ già sơ tán đến nơi an toàn…

Tại điểm Trường Mầm non thị trấn Thuận An, khu vực sơ tán của bà con các khu phố Tân An, An Hải… những thùng lương khô, nước uống được các đơn vị lực lượng vũ trang và ban, ngành, đoàn thể mang đến hỗ trợ kịp thời. Trò chuyện với chúng tôi, bà Lê Thị Như ở tổ dân phố An Hải xúc động nói: Gia đình tôi nằm ở  khu vực trũng thấp gần bờ biển. Vì thế, năm nào cũng vậy, hễ có thông tin bão đổ bộ vào địa bàn các chú bộ đội Ban Chỉ huy Quân sự huyện Phú Vang và các chú dân quân kịp thời đến giúp bà con chúng tôi chằng chống nhà cửa, sơ tán đến nơi an toàn.

Không chỉ ở huyện Phú Vang, đi đến các địa phương ở Thừa Thiên Huế trước ngày bão số 4 chuẩn bị đổ bộ vào đất liền, cán bộ, chiến sĩ có mặt tại các khu vực xung yếu tuyên truyền, hỗ trợ Nhân dân phòng chống, ứng phó với cơn bão. Ngay sau khi bão đi qua, cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị và lực lượng dân quân kịp thời hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả, thu dọn cây cối ngã đổ. Tại thành phố Huế, dưới màn mưa nặng hạt nhưng cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị và lực lượng dân quân đã có mặt tại các trục đường từ sáng sớm thu dọn cây cối. Chiến sĩ dân quân cơ động phường An Tây, Hồ Anh Dũng cho biết: Mấy ngày hôm nay 100% chiến sĩ dân quân của phường tích cực tham gia giúp dân phòng chống nhà cửa nên ai cũng khá thấm mệt. Nhưng trước tình hình các tuyến đường bị ách tắc do cây cối ngã đổ nên anh em chúng tôi động viên nhau cố gắng thu dọn giải tỏa giúp Nhân dân đi lại thuận lợi hơn.

Theo số liệu thống kê, ứng phó với cơn bão số 4, tỉnh Thừa Thiên Huế đã di dời, sơ tán gần 15.000 hộ với gần 45.000 nhân khẩu đến nơi an toàn. Lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên Huế giúp gần 5.000 gia đình các khu vực xung yếu chằng chống nhà cửa và tham gia thu dọn hàng nghìn cây xanh gãy đổ.

Tại địa bàn thị trần Cửa Việt, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị do ảnh hưởng bão, chiều ngày 27/9/2022 xảy ra một cơn lốc xoáy làm tốc mái trên 100 căn nhà, 01 quán sập đổ hoàn toàn; làm 03 người bị thương. Ngay trong đêm, Đại tá Nguyễn Hữu Đàn, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị cùng hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và lực lượng dân quân kịp thời có mặt giúp Nhân dân khắc phục hậu quả. Trong đêm tối, dưới màn mưa như trút nước kèm theo những cơn gió biển quất ràn rạt trong ánh sáng của đèn pin lấp loáng, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quảng Trị chạy đua với thời gian sơ cứu người bị thương, sơ tán các hộ dân ra khu vực sập đổ. Những mái nhà bị gió tốc, những tấm tôn treo lơ lửng hết sức nguy hiểm, nhưng với tinh thần “Phía trước là Nhân dân” cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quảng Trị không quản ngại khó khăn, hiểm nguy nêu cao tinh thần giúp Nhân dân khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống.

Có mặt tham gia, chỉ đạo các lực lượng giúp Nhân dân khắc phục hậu quả trận lốc xoáy, đồng chí Võ Văn Hưng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị biểu dương tinh thần của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong tham gia khắc phục hậu quả. Đồng chí nhấn mạnh, trong thiên tai, hoạn nạn bà con Nhân dân luôn đón nhận tình cảm, sự giúp đỡ của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Chính các anh là những “điểm tựa” vững chắc, tin cậy đối với cấp ủy, chính quyền và bà con Nhân dân trong các tình huống khó khăn, hiểm nguy.

Cơn bão đi qua, nhưng theo dự báo ảnh hưởng hoàn lưu cơn bão nên những ngày tiếp theo các địa phương trên địa bàn Quân khu 4 sẽ có mưa vừa đến mưa to. Nhằm kịp thới ứng phó với thiên tai, bão lụt, các cơ quan, đơn vị luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm, phối hợp với các ban, ngành địa phương có mặt các khu vực xung yếu tuyên truyền, hỗ trợ Nhân dân sơ tán đến nơi an toàn. Các cơ quan, đơn vị tiếp tục duy trì nghiêm các chế độ trực ban, trực chỉ huy và lực lượng sẵn sàng cơ động ứng phó trong mọi tình huống thiên tai.

 


PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI - BÀI HỌC XƯƠNG MÁU TỪ LIÊN XÔ


Chống phá cách mạng Việt Nam là một mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Trong đó, luận điệu “phi chính trị hóa quân đội” được những đối tượng này xác định là một nội dung trọng tâm.
Chúng cố tình rêu rao quan điểm cho rằng, “quân đội phải đứng ngoài chính trị”; quân đội cần phải “trung lập”, “đứng giữa”, không lệ thuộc hoặc đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào…
Chúng cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc thành công là Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử; Đảng chỉ nên lãnh đạo quân đội trong chiến tranh, khi hòa bình Đảng cần giao quyền lãnh đạo quân đội cho Nhà nước. Chúng đòi bỏ Điều 65, chương 4 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, quy định: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.
Có thể thấy, “phi chính trị hóa quân đội” suy đến cùng là luận điệu chống phá của các thế lực phản động nhằm mục đích tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội; tiến tới làm cho Quân đội xa rời bản chất giai cấp công nhân, mất phương hướng chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu...
Âm mưu sâu xa của luận điệu này là làm Quân đội suy yếu về chính trị, lâu dài là vô hiệu hóa Quân đội, với tính cách là công cụ bạo lực chính trị sắc bén của Đảng.
Nhìn nhận khách quan, bài học về xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Quân đội Liên Xô là cơ hội để chúng ta nhận thức rõ hơn tính chất nguy hiểm trong các thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động liên quan đến vấn đề “phi chính trị hóa quân đội”; từ đó, đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống lại những tư tưởng sai trái, luận điệu chống phá nói trên.
Do đó, cần luôn luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, Quân đội nói riêng; thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức Đảng các cấp trong Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức.
Tiếp tục xây dựng tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.
Đồng thời, coi trọng phát huy vai trò, tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội. Mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội; quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội gắn với cương vị, chức trách được giao; thực sự nêu gương trước bộ đội...
Qua đó, vừa góp phần nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị; vừa tạo cơ sở để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động, thù địch.
Có thể là hình ảnh về 5 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI BÀI HỌC XƯƠNG MÁU TỪ LIÊN XÃ Sáng mãi niềm tin 25.10'

Ử NHỈ? ĐÚNG QUÁ À!


Hôm rồi nghe được một câu nói của anh Dương Thành, một người Việt sống ở Ukraine viết cho kênh “Tin nóng 24h”, trong đó mình thích nhất câu, “Mỹ và bọn tay sai ở Ucraine chỉ giỏi vu vạ và phá hoại”. Dương Thành bảo, trong tất cả các cuộc chinh phạt mà Mỹ tiến hành tới các nước, cho đến nay Mỹ chưa để lại một công trình xây dựng nào đáng giá, kể cả các nước châu Âu - chư hầu của Mỹ.
Nghe đến đây, bất chợt mình nghĩ trong đầu, “Ừ nhỉ? Đúng qúa, chỉ có phá thôi”.
Chiêm nghiệm dựa trên câu nói này mà những người Việt chúng ta còn đang sống đây, thấy ngay rằng, Mỹ đã từng có thời gian hiện diện gián tiếp hay trực tiếp trên mảnh đất hình chữ S này cũng chẳng để lại được gì, ngoài sự tàn phá.
Này nhé, trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta từ năm 1945 đến năm 1954, thì chi phí chiến tranh của Pháp được Mỹ “gánh” cho, có thời điểm chiếm đến 80%. Nhưng chủ yếu là xe tăng, máy bay, súng đạn để đi giết người thôi.
Từ năm 1954 đến năm 1975 là thời kỳ Mỹ trực tiếp nhúng tay vào cuộc chiến ở Việt Nam thay chân Pháp, Mỹ đã đổ vào chiến trường này 26 tỷ USD (thời giá trước năm 1975). Vậy Mỹ đã xây dựng cho miền nam Việt Nam được công trình gì?
Lớn nhất là một khu “Tổng kho Long Bình” một khu kho vừa lớn vừa hiện đại, vừa kiên cố, song bên trong nó chứa toàn phương tiện dùng để giết người thôi.
Đó là các cơ sở điện lực, nhưng duy nhất chỉ nhà máy điện Thủ đức với công suất 150 MW (chưa rõ có phải từ tiền của chính phủ Mỹ không nữa?), chỉ đủ phục vụ cho Sài gòn và vùng phụ cận, trong đó có các nhu cầu của quân đội Mỹ, ngụy. Đến khoảng năm 1968, có khả năng ngành điện miền bắc phát triển hơn miền nam, nên Mỹ đưa vào một số máy phát điện diesel lưu động, có công suất từ 500 đến 2.100 kW (0,5 – 2,1 MW). Chấm hết!
Ai đó bảo, vậy còn Đa Nhim, Cần Thơ, Chợ Quán? Xin thưa, thủy điện Đa Nhim và bệnh viện Chợ Rẫy là từ nguồn tiền bồi thường chiến tranh của chính phủ Nhật, đã “bồi thường nhầm” cho VNCH, nói là “nhầm” vì mỹ không cho Nhật làm khác đi, trong khi mọi hậu quả mà Nhật gây ra cho dân ta năm 1945 là từ Quảng Bình trở ra cơ. Nhà máy nhiệt điện Cần Thơ cũng là vốn kinh doanh của các công ty Nhật bổn. Nhà máy nhiệt điện Chợ Quán là do Pháp để lại, sau cũng phải bỏ vì “lão quá” không hoạt động được.
Công trình mà Mỹ để lại ở miền nam Việt Nam, chỉ có xa lộ Sài gòn – Biên hòa, 60 kM là đáng kể nhất, mục đích chính cũng là phục vụ chiến tranh. Miền nam có nhiều sông ngòi, kênh rạch mà Mỹ cũng chẳng xây dựng được cái cầu nào.
Còn chuyện Mỹ phá, thì “thôi rồi Lượm ơi”. miền bắc Việt Nam có 11 nhà máy điện lớn nhỏ thì Mỹ đem máy bay ra chà đi xát lại năm lần bảy lượt cho đến khi không còn hoạt động được mới thôi. Trong 11 nhà máy chỉ có 2 nhà máy không bị hỏi thăm, đó là điện Lào Cai, nằm sát biên giới Việt – Trung, muốn bắn phá nhà máy này thì máy bay Mỹ phải vòng sang không phận Trung quốc, còn một nhà máy nữa là thủy điện Thác Bà, nếu đánh nhà máy sẽ gây ra thảm họa nhân đạo nên Mỹ còn e dè đôi chút. Tuy nhà máy điện Lao Cai không bị Mỹ trực tiếp đánh sập mà nhờ tay Trung quốc phá vào năm 1979, lần này thì không phải dùng không quân mà bộ binh Trung quốc đến tận nơi đặt mìn và bộc phá.
Tất cả cảc cầu bắc qua sông thì không còn cái nào nguyên vẹn, thậm chí cả những cây cầu đường sắt nhỏ xíu chúng cũng không tha. Ngoài nhà máy điện, cầu cống thì bệnh viện cũng là mục tiêu đánh phá của chúng như bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội.
Còn về sự dối trá của chính quyền Mỹ thì tôi đã có mấy bài rồi, hôm nay nói thêm một câu cho phải phép. Đó là Mỹ dựng lên cái vụ tàu Madoc ở vịnh Bắc bộ để lấy cớ bắn phá miền bắc nước ta vào đầu thập niên 1960. Hết chiến tranh, người ta mới thừa nhận đó là Mỹ dựng bằng chứng giả tạo. Cũng giống như vụ dựng bằng chứng về vũ khí sinh học của Iraq để lấy cớ sang cướp đất người ta. Hai sự kiện ở hai nơi, song bản chất là một – Chính quyền Mỹ luôn là kẻ dối trá!
Sau ngày đất nước được hoàn toàn thống nhất, ở cả hai miền nam bắc, ngoài công việc khôi phục các cơ sở bị phá hoại, chúng ta đã xây dựng khá nhiều cơ sở điện lực hiện đại ở cả ba miền bắc, trung nam và các cây cầu lớn bắc qua sông Mekong, sông Hồng, sông Sài Gòn, sông Hàn… Điện không những được đưa lên đồng bào các dân tộc miền núi mà còn kéo ra hải đảo xa xôi như Phú Quốc, Côn Đảo, Lý Sơn...
Phải nói như thế này mới đúng, Mỹ không những giỏi về ngón nghề phá hoại mà còn giỏi về ngón nghề cướp bóc tài nguyên của nước khác như một vài nước ở vùng Vịnh đang phải chịu đựng./.
Hình trong bài: Có thể gác lại quá khứ, song không thể quên đi một quá khứ đau thương.
ST