Thứ Năm, 20 tháng 10, 2022

Những tấm gương phụ nữ tiêu biểu của Quân đội

 Nữ Thiếu tướng trong thời bình

Nhiều người biết đến Thiếu tướng Hồ Thủy, Giám đốc Bảo hiểm xã hội (BHXH) Bộ Quốc phòng, không những chị là một trong số bốn nữ cán bộ có quân hàm cấp tướng của quân đội, mà còn tâm phục, kính trọng chị bởi tố chất chỉ huy quyết đoán, năng động; dám nghĩ, dám làm; trách nhiệm và hết mình vì công việc. Gần 26 năm công tác tại Cục Chính sách - Bộ Quốc phòng, chị đã trải qua nhiều nhiệm vụ chuyên môn, ở vị trí công tác nào chị cũng tìm thấy niềm vui, hoàn thành nhiệm vụ và tích lũy được kinh nghiệm thực tiễn.

Năm 2008, Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng được thành lập và chị được giao giữ chức Giám đốc. Là người đứng đầu một cơ quan mới thành lập, còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng trong chị luôn rực cháy niềm đam mê công việc. Chị luôn thể hiện rõ vai trò người đứng đầu, góp phần quan trọng vào sự đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) trong quân đội.

Học tập và làm theo gương Bác, trên cương vị lãnh đạo, chị Thủy luôn gương mẫu, đi đầu thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những quy định trong Quân đội. Chị luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của đồng chí, đồng đội để đưa ra được những giải pháp tốt nhất trong công tác chỉ đạo, điều hành, được cán bộ, nhân viên tin tưởng, ủng hộ.

Nhờ đó, tuy mới thành lập được 5 năm, BHXH Bộ Quốc phòng đã có những bước phát triển, trưởng thành vượt bậc. Công tác BHXH, BHYT trong quân đội dần đi vào nền nếp; bảo đảm tính vững chắc, đúng luật pháp, có sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan BHXH với hệ thống các ngành quân lực, cán bộ, tài chính, quân y toàn quân. Việc giải quyết các chế độ BHXH, BHYT cho các đối tượng bảo đảm nhanh chóng, tiện lợi, với nhiều đột phá đáng ghi nhận... góp phần đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính của Chính phủ.

Với những thành tích đạt được, trong 5 năm, BHXH Bộ Quốc phòng được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (năm 2011); Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba (năm 2013); năm 2012 được Bộ Quốc phòng tặng Cờ đơn vị dẫn đầu Phong trào Thi đua Quyết thắng. Cá nhân chị được nhận Huân chương Lao động hạng Ba năm 2011 vì những đóng góp đối với sự nghiệp BHXH trong quân đội, cùng năm đó, chị được Đảng, Nhà nước, Quân đội phong quân hàm Thiếu tướng.

Nữ thiếu tá mặc áo blue trắng

Thiếu tá Nguyễn Thị Thảo, điều dưỡng Trưởng, Khoa Khám bệnh kiêm Chủ tịch Hội phụ nữ Bệnh viện 4, Cục Hậu cần, Quân đoàn 4 là người luôn quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác: “Lương y như từ mẫu”. Vì vậy, trong công việc hằng ngày, chị luôn tích cực, khẩn trương tiếp nhận đăng ký, hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ cho người bệnh. Trong việc ứng xử, giao tiếp, chị luôn ân cần, nhẹ nhàng với bệnh nhân, với đồng nghiệp, thực hiện tốt y đức. Chính nước mắt của những người nhà và sự đau đớn của bệnh nhân luôn thôi thúc chị phải năng động và sáng tạo trong công việc. Chị đã cùng với các cán bộ trong Khoa thường xuyên tham mưu với Đảng ủy, Ban Giám đốc bệnh viện tích cực cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân đến mức thấp nhất. Nhờ đó, đã giảm bớt được nhiều khâu, nhiều công đoạn làm thủ tục cho bệnh nhân.

Là một điều dưỡng, chị Thảo luôn tận tụy, ân cần chăm sóc bệnh nhân từng bữa ăn, giấc ngủ. Mỗi ngày, có hàng chục người bệnh cần đến bàn tay chăm sóc của chị. Do đó, chị thường sắp xếp thời gian thật hợp lý để có thể tự tay chăm sóc cho từng người. Nhiều khi đã quá nửa đêm, chị vẫn lặng lẽ đi qua từng phòng, từng phòng để xem bệnh nhân có ngủ được không hay có ai quá đau không... Chị cảm thấy không an giấc nếu bệnh nhân nào đó vì quá đau, vì thiếu chăn ấm hay quá nóng bức mà mất ngủ. Có những gia đình neo đơn không có người chăm sóc bệnh nhân, chị lại là người đứng ra quán xuyến giúp. Chị chăm họ từ lúc còn nhiều đau đớn cho tới lúc họ đi lại, vận động bình thường và tươi cười chào tạm biệt chị khi ra viện.

Với sự tận tình, chu đáo, chị Thảo luôn được bệnh nhân, bạn bè, đồng nghiệp yêu quý và lãnh đạo tuyên dương. Những năm qua, chị đã nhận được nhiều bằng khen từ các cấp và năm 2013, chị vinh dự là 1 trong 100 cá nhân điển hình toàn quân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được Bộ Quốc phòng tuyên dương.

Người chủ của những đề tài khoa học

Thượng úy Tạ Thị Minh Huyền, trợ lý nghiên cứu, Ban Khoa học kỹ thuật hậu cần, Viện Nghiên cứu Khoa học Hậu cần quân sự, Học viện Hậu Cần với công việc chính là thiết kế, thực hiện các thí nghiệm và sử dụng các trang thiết bị phòng thí nghiệm phục vụ công tác nghiên cứu, chị luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm và ý thức giữ tốt, dùng bền các trang, thiết bị, bố trí lựa chọn thí nghiệm hợp lý để tránh gây lãng phí hóa chất, điện, nước cho đơn vị mà vẫn đảm bảo kết quả thí nghiệm. Bên cạnh đó, chị luôn tích cực học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp và thực tiễn cuộc sống, chủ động, sáng tạo, đề xuất kịp thời các đề tài nghiên cứu có tính ứng dụng vào phục vụ và nâng cao chất lượng đời sống bộ đội.

Qua gần 8 năm công tác, chị đã tham gia thực hiện 1 dự án cấp Nhà nước: “Xây dựng mô hình sản xuất giống, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ các loại nấm tại khu kinh tế quốc phòng Bình Liêu – Hải Hà – Móng Cái” (2008 – 2011), 1 đề tài cấp ngành: “Nghiên cứu quy trình kỹ thuật sản xuất một số loại rau quả dầm dấm muối chua đóng hộp phục vụ bộ đội” và 8 đề tài cấp Học viện.

Với những đề tài trên, chị đã đạt 1 giải Khuyến khích sáng tạo kỹ thuật toàn quân năm 2009; 2 giải Nhì và 2 giải Ba “Tuổi trẻ sáng tạo” cấp Học viện. Đồng thời, chị cũng là thành viên tích cực tham gia xây dựng phòng thí nghiệm công nghệ sinh học của Viện Nghiên cứu, Học viện Hậu cần theo tiêu chuẩn ISO 2005. Chị cũng tham gia viết một số tin, bài, tài liệu khoa học đăng trên các Tạp chí chuyên ngành.

Quá trình học tập và công tác, chị Huyền luôn vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Năm 2012, chị được tặng danh hiệu “Chiến sỹ tiên tiến” và Giấy khen trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2011 – 2013; Giấy khen vì đã tham gia tích cực phong trào “Tuổi trẻ sáng tạo” và là đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Năm 2013, chị vinh dự là 1 trong 100 cá nhân điển hình học tập và làm theo gương Bác được Bộ Quốc phòng tuyên dương.

Nữ vận động viên vàng của Quân đội

Cô gái trẻ Nguyễn Thị Ánh Viên, sinh năm 1996 là vận động viên bơi lội thuộc Trung tâm Thể dục thể thao quốc phòng 4, Quân khu 9 có nhiều thành tích xuất sắc, giành nhiều huy chương về cho Quân khu và Việt Nam trên các đường đua trong nước và quốc tế. Năm 2007 và 2008, khi mới 11, 12 tuổi, Ánh Viên đã giành được 6 huy chương các loại trên tổng số 11 huy chương mà Đoàn thể thao Quân khu 9 giành được.

Năm 2011, 15 tuổi, cô chính thức được gọi vào đội tuyển quốc gia và có sự thăng tiến vượt bậc cả về chuyên môn lẫn thành tích thi đấu. Khép lại năm 2011 với tổng số 52 huy chương (36 huy chương trong nước và 16 huy chương quốc tế. Trong đó, 31 Huy chương Vàng, 12 Huy chương Bạc, 9 Huy chương Đồng). Ánh Viên phá 3 kỷ lục quốc gia, 7 kỷ lục quốc gia ở các nhóm tuổi, 3 lần được bầu chọn là vận động viên xuất sắc nhất giải.


Tài năng vượt trội của Ánh Viên tiếp tục được khẳng định trong năm 2012 khi Bộ Quốc phòng và Tổng cục Thể dục thể thao quyết định đầu tư mũi nhọn cho cô đi tập huấn dài hạn tại Mỹ. Trong năm 2012 và nửa đầu năm 2013, Ánh Viên tiếp tục giành 42 huy chương các loại (26 Huy chương Vàng, 12 Huy chương Bạc, 4 Huy chương Đồng). Đặc biệt, Ánh Viên đạt chuẩn B Olympic, giành vé dự Olympic Luân Đôn 2012; đạt chuẩn A, giành vé dự giải Vô địch Thế giới tổ chức tại Tây Ban Nha tháng 7 năm 2013.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Ánh Viên đã được tặng nhiều bằng khen của các cấp, đạt danh hiệu “Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân” năm 2012 và tháng 5/2013, Ánh Viên được Trung ương Đoàn tặng Huy hiệu “Tuổi trẻ sáng tạo”.

 


TRĂM SỰ ĐỔ VẠ VÀO THẦY CÔ!

     Người ta tập trung vào việc nữ sinh miệt thị thầy giáo bị “sang chấn tâm lý” nhưng không thấy báo chí hoặc ai đó đưa tin về thầy giáo, rằng thầy cảm thấy như thế nào khi bị nữ sinh chửi bới thậm tệ? Liệu thầy có bất ổn về mặt tâm lý không? Hay mặc định rằng thầy cô chẳng làm sao cả, thầy cô cũng là con người mà, mà vốn là con người, đâu có ai chịu chấp nhận việc bị sỉ nhục ngay trong giờ làm việc, đây lại còn bục giảng thiêng liêng trong lớp học, nơi thầy cô phải được tôn trọng ở mức cao nhất?
     Đã đành, thầy còn bị trách ngược vì đã đôi co với học sinh nên khiến nữ sinh này thêm bực tức và hành động quá đà hơn. Giờ bị học trò xúc phạm mày tao, con cặ* rồi mặc kệ chịu thua, để học trò thích làm gì thì làm? Mà đuổi ra khỏi lớp hay đánh đòn học sinh thì bị phạt, thậm chí bị đuổi việc.
     Nhiều người trong chúng ta lớn lên bằng một tâm thế “đổ lỗi”, khi bị ngã thì lỗi do cái nền nhà, khi bị ngã xe thì đổ lỗi do cái xe… Lúc nào cũng ở trong một tâm thế đổ lỗi thay vì nhìn thẳng thật là lỗi do bản thân. Nữ sinh trên đã học lớp 12, tức là ở độ tuổi khoảng 17, ở độ tuổi này thì không còn là nhỏ nữa và chỉ vài tháng nữa là lễ trưởng thành sẽ được tổ chức. Ở độ tuổi 17, đã là độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự rồi.
     Trong video, thầy giáo đã nói rằng đã nhắc nhở nhiều lần rồi nhưng nữ sinh này vẫn không nghe, vậy thì dựa vào đâu để nói rằng nữ sinh này đã hối hận? Hay đây chỉ là sự hối hận mang tính chất đối phó cho qua búa rìu dư luận?
     Một điều đáng buồn nữa là không có một em học sinh nào lên tiếng bảo vệ thầy, không có một em học sinh nào lên tiếng bảo nữ sinh kia trật tự thậm chí còn có tiếng cười đùa, tiếng hô nhẹ vang lên… 
     Nếu xử lý không khéo trường hợp này chắc chắn sẽ tạo ra rất nhiều tiền lệ khác, rằng các học sinh có thể xúc phạm thầy cô giáo đi rồi về nhà trách ngược lại thầy cô đôi co, nói là trầm cảm, sang chấn tâm lý, do tuổi dậy thì, tâm lý bất ổn… rồi thế là được bao bọc, được che chở và chẳng bị sao cả. Có khi lại được nhà trường, các thầy cô giáo đến thăm, trò chuyện, tặng quà ấy chứ...
     Và rồi chính thầy cô - những nạn nhân của sự xúc phạm, miệt thị, mới là người bị xử phạt, bị trách ngược lại vì “không nắm bắt tâm lý học sinh” hay “hành xử thiếu kinh nghiệm”.
     Từ đó, tạo ra những cá thể học sinh coi nhà trường bằng vung, coi giáo viên như đầy tớ, coi luật pháp và quy định như trò đùa, coi đạo đức như rẻ rách.
     Người ta đùa giỡn rằng có 3 nghề bạc nhất, nhất là bác sĩ, hai là giáo viên và ba là bộ đội… Một nghề thì bị bệnh nhân hành hung lúc nào không biết, bị chém lúc nào không hay, bị cầm tay chỉ việc… Một nghề thì hở ra là bị quay, hở tý ra là bị dọa đuổi việc, trên đe dưới búa… Một nghề thì vất vả trăm bề…
     Chúng ta chắc là đã nghe qua câu “trăm sự nhờ thầy cô”, giờ có lẽ nên thay đổi mà phải thay bằng “trăm sự đổ vạ vào thầy cô”./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 20 THÁNG 10 NĂM 1945!

     “Làm sao cho được 50 người hiểu rõ, còn hơn là được 500 người hiểu lờ mờ”!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài “Lời căn dặn các đội viên tuyên truyền xung phong”, ngày 20 tháng 10 năm 1945, đăng trên Báo Cứu quốc, số 73, ngày 22 tháng 10 năm 1945.
     Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền cách mạng là một hoạt động thống nhất trên ba mặt. Một là, nhận thức đúng đắn về mục đích và vai trò của tuyên truyền. Hai là, phương pháp tuyên truyền. Ba là, những yêu cầu đối với người làm công tác tuyên truyền. Cả ba mặt trên luôn phải thống nhất, liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó nhận thức mục đích đóng vai trò chủ đạo, chi phối trực tiếp đến mọi phương pháp hoạt động tuyên truyền. Những lời khuyên và chỉ bảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như phong cách nói và viết của Người đã vượt qua giới hạn của kỹ năng sử dụng ngôn ngữ đơn thuần, trở thành một nghệ thuật giàu khả năng chinh phục, thấm sâu vào lòng người đọc, người nghe để đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền học tập và làm theo.
     Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác tuyên truyền đối với toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Thông qua công tác tuyên truyền đã góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ngày càng thấm sâu vào đời sống xã hội. Đồng thời, đây cũng là một vũ khí sắc bén đấu tranh chống lại các quan điểm thù địch, sai trái, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; góp phần quan trọng giáo dục, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng.
     Công tác tuyên truyền trong Quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư các nguồn lực để tiến hành ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Bám sát sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, nhất là những sự kiện chính trị thời sự nổi bật, được đông đảo dư luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm để tiến hành tuyên truyền. Nội dung tuyên truyền được biên tập công phu, chặt chẽ, phản ánh tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, khoa học công nghệ và môi trường… Các nội dung được luận giải, thuyết phục bằng những cơ sở lý luận, thực tiễn sát đúng, có tính chiến đấu cao, dự báo và định hướng tư tưởng rõ ràng. Phương pháp truyền tải đã có nhiều đổi mới, kết hợp sử dụng các thiết bị, phương tiện hiện đại và tăng cường đối thoại, giao lưu trực tiếp với người tiếp nhận thông tin. Vì vậy, đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2022

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO LỜI BÁC HỒ DẠY

 

“Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Sao cho được lòng dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng Báo Cứu quốc, số 65, ngày 12 tháng 10 năm 1945.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc ta; song Chính phủ mới gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Thù trong, giặc ngoài, điên cuồng quấy phá, tìm mọi cách lật đổ chính quyền non trẻ của chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Sao cho được lòng dân” để căn dặn các cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an của chính quyền mới phải luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên, lên trước, việc gì có lợi cho dân phải kiên quyết làm, làm cho bằng tốt. Theo quan điểm của Bác, một nhà nước thật sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân phải coi việc phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân là mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình. Người chỉ rõ: Chế độ ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. 

Thấu triệt quan điểm của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán và triển khai quyết liệt, đồng bộ chủ trương xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được mở rộng và phát huy, một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, trước hết ở cơ sở, bước đầu được mở rộng, thực hiện. Đáng chú ý là hệ thống pháp luật được đổi mới, bổ sung và tăng cường, chất lượng các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được nâng cao; phương thức quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước sâu sát, thực tế hơn, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong xã hội, các hoạt động của ngành tư pháp, toà án, viện kiểm sát có nhiều tiến bộ... Việc đổi mới nhà nước đúng định hướng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lành mạnh hoá các mặt văn hoá, xã hội, giữ vững sự ổn định lâu dài của đất nước.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam - một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đã không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức giúp đỡ dân, bảo vệ dân, giúp dân xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai, thảm hoạ, cứu hộ, cứu nạn, đồng hành cùng ngư dân nơi đầu sóng ngọn gió, nơi phên dậu của Tổ quốc... đã góp phần cùng với cả hệ thống chính trị xây dựng “Thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, giữ vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới./.


PHỤ NỮ VIỆT NAM TA THẬT LÀ ANH HÙNG

 

“Từ xưa đến nay, từ nam đến bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ việt nam ta thật là anh hùng”. Đây là lời khẳng định và khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ Việt Nam trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm lần thứ 20, Ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (20/10/1946-20/10/1966), tổ chức ngày 19 tháng 10 năm 1966.

Cả cuộc đời phấn đấu hy sinh cho dân tộc, giải phóng phụ nữ luôn là khát vọng cháy bỏng của Hồ Chí Minh và Người luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ ở thế kỷ XX. Nhưng đồng thời Bác cũng luôn thức tỉnh phụ nữ muốn được giải phóng, chị em cũng phải đấu tranh, không ngừng học hỏi, đoàn kết, làm trọn nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Đã có rất nhiều phụ nữ nước ta được Bác khen tặng bởi những thành tích trong học tập, rèn luyện và đóng góp trên mọi lĩnh vực... trong chiến tranh đã xuất hiện nhiều những tấm gương phụ nữ chiến đấu anh dũng, kiên cường, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc; tiêu biểu như: Chị Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Lý, Nguyễn Thị Định… xứng đáng là con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu, với lời khen tặng của Bác Hồ kính yêu.

Vinh dự, tự hào với lời khen tặng của Bác kính yêu, tự hào về truyền thống hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữu nước của dân tộc,  Phụ nữ Việt Nam không ngừng thi đua học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, là những nhân tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của xã hội. Nhiều chị em đã trở thành những nhà khoa học, văn nghệ sĩ tài năng, những vị lãnh đạo có giữ cương vị cao trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến Trung ương, xứng đáng với sự quan tâm và tin tưởng của Bác Hồ.

Phát huy truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, khắc ghi lời Bác dạy, phụ nữ Quân đội tiếp tục nêu cao tinh thần, trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, học tập, lao động sáng tạo, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc để xứng đáng với lời khen tặng của Bác kính yêu./.


“TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO” LÀ TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU, LÀ BẢN SẮC VĂN HÓA TỐT ĐẸP

 

Ngày 21 tháng 10 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống Niu Di lân, ngài Mali Môđibô Câyta đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Người đã nói chuyện với các thầy cô giáo, sinh viên và cán bộ, công nhân viên của trường. Trong bài nói, Hồ Chí Minh đã khẳng định những công lao to lớn của các thầy cô giáo đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

“Tôn sư trọng đạo” là truyền thống quý báu, là bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta, được vun đắp qua nhiều thế hệ, góp phần tạo nên nền văn hiến Việt Nam với bề dày hàng nghìn năm lịch sử. Từ xưa đến nay, nghề giáo luôn được xã hội tôn vinh là nghề cao quý; cha ông ta từng nói: “Không thầy đố mày làm nên”. Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Nhiệm vụ giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục… không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa”; “Thầy cô giáo tốt là những anh hùng vô danh”; cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã nhấn mạnh: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”.

Nghị quyết của Đảng qua các kỳ đại hội luôn coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã chỉ rõ: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo”.

Quán triệt các quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục, đào tạo, xây dựng đội ngũ giáo viên của Đảng và Nhà nước, công tác giáo dục - đào tạo trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, xây dựng đội ngũ giáo viên các học viện, nhà trường quân đội nói riêng đã có sự trưởng thành và lớn mạnh, hòa nhập với tiến trình đổi mới chung của nền giáo dục quốc dân, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Các thế hệ nhà giáo Quân đội đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đào tạo hàng chục vạn cán bộ, hạ sĩ quan có chất lượng tốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của chiến trường trong những năm tháng kháng chiến giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế cao cả; là lực lượng nòng cốt trong xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, có chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng cao. Nhiều tấm gương nhà giáo tận tụy, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, đào tạo, vì học viên thân yêu là những biểu tượng cao đẹp để các thế hệ giáo viên, học viên mãi mãi học tập, noi theo, xứng đáng với sự đánh giá, ghi nhận của Bác Hồ kính yêu./.


KHEN THƯỞNG VÀ PHÊ BÌNH

 

“Đối với những người có thành tích, phải khen thưởng, đối với những người mắc sai lầm thì phải phê bình, kiểm thảo giúp họ sửa chữa”. Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu tại Đại hội thi đua lực lượng Công an nhân dân, ngày 12 tháng 10 năm 1966; Báo Nhân dân, số 4580, ngày 22 tháng 10 năm 1966. Tại Đại hội, Bác đã đề nghị ngành công an phải có những hoạt động thiết thực để thực hiện thi đua. Trong thi đua Bác đề cập đến việc phải khen thưởng kịp thời, xác đáng đối với những người có thành tích, đối với những người mắc sai lầm thì phải phê bình, kiểm thảo giúp họ sửa chữa. Khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức.

Lời Bác căn dặn năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn đối với việc thực hiện công tác thi đua, khen thưởng và kỷ luật đối với mọi cấp, mọi ngành và mọi người. Bởi nếu làm tốt công tác thi đua, khen thưởng  là trực tiếp giáo dục, cổ vũ, động viên, khích lệ các tập thể, cá nhân phát huy tính tích cực, chủ động, năng lực sáng tạo, phấn đấu hoàn thành và vượt mức chỉ tiêu đã đề ra, tạo sức lan toả sâu rộng trở thành phong trào hành động cách mạng, thiết thực xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Kỷ luật nghiêm minh, đúng mức, khách quan, công khai, công bằng, đúng người, đúng tội là công việc quan trọng và cần thiết nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của mỗi tổ chức, bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu, đề cao tự phê bình và hê bình; là điều kiện để xây dựng, phát triển đất nước.

Kỷ luật là yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Chấp hành kỷ luật là một nguyên tắc trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là điều kiện bảo đảm sự tập trung thống nhất cao về ý chí và hành động, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Để giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống đoàn kết, kỷ luật tự giác, nghiêm minh, những năm qua, Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, nhằm bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong quân đội. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp luôn làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, gắn với thực hiện tốt các cuộc vận động của các cấp, các ngành; đồng thời, tăng cường quản lý kỷ luật, xây dựng đơn vị có nền nếp chính quy, nên hạn chế được tình hình vi phạm kỷ luật, nhất là kỷ luật nghiêm trọng, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.


“CHÍNH TRỊ LÀ HỒN CỐT, LÀ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH SỨC MẠNH CỦA QUÂN ĐỘI”

 

“Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường chính trị trung cấp Quân đội (nay là Học viện Chính trị/ Bộ Quốc phòng) nhân dịp Người về thăm trường ngày 25 tháng 10 năm 1951.

Bác đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của chính trị đối với quân sự và quân đội. Theo Người, chính trị là hồn cốt, là yếu tố quyết định sức mạnh của quân đội. Chính trị không chỉ là đường lối, chính sách của Đảng, còn là bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tinh thần, ý chí, nghị lực, quyết tâm chiến đấu hy sinh của cán bộ, đảng viên. Quan điểm này của Hồ Chí Minh không chỉ đúng với học thuyết Mác - Lênin về xây dựng quân đội của giai cấp vô sản, mà còn kế thừa những giá trị truyền thống đặc sắc về xây dựng quân đội của ông cha ta, như “hun đúc bằng những điều nhân nghĩa” cho quân đội. Hơn cả, là sự phù hợp với thực tiễn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nước ta trong điều kiện còn hạn chế về vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; xu thế quốc tế hóa và hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự gắn kết chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hay tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; đáng chú ý là các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình chống phá cách mạng nước ta, cổ xúy cho cái gọi là: “quân đội phi chính trị”, “quân đội phi đảng phái”, đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam càng phải thấm nhuần hơn lời dạy của Người về xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng quân đội về chính trị; tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh; phát huy bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa quân đội và nhân dân; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam… để dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, quân đội ta vẫn luôn giữ vững, phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước./.


TỰ PHÊ BÌNH KHÔNG PHẢI LÀ TỰ HẠ THẤP MÌNH

 

“Các cán bộ các cấp phải lãnh đạo và phải làm kiểu mẫu trong việc kiểm thảo và tự phê bình.

Làm như thế thì chúng ta sẽ phát triển thêm ưu điểm, sửa chữa sạch khuyết điểm. Đánh thắng khuyết điểm của ta tức là đã một lần đánh thắng quân địch”.

Đây là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Lời kêu gọi và khuyên nhủ các chiến sĩ”, báo Cứu quốc, số 1676, ngày 26 tháng 10 năm 1950.

Sau thắng lợi của các trận Đông Khê, Thất Khê, Cao Bằng mở ra một thời kỳ mới trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược - thời kỳ thế chủ động trên chiến trường hoàn toàn nằm trong tay quân đội cách mạng Việt Nam.

Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Để khắc phục sự chủ quan, tự mãn có thể sẽ xuất hiện trong cán bộ, chiến sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời viết thư để tri ân các liệt sĩ, thăm hỏi thương binh, động viên bộ đội và huấn thị cán bộ phải làm tốt công tác lãnh đạo việc phê bình và tự phê bình. Bởi theo Bác, muốn phát huy tốt tác dụng của phê bình, phải tự phê bình mình trước, phê bình từ trong cấp ủy, trong chi bộ đến đơn vị. Tự phê bình không phải là tự hạ thấp mình, tự “nhún nhường” mà là thể hiện trình độ nhận thức, lòng dũng cảm, sự trung thực, ngay thẳng trước tổ chức, đồng chí, đồng đội và rộng hơn là trước Đảng, trước nhân dân; là thể hiện tinh thần cầu thị, ý chí vươn lên của bản thân.

Thấu triệt tư tưởng đề cao tự phê bình và phê bình, nhất là với đối với đội ngũ cán bộ các cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên định và thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng, coi đây là nguyên tắc cơ bản xây dựng Đảng. Sự trưởng thành của Đảng ta trong hơn 80 năm qua một phần quan trọng là do Đảng luôn kiên định và thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, trong đó có tự phê bình và phê bình, phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ các cấp.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đội ngũ cán bộ các cấp trong Quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược luôn gương mẫu trong học tập, rèn luyện, đề cao tự phê bình và phê bình, có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, phong cách, năng lực lãnh đạo, chỉ huy tốt; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, phương pháp làm việc khoa học, khả năng phân tích, xử lý tốt các tình huống; có tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung và khả năng phát huy được sức mạnh tổng hợp của cơ quan, đơn vị; gần gũi, sâu sát với bộ đội, được cán bộ, chiến sĩ tin tưởng, yêu mến. /.


SỰ CÔNG NHẬN, TÔN VINH CỦA CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ VỀ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG VIỆC THÚC ĐẨY, BẢO VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

 

Việc Việt Nam trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, điều đó khẳng định sự công nhận, tôn vinh của cộng đồng quốc tế về thành quả đạt được trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam.

Theo Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Phúc, Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị “Khi quyền con người, quyền công dân được Đảng, Nhà nước nhận thức đúng đắn, hành động tích cực, thiết thực, nó cũng đồng nghĩa nhận được kết quả ủng hộ Việt Nam, công nhận Việt Nam của cộng đồng quốc tế khi liên tục Việt Nam được bầu vào các thiết chế bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc. Sau 7 năm (từ năm 2007) Việt Nam chỉ có vị trí pháp lý là quan sát viên tại Hội đồng nhân quyền, nhưng nhờ tích cực tham gia vào các hoạt động, đóng góp nhiều ý kiến, chia sẻ quan điểm, kinh nghiệm về các vấn đề lớn như tăng cường hiệu quả của hội đồng, đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền con người, trong đó có quyền phụ nữ, trẻ em, dân tộc thiểu số, đảm bảo an sinh như bảo hiểm y tế, bình đẳng xã hội, chính sách giáo dục, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh con người…

Việt Nam đã ứng cử và được bầu chọn vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu bầu cao nhất trong 14 quốc gia được bầu chọn vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, khi mức thu nhập đầu người của Việt Nam năm 2014 mới hơn 2.000 USD thấp hơn nhiều so với nhiều quốc gia cùng thời điểm có GDP bình quân đầu người đã trên 10.000, 20.000 USD. Điều này đã minh chứng mọi thành tựu của đất nước đều hướng tới người dân. Tuy phát triển kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nhưng việc thực hiện các Mục tiêu phát triển của Liên hợp quốc luôn được thực hiện tích cực, mạnh mẽ, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân.

Ngày 30 tháng 6 năm 2019, Việt Nam và EU chính thức ký kết EVFTA và IPA. Đây là đối tác chỉ ký kết hiệp định thương mại với các quốc gia về cơ bản bảo đảm được các điều kiện về nhân quyền. Đó là minh chứng Việt Nam thực sự coi trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người - một trong ba trụ cột hoạt động chính của Liên hợp quốc, bên cạnh các vấn đề hòa bình, an ninh quốc tế và hợp tác phát triển. Trong Thông điệp của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhân dịp Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 đã khẳng định: “Đây là sự ghi nhận quan trọng và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với vai trò và đóng góp xứng đáng của Việt Nam vào công việc quốc tế và khu vực; thể hiện vị thế, uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là một vinh dự lớn lao, khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, song cũng là trách nhiệm hết sức nặng nề, đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực hết mình để hoàn thành trọng trách mà cộng đồng quốc tế giao phó. Việt Nam đã và sẽ tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; thúc đẩy tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, góp phần tích cực vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển”.

Thành quả đạt được về mục tiêu phấn đấu, về bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Việt Nam trong thời gian qua được cộng đồng quốc tế, đông đảo các tầng lớp nhân dân công nhận, ủng hộ là những giá trị, kết quả không thể phủ nhận, nhưng đó cũng là đòn bẩy, là động lực, là mục tiêu phấn đấu của toàn xã hội ta trong bước đường đi chung cùng nhân loại, tất cả đều bắt nguồn từ phẩm giá của con người. Nếu ai đó còn cố tình xuyên tạc, vu khống, kích động, lợi dụng vấn đề nhân quyền ở nước ta cho mục đích cá nhân, gây tổn hại cho lợi ích cộng đồng cần sớm chấm dứt, từ bỏ mục đích xấu./.


VIỆT NAM XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN

 

Ngày 11 tháng 10 vừa qua, Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, tại phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77. Đó là thành quả của quá trình Việt Nam xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền công dân, thể hiện:

Trong lời nói đầu của Bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 viết “Điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật”. Thể chế hóa quan điểm của Đảng về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 đã đưa vị trí, nội dung quyền con người, quyền công dân lên thành chương thứ hai với 36 điều, đây là chương có số điều quy định nhiều nhất (36/120 điều), có nhiều đổi mới nhất cả về nội dung quy định, cả về cách thức thể hiện. Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên xác định Nhà nước có trách nhiệm "công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Khi quy định quyền con người, quyền công dân, các điều của Hiến pháp năm 2013 đều trực tiếp xác định "mọi người có quyền...", "công dân có quyền"… để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ mà không phải Nhà nước “ban phát”, “ban ơn” các quyền này cho con người, cho công dân.

Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của “luật”, mà không phải hạn chế theo quy định của “pháp luật” và việc hạn chế chỉ áp dụng trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Với quy định này, sẽ không thể có chủ thể nào, kể cả các cơ quan nhà nước được tùy tiện hạn chế các quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp. Cũng từ nguyên tắc này, các quy định liên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người, của công dân (như quyền được sống, quyền không bị tra tấn, quyền bình đẳng trước pháp luật...) là các quy định có hiệu lực trực tiếp. Các quyền, tự do cơ bản khác của con người, của công dân và quyền được bảo vệ về mặt tư pháp được cụ thể hóa nhưng phải bằng luật do Quốc hội ban hành, không phải quy định chung chung “theo quy định pháp luật” như một số quy định trước đây. 

Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và tích cực nội luật hóa các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết, phê chuẩn (Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người) hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay đã thể hiện bước tiến mới trong việc mở rộng và phát triển các quyền, phản ánh kết quả của quá trình đổi mới ở Việt Nam. Đây cũng chính là sự khẳng định cam kết của Việt Nam trước nhân dân, trước cộng đồng quốc tế và quan trọng hơn là cam kết của chế độ, phản ánh bản chất của chế độ trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam./.


KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VIỆT NAM

 

Việc Việt Nam được trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, tại phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 tại New York (Mỹ) diễn ra ngày 11 tháng 10 vừa qua. Nhìn lại những thành tựu đạt được của Việt Nam trên các lĩnh vực đã khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Bên cạnh những thành tựu như chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, kinh tế vĩ mô duy trì ổn định vững chắc, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp tạo môi trường và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, GDP 6 tháng của nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng dương, tăng 1,81%.

Sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam cũng được nâng lên rõ rệt: Năm 2013 - 2014 nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 70/148 quốc gia trong bảng xếp hạng. Năm 2019, năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam tăng 10 bậc so với năm 2018, đứng thứ 67/141 nền kinh tế. Chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2019 tăng 8 bậc so với năm 2015, xếp thứ 70/190 quốc gia, vùng lãnh thổ. 

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao của thế giới; từ mức 0,654 năm 2010 (thứ hạng 114/189 quốc gia và vùng lãnh thổ) lên mức 0,694 năm 2017 (thứ hạng 116/189 quốc gia và vùng lãnh thổ).

Thành tựu xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao. Tỷ lệ hộ đói, nghèo đã giảm liên tục từ 30% năm 1992 xuống còn 8,3% năm 2004. Đến năm 2000, cơ bản xóa xong tình trạng đói kinh niên. Giai đoạn 2010-2020, tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 14,2% năm 2010 xuống còn 7% năm 2015 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015) và giảm từ 9,2% năm 2016 xuống dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều.

Việt Nam cũng là một trong những nước đã chủ động sản xuất nhiều vắc xin phòng bệnh (bệnh tả, bệnh đậu mùa, thương hàn…); bào chế và sản xuất được các thuốc thông thường bằng nguyên liệu tại chỗ; kiểm soát và ngăn ngừa được nhiều dịch bệnh nguy hiểm. Việt Nam là điểm sáng trong thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ và điểm sáng trong phòng, chống đại dịch Covid-19. Hiện nay Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh, ho gà, bạch hầu. Cả nước có 1.400 bệnh viện với 180.000 giường bệnh, 700 trung tâm y tế huyện, quận, thị xã; hơn 11.100 trạm y tế xã, phường, thị trấn, trong đó có hơn 60% số trạm y tế đã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2010-2020.

Cùng với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa luôn luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam được bảo đảm ngày càng tốt hơn với hàng trăm ấn phẩm báo chí, đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, báo và tạp chí điện tử, trang, cổng thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Ngoài ra, người dân Việt Nam còn được tiếp cận với hàng chục hãng thông tấn, báo chí và kênh truyền hình nước ngoài, như: Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN và nhiều báo, tạp chí quốc tế lớn khác./.


QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN

 

Ngày 11-10-2022 vừa qua, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, tại phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 tại New York (Mỹ). Điều đó thể hiện bằng các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về quyền con người, quyền công dân.

Trước năm 1945, người dân Việt Nam không được hưởng các quyền công dân, tư cách pháp lý của người dân Việt Nam chỉ là thần dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam ra đời, địa vị của người dân Việt Nam mới được thay đổi từ người nô lệ trở thành chủ nhân của một quốc gia độc lập, các quyền công dân của người Việt Nam lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp. Tuy nhiên mục tiêu đấu tranh giành quyền con người cho người dân Việt Nam đã được Đảng ta xác định trong Cương lĩnh đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo (“Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt) được Hội nghị thành lập Đảng, ngày 3-2-1930 xác định, thực hiện cuộc cách mạng đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến đem lại quyền con người cho mọi người và “Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền; phổ thông giáo dục…”. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giá trị quyền con người của người dân Việt Nam được long trọng khẳng định trong Bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ ngày 2 tháng 9, được thể chế hóa bằng bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên ở Đông Nam Á.

Ngày 12-7-1992 Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 12/CT/TW về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”, trong đó xác định “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”. Nhận thức, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về quyền con người, quyền công dân tiếp tục được thể hiện rõ trong các nghị quyết, chỉ thị sau này. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xác định “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013”./.


MINH CHỨNG VỀ THÀNH TỰU NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

Ngày 11-10-2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, tại phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 tại New York (Mỹ). 14 thành viên mới trúng cử Hội đồng Nhân quyền sẽ đảm nhiệm trọng trách trong nhiệm kỳ 3 năm, bắt đầu vào tháng 1-2023. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, lần đầu nhiệm kỳ 2014-2016 và lần thứ hai nhiệm kỳ 2023-2025

Việt Nam trúng cử thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về thành tựu thực hiện nhân quyền. Điều đó khẳng định các luận điệu sai trái về nhân quyền của Viêt Nam trước đây đều là bịa đặt. Việc các quốc gia trên thế giới công nhận, tin tưởng vào các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam đã bảo đảm thực hiện quyền con người cho người dân Việt Nam trên các lĩnh vực của đời sống xã hội một cách trách nhiệm, tích cực, thành tâm vô điều kiện, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Các quốc gia trên thế giới nói chung, các nước trong khu vực ASEAN nói riêng đã bày tỏ sự tin tưởng vào Việt Nam với tư cách là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, sau khi được bầu vào Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam sẽ tiếp tục “là một thành viên quan trọng của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam sẽ hợp tác với chúng tôi trong việc thúc đẩy quyền con người” như lời của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á - Thái Bình Dương ông Daniel Kritenbrink chúc mừng Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại buổi họp báo chiều 12-10.

Việc các quốc gia bầu chọn Việt Nam vào thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã trực tiếp bác bỏ các quan điểm sai trái của các lực lượng thù địch phủ nhận, xuyên tạc, vu khống tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian qua./.


QUYẾT ĐỊNH KHỞI TỐ BỊ CAN, LỆNH BẮT TẠM GIAM ÔNG NGUYỄN MINH SƠN

 

Cuối tháng 9 vừa qua, Cơ quan An ninh điều tra, Công an Hà Nội cho biết vừa ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam ông Nguyễn Minh Sơn (60 tuổi) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Trước khi bị bắt, ông Sơn cư trú ở phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy. Sau khi VKSND phê chuẩn các quyết định tố tụng đối với bị can Sơn, cơ quan công an tiếp tục điều tra làm rõ vụ án. Theo Điều 117 Bộ luật Hình sự quy định người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước, thì bị phạt tù 5-12 năm: Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm gây chiến tranh tâm lý.

Người bị kết án phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù ở mức 10-20 năm. Còn người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù 1-5 năm./.

Nhận diện và định hướng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Hồ Chí Minh hiện nay

 

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta không chỉ bổ sung, hoàn thiện khái niệm “tư tưởng Hồ Chí Minh” mà còn khẳng định: Tư tưởng của Người “là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1. Như vậy, giá trị, ý nghĩa và sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh từ chỗ được minh chứng trong thực tiễn đã được Đảng đúc rút thành quy luật, thành “nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam” cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. 

          1. Vì lẽ đó, các quan điểm sai trái, thù địch với mục tiêu làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ, làm phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) trong nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên, đã và đang chĩa mũi nhọn vào công kích, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, đi đến xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng và hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh. Hiện có hơn 400 trang web, blog, hàng chục tạp chí, báo, nhà xuất bản, hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, như VPR, VOA, RFA… lập ra các diễn đàn để tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh 2. Vì vậy, việc nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch công kích Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó đề ra các định hướng, giải pháp phòng chống hiệu quả trở nên quan trọng, cấp thiết hơn bao giờ hết.

          Có thể khái quát các quan điểm sai trái, thù địch về Hồ Chí Minh thành hai nhóm cơ bản như sau:

          Thứ nhất, nhóm các quan điểm xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, đi đến xóa bỏ hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, bao gồm các quan điểm xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ đạo đức cá nhân, đời riêng của Người và các quan điểm xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ quá trình hoạt động, sự nghiệp cách mạng của Người.

          Thứ hai, nhóm các quan điểm xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, đi đến xóa bỏ tư cách “nhà tư tưởng” của Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, quan niệm, luận điểm về cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh (tức là “tư tưởng Hồ Chí Minh”).

          Nhìn chung, các dạng quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, công kích Hồ Chí Minh đều có cùng bản chất là vi phạm phương pháp luận biện chứng và các quan điểm khách quan, toàn diện kết hợp với có trọng tâm, trọng điểm; lịch sử - cụ thể; kế thừa, đổi mới, phát triển…, không xuất phát từ lập trường, quan điểm, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân, phủ nhận tính tư tưởng, tính Đảng của các tư tưởng, học thuyết nảy sinh từ tồn tại xã hội Việt Nam.

          2. Trong đấu tranh phản bác các quan điểm công kích Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, cần chú trọng các định hướng, giải pháp sau:

          Một là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về hình tượng cao đẹp của lãnh tụ Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, theo quan điểm chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/10/2019 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay”, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của cuộc đấu tranh này là “xây dựng, củng cố niềm tin khoa học” vào CNXH và con đường lên CNXH ở Việt Nam. Trong đó, “xây” là xây dựng nền tảng tri thức, niềm tin, lòng tự hào, ngưỡng mộ, bản lĩnh kiên định vào hình tượng trong sáng, đạo đức cao đẹp của lãnh tụ Hồ Chí Minh và giá trị “mãi mãi soi đường” của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. “Chống” là chống mọi biểu hiện nhận thức và hành động xa rời, phai nhạt, phê phán, phủ định tư tưởng và hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh.

          Hai là, trong hình thành, phát triển, truyền bá các bài viết phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Hồ Chí Minh, cần chú trọng xuất phát, vận dụng khoa học, hiệu quả các phương pháp luận và tri thức của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp luận của chính Hồ Chí Minh. Trước hết, cần vạch ra sự mâu thuẫn, phi logic, vi phạm phương pháp luận biện chứng và các quan điểm phương pháp luận của triết học Mác - Lênin trong nội dung, cách thức lập luận của các quan điểm sai trái, thù địch. Từ đó, trình bày bản chất khoa học, cách mạng, giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất trong sáng, cao đẹp của cuộc đời và sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Lấy dẫn chứng cho cuộc đời, tấm gương đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ từ hệ thống bài nói, bài viết của Người mà còn từ chính thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, sôi nổi của Người, còn được lưu giữ bằng nhiều hình ảnh, phim tài liệu, hiện vật, nhân chứng khách quan, thuyết phục; và đặc biệt, bằng chính thành quả cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng mà Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện và dẫn dắt.

          Ba là, nghiên cứu, phân tích, khái quát hóa, hệ thống hóa những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang được Đảng ta “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo” trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới; giá trị, ý nghĩa của những quan điểm, luận điểm đó nói riêng, của toàn bộ tư tưởng và tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung với sự định hướng chiến lược cũng như những thành tựu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 

          Bốn là, các cơ sở nghiên cứu về Hồ Chí Minh, các học viện, trường đại học; hạt nhân là các cơ sở của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, phối hợp tổ chức tốt cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, thực hiện phương châm tư tưởng phải đi trước một bước, không để bị động, đối phó. 

          Năm là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng - văn hóa, trong đó có đội ngũ giảng viên Lý luận chính trị. Từ khâu tuyển sinh, tuyển chọn đến quá trình đào tạo, các cơ sở đào tạo chuyên ngành Lý luận chính trị cần có các đề xuất, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn thí sinh dự tuyển đầu vào, lựa chọn ưu tiên các học sinh có năng lực tư duy, lập luận logic tốt (bao gồm cả học sinh thi tuyển các khối khoa học tự nhiên lẫn khối khoa học xã hội). Bởi, đây là các “cỗ máy cái” đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chủ chốt trong nghiên cứu, tuyên truyền Lý luận chính trị, thực hiện công tác tư tưởng của Đảng.

                                                                                                ST: PQ

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và các giải pháp đấu tranh trên mạng xã hội

 

          Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị” là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Để nhiệm vụ này đạt được hiệu quả cao trong thực tiễn, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về những nội dung trọng tâm của công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

          Nhận thức đúng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

          Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ, internet và các nền tảng mạng xã hội; các thế lực thù địch luôn có các chiêu thức, thủ đoạn mới để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, nhất là trên môi trường mạng xã hội.

          Do đó, cần nhận thức đầy đủ về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; các thế lực thù địch; âm mưu, thủ đoạn; từ đó có giải pháp phòng, chống hiệu quả. Theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Hướng tới mục tiêu: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân với Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

          Một số giải pháp đấu tranh trên mạng xã hội

          Thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, các tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc đã ban hành quyết định thành lập ban chỉ đạo, tổ thư ký, nhóm chuyên gia, nhóm cộng tác viên, thành lập các trang, nhóm Facebook phục vụ đấu tranh, phản bác. Hầu hết các huyện, thành ủy đã thành lập ban chỉ đạo, lập trang, nhóm trên mạng Facebook triển khai nhiệm vụ đấu tranh, phản bác... Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, nhất là Facebook, thời gian tới, xin đề xuất một số giải pháp như sau:

          Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Trong đó, chú trọng tuyên truyền Luật An ninh mạng; các quy tắc ứng xử trên môi trường mạng xã hội.

          Hai là, thường xuyên cung cấp thông tin có định hướng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân qua kênh báo cáo viên, tuyên truyền miệng, báo chí, truyền thông, sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng.

          Ba là, tập huấn định kỳ hoặc đột xuất cho cán bộ tuyên giáo, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, nhất là các đồng chí trực tiếp tham gia Ban Chỉ đạo 35 các cấp; các đồng chí tham gia quản trị, biên tập tin, bài của các trang, nhóm trên Facebook…; cập nhật tình hình mới về các hoạt động chống phá, nâng cao kỹ năng, trình độ quản trị.

          Bốn là, đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội theo hướng giảm tính “hàn lâm, kinh viện”, tăng tính “thường thức”, gần gũi, dễ tiếp cận với đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân để tăng tính tương tác, khắc phục tình trạng “chủ yếu nội bộ đảng viên”, hoặc “lực lượng chuyên trách” tương tác với nhau, đối tượng cần được “giác ngộ” thì chưa được tiếp cận nhiều.

          Năm là, khi xuất hiện các vụ việc, sự kiện “nóng, nhạy cảm” cần tích cực, khẩn trương, chỉ đạo thống nhất, đồng loạt công tác đấu tranh phản bác trên mạng xã hội và các công cụ truyền thông, gần đây có thể kể đến: Công tác phòng, chống dịch COVID-19, vấn đề tiêm vaccine, vấn đề phức tạp liên quan đến tình hình ở Cu Ba…

          Sáu là, kịp thời phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ giỏi, có năng lực tham gia viết bài đấu tranh, phản bác có hiệu quả cao trên mạng xã hội.

          Bảy là, hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý về mạng xã hội phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc và văn hóa, luật pháp của Việt Nam.

                                                                                                          ST: PQ