Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2022

Cần tỉnh táo nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại

 Cần tỉnh táo nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại

Chống chủ nghĩa xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói chung, trong cách mạng Việt Nam nói riêng kể từ khi có Đảng, là cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ. Nhất là trong tình hình hiện nay, đấu tranh chống các biểu hiện của chủ nghĩa xét lại là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ dao động, hoài nghi đến xa rời, phản bội lý tưởng cách mạng

Gần đây, nếu quan tâm theo dõi tình hình, có thể thấy sự xuất hiện của một vài ý kiến đòi xem xét lại nội dung cốt lõi nền tảng tư tưởng của Đảng. Có người thì tỏ ra nhẹ nhàng “hiến kế”, “tâm thư”, “góp ý” rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, nên thay bằng những thứ mà họ gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, rằng nội dung Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không có gì mới, vẫn là “bổn cũ soạn lại”, “sao chép theo lối mòn”, thiếu tầm tư duy chiến lược, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Có người thì công khai phủ định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Họ đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây... Những quan điểm mang tư tưởng xét lại, chống phá nói trên nếu không được phản bác, ngăn chặn sẽ gây hoang mang trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào CNXH và con đường đi lên CNXH.

Thực tế thì không phải bây giờ mà ngay từ lúc Mác, Ăngghen và Lênin còn sống, những thành phần đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin đã xuất hiện. Những người theo chủ nghĩa xét lại vẫn chấp nhận các lý tưởng cùng nền tảng lý luận cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng phê bình những luận điểm của Mác, Lênin về cương lĩnh, chiến lược và sách lược cách mạng... mà họ cho là không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn trên thế giới và ở từng nước. Một số người đưa ra quan điểm rằng, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản (CNTB) bước sang thời kỳ phát triển tương đối hòa bình, các hình thức đấu tranh nghị trường được sử dụng rộng rãi, mâu thuẫn cơ bản của CNTB sẽ dịu đi và vì vậy, không cần đấu tranh xóa bỏ sự bóc lột của tư bản chủ nghĩa, mà chỉ cần sự thâm nhập hòa bình của khuynh hướng XHCN là thực hiện được mục tiêu xóa bỏ áp bức, bóc lột. Những người khác thì lập luận rằng, những thứ như tự do chính trị, dân chủ, quyền công dân trong CNTB sẽ loại bỏ tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân. Vì thế, mục tiêu cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là thiết lập dân chủ tư sản, cải cách CNTB, điều hòa xung đột giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân.

Dù tên gọi, biến tướng có khác nhau nhưng tựu trung, chủ nghĩa xét lại có hai khuynh hướng chính. Chủ nghĩa xét lại “tả khuynh” tìm cách đánh tráo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm vô chính phủ, duy ý chí có tính tiểu tư sản, phủ nhận tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân, phủ nhận vai trò của đảng cộng sản và chuyên chính vô sản. Chủ nghĩa xét lại “hữu khuynh” thì đòi bác bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, muốn thay thế những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm, cải cách tư sản. Và dù ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào, dù có những điều chỉnh nhất định, chủ nghĩa xét lại cũng không thể che giấu được động cơ là xa rời mục tiêu cuối cùng của giai cấp công nhân, từ bỏ cuộc đấu tranh giành thắng lợi cho CNXH.

Vì mang tính chất hai mặt của những giai tầng xã hội tiểu tư sản, tiểu chủ trong điều kiện CNTB và trong điều kiện đấu tranh vì CNXH ngày càng gay gắt nên chủ nghĩa xét lại thường xuất hiện khi có bước ngoặt. Vào thời điểm khó khăn, phức tạp, thử thách hoặc khi những phát minh, sáng chế khoa học và tình hình mới dẫn đến phá vỡ giới hạn nhận thức cũ, người nhiễm tư tưởng xét lại thường không đủ khả năng nhận thức đúng những hiện tượng mới nảy sinh, những thay đổi trong sách lược của các đảng cộng sản nên hay dao động, không vững vàng. Thêm vào đó, trước sự tấn công điên cuồng của CNTB, họ tỏ ra yếu đuối, hoang mang, dễ bị lợi dụng, từ đó mà nảy sinh tư tưởng xét lại, thậm chí chuyển hóa thành phản bội.

Thực tế cho thấy, khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới thoái trào, những người mang tư tưởng xét lại bắt đầu tỏ ra bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH. Có người quy kết nguyên nhân đổ vỡ này là do sai lầm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Có người thì quay ra phụ họa với các luận điệu công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường XHCN, cho rằng cần phải đi con đường khác. Các quan điểm “tân Mác-xít”, “hậu Mác-xít”... thi nhau trỗi dậy, gây xáo trộn về tư tưởng.

Ở Việt Nam, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, phức tạp, ở những bước ngoặt, chúng ta cũng thấy xuất hiện tư tưởng cơ hội, xét lại dưới nhiều màu sắc “hữu khuynh”, “tả khuynh”. Dù chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng chứ chưa định hình rõ như “chủ nghĩa”; biểu hiện ở lời nói, trang viết và hành động nhỏ lẻ của một số người, một nhóm người nhưng tư tưởng xét lại cũng gây nhiều khó khăn cho cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi cuộc chiến ở vào thời kỳ quyết liệt, đã có những người tỏ ra dao động trước sức mạnh tàn bạo của kẻ thù, trước hy sinh, gian khổ nên không kiên định với đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam, ảo tưởng về con đường chung sống hòa bình. Vào thời điểm Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản suy thoái, đất nước thì lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc, một số người bắt đầu dao động, ngả nghiêng, do dự, mơ hồ, hoài nghi vào con đường đi lên CNXH. Thậm chí có người cho rằng lý luận về CNXH đã sụp đổ, cần phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây, phi chính trị hóa quân đội...

 

Thanh niên Việt Nam tiếp tục kề vai gánh vác sự nghiệp của Đảng

 Thanh niên Việt Nam tiếp tục kề vai gánh vác sự nghiệp của Đảng

 Đất nước được hòa bình, độc lập, người dân được sống ấm no, hạnh phúc. Giờ đây, kế tiếp sự nghiệp cao cả ấy là thế hệ trẻ, rường cột của nước nhà. Thế hệ trẻ suy nghĩ về Đảng thế nào? Mong muốn được đứng trong hàng ngũ Đảng của họ ra sao? Họ có đủ bản lĩnh, dũng khí và nhiệt huyết để làm tốt trọng trách mà Đảng tin cậy, trao truyền? Ấy vậy mà thời gian gần đây lại xuất hiện một số nội dung xuyên tạc cho rằng hiện nay “người dân muốn xa Đảng, thanh niên ngại vào Đảng”!. Cũng cần và thật sự cần hiểu những tiêu chuẩn để được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam là gì; những thành phần như thế nào phải đưa ra khỏi đảng; có như vậy mới có nhìn công tâm, khách quan và khẳng định vai trò quan trọng của Đảng ta trong tình hình mới hiện nay.

Về điều kiện vào Đảng đó là: Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã nhiều lần khẳng định: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”.

Về Xóa tên đảng viên: “Chi bộ xem xét, đề nghị cấp ủy có thẩm quyền quyết định xóa tên trong danh sách đảng viên đối với các trường hợp sau: đảng viên bỏ sinh hoạt đảng hoặc không đóng đảng phí ba tháng trong năm mà không có lý do chính đáng; đảng viên tự ý trả thẻ đảng viên hoặc tự hủy thẻ đảng viên; đảng viên giảm sút ý chí phấn đấu, không làm nhiệm vụ đảng viên, đã được chi bộ giáo dục nhưng sau thời gian 12 tháng phấn đấu không tiến bộ; đảng viên hai năm liền vi phạm tư cách đảng viên; đảng viên không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị theo quy định của Bộ Chính trị”.

Thế hệ trẻ hôm nay và lớp lớp thanh niên ngày trước có khác nhau về suy nghĩ, về hành động không? Có khác vì đó là tất yếu do bối cảnh lịch sử. Họ có khác nhau về ý chí, khát vọng và hoài bão đưa đất nước tiến lên không? Không! Họ giống nhau ở điểm đó. Đảng ta từ khi ra đời, phát triển đến nay cũng không thay đổi về bản chất. Điều này được thể hiện rõ trong những nguyên lý cơ bản của một đảng cầm quyền vẫn nguyên giá trị. Tuy vậy, trong quá trình vận động và phát triển, từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng đã luôn tiếp thu những giá trị tiên tiến, loại bỏ cái lạc hậu để ngày càng hoàn thiện hơn.

Trong cơ chế thị trường tất yếu có mặt trái. Sự hội nhập quốc tế mạnh mẽ mở ra nhiều cơ hội mới với thế hệ trẻ. Bên cạnh sự tích cực, thì những tác động của mặt trái cơ chế thị trường khiến một bộ phận thanh niên chưa nỗ lực phấn đấu, rèn luyện để trở thành đảng viên của Đảng. Thực tế này nên được nhìn nhận như thế nào? Soi xét vào thực tiễn của đời sống xã hội, thực tế trên chỉ gắn với hiện tượng, con người cụ thể. Hiện tượng đó không đại diện cho số đông, không là tiếng nói của thế hệ trẻ ngày nay. Nhìn rộng ra, những người không muốn vào Đảng chắc gì đã là những người tiêu biểu? Có thể họ là người có tài năng, có kiến thức ở một mặt nào đó, nhưng từng đó chưa đủ để được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Để trở thành đảng viên, ngoài tài năng, người đó cần có phẩm chất đạo đức tốt. Con người ấy không chỉ thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng mà còn phải chứng minh qua thực tiễn là người ưu tú, được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Như vậy thì những người không muốn vào Đảng, không tha thiết với Đảng trên thực tế cũng chưa hội tụ đủ các tố chất của một đảng viên và đương nhiên Đảng cũng không ép buộc ai phải vào tổ chức của mình nếu người đó không giác ngộ, không ưu tú.

Thế hệ trẻ hôm nay được sống trong hòa bình, được hưởng thành quả sự nghiệp cách mạng mà cha ông ta đã hy sinh biết bao xương máu, bởi thế hãy biết trân trọng điều đó; càng tự hào với truyền thống vẻ vang, thành quả cách mạng thì chúng ta càng phải thấy trách nhiệm của mình. Tiếp tục kề vai gánh vác sự nghiệp của Đảng, của dân tộc là trách nhiệm của tất cả chúng ta, mà trước tiên cần có nhận thức đúng, nỗ lực phấn đấu để được trở thành đảng viên.

 

Thực hiện “sáu dám” trong xây dựng và hoàn thiện nhân cách của đảng viên

 Thực hiện “sáu dám” trong xây dựng và hoàn thiện nhân cách của đảng viên

Vừa qua, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ta chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực gồm có “6 DÁM”.

Một là, “Dám nghĩ”: Thể hiện tư duy đổi mới, bứt phá nhằm khai thông, mở lối phát triển để đạt hiệu quả tối ưu trước một vấn đề, một công việc nào đó, nhất là cái mới, việc mới. Những ý tưởng và phương pháp tư duy độc đáo đó sẽ tạo ra cách làm mới, hiệu quả góp phần thay đổi chất lượng phát triển, chất lượng sống của mỗi người, nhiều người.

Đối với cán bộ, đảng viên trong bối cảnh, điều kiện hiện nay, dám nghĩ khiến người ta toàn tâm, toàn ý hướng vào tháo gỡ những vấn đề đang đặt ra, những vấn đề chưa có tiền lệ, chưa thành cơ chế, đang là rào cản đối với sự phát triển. Nếu cán bộ, đảng viên không dám nghĩ thì không có cơ sở cho sự bứt phá để phát triển nhanh, bền vững theo mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đã xác định.

Hai là, “Dám nói”: Là thể hiện dũng khí, tính cương trực, thẳng thắn, công tâm khi nhận định, xem xét, phán quyết một vấn đề, một sự việc nào đó. Trước những đòi hỏi từ thực tiễn phát triển của đất nước hiện nay, cán bộ, công chức mới “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” là chưa đủ, mà hơn thế, còn phải “dám nói”.

Thực tế hiện nay, ở nhiều cấp, ngành có một số cán bộ không thể hiện quan điểm, lập trường, thái độ rõ ràng, thiếu chính kiến dứt khoát trước những sự việc đúng, sai, tốt, xấu... Và, họ ứng xử theo lối “dĩ hòa vi quý”, “gió chiều nào theo chiều ấy”, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, làm cho cái tốt không có điều kiện nảy nở, phát huy, cái sai không được phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời, đấu tranh loại bỏ, làm cho cái mới không được khai phá.

Ba là, “Dám làm”: Là thái độ và hành động quyết liệt, khẩn trương, chủ động xông pha, tiên phong dấn thân vào những công việc khó, nhiệm vụ phức tạp, những việc chưa có tiền lệ, chưa có trong quy cách, quy định... nhằm làm chuyển biến tình hình theo chiều hướng tích cực, phát triển, vì lợi ích chung; là dám biến ước mơ, dự định thành hiện thực. “Dám làm” không có nghĩa là làm liều, càng không phải là vi phạm pháp luật. Cán bộ, đảng viên phải là con người của hành động, “miệng nói, tay làm”. Đảng và nhân dân ta đồng thuận phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (chưa có tiền lệ), càng đòi hỏi những người cầm lái, vận hành khi đối mặt với mọi khó khăn, thách thức, mới mẻ phải dám làm, dũng cảm đi đầu gương mẫu làm trước và định hướng, tổ chức để nhân dân cùng làm.

Bốn là,“Dám chịu trách nhiệm”: Dám chịu trách nhiệm thể hiện bản lĩnh, tinh thần vững vàng của người “đứng mũi chịu sào” trước mọi “sóng to, gió cả”, không lùi bước và luôn sẵn sàng đón nhận cả thành công và chưa thành công, thậm chí đối mặt với những rủi ro ngoài ý muốn.

Dám chịu trách nhiệm bao gồm hai yếu tố: Một là, nhận nhiệm vụ và nhận trách nhiệm với nhiệm vụ của mình, đồng thời nỗ lực hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ, không tránh né, đùn đẩy. Hai là, dám chịu trách nhiệm nhận lỗi và sẵn sàng gánh chịu hậu quả xấu đến với mình khi không hoàn thành nhiệm vụ.

Năm là, “Dám đổi mới sáng tạo”: Đổi mới là thay cái cũ (hay làm cho cái cũ) thành cái mới tốt hơn. Sáng tạo là đưa ra những ý tưởng, sáng kiến ứng dụng vào thực tế mang lại lợi ích cho con người và xã hội. Phẩm chất đổi mới sáng tạo là một chỉnh thể có quan hệ chặt chẽ giữa 2 thành tố: Đổi mới và sáng tạo. Đổi mới phải sáng tạo và sáng tạo hàm chứa đổi mới.

Đặc trưng giai đoạn tới của công cuộc đổi mới càng đòi hỏi sự đổi mới và sáng tạo. Hơn lúc nào hết, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với cán bộ, đảng viên là dám đổi mới, sáng tạo những mô hình, cách làm đột phá, thậm chí khác biệt nhưng mang lại hiệu quả tốt hơn. Đổi mới, sáng tạo mạnh mẽ hơn là chìa khóa để thực hiện các chủ trương mới của Đảng về chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ... mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Sáu là, “Dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung” là phẩm chất cấu thành bởi bản lĩnh, nghị lực, quyết tâm chính trị và đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Bản lĩnh là khả năng đương đầu với khó khăn, giải quyết những vấn đề mới, khó của cuộc sống một cách bình tĩnh, sáng suốt và tỉnh táo. Bản lĩnh còn là lòng dũng cảm, kiên trì, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; là sự tự khẳng định mình, bày tỏ những quan điểm cá nhân, có chính kiến riêng và dám đương đầu với mọi thử thách để đạt điều mong muốn. Nghị lực là sức mạnh tinh thần tạo cho con người sự kiên quyết trong hành động, không lùi bước trước khó khăn, thử thách.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, cán bộ, đảng viên của Đảng không chỉ là những người lo trước thiên hạ, mà còn phải khổ trước thiên hạ, còn phải dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của nhân dân, của Tổ quốc, của Đảng. Đã tự nguyện làm công bộc của dân, thề suốt đời hy sinh, phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân thì lợi ích của cán bộ, đảng viên phải đặt trong lợi ích chung của dân, của nước. Dám hy sinh lợi ích cá nhân là đòi hỏi cán bộ phải tự giác gác lại những nhu cầu, ham muốn cá nhân ảnh hưởng đến sự nghiệp chung, lợi ích chung; nghiêm khắc với bản thân, không bị mê hoặc bởi tiền tài danh vọng và những cám dỗ tầm thường.

Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động và dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của nhân dân, của Tổ quốc, của Đảng là những phẩm chất cần và đủ, có quan hệ chặt chẽ với nhau và là một chỉnh thể trong nhân cách của người cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay./.

 

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi

 Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi

Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, những quan sát và phân tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh về các vấn đề quốc tế và thời đại, cách ứng xử của Người trên trường quốc tế đã hình thành nên hệ thống lý luận, quan điểm, nguyên lý thực tế, sâu sắc cũng như những hành động đối ngoại chuẩn mực, hiệu quả, định hướng cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là hệ thống quan điểm về các vấn đề quốc tế, chiến lược, sách lược cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thế giới. Các tư tưởng, nguyên tắc và phương châm chỉ đạo đó được thể hiện trong các giai đoạn cách mạng và là nền tảng cho mọi thắng lợi của ngoại giao Việt Nam những năm qua với nhiều bài học kinh nghiệm.

Độc lập tự chủ, tự lực tự cường. Chính sách đối ngoại của Việt Nam đã góp phần thực hiện mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, được thể hiện cô đọng trong câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Huy động sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Độc lập tự chủ, tự lực tự cường đi liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế là tư tưởng chủ đạo trong chính sách kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cái gốc, cái điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh”. Người cũng nêu rõ: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”…

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Ngoại giao Việt Nam đã đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng, vượt qua những thách thức của thời đại, phấn đấu vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang đó, chính sách đối ngoại Việt Nam sẽ tiếp tục cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục thực hiện nhiệm vụ “giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho phát triển đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”

Thành tựu hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước, dân tộc

 Thành tựu hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước, dân tộc

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, trong đó có tư tưởng xét lại, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành vấn đề cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trước hết, phải thấy rằng theo đà phát triển không ngừng của thực tiễn và khoa học, bất cứ học thuyết nào tự bản thân nó cũng không phải là một hệ thống lý luận giáo điều, và chính Mác cũng đã từng đưa ra câu cách ngôn “Mỗi bước tiến của phong trào thực tiễn còn quan trọng hơn hàng tá cương lĩnh”. Học thuyết Mác-Lênin mặc dù rất khoa học và đúng đắn cũng không thể giải đáp đầy đủ, chi tiết, cặn kẽ mọi vấn đề, ở mọi thời đại, của mọi quốc gia. Đó chỉ là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, là vũ khí tư tưởng của con người trong cuộc đấu tranh vì chân lý khoa học và chính nghĩa nhân văn để nhận thức và cải tạo thế giới mà không phải là “cái đã xong xuôi” hay “nhất thành bất biến”.

Chính vì thế, học thuyết Mác-Lênin phải được bổ sung, phát triển không ngừng cùng với tiến trình phát triển tri thức, khoa học, thực tiễn của nhân loại. Tuy nhiên, dù bổ sung, phát triển ở bất cứ nội dung nào thì cũng phải đặt trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bởi xa rời những nguyên lý này thì chắc chắn lý luận sẽ bị lệch lạc, bóp méo, mất định hướng và dễ sa vào chủ nghĩa xét lại. Bổ sung, phát triển thì cũng phải vì mục đích bảo vệ, chứ không phải là từ bỏ, là phản bội Chủ nghĩa Mác-Lênin. Với cách mạng Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận phải nhằm mục tiêu góp phần xác lập một đường lối chính trị độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo để dẫn dắt, chỉ đạo thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chứ không phải là phủ nhận, đổi hướng.

Bên cạnh yêu cầu giữ vững nguyên tắc, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại còn đòi hỏi phải nắm vững và xử lý khéo léo mối quan hệ giữa kiên định và đổi mới. Bởi nếu chỉ kiên định một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ. Nhưng nếu không kiên định mà đổi mới một cách vô nguyên tắc thì cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Thêm vào đó, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại lại diễn ra ngay trong nội bộ những người cộng sản nên nó đòi hỏi sự kiên trì, khả năng thuyết phục, chứ không thể cực đoan, vội vã phân chiến tuyến, áp đặt phải đứng về bên này hay bên kia. Đặt ra vấn đề này bởi có lúc giáo điều, chủ quan, duy ý chí đã cản trở, gây tâm lý ngần ngại trước những thay đổi, hoặc nhìn nhận, đánh giá chưa hết những sáng tạo phát triển, đổi mới.

Thực tế sinh động của sự nghiệp đổi mới là bằng chứng thuyết phục nhất về sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng ta mà không sa vào tư tưởng xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Sau 35 năm đổi mới, từ một nước chậm phát triển, đến cái ăn cũng không đủ, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN, một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Giờ đây, Việt Nam là hình ảnh của một đất nước đang vững bước đi lên với một tư thế mới, tư thế của người làm chủ và biết làm chủ vận mệnh của mình; với một vị thế mới, vị thế của một đất nước độc lập, tự chủ, hòa bình, ổn định đang trên đà phát triển; với một tầm ảnh hưởng mới, ảnh hưởng của một đối tác đang chuyển mạnh từ “tham gia tích cực” lên “chủ động đóng góp xây dựng, định hình các cấu trúc mới, luật chơi mới”, một đối tác luôn có trách nhiệm trong các “sân chơi” khu vực và toàn cầu. Đúng như lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đổi mới đã song hành với Việt Nam đến khắp nơi trên thế giới, đã vang lên trên các diễn đàn quốc tế lớn như là một hiện tượng đặc biệt, một kỳ tích trong thế giới hiện đại. Thành công của đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn con đường đi mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cho đất nước, dân tộc.

 

Bài học từ thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

 Bài học từ thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Ngày 7-11-1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra và giành thắng lợi, làm thay đổi hoàn toàn vận mệnh đất nước và số phận của hàng triệu con người ở Nga từ kiếp làm thuê thành người làm chủ, đưa giai cấp công nhân Nga non trẻ bước lên vũ đài chính trị, trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng và tổ chức xây dựng chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Để có được thắng lợi trong Cách mạng Tháng Mười năm 1917, những người Bolshevik Nga đã có một quá trình lâu dài chuẩn bị lực lượng về mọi mặt tổ chức, chính trị, quân sự, tư tưởng. Dưới ánh sáng của Luận cương tháng Tư và sự chỉ đạo của V.I.Lênin, những người Bolshevik đã xác định nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất là phải lôi cuốn đông đảo nhân dân lao động về phía cách mạng, thành lập lực lượng vũ trang cách mạng làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chính trị. Đảng Bolshevik và V.I.Lênin đã linh hoạt, sáng tạo trong quá trình tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng, đó là xây dựng khối liên minh công - nông - binh vững chắc. Sự sáng tạo, độc đáo ở chỗ Đảng Bolshevik và V.I.Lênin đã tập hợp được đông đảo quần chúng và binh sĩ, làm cho họ trở thành lực lượng to lớn của cách mạng, trong đó quân đội giữ vai trò nòng cốt...

Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã "làm rung chuyển thế giới", phá tan một mảng lớn trong hệ thống chủ nghĩa tư bản, đế quốc, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Lần đầu tiên trong lịch sử, những người lao động đã đứng lên giành lấy chính quyền về tay mình để xây dựng một xã hội hoàn toàn mới. Một nhà nước kiểu mới dưới hình thức các Xô viết đã hình thành và được V.I.Lênin đánh giá là "chế độ dân chủ ở mức cao nhất cho công nhân và nông dân... một chế độ dân chủ kiểu mới".

Giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như những quan điểm của V.I.Lênin về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, của liên minh công - nông - binh là cơ sở lý luận trực tiếp cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng vào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”. Trong sức mạnh toàn dân đó, khối liên minh công - nông - trí vẫn là gốc của cách mạng. Người còn viết: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo được cách mạng đến thắng lợi”.

Dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga và qua thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chú trọng và xây dựng được khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, trở thành lực lượng quan trọng, góp phần đưa cách mạng Việt Nam giành thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở rộng hội nhập quốc tế. Một trong những vấn đề quan trọng đặt ra là phải làm thế nào để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về tình hình trong nước và thế giới, về dân tộc và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bài học đoàn kết của Cách mạng Tháng Mười, Đại hội XII của Đảng ta đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Do đó, phải: “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức do Đảng lãnh đạo”.

Nhờ phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Trong nhiều năm qua, các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động xã hội sâu rộng, như “Đền ơn đáp nghĩa”, “Ngày vì người nghèo”, “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”... đã thu hút sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước nhanh và bền vững, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc còn được thể hiện rõ qua việc nhân dân Việt Nam chung sức, đồng lòng với Đảng và Chính phủ chiến thắng trong cuộc chiến chống dịch Covid-19, được các nước trên thế giới đánh giá cao.

Thời gian đã lùi xa, nhưng những bài học quý báu của Cách mạng Tháng Mười Nga, trong đó có bài học về xây dựng, củng cố, tăng cường liên minh công-nông-trí vẫn còn nguyên giá trị đối với cách mạng Việt Nam. Ngày nay, huy động được mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo trong nhân dân, trong đó có công nhân, nông dân và trí thức có ý nghĩa quyết định để chúng ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới.

 

 

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

 Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế, họp ở Mátxcơva, tháng 11 năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để đánh thắng kẻ thù chung, chúng ta nhất định phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta”.

Trong bối cảnh chủ nghĩa cơ hội xuất hiện, các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế đang có sự chia rẽ, bất hòa trong nhận thức và giải quyết các vấn đề quốc tế. Tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài phát biểu và kêu gọi sự đoàn kết thống nhất của các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Lời khẳng định của Bác có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện tư duy nhạy bén, tầm nhìn xa trông rộng của Người trước các vấn đề quốc tế, qua đó nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Thực hiện lời dạy của Người đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, chúng ta cần tăng cường đoàn kết quốc tế, đoàn kết với nhân dân lao động các nước, với các dân tộc, với nhân loại tiến bộ vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tư tưởng sô vanh, nước lớn.

 

“VIỆT TÂN” CÓ BAO GIỜ GIÚP DÂN

 Tổ chức khủng bố “Việt Tân” vẫn thường xuyên tổ chức các hoạt động kêu gọi “GÂY QUỸ GIÚP DÂN”, nhưng thực chất là gắn mác từ thiện để gom tiền nhằm tiến hành các hoạt động với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước. Tiền gom được càng nhiều thì các hoạt động chống phá lại được tiến hành thường xuyên, và những cái túi đựng “tiền gây quỹ” đó giống như những “cái túi không đáy”.


Tuy nhiên, trên thực tế bọn dân chủ “Việt Tân” chưa bao giờ giúp đỡ đồng bào trong nước được bất cứ một thứ gì, số tiền đó dùng để tài trợ cho các thành phầnhoạt động chống phá, khủng bố nhằm lật đổ đất nước ta. Với bản chất muốn lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì hàng ngày “vịt tân” vẫn miệt mài hỗ trợ cả về vật chất, tinh thần cho đám “chân rết” ở trong nước tiến hành hoạt động chống đối nhằm gây ra sự bất ổn về chính trị, gây mất an ninh, trật tự.

Từ lúc đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh nhất, cho tới nay đồng bào ta ở miền Trung đang căng mình hứng chịu những trận bão lớn thì cũng chẳng thấy bóng dáng thành viên nào của “ tổ chức khủng bố Việt Tân” đứng ra để giúp dân, người dân chỉ nhận được những sự động viên mang tính “MÕM”. Ngược lại, chỉ toàn thấy bày ra những chiêu trò xuyên tạc, bịa đặt nhằm chống phá lại Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.

Bản chất của lũ “Vịt Tân” này như thế nào thì chúng ta cũng đã rõ cũng chẳng cần bàn cãi gì thêm, nếu như “Việt Tân” mà có tốt đẹp như đúng lời chúng vẫn thường rêu rao thì đã không gọi là tổ chức khủng bố rồi.


Nhận thức sâu sắc phương hướng đối ngoại trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

 Nhận thức sâu sắc phương hướng đối ngoại trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Một là, “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Đây là bước phát triển rất mới trong tầm nhìn chiến lược của Đảng ta, vừa là sự nhìn nhận vai trò quan trọng của đối ngoại, vừa đặt ra những nhiệm vụ rất nặng nề cho giai đoạn tới. “Vai trò tiên phong của đối ngoại” không chỉ có ngoại giao mà cả quốc phòng, an ninh và các binh chủng khác, trong sự phối hợp liên ngành dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Đảng và Nhà nước. Như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 28 (tháng 8/2013): Trong thời bình, công tác đối ngoại sẽ tiếp tục là một mặt trận quan trọng, cùng với quốc phòng - an ninh đóng vai trò tiên phong, góp phần bảo vệ an ninh, độc lập và chủ quyền đất nước.

Hai là, đối ngoại phải “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”. Lợi ích quốc gia - dân tộc đã, đang và sẽ tiếp tục là kim chỉ nam, tiêu chí cao nhất trong triển khai hoạt động đối ngoại. Không những vậy, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII còn xác định đây là một trong những quan điểm chỉ đạo cao nhất nhằm thực hiện tầm nhìn và định hướng phát triển của đất nước. Đồng thời, Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi mà thúc đẩy lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Ba là, Đại hội nêu rõ nhiệm vụ “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả, vì lợi ích quốc gia – dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia”. Độc lập, tự chủ là cơ sở, tạo ra sức mạnh nội sinh để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. “Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng” nghĩa là hội nhập đầy đủ trên các lĩnh vực, các tầng nấc khác nhau với mức độ tham gia, đóng góp thực chất hơn, cam kết và đan xen lợi ích cao hơn. Hội nhập quốc tế cũng phải bám sát, gắn chặt và phục vụ trực tiếp nhiệm vụ phục vụ phát triển với việc “tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế-xã hội”.

Bốn là, tư duy về đối ngoại song phương và đa phương có những bước phát triển mới. Về song phương, chúng ta cần tiếp tục đưa các mối quan hệ đối ngoại song phương đi vào chiều sâu, đồng thời cần “tạo thế đan xen lợi ích” và “tăng độ tin cậy”. Đối ngoại đa phương cần “chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế”, và “trong những vấn đề, các cơ chế quan trọng, có tầm chiến lược đối với lợi ích Việt Nam, phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể”. Đây là bước phát triển quan trọng về lý luận và thực tiễn từ Đại hội XII và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư (8/8/2018). Điều này phù hợp với thế và lực mới của đất nước cũng như những đòi hỏi thực tiễn mới đối với công tác đối ngoại. Tư duy về không gian và các trọng điểm chiến lược của đất nước cũng được thể hiện rất rõ, đó là các nước láng giềng, khu vực tiểu vùng Mekong, ASEAN, châu Á – Thái Bình Dương, các nước lớn và các đối tác quan trọng…

Năm là, đối ngoại được giao trọng trách tham gia cùng quốc phòng, an ninh và cả hệ thống chính trị vào việc bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định của đất nước, giữ nước từ sớm, từ xa. Về an ninh quốc gia, văn kiện nêu rõ “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”. Về bảo vệ chủ quyền, biển đảo: “Tiếp tục thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc và Luật Biển năm 1982. Củng cố đường biên giới hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển; giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến đường biên giới trên bộ với các nước láng giềng”. Đối ngoại cũng phải “tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu, chiến lược về đối ngoại, không để bị động, bất ngờ”.

Sáu là, văn kiện khẳng định sự quan tâm và quan điểm của Đảng và Nhà nước về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Văn kiện nêu rõ “Hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hội nhập xã hội nước sở tại. Nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, quản lý lao động, du học sinh… Tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Làm tốt công tác thông tin tình hình trong nước, giúp đồng bào hướng về Tổ quốc, nhận thức và hành động phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc, có chính sách thu hút nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đây sẽ là phương hướng để xây dựng những chủ trương, chính sách nhằm hỗ trợ, tạo thuận lợi cho bà con hội nhập với xã hội sở tại, đồng thời tiếp tục giữ gìn văn hóa, bản sắc dân tộc và đóng góp vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bảy là, văn kiện nêu: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”. Tính “toàn diện” thể hiện trên các chủ thể, địa bàn, cả song phương và đa phương, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, thông tin đối ngoại, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, bảo hộ công dân…, qua đó phát huy hiệu quả sức mạnh của tất cả các binh chủng. Đặc biệt, nhằm phục vụ mục tiêu phát triển của đất nước, ngoại giao sẽ không chỉ triển khai các nhiệm vụ chính trị lớn ở tầm vĩ mô, mà còn phục vụ trực tiếp các địa phương, doanh nghiệp, người dân, tranh thủ mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện để mở rộng địa bàn, thị trường, tranh thủ nguồn ngoại lực cho phát triển của đất nước. Đây sẽ là trọng tâm lớn của công tác đối ngoại những năm tới. Tính “hiện đại” của ngoại giao được thể hiện ở việc xây dựng ngành, phát triển và nâng tầm phương thức triển khai công tác đối ngoại, tổ chức bộ máy, cơ sở hạ tầng, công nghệ và trang thiết bị… đạt trình độ khu vực và vươn tầm quốc tế, qua đó phục vụ tốt mục tiêu phát triển của đất nước.

Tám là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Văn kiện Đại hội XIII đã nêu “Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, tính chuyên nghiệp, hiện đại, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chủ động thích ứng trước chuyển biến của tình hình”. Qua đó nhấn mạnh phẩm chất, năng lực của cán bộ đối ngoại là yếu tố quyết định, mang tính đột phá nhằm bảo đảm đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ ngày một cao hơn trong tình hình mới.

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là kim chỉ nam cho việc triển khai công tác đối ngoại, thể hiện mạnh mẽ tính kế thừa và tinh thần đổi mới tư duy, phù hợp với thực tiễn, cũng như với với thế và lực mới của đất nước. Tới đây, các cơ quan trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế sẽ tiếp tục phải làm rõ nội hàm đường lối đối ngoại, tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội sâu sát đến các cơ sở Đảng ở trong nước và nước ngoài. Chỉ với bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, đồng lòng nhất trí của toàn hệ thống chính trị và toàn dân, chúng ta mới thực hiện được thắng lợi đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của đất nước trong những năm tới./.

 

NGHỀ BẠC NHƯ VÔI

 Có một nghề được gọi là cao quý, đó là nghề giáo vinh quang. Những người thầy, người cô là những người đầu tiên dạy chúng ta con chữ, chỉ các em đánh vần từ lúc mới vào lớp mẫu giáo. Suốt chặng đường học tập, mỗi con người đều trải qua lớp lớp các thầy cô để hướng dẫn mỗi con người trở thành người có ích cho xã hội. Mỗi học sinh cũng dành nhiều sự tôn trọng cho những người giáo viên nhân dân như một sự biết ơn đối với công lao của họ.


Thế nhưng, ở thời buổi mà Mạng xã hội bùng nổ. Nơi có những hội nhóm của học sinh sinh viên nói xấu với những người mình ghét kể cả thầy cô của họ. Thậm chí những lời nói xấu được công khai, một sự xúc phạm ngành giáo dục không thể tha thứ. Phải chăng, bây giờ quyền lực nào khiến các em dám đứng trên các những người thầy, cô bằng tuổi cha tuổi chú, bằng tuổi bố mẹ mình.

Một số bộ phận học sinh có thái độ coi trời bằng vung. Sẵn sàng thách thức cả giáo viên, điển hình như vụ nữ sinh vừa rồi xưng “ mày – tao ” với giáo viên của mình và giáo viên chỉ biết bất lực rồi đi ra ngoài. Phải chăng sự chiều chuộng của bố mẹ, những văn hoá đồi trụi và những tư tưởng độc hại đã ảnh hướng tới em quá nhiều. Để bộ phận này tự coi mình là những “ bố tướng “ của trường.

Thời đi học, đâu cũng có một vài học sinh bất hảo, thế nhưng giáo viên cầm roi đánh cho mấy phát sau này lại nên người. Bây giờ chỉ mới nhắc nhở đã nhảy dựng hết cả lên và sự bao che, chiều chuộng của phụ huynh cũng là vấn đề đáng nói.

Nhiều người nói tâm lý cô nữ sinh sau sự việc có tâm lý bất ổn. Vậy tâm lý của người giáo viên như thế nào thì chẳng ai nói. Sự việc này sẽ phải được đưa ra xử lý nghiêm, để chẳng còn học sinh nào tự cho mình cái quyền lớn tiếng lên giọng với những giáo viên. Để những học sinh khác không lấy đó làm cái cớ để đứng trên giáo viên làm “ bố tướng “. Tuy nhiên, cũng chỉ nên răn đe cho những hành động bộc phát ở cái tuổi “ ngông “ này.


Hướng tới kỷ niệm 202 năm Ngày sinh Ph. Ăngghen - Nhà lý luận và chiến sỹ cộng sản vĩ đại

 Hướng tới kỷ niệm 202 năm Ngày sinh Ph. Ăngghen -  Nhà lý luận và chiến sỹ cộng sản vĩ đại

 Ph. Ăngghen là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản, người đã cùng Các Mác xây dựng nên lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học và đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Ph. Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 trong một gia đình chủ xưởng dệt ở thành phố Barơmen, vương quốc Phổ (ngày nay là nước Đức). Ông sinh sống, thâm nhập thực tiễn vào phong trào cách mạng ở nhiều nước khác nhau để tìm hiểu cuộc sống người dân. Xuất thân từ một gia đình tư sản, nhưng Ph. Ăngghen đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, Ông là người bạn, người đồng chí gần gũi nhất của C. Mác, đã cùng C. Mác xây dựng nên chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Trong nhiều thập kỷ, Ph. Ăngghen ra sức nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa những tinh hoa tư tưởng của nhân loại, mà trước hết và trực tiếp là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp. Quá trình nghiên cứu lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn phong phú, sinh động của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Từ đó, Ông đã cùng với Mác, xây dựng nên một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, bao gồm triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Cái đặc sắc nhất là hai ông đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phát hiện ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; xây dựng lý luận giá trị thặng dư chỉ ra các quy luật chi phối sự vận động, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Đây chính là vũ khí tư tưởng cho giai cấp công nhân; là những trụ cột của cả một hệ thống đồ sộ!

Rất nhiều tác phẩm cơ bản của chủ nghĩa Mác là do Mác và Ăngghen cùng viết. Tiêu biểu nhất là “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Nhiều công trình nghiên cứu của Ăngghen là sự phát triển những tư tưởng hình thành trong quá trình trao đổi thường xuyên với C. Mác. Về phía mình, nhiều tác phẩm của C. Mác được viết với những ý tưởng và kiến thức của Ăngghen. Lênin cho rằng: “Không thể nào hiểu được chủ nghĩa Mác và trình bày đầy đủ được chủ nghĩa Mác, nếu không chú ý đến toàn bộ những tác phẩm của Ăngghen”. Ăngghen còn sát cánh cùng C. Mác trong truyền bá tư tưởng cách mạng, xây dựng các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân, trở thành lãnh tụ của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân các nước châu Âu ở nửa cuối thế kỷ XIX. Lênin kết luận: “Sau bạn ông là Các Mác, Ph. Ăngghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh”.

Ăngghen được ngưỡng mộ, kính trọng không chỉ bởi trí tuệ của một nhà bác học, lòng dũng cảm, nhiệt huyết của một chiến sỹ cách mạng vĩ đại, mà còn bởi phẩm chất cao cả thể hiện trong tình bạn, tình đồng chí khăng khít, thủy chung, cảm động, hiếm có với Mác. Người tự nhận mình là “cây vĩ cầm số 2” bên cạnh Mác. Lênin khẳng định: “Giai cấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của mình là tác phẩm sáng tạo của hai nhà bác học kiêm chiến sỹ mà tình bạn đã vượt xa tất cả những gì là cảm động nhất trong những truyền thuyết của đời xưa kể về tình bạn của con người”.

Sau khi Mác qua đời, Ăngghen đã tập trung thời gian, công sức để thực hiện một công việc vô cùng nặng nề, hết sức khó khăn, mà chỉ Ông mới có thể làm được, đó là chỉnh lý, biên tập và cho xuất bản tiếp tục các bản thảo còn lại của bộ “Tư bản”- tác phẩm lớn nhất, vĩ đại nhất của Mác. Lê-nin cho rằng, thông qua công việc quan trọng này: “Ăngghen đã dựng cho người bạn thiên tài của ông một đài kỷ niệm trang nghiêm, trên đó Ăngghen cũng không ngờ là đã khắc luôn cả tên mình bằng những chữ không bao giờ phai mờ được”. Ngoài ra, Ông còn tiếp tục truyền bá sâu rộng những tư tưởng của Mác, đấu tranh bảo vệ và phát triển học thuyết Mác...

Từ khi xuất hiện, chủ nghĩa Mác đã luôn bị các trào lưu tư tưởng đối lập phê phán, đả kích. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, các thế lực thù địch coi đây là thời cơ lớn, đẩy mạnh tấn công, xuyên tạc, vu cáo, bác bỏ... Điều này không có gì là khó hiểu! Vì thế, phải bằng tinh thần khoa học và cách mạng, chúng ta tiếp tục đấu tranh bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của mình, phù hợp với tinh thần mác-xít, phù hợp với tính chất, đặc điểm mới của thời đại!

Ngày nay, mặc dù tình hình có nhiều thay đổi so với thời điểm đó, nhưng tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về chủ nghĩa xã hội khoa học, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về công tác xây dựng Đảng vẫn còn nguyên giá trị. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng và hành động cho các Đảng Cộng sản trên thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi “Chủ nghĩa Mác - Lênin là cái cẩm nang thần kỳ”; luôn vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là bằng chứng hùng hồn, khẳng định sự đúng đắn, vai trò và ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà Ăngghen là một trong những lãnh tụ sáng lập. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng và tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, vì vậy việc học tập, noi gương nhân cách người chiến sĩ cộng sản mẫu mực của Ph. Ăngghen càng có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao đạo đức cách mạng của người đảng viên, góp phần giữ vững bản chất cách mạng của Đảng Cộng sản, vì nhân dân mà phục vụ./.

 

Phát triển mạnh hơn, uy tín cao hơn và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

 Phát triển mạnh hơn, uy tín cao hơn và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề văn hóa. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc vào tháng 11 - 1946, Người xác định rõ vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hóa luôn được Đảng ta nhận thức, quán triệt và vận dụng đúng đắn trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đem lại nhiều thành tựu to lớn cho nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm của Đảng luôn xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước bền vững. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định nhiệm vụ quan trọng là phải: Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống Việt Nam và “Lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam vinh dự, tự hào được góp phần vào nền văn hóa chung của dân tộc nét đẹp văn hóa quý báu “Bộ đội Cụ Hồ”.

“Bộ đội Cụ Hồ” là danh xưng cao quý mà nhân dân trao tặng Quân đội nhân dân Việt Nam. “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành truyền thống quý báu, nét đẹp văn hóa của Quân đội và của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Nét đẹp văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” được Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam gọi là nét độc đáo nhất, đặc sắc nhất của văn hóa quân sự Việt Nam. Nét đẹp đó thể hiện trong bản chất, truyền thống tốt đẹp, với những chiến công chói lọi, thành tích vẻ vang xứng đáng là Quân đội Anh hùng của Nhân dân Anh hùng, Dân tộc Anh hùng và trong từng lời nói, việc làm “lúc thường cũng như lúc chiến đấu”. Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” biểu hiện sinh động, phong phú trong thực tiễn cuộc sống và càng trong gay go, quyết liệt, khó khăn, phức tạp thì càng được thể hiện, chứng tỏ nhiều hơn, sâu sắc hơn. Sự hy sinh của những cán bộ, chiến sĩ cứu dân trong bão lũ tháng 10 - 2020 ở Rào Trăng, tỉnh Thừa Thiên Huế là minh chứng hùng hồn cho vẻ đẹp cao thượng sẵn sàng hy sinh thân mình vì sức khỏe, tính mạng của người dân…Trong gian khổ do dịch Covid - 19 gây ra, người dân TP. Hồ Chí Minh cũng như các địa bàn có dịch trên cả nước đã cùng hiểu thêm văn hóa hy sinh, văn hóa cống hiến, văn hóa ứng xử cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Thật xúc động khi chứng kiến sự nhường cơm, sẻ áo, dành chỗ ăn nghỉ tốt nhất cho người dân còn bản thân sẵn sàng vào rừng căng bạt ở của nhiều cán bộ, chiến sĩ.

Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” đã thiết thực góp phần để Quân đội thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Nét đẹp văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” được hình thành, xây dựng, giữ gìn, phát triển cùng với sự ra đời, trưởng thành và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là sản phẩm của sự tự thân vận động, rèn luyện, bồi đắp, xây dựng, trưởng thành của Quân đội với biết bao cống hiến, hy sinh, đóng góp máu xương của các thế hệ quân đội nhân dân qua các thời kỳ. Sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp giúp đỡ của các bộ, ban, ngành, đoàn thể và tình yêu thương, tin cậy, đùm bọc của nhân dân luôn là cơ sở vững chắc, là nguồn động lực to lớn cho việc giữ gìn, phát triển truyền thống văn hóa tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó còn là sự tiếp thu, kế thừa, phát triển những truyền thống, những nét đẹp văn hóa của dân tộc. Như: truyền thống đoàn kết tương thân , tương ái, nhiễu điều phủ lấy giá gương… đã góp phần hình thành tình đồng chí, đồng đội, cán binh như ruột thịt của “Bộ đội Cụ Hồ”, tình đoàn kết quân dân cá nước, “Quân với dân một ý chí” keo sơn, thủy chung, son sắt…

Hiện nay, nét đẹp văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục có ý nghĩa sâu sắc với yêu cầu càng phải được giữ vững, nhân rộng và phát triển phong phú, hiệu quả, phù hợp trong tình hình mới. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương đã phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, tháng 9 - 2020: “Quân đội ta có truyền thồng rất vẻ vang, cả trong chiến đấu lẫn trong công tác và lao động sản xuất, được nhân dân ghi nhận, yêu mến đặt cho cái tên hết sức cao quý, thiêng liêng và trìu mến là “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là điều vô cùng quý giá, rất đáng tự hào…Trách nhiệm của chúng ta là phải tiếp tục củng cố, giữ gìn và phát huy ngày càng tốt hơn nữa những giá trị đó để Quân đội ngày càng phát triển mạnh hơn, uy tín cao hơn và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng sâu sắc, tỏa sáng hơn”.

Để giữ vững, phát huy tốt nét đẹp văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang phải kiên quyết, kiên trì, tự giác rèn luyện phấn đấu từ suy nghĩ, hành động nhỏ nhất. Các cơ quan, đơn vị, tập thể cá nhân cần thực hiện tốt, hiệu quả Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 87 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là yêu cầu, việc làm thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh của mỗi cán bộ, chiến sĩ và tập thể cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Quân đội quyết tâm, Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” sẽ góp phần tích cực giữ vững và phát triển môi trường Quân đội tốt đẹp, tiếp tục là nơi rèn luyện phấn đấu hữu ích, lành mạnh của tuổi trẻ Việt Nam, được bạn trẻ cả nước và gia đình họ tin tưởng, kỳ vọng. Đồng thời Quân đội cũng tiếp tục tin tưởng vào sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự vào cuộc phối hợp chặt chẽ, yêu thương, giúp đỡ tích cực, hiệu quả của cả hệ thống chính trị, nhất là của nhân dân. Đây là yếu tố không thể thiếu để cùng nội lực của Quân đội tạo nên sức mạnh tổng hợp cho Quân đội ngày càng trưởng thành và phát triển mạnh mẽ hơn. Đó cũng là cơ sở để chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh với văn hóa xấu độc, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách xuyên tạc, vu cáo, phá hoại nền văn hóa Việt Nam, trong đó có nét đẹp văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Sự đồng thuận, sức mạnh cộng đồng sẽ là yếu tố quyết định để chúng ta giữ gìn, phát triển nền văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong đó có nét đẹp văn hóa cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

 

Nêu cao tinh thần cảnh giác với những chiêu trò đa nguyên, đa đảng của các thế lực thù địch, phản động hiện nay

 Nêu cao tinh thần cảnh giác với những chiêu trò đa nguyên, đa đảng của các thế lực thù địch, phản động hiện nay

Những ngày gần đây, chiêu trò "đa nguyên, đa đảng" lại được các "đại biểu ưu tú" của các thế lực thù địch, phản động tung lên dồn dập trên các phương tiện thông tin, truyền thông, trên internet, mạng xã hội với thái độ hằn học và giọng điệu thù địch. Chúng ra sức kêu gọi và yêu sách nhân dân ta phải thiết lập một "chế độ dân chủ đa nguyên", coi đó là một "mệnh lệnh" của đất nước hiện nay!

Những lập luận chứng minh sự thật của vấn đề đa nguyên, đa đảng đang được một số người rêu rao ở Việt Nam thực chất chỉ đi ngược lại với ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Việc đòi đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam hiện nay chỉ là mưu đồ của những kẻ xấu, muốn phá hoại đất nước mà thôi.

Thực hiện đa nguyên, đa đảng tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, tranh giành quyền lực giữa các đảng phái đối lập, điều đó làm cho nhân tâm ly tán, đất nước hỗn loạn, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất ổn định chính trị đất nước, kinh tế lâm vào khủng hoảng, đất nước bất ổn và gặp muôn vàn khó khăn, đời sống thậm chí tính mạng của người dân bị đe dọa. Đó sẽ là điều kiện để các thế lực nước ngoài lợi dụng can thiệp, tác động "chia năm xẻ bảy" phá hoại đất nước, thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối. Thực tế lịch sử đã cho chúng ta thấy, Liên Xô trong quá trình cải tổ, cái cách, đổi mới đất nước do không kiên định mục tiêu, thực hiện đa nguyên đa đảng cuối cùng đất nước rơi vào hỗn loạn, các đảng phái đấu đá, tranh giành quyền lực lẫn nhau, nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước, trong khi đó các thế lực bên ngoài không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá và kết quả sự sụp đổ của một chế độ nhà nước là điều tất yếu.

Đa nguyên, đa đảng tất yếu các đảng phái chính trị phải tìm các thủ đoạn để chèn ép lẫn nhau, tìm các thế lực bên ngoài làm chỗ dựa. Và khi đó, việc liên minh chính trị với các nước khác để chống lại các lực lượng chính trị đối lập và có thể phụ thuộc để thực hiện tham vọng chính trị, quyền lực của mình. Thực chất luận điệu đòi thiết lập “chế độ dân chủ đa nguyên”, coi đó là “mệnh lệnh” của đất nước là nhằm hướng lái nền chính trị nước ta sang chính trị tư sản. Điều tệ hại dẫn đến sẽ là: Đất nước diễn ra cảnh hỗn loạn, mất ổn định, đổ vỡ nền kinh tế, rơi vào thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước. Thảm họa đó chắc chắn sẽ giáng cả lên đầu nhân dân. Và nhân dân chỉ là cái cớ cho sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái.

Đất nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay đã gặt hái được biết bao thành tựu to lớn. Đảng lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước và công cuộc đổi mới đó đang gặt hái được những thành công quan trọng. Và điều đặc biệt quan trọng hơn đó là đất nước Việt Nam đang có một nền chính trị ổn định, hòa bình, người dân được tự do làm ăn, sinh sống. Vậy, tại sao lại muốn đổi hướng đi theo con đường khác làm gì? Mà thậm chí chưa biết con đường đó như thế nào? Mục đích của những con người kia là gì? Thực hiện đa nguyên, đa đảng rồi đất nước sẽ đi về đâu, hay lại chìm trong loạn lạc, tranh giành quyền lực, đấu đá, bất ổn như những gì đang xảy ra ở Ukraine, Thái Lan, … và nhiều quốc gia khác nữa.

Rõ ràng, đòi đa nguyên, đa đảng chỉ là mưu đồ xấu của một số người nhằm thực hiện mưu đồ chính trị, tham vọng quyền lực đen tối của mình. Họ muốn thông qua đa nguyên, đa đảng để đất nước có biến, khi đó họ sẽ thừa cơ ngóc đầu dậy, với sự giúp đỡ của bên ngoài để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam để đưa họ lên nắm giữ các vị trí quyền lực để thỏa mãn tham vọng cá nhân của mình. Họ đâu có biết rằng, sống trong điều kiện, môi trường đấu đá, tranh giành quyền lực ấy thì cuộc sống của người dân sẽ ra sao? Đất nước bất ổn thế nào? Và nguy cơ về những cuộc xâm lăng từ bên ngoài ẩn hiện ra sao? Đó thực sự là những vấn đề mà người dân sẽ phải đối mặt khi thực hiện đa nguyên, đa đảng để phục vụ cho tham vọng cá nhân của một số người./.

 

PHƯƠNG PHÁP QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Bài 3: TRAU DỒI TINH THẦN “DĨ CÔNG VI THƯỢNG”


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”. Đó chính là tinh thần “dĩ công vi thượng”.
Giữ được tinh thần “dĩ công vi thượng” sẽ không để những thói hư, tật xấu của chủ nghĩa cá nhân chi phối bản thân mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống; là vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết...”.
"Dĩ công vi thượng” là tiêu chuẩn đảng viên
Làm cách mạng là “một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ” và “mọi công việc Đảng đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết Đảng đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”, nên “dĩ công vi thượng” là yêu cầu có tính nguyên tắc mà đảng viên phải thực hiện.
“Dĩ công vi thượng” là phẩm cách cao quý của người đảng viên cộng sản chân chính, không chỉ thể hiện tính tiên phong, gương mẫu, sự “kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”, mà còn giúp mỗi người khẳng định bản lĩnh chính trị, trí lực, thể lực và tâm lực trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn. “Dĩ công vi thượng” chính là sự mẫu mực nêu gương trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm của người cán bộ, đảng viên, nhất là đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Đó không chỉ là đặt việc công lên trên hết, trước hết; không chỉ là ứng xử với quyết định của tổ chức, với công việc của cơ quan và với mọi người trong tổ chức một cách “chí công vô tư”, mà còn phải là “làm gương cả về ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa”. Mà muốn làm được, thì “phải: quyết tâm, tín tâm, đồng tâm” và nhất định phải “thực hành làm gương nêu ba chữ ấy”.
Sức mạnh của tinh thần “dĩ công vi thượng” không chỉ dừng lại ở việc khơi dậy tiềm năng, trí tuệ, cổ vũ và phát huy sự sáng tạo của quần chúng nhân dân nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, mà còn giúp người cán bộ, đảng viên nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc trong thực tiễn. Để phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, trừ bỏ kẻ địch luôn ẩn nấp trong mỗi người thì bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự rèn luyện, tự bồi dưỡng sức đề kháng, sự miễn dịch cho chính mình. Cùng với việc thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, thì vacine để miễn dịch tốt nhất chống chủ nghĩa cá nhân chính là tinh thần “dĩ công vi thượng”. Vì thế, dù ở đâu hay trong bất kỳ thời điểm nào, chừng nào người cán bộ, đảng viên còn làm việc với tinh thần “dĩ công vi thượng”, còn đề cao tinh thần ấy, cốt cách ấy, thì chừng đó chủ nghĩa cá nhân nhất định được ngăn chặn và bị đẩy lùi.
Thực tế cho thấy, trong những năm nếm mật, nằm gai cùng quần chúng nhân dân đấu tranh để giành chính quyền (1930-1945); trong những cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp (1945-1954) và chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) và trong hơn 35 năm đất nước tiến hành sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đều thấm nhuần sâu sắc những điều răn về đạo đức cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong tác phẩm Đường Cách mệnh (1927), Sao cho được lòng dân (1945), Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (1945), Sửa đổi lối làm việc (1947), Đạo đức cách mạng (1958), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969)... ; đều tận tâm, tận lực phấn đấu, phụng sự sự nghiệp cách mạng với tinh thần “dĩ công vi thượng”.
Đó đều là những người cán bộ, đảng viên chân chính; là những người không chỉ thường xuyên, nghiêm túc trau dồi những phẩm chất đạo đức cao quý của người cộng sản mà còn ra sức phấn đấu, vượt lên mọi khó khăn, thách thức để lãnh đạo quần chúng nhân dân, chia ngọt, sẻ bùi cùng dân chúng, làm nên những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Tinh thần “dĩ công vi thượng” đó không chỉ được đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đề cao trong những năm chiến tranh, mà còn luôn được quán triệt, triển khai trong thời bình: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dù khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân (...) phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”, để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết của quần chúng, nhằm chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, làm cho dân giàu, nước mạnh, phồn vinh, hạnh phúc.
Để “dĩ công vi thượng” trở thành sức mạnh nội sinh
Những nhiệm kỳ gần đây, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh gắn liền với cuộc đấu tranh chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân-nguyên nhân sâu sa của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Tuy nhiên, vì những hệ lụy từ yếu tố kinh tế thị trường, từ sự cám dỗ bởi vật chất, bởi lối sống thực dụng, xa hoa, hưởng lạc, nên vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân.
Những cá nhân, tổ chức liên quan đến vụ án "Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; đưa hối lộ; nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" xảy ra tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á và CDC một số địa phương hay trong vụ án "Nhận hối lộ" để xét duyệt cấp phép cho các công ty thực hiện chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước nhằm trục lợi cá nhân xảy ra tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao... là minh chứng cho thấy họ (cá nhân, tổ chức) đã không làm việc với tinh thần “dĩ công vi thượng”.
Họ đã lợi dụng, lạm dụng quyền lực được trao để trục lợi cho cá nhân, nhóm lợi ích mà không màng đến lợi ích của người dân, gây bức xúc trong dư luận. Họ để chủ nghĩa cá nhân chi phối vì đã không học và làm theo tinh thần các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng như Chỉ thị số 03-CT/TW khóa XI, Chỉ thị số 05-CT/TW khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về "đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"...
Vì thế, để “dĩ công vi thượng” trở thành sức mạnh của mỗi cá nhân, tổ chức và luôn được thực hành tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, cần thực hiện có hiệu quả một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, cùng với việc tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, kiểm tra giám sát cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, Điều lệ Ðảng, kỷ luật Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (bất kể người đó là ai, đang công tác hay đã nghỉ hưu) là việc triển khai cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, để người có quyền không dám, không thể, không cần và cũng không muốn mưu cầu lợi ích riêng. Đồng thời, cũng không để nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát chỉ là hình thức, thậm chí bị vô hiệu hóa, để ý chí cá nhân, “cái tôi” cá nhân áp đặt lên tập thể trong mọi quyết định.
Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ” gắn liền với phát huy vai trò của người đứng đầu, cán bộ quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị...
Hai là, mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ phải kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”, mà còn “cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng, mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách mạng”. Đồng thời, “phải củng cố mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng. Phải đề cao tinh thần kỷ luật, tinh thần nguyên tắc, tinh thần Đảng của mỗi đảng viên”, “nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”, coi đây là nhu cầu tự thân của mỗi người. Đây không chỉ là yêu cầu đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, mà còn khẳng định tính tự giác, sức mạnh nội sinh của mỗi người, bảo đảm để “dĩ công vi thượng” luôn được thực thi trong mọi lĩnh vực.
Ba là, trong từng chương trình, kế hoạch triển khai của mỗi tổ chức và cá nhân về đạo đức, “dĩ công vi thượng” đều phải được soi xét, nói và làm thống nhất trên cả 3 mối quan hệ (đối với mình, đối với người, đối với việc) và phải là một tiêu chuẩn bắt buộc để đánh giá, xếp loại thi đua của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hằng năm. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải tự rèn mình để tránh xa, chống lại sự cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân (trong hoàn cảnh nào cũng không để sự kiêu ngạo, tự cao tự đại, tự mãn trong mình trỗi dậy); đều phải tự soi những khiếm khuyết, hạn chế của bản thân để sửa chữa, đi liền với việc trau dồi, bồi dưỡng những ưu điểm, những điều hay từ những người xung quanh để tiến bộ.
Đối với công việc, không chỉ gương mẫu đi đầu, nói trước, làm trước, thống nhất giữa nói và làm; dám làm, dám chịu trách nhiệm mà trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì việc công cũng được đặt lên trên, lên trước việc tư; lợi ích của Đảng của nhân dân cũng được đặt lên trên lợi ích của cá nhân mình. Bất kỳ công việc gì được Đảng và nhân dân giao phó cũng phải nỗ lực hoàn thành và hoàn thành với tinh thần trách nhiệm cao, với tinh thần vượt khó, không màng danh lợi. Còn đối với người, thì vừa phải chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết, không dối trá, lừa lọc, vừa phải “có lòng bày vẽ cho người”, khoan dung, độ lượng để cùng nhau hợp tác, làm việc và phát triển vì lợi ích chung.
Việc luôn tự soi, tự xét để kiểm điểm bản thân và tự sửa đổi điều dở, phát triển điều hay cũng chính là cách để người cán bộ, đảng viên nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, nhân dân và trau dồi tinh thần “dĩ công vi thượng”!
ST
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH PROMOTE THE LEARNING AND FOLLOWING HO CHI MINH 'S IDEOLOGY, MORALITY, STYLE'
1