Thứ Năm, 20 tháng 10, 2022

Ý NGHĨA CỦA VIỆC LAN TOẢ THÔNG TIN TÍCH CỰC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN


Hầu hết chúng ta nghe và nói rất nhiều về việc lan tỏa thông tin tích cực, nhưng thế nào là thông tin tích cực hay trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong vấn đề này như thế nào thì không phải ai cũng hiểu rõ. Trên thực tế, trước khi đặt ra vấn đề trách nhiệm của mình thì các cán bộ, đảng viên trong vai trò của một công dân cũng luôn quan tâm đến việc lan tỏa thông tin để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Thế nào là thông tin tích cực

     Hiểu một cách phổ biến, thông tin tích cực là thông tin đúng đắn, chính xác về một sự việc, một nhân vật, một mô hình, một giải pháp hay, có ý nghĩa, có giá trị. Thông tin đó có thể gieo cho người đọc những nhận thức, tình cảm tốt đẹp; có thể thúc đẩy người tiếp nhận có suy nghĩ tích cực, từ đó có hành vi tích cực; cung cấp cho người đọc những kiến thức, nhận thức đúng đắn, phù hợp, có ý nghĩa thiết thực…

     Có khi, đó là thông tin xác định rõ một vấn đề đang có nhiều ý kiến khác nhau hoặc bác bỏ một thông tin sai trái đang được lưu truyền; hoặc là thông tin giải đáp được thắc mắc, nghi vấn của nhiều người về một vấn đề nào đó.

     Do đó, nhìn rộng ra, thông tin tích cực chính là các thông tin giúp củng cố lòng tin đối với tổ chức, cá nhân, dư luận xã hội…

Chọn thông tin tích cực để lan tỏa

     Mỗi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm trong việc chia sẻ thông tin tích cực, cả ở khía cạnh phải chọn thông tin phù hợp và thường xuyên thực hiện việc lan tỏa các thông tin đó. Mỗi người trước khi chia sẻ phải tư duy phản biện, thẩm định, đánh giá, phân tích, đối chiếu, so sánh… khi tiếp nhận thông tin. Không phải thông tin nào được lan truyền rộng rãi, được nhiều người đọc và chia sẻ cũng là thông tin chính xác, đúng đắn. Do đó, cần thiết phải tìm cách khẳng định tính xác thực của thông tin chứ không dễ dàng tin theo và làm lan tỏa thông tin đó khi chưa biết rõ mức độ tin cậy của thông tin. Tuyệt đối không nên xác tín theo cách “thông tin do mạng A nói”, “do ông X trên mạng B nói”… mà phải căn cứ trên những nguồn thông tin chính thức, chính thống.

     Đồng thời, phải chú ý chọn thông tin nào mà mình tin là đúng, cảm nhận được cái hay, cái đẹp, bản thân được truyền cảm hứng. Mỗi người phải luôn ý thức rằng thông tin của mình sẽ có người đọc và ít nhiều chịu tác động, nên chọn thông tin tốt nhất, hay nhất, có ích nhất, ý nghĩa nhất.

     Không chỉ vậy, là cán bộ, đảng viên còn phải luôn nghĩ đến liệu thông tin có gây hiểu lầm hoặc thúc đẩy ai đó nhận thức sai lệch không; nếu cảm thấy có thì không chia sẻ.

 

Gợi ý cách lan tỏa

thông tin tích cực

     Mỗi cán bộ, đảng viên có thể sử dụng tài khoản mạng xã hội hoặc trang mạng internet cá nhân của mình để chia sẻ, đăng tải, cung cấp, định hướng thông tin có ích cho người khác, cho xã hội và đất nước. Điều này hiện có thể được thực hiện dễ dàng bởi hầu hết chúng ta đều có ít nhất một tài khoản mạng xã hội; một số người còn có nhiều tài khoản đồng thời ở facebook, instagram, zalo, twitter…

     Chúng ta cũng có thể đăng trên các trang diễn đàn (trên mạng internet hoặc các nền tảng mạng xã hội), trang cộng đồng (fanpage), nhóm (group)… những thông tin mà mình có căn cứ xác thực cho là đúng đắn, chính xác để có độ lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn. 

     Trong điều kiện của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tuyên truyền, động viên để nhiều người khác hiểu rõ và thực hiện các quy chuẩn, quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên khi sử dụng mạng internet và mạng xã hội.

     Trên trang mạng xã hội của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tích cực kêu gọi, động viên mọi người chấp hành tốt các quy định của pháp luật, các chủ trương, chính sách, các cuộc vận động, nhất là các nội dung có tính thời sự, đang cần sự tham gia của đông đảo người dân, các vấn đề đang có ý kiến khác nhau… Đồng thời, tích cực giới thiệu, quảng bá các hình ảnh, thông tin tốt, có ích về địa phương, cơ quan, đơn vị, về quê hương và đất nước…; làm lan tỏa những gương người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, các câu chuyện có giá trị nhân văn… Việc góp phần lan tỏa những thông tin tốt, hình ảnh đẹp, câu chuyện hay đó không chỉ giúp người khác thưởng lãm mà còn có thể tác động đến suy nghĩ, tình cảm, hành động của họ, từ đó có thêm những hành động tích cực khác.

     Sau cùng, chúng ta nên luôn gương mẫu, chuẩn mực khi phát ngôn, đăng tải hình ảnh, chia sẻ thông tin… trên mạng internet và mạng xã hội. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên nên luôn ý thức rằng mỗi thông tin, mỗi status mình đưa lên “có ích gì cho ai không”, chứ không phải nghĩ đến câu hỏi “có hại gì cho ai không”. Bởi trách nhiệm của chúng ta là đồng thời phải làm lan tỏa thông tin tích cực và tìm cách hạn chế, đẩy lùi các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc./.

Câu chuyện: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại…” ai!?

               

 Từ xưa cho tới tận giờ, khắp cõi nhân gian Việt Nam ta, không ai không biết, không nói: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, khi chiêm nghiệm nỗi thăng trầm cuộc đời, cuộc nổi chìm nhân thế, tấn bi thương lịch sử!

Bởi sự tôn kính Giời! Vị đứng đầu khai sáng trong lối nghĩ, quan niệm về “tam tài giả” có tự cổ xưa, tức ba lực lượng: siêu nhiên, tự nhiên và con người!

Bởi sự mong muốn tương hợp, hài hòa thiên - địa - nhân! Triết lý “tam tài nhất thể” - Giời - Đất - Người ấy thấm đẫm, hòa quyện, dẫn dắt nhân sinh, thế cuộc, lịch sử không thể chia cắt, không thể cô lập hay trọng, khinh một phía nào!
Bởi khát vọng hành động hợp nhẽ thiên thời - địa lợi - nhân hòa trong cuộc sống mỗi cuộc đời người, xa và cao hơn là trong sự thuận lý, hợp “đạo” trong sự vận hành của lịch sử, mà coi đó là nguồn gốc, là sức đẩy để quốc gia, dân tộc tồn tại và phát triển: Thời - Thế - Người!

Ấy là nhẽ thường thấy, thường trải đã suốt mấy ngàn đời nay.

Nhưng, thái quá thì thường bất cập!

Cái nhẽ tưởng như thường ấy, như tự nhiên nhi nhiên ấy lại lắm khi, dù ông cha ta nối đời tận thấu, tận cảm, tận hành, vẫn thảng hoặc vô tình lại buông tay “phó mặc mệnh Giời”, hay vô ý thúc thủ nệ vào “tiên thiên”, phó theo “nghiệp chướng”, do chưa tin vào mình và chưa thể vượt qua... chính mình.

Rồi bất động. Rồi xuôi theo định mệnh, cái số Giời do mình tưởng tượng ra! V.v... Mà đáng nhẽ ra, phải làm ngược lại.

Thế rồi thất bại, rồi chìm đắm, dù... nằm ngoài mong đợi! Và, thế rồi nuối tiếc muôn trùng:“Nhất thất túc thành thiên cổ hận. Tái hồi đầu thị bách niên thân” (Một bước sa chân hận thành muôn thuở. Ngoái đầu nhìn lại thân đã trăm năm). Thì đã muộn lắm rồi! Vì, “Giời không chiều lòng người”, “Giời nỡ phụ người”! Thế là, dù rằng ngửa cổ, nắm tay, hướng lên chín tầng cao mà than vãn với Giời, giậm chân lún ba tấc Đất ôm hận, song vẫn chỉ là vẹn nguyên... những khúc bi tráng mà thôi! Bởi chưng, tất cả hình như chưa tin vào chính... mình, thậm chí quên mất cả... chính nhân quần!

Và, ở đâu, thời nào cũng thảng hoặc thấy như thế, làm như thế và lịch sử đã nhuốm những khúc bi hùng như thế! Thăng trầm, thành bại dù gửi, dù tin “tại thiên”, lại hóa ra sự thất thường, bất thường là vậy và do vậy!

Nhớ năm 938. Sau cả nghìn năm Bắc thuộc, thiên thời, địa lợi, thậm chí không hơn trước đó, vì giặc dữ lại cả gan xâm lấn, nhưng bởi nhân hòa, với những đứa con sinh từ một bọc trứng Mẹ Âu Cơ, đã làm nên một trận Bạch Đằng giang đỏ ngầu máu giặc, mở ra thời kỳ độc lập nước Nam ta! Năm 1076, cũng thế, một trận huyết chiến bên sông Như Nguyệt, bằng thế trận lòng dân của đồng bào, cha con nước Việt, đã bất khuất bố cáo khắp trong gầm Giời: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”! Mỗi Con Người, cả cộng đồng thức dậy, toàn Dân tộc vùng lên! Người định thiên hạ chứ đâu có nệ “Mưu sự tại nhân” mà ngóng trông “Thành sự tại thiên”! Sức Dân đấy chứ!

Lại nhớ năm 1945. Chỉ với 20 triệu đồng bào, “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, chỉ 16 ngày, Dân tộc đã làm một cuộc bẻ gãy xích xiềng nghìn năm phong kiến, cắt phăng vòng nô lệ thực dân quàng cổ Dân ta ngót 80 năm. Mưu người tính, sức người bình định giang san xã tắc, xây lại nền độc lập, chứ đâu trông đợi “Thành sự tại thiên”! Lòng Dân như Sóng cuộn đấy chứ!

Rồi năm 1946. Mở đầu chín năm Dân tộc kháng chiến chống Pháp xâm lược lần thứ hai, thiên cũng chưa thời (đất nước bị bao vây, lại bốn bề giặc dữ lăm le), địa càng chưa lợi (một mảnh đất ATK nhỏ bé làm đất đứng chân), nhưng chung cuộc kháng chiến thành công! Bởi sáu chữ, mà hai chữ đầu tiên không phải là bất cứ điều gì khác mà là: Toàn Dân rồi mới tới Toàn diện, Trường kỳ! Nhiều chữ Người viết hoa hợp lại thành Quần chúng và gọi Nhân Dân! “Chúng chí thành thành” vô địch! Ý Dân, Lòng Dân, Sức Dân như bức tường thành đấy chứ!

Xem thế, đủ thấy, cái nhẽ thường cổ xưa: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” mà ông cha ta di duệ, Dân tộc vượt lên theo mỗi thời gian, khi tiến khi thoái, biến thời thành thế, nhân lên sức mạnh..., mà vượt qua cái chết, tồn tại và phát triển. Do thế, mà lịch sử đã hun đúc và kết thành chân lý: Mưu sự tại nhân, thành sự tại Dân chăng?

Đúng vậy! Thiên ở trong Lòng Dân! Địa ở nơi Dân đứng! Kính Giời chính là kính Dân! Vì, Ý Dân, Lòng Dân chính là Ý Giời, Lòng Giời vậy!

Quốc bảo Lòng Dân! Đó chính là Bảo vật Quốc gia - cái tôn quý nhất trong Giời Đất!

Đoái xem lịch sử, ai đánh mất Quốc bảo ấy, là chuốc lấy tội sát thân, họa mất nước, thể chế tan tành. Nhà Hồ (1400 - 1407) phạm điều cấm kỵ ấy nên đã tự trói mình nộp giặc trước khi đất nước bị giặc Minh xâm chiếm và vương triều Hồ sụp đổ. Mất Dân thì mất nước. Giời thì ở xa, Dân thì vạn đại! Quốc gia thịnh suy, đất nước còn mất ở khắp mọi thời, há chẳng phải do Dân định đoạt đó sao? Đó cũng là Ý Giời hợp Lòng Dân!

Ngẫm thế, thiển nghĩ và cẩn bút, kính chép ra đây: Mưu sự tại nhân, thành sự tại Dân!

Chẳng thế, sao Cụ Phan Sào Nam từng nâng niu:

“Nghìn muôn ức triệu người trong nước

Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà

Người, Dân ta, của, Dân ta

Dân là Dân nước, nước là Nước Dân...

Sông phía Bắc, bể phương Đông

Nếu không Dân cũng là không có gì”.

Nhìn trong công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ của chúng ta, chân lý đó đang vằng vặc tỏa sáng, ai mà cản nổi, sao chẳng tất thành! Bởi chưng “Dân là gốc”, “Dân làm Chủ”, và nguyện sao cho xứng đáng: “Đảng ta là đứa con nòi của Nhân Dân”, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh...” (Hồ Chí Minh).

Nhưng, tôi lại mài mực, kính cẩn biên lại nhời dặn về Quốc bảo ấy, từ gần tám trăm năm trước, của Cụ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Khoan thư sức Dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước”.

Và như ngỡ mới hôm qua, nhời tụng Dân này từng đau đáu tâm khảm của Cụ Ức Trai, dù cách nay ngót sáu trăm bốn chục năm, từ sự chiêm nghiệm thành bại của lịch sử với sức mạnh Lòng Dân: “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (Làm lật thuyền mới biết sức Dân mạnh như nước); “Việc nhân nghĩa cốt ở yên Dân”.
Rằng:

“Đọc sách thời thông đòi nghĩa sách

Chăn Dân mã nỡ mất Lòng Dân”./.

 

CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA, TRONG THỜI BÌNH

 

Cùng với Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược bảo vệ Biên giới quốc gia có vị trí, vai trò rất quan trọng trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Cách đây gần 4 năm, ngày 28 tháng 9 năm 2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia (Nghị quyết số 33-NQ/TW) nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, đặc biệt là những lực lượng có liên quan trực tiếp đến bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Qua đó, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tham gia quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Nghị quyết số 33-NQ/TW nhấn mạnh sự cần thiết phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, nâng hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với công tác quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.
Để tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, các ban, bộ, ngành, địa phương; cán bộ, đảng viên, chiến sĩ cần nắm vững các nội dung cơ bản sau đây:
Một là, các ban, bộ, ngành, địa phương, nhất lừ lực lượng trực tiếp tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo, tùy theo chức năng, nhiệm vụ tổ chức phổ biến, tuyên tuyền cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân các nội dung cơ bản của Chiến lược nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho họ; tạo động lực phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo của Tổ quốc.
Các cơ quan chức năng làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy đảng, người chỉ huy các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch bổ sung nội dung về bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo vào chương trình hành động; cụ thể hóa và đưa vào giảng dạy cho học sinh, sinh viên trong các nhà trường nhằm giáo dục lòng yêu nước, tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm của học sinh, sinh viên đối với sự nghiệp bảo vệ biên giới quốc gia, biển, đảo. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của biên giới quốc gia; trách nhiệm và nghĩa vụ của lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là lực biên phòng, cảnh sát biển; cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng, người lao động trong việc quán triệt, chấp hành các quy định của pháp luật về xây dựng biên giới hữu nghị, quản lý và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo của Tổ quốc.
Hai là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với công tác xây dựng, quản lý và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo của Tổ quốc. Các cơ quan, đơn vị chuyên trách được giao nhiệm vụ quan trọng này phối hợp với các cấp, các ngành, địa phương, các lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, nhất là các cửa khẩu, đường biên, các cột mốc biên giới. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn thực thi pháp luật về bảo vệ biên giới quốc gia; bảo đảm an ninh, trật tự, kiểm soát xuất, nhập cảnh ở khu vực biên giới.
Nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, lấn chiếm, phá hoại biên giới quốc gia. Tổ chức đấu tranh phòng, chống hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát biên giới, chỉ đạo, hỗ trợ các đạo phương sản xuất các sản phẩm thông tin truyền thống phục vụ đời sống, sinh hoạt của đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới, hải đảo. Huy động các nguồn lực, triển khai các chương trình hoạt động hướng về biên giới, vùng biển, đảo nhằm giữ dân bảo vệ biên giới; phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở khu vực biên giới, biển, đảo; phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ biên giới, biển đảo.
Ba là, xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới quốc gia, củng cố cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, tạo nền tảng xây dựng thế trận biên phòng toàn dân ở khu vực biên giới. Xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới toàn dân rộng khắp, nhân dân là chủ thể, lực lượng vũ trang là nòng cốt, Bộ đội Biên phòng là lực lượng chuyên trách.
Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, đào tạo lực lượng Bộ đội Biên phòng thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, duy trì an ninh, trật tự ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật. Triển khai kế hoạch đầu tư xây dựng đường tuần tra biên giới. Điều chỉnh quy hoạch, phân bố dân cư tại các địa bàn biên giới, hải đảo. Bố trí đầu tư phát triển theo quy hoạch, tạo công ăn, việc làm, ổn định cuộc sống cho nhân dân ở khu vực biên giới, vùng biển, đảo. Chỉ đạo đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động các nguồn lực trong xã hội đóng góp xây dựng, bảo vệ biên giới quốc gia.
Phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới với các nước láng giềng. Chăm lo chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ở khu vực biên giới; khắc phục tình trạng “trắng” dân cư ở một số khu vực biên giới, hải đảo. Thực hiện tốt chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Bố trí cán bộ biên phòng tham gia sinh hoạt chi bộ các thôn, bản, ấp; tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh ở khu vực biên giới.
Bốn là, hoàn thiện thể chế, pháp luật về bảo vệ biên giới quốc gia; nghiên cứu, hoàn thiện phương thức, phương án tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới. Các cơ quan đơn vị chức năng rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, các văn bản quản lý nhà nước về bảo vệ biên giới quốc gia. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn việc thực thi pháp luật về bảo vệ biên giới quốc gia. Triển khai các hoạt động, biện pháp nghiệp vụ, dự báo các tình huống chiến lược có thể xảy ra. Kịp thời bổ sung, hoàn chỉnh phương án, kế hoạch xử lý. Giải quyết hiệu quả, kịp thời các tình huống nảy sinh trên biên giới, vùng biển, đảo; không để bị động, bất ngờ.
Năm là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổng thể, có trọng tâm, trọng điểm về bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ biên giới quốc gia gắn với phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Ưu tiên vùng đặc biệt khó khăn, vùng trọng điểm chiến lược về quốc phòng, an ninh ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và biển, đảo. Ưu tiên dành nguồn lực phân bổ từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nhất là hạ tầng phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Phát huy thế mạnh của vùng về du lịch sinh thái, truyền thống văn hóa; đẩy nhanh tiến độ trồng rừng vành đại ở khu vưc biên giới.
Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng, đối ngoại biên phòng và đối ngoại nhân dân trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, chủ quyền biển, đảo. Thực hiện có trách nhiệm các cam kết và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Tiếp tục phát triển quan hệ đối tác với các nước láng giềng, đẩy mạnh hợp tác biên phòng rộng rãi, toàn diện ngang tầm với quan hệ của Việt Nam với các nước. Tập trung vào các hoạt động diễn tập, hợp tác tuần tra chung, cứu hộ, cứu nạn trên bộ, trên biển. Đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên biên giới, đối phó với các nguy cơ có thể xảy ra trên biên giới, biển, đảo. Trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực biên phòng với các nước. Đẩy mạnh giao lưu quốc phòng, giao lưu hữu nghị biên giới; nhân rộng mô hình kết nghĩa với lực lượng bảo vệ biên giới và nhân dân các nước láng giềng. Làm tốt công tác xuất nhập cảnh, cải cách thủ tục hành chính đối với người, phương tiện tại các cửa khẩu đáp ứng yêu cầu hội nhập, hợp tác quốc tế. Xây dựng phương án hoạch định trên biên giới quốc gia; xác định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam với các nước.
Triển khai thực hiện các văn kiện pháp lý quốc tế về biên giới; phân giới và cắm mốc quốc giới trên cơ sở các điều ước quốc tế về hoạch định biên giới quốc gia được ký kết với các nước láng giềng. Xây dựng và củng cố mô hình kết nghĩa giữa các các địa phương, đơn vị và nhân dân hai bên biên giới, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng biên giới quốc gia hòa bình hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.
Thực hiện tốt Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia là góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Việc nhận thức đúng và thực hiện hiệu quả Chiến lược này là trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và mỗi công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.
DƯƠNG PHƯƠNG DUY

PHƯƠNG PHÁP QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


Bài 1: MÀI SẮC VŨ KHÍ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân - vết tích xấu xa của xã hội cũ là kẻ địch “nội xâm”; là thứ vi trùng mẹ “rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc.
thế mà càng nguy hiểm” và “chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: Lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”... Vì thế, quét sạch chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ suốt đời của mọi đảng viên.
Kẻ thù của đạo đức cách mạng
Cũng vì sự dễ trỗi dậy, lây lan và nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, nên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những cán bộ, đảng viên nếu không tự đề kháng và “miễn dịch” được trước sự cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân thì tất yếu sẽ sa vào cá nhân chủ nghĩa, bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc, sẽ “thoái bộ và lạc hậu”.
Những người do “cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm” là những người “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh, trục lợi, thích địa vị, quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”.
Họ không chỉ thiếu tính tổ chức, kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm mất đoàn kết nội bộ mà còn làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Họ xa rời nhân dân, xem thường quần chúng, chỉ muốn phê bình người khác nhưng không muốn người khác phê bình mình; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh, gây tổn hại đến danh dự và uy tín của Đảng...
Và cũng vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, phải phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân bằng việc thực hiện nghiêm vũ khí tự phê bình và phê bình. Đây là việc làm vừa quan trọng và cần thiết, vừa thường xuyên và lâu dài của những người đảng viên cộng sản, góp phần để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, thật sự “là đạo đức, là văn minh”.
“Vũ khí” để tự cứu mình và giúp người
Trong rất nhiều thang thuốc để phòng, chống và đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thì tự phê bình và phê bình là thang thuốc hữu hiệu nhất. Đó là “vũ khí” để chữa bệnh cá nhân chủ nghĩa/chủ nghĩa cá nhân, nên mỗi người, mỗi tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị (gọi chung là tổ chức) cần phải sử dụng thường xuyên, nghiêm túc như “rửa mặt hằng ngày” để gột rửa sạch những vết tích, tàn dư của chế độ cũ, để trừ bỏ mọi thói hư, tật xấu trong người. Vì tự phê bình và phê bình là “vũ khí” sắc bén, nên cá nhân, tổ chức sử dụng vũ khí đều phải dùng đúng chức năng, công năng, đúng hoàn cảnh, thời điểm... mới bảo đảm đạt hiệu quả cao nhất.
Cụ thể, theo Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”, “cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn”, “cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”, nên khi tiến hành vừa “phải kiên quyết, ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt” vừa "phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.
Trong đó, tự phê bình là quá trình tự soi chính bản thân mình, nên khi soi phải đồng thời “nêu ưu điểm và vạch ra khuyết điểm của mình”. Đối với khuyết điểm của bản thân thì phải “thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.
Việc tự đánh giá những ưu điểm và khuyết điểm này sẽ giúp bản thân: Một mặt, thấy được “cái hay”, “cái dở” của mình; mặt khác, làm cơ sở cho những người xung quanh đóng góp ý kiến, nhằm sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Phê bình là để giúp người, nên cũng phải đồng thời “vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm” của đồng chí mình, để có lỗi thì sửa, có ưu điểm thì phát huy. Trong khi phê bình, việc vừa tham gia góp ý kiến và chỉ ra cách thức, biện pháp khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, hạn chế, sai lầm để ngày càng tiến bộ; vừa cổ vũ, động viên đồng chí mình phát huy những ưu điểm, những cách làm hay, những việc làm tốt... sẽ góp phần tạo sự đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động của mỗi tổ chức.
Để “mài sắc” vũ khí tự phê bình và phê bình, thì người phê bình người khác không chỉ phải luôn khách quan, trung thực, công khai, thẳng thắn, chân thành, có tình, có lý mà còn phải cung cấp thông tin, dẫn chứng chính xác, “không đặt điều”, “không thêm bớt” làm cho người được góp ý tâm phục, khẩu phục. Khi phê bình, cần lựa chọn phương pháp thích hợp trong lời nói, giọng nói, cách nói, nhất là phải phát ngôn đúng nơi, đúng chỗ; tránh kiểu ba phải, thành kiến, xu nịnh, dựa dẫm, “thói đạo đức giả” và nhất là tránh dùng lời lẽ mỉa mai, chua cay, “đâm thọc”, gây khó chịu, khó tiếp thu, gây tự ái hoặc hiểu nhầm cho người bị phê bình.
Còn người bị phê bình cũng cần phòng và tránh sự bức xúc, mất bình tĩnh, phản ứng gay gắt dẫn đến to tiếng, phát ngôn thiếu văn hóa hoặc có thái độ thách thức, khiêu khích người đang phê bình mình; nhất là cần tránh việc nhận khuyết điểm nhưng không tâm phục, khẩu phục, nên chỉ nhận qua loa, cho xong chuyện mà không quyết tâm sửa chữa, thậm chí vẫn tiếp tục mắc lại những khuyết điểm cũ. Riêng đối với những ý kiến góp ý chưa đúng, cần phải giải trình thì người bị phê bình cũng nên bình tĩnh, mềm dẻo, khiêm tốn và cầu thị...
Theo Hồ Chí Minh, việc mài sắc “vũ khí” tự phê bình và phê bình chỉ thực sự hữu hiệu khi người phê bình cũng như người tiếp thu ý kiến phê bình của người khác đều có động cơ trong sáng, đúng đắn, với tinh thần “phê bình việc làm, chứ không phê bình người”; khi cả hai người đều thành khẩn, thành tâm, không giấu giếm khuyết điểm của mình cũng như của đồng chí mình; đều phải tự giác nhận và vạch ra khuyết điểm của mình trước tập thể với tinh thần cầu thị, biết lắng nghe, thể hiện sự tiếp thu một cách thiện chí và quyết tâm sửa chữa.
Trong khi thực hiện “vũ khí” này, cả người tự phê bình lẫn người phê bình đều phải tránh động cơ vụ lợi, thành kiến cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi; lợi dụng phê bình để đả kích, cường điệu khuyết điểm, phủ nhận ưu điểm nhằm hạ uy tín, hạ bệ lẫn nhau, gây mất đoàn kết nội bộ.
Trên thực tế, “vũ khí” tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc chưa được “mài sắc”, chưa được thực hiện nghiêm, bởi trong từng con người, từng đơn vị vẫn còn hiện tượng “sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín” và dùng lý do “sợ mất thành tích của tập thể, của lãnh đạo” để che giấu hoặc bao che khuyết điểm, chạy tội cho đồng chí mình.
Tình trạng nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý” vì sợ mất lòng, “mất phiếu”, ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân cũng như tâm lý sợ bị phê bình nên phải phê bình người khác nhưng phê bình chiếu lệ, một chiều, mang tính hình thức-thực chất là nói để lấy lòng nhau vẫn còn. Vì thế, để “vũ khí” tự phê bình và phê bình sắc bén trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, thì:
Một là, duy trì và thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, hiệu quả “tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến cơ sở” gắn với nhiệm vụ chính trị, với sinh hoạt Đảng. Việc chuẩn bị tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức vừa phải có sự chỉ đạo, kiểm tra chặt chẽ của cấp ủy cấp trên, với phương châm “trị bệnh cứu người”, “thuốc đắng dã tật”, vừa phải được tiến hành chu đáo, nghiêm túc, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phải gắn liền với việc thực hiện các nghị quyết và Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, với các chỉ thị và kết luận của Đảng về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh... để làm cho vũ khí tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, thật sự trở thành vũ khí sắc bén của toàn Đảng, làm cho tự phê bình và phê bình thật sự là một quy luật phát triển của Đảng, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Hai là, vì tự phê bình và phê bình là quá trình tự soi, tự sửa, tự cứu mình và giúp người, vì sự tiến bộ của mỗi cá nhân và sự phát triển vững mạnh của tổ chức, nên “các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa.
Phải như thế Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”, chứ không chờ “có việc” mới tiến hành, có khuyết điểm mới phạt... Phải kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và phát huy dân chủ; đề cao tính tự giác, trách nhiệm, thái độ, phương pháp tự phê bình và phê bình đúng đắn, phù hợp để “vũ khí” này trở thành động lực cho mọi sự phát triển, tạo được sự biến đổi về chất trong nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức Đảng, nhân nguồn sức mạnh nội sinh trong từng cá nhân, trong từng tổ chức lên như cây nảy lộc, đơm hoa, kết trái.
Ba là, gắn tự phê bình và phê bình với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng vừa cẩn trọng vừa kịp thời, nghiêm túc, hiệu quả để đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm. Đồng thời, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cấp ủy, người đứng đầu trong tự phê bình và phê bình theo nguyên tắc tiến hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ cấp uỷ, người đứng đầu đến cán bộ, đảng viên.
Cấp trên gương mẫu tự kiểm điểm trước để cấp dưới noi theo; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp uỷ viên và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo kiểm điểm trước, đảng viên kiểm điểm sau. Trong kiểm điểm, cấp dưới phải mạnh dạn phê bình cấp trên; tổ chức cơ sở đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng, để nguyên tắc tự phê bình và phê bình không chỉ bảo đảm chất lượng, hiệu quả mà còn góp phần làm tăng uy tín của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi tổ chức.
(còn nữa)
TS VĂN THỊ THANH MAI
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết '人 "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng." DI CHÚC CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH'

TOÀN VĂN BÀI PHÁT BIỂU KHAI MẠC KỲ HỌP THỨ 4, QUỐC HỘI KHÓA XV CỦA CHỦ TỊCH QUỐC HỘI VƯƠNG ĐÌNH HUỆ.

 

Sáng 20/10/2022, với sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV đã khai mạc trọng thể tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu toàn văn Bài phát biểu khai mạc Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ:
"Kính thưa đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bậc lão thành cách mạng,
Kính thưa Quốc hội,
Thưa các vị khách quốc tế, các vị khách quý,
Thưa đồng bào và cử tri cả nước,
Hôm nay, Quốc hội khóa XV khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ 4. Thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bậc lão thành cách mạng, các vị đại biểu Quốc hội, các vị khách quý, đại diện các cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế đã đến dự phiên khai mạc kỳ họp.
Xin trân trọng gửi đến quý vị đại biểu cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ, cử tri, Nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài những tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất!
Kính thưa Quốc hội,
Từ đầu năm 2022 đến nay, Quốc hội đã tổ chức thành công Kỳ họp thứ 3 và Kỳ họp bất thường lần thứ nhất; đã phối hợp chặt chẽ với Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng cho Kỳ họp thứ 4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tổ chức 3 phiên họp thường kỳ, 2 phiên họp chuyên đề và Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách lần thứ 2 về công tác xây dựng pháp luật.
Đồng thời, đã tổ chức thành công Diễn đàn Kinh tế - Xã hội Việt Nam 2022 với chủ đề: “Củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phục hồi và phát triển bền vững”; chỉ đạo các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội biên tập, xây dựng và gửi tới đại biểu Quốc hội nhiều báo cáo giám sát, báo cáo chuyên đề, tài liệu, tạp chí nghiên cứu chuyên sâu để phục vụ thiết thực cho Kỳ họp thứ 4.
Như thường lệ, kỳ họp cuối năm bao giờ cũng có khối lượng công việc rất lớn. Tại phiên họp trù bị, với tinh thần “lấy chất lượng Kỳ họp làm chính và phấn đấu để tiết giảm tối đa thời gian kỳ họp”, các vị đại biểu Quốc hội đã nhất trí rất cao thông qua nội dung, thời gian, chương trình và phương thức tiến hành kỳ họp. Theo đó, dự kiến trong 21 ngày làm việc, Quốc hội sẽ xem xét, cho ý kiến và quyết định các nội dung quan trọng sau đây:
Thứ nhất, về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước
Quốc hội sẽ xem xét các báo cáo của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023; kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2022, dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2023; tình hình, kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2022, dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2023.
Trong thời gian qua, chúng ta đã tập trung thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương Đảng; Nghị quyết 32/2021/QH15 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 tại Kỳ họp thứ 2, Nghị quyết 43/2022/QH15 về Chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội tại Kỳ họp bất thường của Quốc hội lần thứ nhất.
Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, kịp thời của Đảng và Nhà nước; các quyết sách phù hợp, chủ động và giám sát có hiệu quả của Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hành sâu sát, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ của các cấp và các ngành; sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị cùng với sự nỗ lực, phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã thực hiện thắng lợi, khá toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2022.
Tình hình đất nước trong 9 tháng đầu năm 2022 đạt được những kết quả tích cực, có nhiều dấu ấn nổi bật. Tăng trưởng GDP 9 tháng đạt 8,83% cao nhất kể từ năm 2011 đến nay; các khu vực của nền kinh tế đều có tốc độ phục hồi và tăng trưởng cao (khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,99%; công nghiệp và xây dựng tăng 9,44%, dịch vụ tăng 10,57% so với cùng kỳ năm trước). Thị trường tiền tệ cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt, bình quân tăng 2,72% so với cùng kỳ năm trước. Thu ngân sách nhà nước 9 tháng ước đạt 94% dự toán, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn FDI thực hiện 9 tháng đạt 15,43 tỷ USD, tăng 16,2%. Có trên 163.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường tăng 33,6% so với cùng kỳ, gấp 1,4 lần số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Loại trừ yếu tố giá, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng tăng 16,8%. Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 558,5 tỷ USD tăng 15,1% (trong đó xuất khẩu tăng 17,3%, nhập khẩu tăng 13%), xuất siêu 9 tháng đạt khoảng 6,52 tỷ USD. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứngvới biến đổi khí hậu được chú trọng và có nhiều chuyển biến tích cực.
An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân được cải thiện; đã triển khai thực hiện kịp thời các chính sách xã hội, nhất là chính sách đối với người có công, chính sách bảo trợ xã hội và các chính sách, biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động, người dân bị ảnh hưởng nặng bởi đại dịch Covid-19.
Ngành y tế tiếp tục giữ vai trò nòng cốt, có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ngành giáo dục có nhiều cố gắng, kịp thời nghiên cứu, điều chỉnh chương trình giáo dục phổ thông theo Nghị quyết của Quốc hội; có nhiều đổi mới, tăng cường chuyển đổi số trong thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông và tuyển sinh đại học. Lĩnh vực văn hóa có nhiều chuyển biến tích cực; nhiều sự kiện văn hoá, thể thao quy mô lớn, nhất là SEA Games 31, đã được tổ chức rất thành công. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ đất nước; giữ vững môi trường hòa bình, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Công tác đối ngoại được triển khai chủ động, tích cực, sôi động, hiệu quả, góp phần bảo đảm và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Công tác cải cách hành chính, kiểm tra, thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được đổi mới và tăng cường, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Những kết quả quan trọng, khá toàn diện với nhiều dấu ấn nổi bật nêu trên tạo thêm thuận lợi, thời cơ để phát triển đất nước. Tuy nhiên, thời gian còn lại của năm 2022 và năm 2023 sắp tới, chúng ta tiếp tục phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, có thể làm chậm lại quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Biến động phức tạp, khó lường của tình hình kinh tế và an ninh - chính trị thế giới, những diễn biến mới, phức tạp trong xung đột Nga - Ukraine; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, các yếu tố rủi ro, bất định ngày càng gia tăng; áp lực lạm phát, biến động lãi suất, tỷ giá và nguy cơ suy thoái kinh tế thế giới, tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường, ngày càng cực đoan hơn… vẫn là những thách thức lớn nhất đối với nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế đất nước.
Vì vậy, đề nghị các vị đại biểu Quốc hội nghiên cứu thật kỹ các báo cáo, tờ trình của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của các Ủy ban của Quốc hội, tập trung thảo luận, phân tích sâu sắc bối cảnh, đặc điểm tình hình của năm 2022, nhận rõ những kết quả và bài học đã đạt được, những hạn chế, yếu kém, khó khăn, vướng mắc phải tháo gỡ, những thách thức phải vượt qua; tìm ra nguyên nhân khách quan, chủ quan và đúc kết những bài học có giá trị thực tiễn.
Trên cơ sở nhận diện, đánh giá đúng thực trạng, phân tích rõ nguyên nhân; dự báo chính xác tình hình trong nước và thế giới trong thời gian tới để xem xét, quyết định các quan điểm, định hướng lớn, các mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính, ngân sách, đầu tư công cho năm 2023, phương án điều chỉnh tiền lương, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công năm 2023, kế hoạch tài chính trung hạn 3 năm 2023-2025.
Thứ hai, về công tác lập pháp
Tại Kỳ họp này, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua 7 dự án luật, 3 dự thảo nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật, gồm: Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi); Luật Thanh tra (sửa đổi); Luật Dầu khí (sửa đổi); Luật Phòng, chống rửa tiền (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện; Nghị quyết ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội (sửa đổi); Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Nghị quyết về thí điểm cấp quyền lựa chọn, sử dụng biển số xe ô tô thông qua đấu giá. Quốc hội cũng thảo luận, cho ý kiến 7 dự án luật khác, bao gồm: Luật Đất đai (sửa đổi); Luật Đấu thầu (sửa đổi); Luật Hợp tác xã (sửa đổi); Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi); Luật Giá (sửa đổi); Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi) và Luật Phòng thủ dân sự. Đây là khối lượng công việc lập pháp rất nặng nề, vừa có phạm vi rộng, vừa chứa đựng những vấn đề chuyên sâu, trong đó có những dự án luật ngay trước thềm Kỳ họp đã thu hút được sự quan tâm sâu sắc của dư luận, cử tri và nhân dân cả nước.
Đối với các dự án luật, dự thảo nghị quyết trình Quốc hội thông qua, việc tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện các dự án, dự thảo đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo sát sao, các cơ quan có liên quan đã phối hợp chặt chẽ, tiến hành thận trọng, kỹ lưỡng, nhất là đã nghiên cứu tiếp thu tối đa ý kiến của đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 3 và và ý kiến tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ 2, ý kiến của các Đoàn đại biểu Quốc hội.
Đề nghị các vị đại biểu Quốc hội nêu cao trách nhiệm, phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ, tiếp tục đóng góp ý kiến để hoàn thiện, nhất là đối với các vấn đề lớn, các vấn đề quan trọng, các vấn đề còn có ý kiến khác nhau, đảm bảo chất lượng cao nhất khi xem xét, thông qua các dự án luật và dự thảo nghị quyết.
Đối với dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi), đây là dự án luật quan trọng, định hướng hoạt động quản lý và sự phát triển bền vững của công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân cũng như cơ sở y tế, cán bộ y tế, hiện nay vẫn còn có ý kiến khác nhau. Đề nghị các vị đại biểu Quốc hội tập trung cho ý kiến sâu hơn về cơ chế bảo đảm tinh thần “lấy người bệnh làm trung tâm” gắn với bảo đảm công bằng xã hội trong tiếp cận dịch vụ khám, chữa bệnh; các quy định về cấp chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; định hình hệ thống y tế hiện đại, bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân; xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội hóa trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh ở từng mặt, từng nội dung, từng khâu; cơ chế tự chủ tài chính của cơ sở khám chữa bệnh công lập, trước hết là tự chủ tài chính, hợp tác công tư, giá dịch vụ…; đồng thời, xem xét kỹ lưỡng, đảm bảo chất lượng và tính ổn định, dài hạn của Luật này khi được Quốc hội thông qua.
Việc tiếp tục đổi mới, cải tiến quy trình, cách thức tiến hành kỳ họp - hình thức hoạt động chủ yếu, quan trọng nhất của Quốc hội - là nhân tố quan trọng để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Đề nghị các vị đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận, cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết Nội quy kỳ họp Quốc hội (sửa đổi), nhất là các nội dung liên quan đến việc thể chế, quy tắc hóa những cải tiến, đổi mới trong công tác chuẩn bị, tiến hành kỳ họp, quy trình, thủ tục xem xét, quyết định các nội dung tại kỳ họp đã được thực tiễn khoá XIV, khoá XV kiểm nghiệm trong thời gian qua; những quy định nhằm tăng cường thực hành dân chủ, bảo đảm tính pháp quyền, tính chuyên nghiệp và tinh thần chủ động trong hoạt động của Quốc hội; phân định rõ thẩm quyền, đề cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia kỳ họp Quốc hội, nhất là vai trò trung tâm của đại biểu Quốc hội.
Các dự án Luật trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp này đều rất quan trọng nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và các Nghị quyết của Trung ương. Theo đó, dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được xây dựng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.
Trong quá trình thảo luận, xem xét, cho ý kiến đối với dự án Luật rất quan trọng này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trân trọng đề nghị các vị đại biểu Quốc hội quan tâm một số vấn đề sau đây: (i) Cần bám sát chủ trương, định hướng của Đảng và thể chế hóa đầy đủ, chính xác, kịp thời thành các quy định cụ thể; chỉ xem xét đưa vào Luật những vấn đề đã chín, đã đủ rõ và đã có định hướng của Trung ương; (ii) Kế thừa các quy định mang tính chất ổn định với thực tiễn, phù hợp của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ; khắc phục các vướng mắc, bất cập trong thực tiễn nhưng phải bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, chiến lược, lâu dài; không hợp thức hóa những vướng mắc có tính chất vi phạm; không đưa vào luật những vấn đề mang tính sự vụ, hiện tượng, nhỏ lẻ, cá thể, không thể hiện đúng bản chất của quan hệ đất đai phát sinh trong thực tiễn; (iii) Giải quyết các nút thắt, mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định của pháp luật trong quản lý, sử dụng đất, có phương án xử lý phù hợp nhằm khai thông, giải phóng tối đa nguồn lực đất đai, tạo không gian, động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục thực hiện tốt việc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai; (iv) Tách bạch rõ để đưa vào Luật những quan hệ đất đai mang tính chất công và quan hệ đất đai mang tính chất tư, bảo đảm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thống nhất quản lý, tính phù hợp và đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho các chủ thể xã hội được tiếp cận, sử dụng đất công bằng, công khai, hiệu quả, bền vững; (v) Cụ thể hóa tối đa trong Luật những nội dung đã được kiểm nghiệm và áp dụng ổn định trong thực tiễn, luật hóa những nội dung trong các văn bản quy định chi tiết thi hành luật đã được áp dụng phù hợp với thực tiễn, hiệu quả trong thời gian qua.
Thứ ba, về hoạt động giám sát
Tại Kỳ họp này, Quốc hội sẽ nghe Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi đến Kỳ họp thứ 4; báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 3; tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn. Quốc hội cũng xem xét các báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; các báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng, công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác thi hành án năm 2022.
Quốc hội sẽ tiến hành giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016-2021”. Đây là nội dung giám sát rất quan trọng, có quy mô lớn, phạm vi rộng, đang nổi lên cấp bách trên nhiều lĩnh vực được các vị đại biểu Quốc hội, nhân dân và cử tri cả nước rất quan tâm và gửi gắm nhiều kỳ vọng, mong muốn tạo chuyển biến rõ rệt trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cùng với công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước ở Trung ương và địa phương.
Đề nghị các vị đại biểu Quốc hội tập trung đánh giá kết quả đạt được, chỉ rõ những lĩnh vực, những địa bàn, những địa chỉ để xảy ra tình trạng lãng phí nghiêm trọng, làm rõ hạn chế, khó khăn, vướng mắc, chỉ rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các giải pháp để hoàn thiện thể chế, chính sách, huy động quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, bao gồm cả nhân lực, vật lực và tài lực và hoàn thiện chính sách, pháp luật có liên quan. Căn cứ kết quả giám sát, Quốc hội sẽ ban hành Nghị quyết về chuyên đề giám sát này.
Thứ tư, về quyết định các vấn đề quan trọng khác của đất nước
Tại Kỳ họp này, Quốc hội sẽ xem xét, quyết định miễn nhiệm, bầu Tổng Kiểm toán nhà nước; miễn nhiệm, phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Y tế. Quốc hội cũng tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 54/2017/QH14 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và xem xét đề xuất của Chính phủ cho gia hạn hiệu lực Nghị quyết này và một số vấn đề quan trọng khác.
Kính thưa Quốc hội,
Kính thưa Quốc hội,
Trong những ngày qua, tình hình mưa bão diễn biến rất phức tạp, gây ngập lụt trên diện rộng, làm thiệt hại nhiều về tài sản và tính mạng của nhân dân miền Trung. Quốc hội xin gửi lời chia sẻ những khó khăn, mất mát và đánh giá cao sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương và sự nỗ lực vượt khó của nhân dân để giảm thiểu thiệt hại do bão lũ gây ra. Rất mong các địa phương sớm khắc phục và nhanh chóng ổn định đời sống của người dân, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, chăm lo sức khỏe và an sinh xã hội cho đồng bào.
Kính thưa Quốc hội, thưa các vị khách quý,
Tiếp nối và phát huy những thành công rất tốt đẹp của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII với những quyết sách quan trọng, cụ thể hóa nhiều nội dung cốt lõi và vấn đề lớn của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Kỳ họp lần này của Quốc hội phải thể hiện đậm nét, mang ý nghĩa lan tỏa tinh thần Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng - như phát biểu bế mạc của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - gắn với những quyết sách đúng đắn, sáng suốt cả về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Với quyết tâm tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của Quốc hội, kế thừa, phát huy những thành quả, kinh nghiệm đã tích lũy được cùng với sự chuẩn bị chu đáo và kỹ lưỡng, tôi tin tưởng rằng, Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV sẽ hoàn thành toàn bộ chương trình, mục tiêu đã đề ra và thành công tốt đẹp.
Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV.
Xin trân trọng cảm ơn".
Có thể là hình ảnh về 1 người và đang đứng