Thứ Tư, 26 tháng 10, 2022

Phương pháp quét sạch chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Bài 1: Mài sắc vũ khí tự phê bình và phê bình

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân - vết tích xấu xa của xã hội cũ là kẻ địch “nội xâm”; là thứ vi trùng mẹ “rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc.

Vì thế mà càng nguy hiểm” và “chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: Lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”... Vì thế, quét sạch chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ suốt đời của mọi đảng viên.  

  

Kẻ thù của đạo đức cách mạng 

Cũng vì sự dễ trỗi dậy, lây lan và nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, nên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những cán bộ, đảng viên nếu không tự đề kháng và “miễn dịch” được trước sự cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân thì tất yếu sẽ sa vào cá nhân chủ nghĩa, bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc, sẽ “thoái bộ và lạc hậu”.

Những người do “cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm” là những người “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh, trục lợi, thích địa vị, quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”.

Họ không chỉ thiếu tính tổ chức, kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm mất đoàn kết nội bộ mà còn làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Họ xa rời nhân dân, xem thường quần chúng, chỉ muốn phê bình người khác nhưng không muốn người khác phê bình mình; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh, gây tổn hại đến danh dự và uy tín của Đảng...

Và cũng vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, phải phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân bằng việc thực hiện nghiêm vũ khí tự phê bình và phê bình. Đây là việc làm vừa quan trọng và cần thiết, vừa thường xuyên và lâu dài của những người đảng viên cộng sản, góp phần để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, thật sự “là đạo đức, là văn minh”.

“Vũ khí” để tự cứu mình và giúp người

Trong rất nhiều thang thuốc để phòng, chống và đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thì tự phê bình và phê bình là thang thuốc hữu hiệu nhất. Đó là “vũ khí” để chữa bệnh cá nhân chủ nghĩa/chủ nghĩa cá nhân, nên mỗi người, mỗi tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị (gọi chung là tổ chức) cần phải sử dụng thường xuyên, nghiêm túc như “rửa mặt hằng ngày” để gột rửa sạch những vết tích, tàn dư của chế độ cũ, để trừ bỏ mọi thói hư, tật xấu trong người. Vì tự phê bình và phê bình là “vũ khí” sắc bén, nên cá nhân, tổ chức sử dụng vũ khí đều phải dùng đúng chức năng, công năng, đúng hoàn cảnh, thời điểm... mới bảo đảm đạt hiệu quả cao nhất. 

Cụ thể, theo Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”, “cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn”, “cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”, nên khi tiến hành vừa “phải kiên quyết, ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt” vừa "phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Trong đó, tự phê bình là quá trình tự soi chính bản thân mình, nên khi soi phải đồng thời “nêu ưu điểm và vạch ra khuyết điểm của mình”. Đối với khuyết điểm của bản thân thì phải “thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.

Việc tự đánh giá những ưu điểm và khuyết điểm này sẽ giúp bản thân: Một mặt, thấy được “cái hay”, “cái dở” của mình; mặt khác, làm cơ sở cho những người xung quanh đóng góp ý kiến, nhằm sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Phê bình là để giúp người, nên cũng phải đồng thời “vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm” của đồng chí mình, để có lỗi thì sửa, có ưu điểm thì phát huy. Trong khi phê bình, việc vừa tham gia góp ý kiến và chỉ ra cách thức, biện pháp khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, hạn chế, sai lầm để ngày càng tiến bộ; vừa cổ vũ, động viên đồng chí mình phát huy những ưu điểm, những cách làm hay, những việc làm tốt... sẽ góp phần tạo sự đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động của mỗi tổ chức.

Để “mài sắc” vũ khí tự phê bình và phê bình, thì người phê bình người khác không chỉ phải luôn khách quan, trung thực, công khai, thẳng thắn, chân thành, có tình, có lý mà còn phải cung cấp thông tin, dẫn chứng chính xác, “không đặt điều”, “không thêm bớt” làm cho người được góp ý tâm phục, khẩu phục. Khi phê bình, cần lựa chọn phương pháp thích hợp trong lời nói, giọng nói, cách nói, nhất là phải phát ngôn đúng nơi, đúng chỗ; tránh kiểu ba phải, thành kiến, xu nịnh, dựa dẫm, “thói đạo đức giả” và nhất là tránh dùng lời lẽ mỉa mai, chua cay, “đâm thọc”, gây khó chịu, khó tiếp thu, gây tự ái hoặc hiểu nhầm cho người bị phê bình.

Còn người bị phê bình cũng cần phòng và tránh sự bức xúc, mất bình tĩnh, phản ứng gay gắt dẫn đến to tiếng, phát ngôn thiếu văn hóa hoặc có thái độ thách thức, khiêu khích người đang phê bình mình; nhất là cần tránh việc nhận khuyết điểm nhưng không tâm phục, khẩu phục, nên chỉ nhận qua loa, cho xong chuyện mà không quyết tâm sửa chữa, thậm chí vẫn tiếp tục mắc lại những khuyết điểm cũ. Riêng đối với những ý kiến góp ý chưa đúng, cần phải giải trình thì người bị phê bình cũng nên bình tĩnh, mềm dẻo, khiêm tốn và cầu thị...

Theo Hồ Chí Minh, việc mài sắc “vũ khí” tự phê bình và phê bình chỉ thực sự hữu hiệu khi người phê bình cũng như người tiếp thu ý kiến phê bình của người khác đều có động cơ trong sáng, đúng đắn, với tinh thần “phê bình việc làm, chứ không phê bình người”; khi cả hai người đều thành khẩn, thành tâm, không giấu giếm khuyết điểm của mình cũng như của đồng chí mình; đều phải tự giác nhận và vạch ra khuyết điểm của mình trước tập thể với tinh thần cầu thị, biết lắng nghe, thể hiện sự tiếp thu một cách thiện chí và quyết tâm sửa chữa.

Trong khi thực hiện “vũ khí” này, cả người tự phê bình lẫn người phê bình đều phải tránh động cơ vụ lợi, thành kiến cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi; lợi dụng phê bình để đả kích, cường điệu khuyết điểm, phủ nhận ưu điểm nhằm hạ uy tín, hạ bệ lẫn nhau, gây mất đoàn kết nội bộ. 

Trên thực tế, “vũ khí” tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc chưa được “mài sắc”, chưa được thực hiện nghiêm, bởi trong từng con người, từng đơn vị vẫn còn hiện tượng “sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín” và dùng lý do “sợ mất thành tích của tập thể, của lãnh đạo” để che giấu hoặc bao che khuyết điểm, chạy tội cho đồng chí mình.

Tình trạng nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý” vì sợ mất lòng, “mất phiếu”, ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân cũng như tâm lý sợ bị phê bình nên phải phê bình người khác nhưng phê bình chiếu lệ, một chiều, mang tính hình thức-thực chất là nói để lấy lòng nhau vẫn còn. Vì thế, để “vũ khí” tự phê bình và phê bình sắc bén trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, thì:

Một là, duy trì và thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, hiệu quả “tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến cơ sở” gắn với nhiệm vụ chính trị, với sinh hoạt Đảng. Việc chuẩn bị tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức vừa phải có sự chỉ đạo, kiểm tra chặt chẽ của cấp ủy cấp trên, với phương châm “trị bệnh cứu người”, “thuốc đắng dã tật”, vừa phải được tiến hành chu đáo, nghiêm túc, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phải gắn liền với việc thực hiện các nghị quyết và Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, với các chỉ thị và kết luận của Đảng về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh... để làm cho vũ khí tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, thật sự trở thành vũ khí sắc bén của toàn Đảng, làm cho tự phê bình và phê bình thật sự là một quy luật phát triển của Đảng, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.  

Hai là, vì tự phê bình và phê bình là quá trình tự soi, tự sửa, tự cứu mình và giúp người, vì sự tiến bộ của mỗi cá nhân và sự phát triển vững mạnh của tổ chức, nên “các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa.

Phải như thế Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”, chứ không chờ “có việc” mới tiến hành, có khuyết điểm mới phạt... Phải kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và phát huy dân chủ; đề cao tính tự giác, trách nhiệm, thái độ, phương pháp tự phê bình và phê bình đúng đắn, phù hợp để “vũ khí” này trở thành động lực cho mọi sự phát triển, tạo được sự biến đổi về chất trong nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức Đảng, nhân nguồn sức mạnh nội sinh trong từng cá nhân, trong từng tổ chức lên như cây nảy lộc, đơm hoa, kết trái.

Ba là, gắn tự phê bình và phê bình với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng vừa cẩn trọng vừa kịp thời, nghiêm túc, hiệu quả để đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm. Đồng thời, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cấp ủy, người đứng đầu trong tự phê bình và phê bình theo nguyên tắc tiến hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ cấp uỷ, người đứng đầu đến cán bộ, đảng viên.

Cấp trên gương mẫu tự kiểm điểm trước để cấp dưới noi theo; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp uỷ viên và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo kiểm điểm trước, đảng viên kiểm điểm sau. Trong kiểm điểm, cấp dưới phải mạnh dạn phê bình cấp trên; tổ chức cơ sở đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng, để nguyên tắc tự phê bình và phê bình không chỉ bảo đảm chất lượng, hiệu quả mà còn góp phần làm tăng uy tín của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi tổ chức.

(còn nữa)

TS VĂN THỊ THANH MAI 

Bài 2: Khắc phục các loại “bệnh cá nhân”

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí...

Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”, mà Người còn nhấn mạnh rằng “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”. 

Tự soi để nhận diện các loại "bệnh cá nhân"  

Những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, mang nặng tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trong mình là những người đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường, họ không còn thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không còn gương mẫu, tiền phong, thống nhất giữa nói và làm; không còn xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn. 

 

Họ quên mất rằng “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”, nên, trong họ cái tôi luôn được đề cao. Họ luôn coi mình là trung tâm, có quyền hưởng thụ, chăm chăm tính đếm lợi ích của cá nhân mình và người thân, dòng họ mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Vì thế, khi đã để những chứng bệnh cá nhân chủ nghĩa nảy sinh, thì dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là sống có lý tưởng, vì lý tưởng của Đảng mà hành động.

Họ kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại, chỉ thích “nhìn từ trên xuống” khi phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình. Họ sợ tự phê bình hay bị người khác phê bình sẽ làm mất đi cái uy thế, cái thể diện, cái uy tín của họ, nên “họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh cán bộ ngoài Đảng”. Không dừng ở đó, “họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng”. Thậm chí có những người còn cho rằng mình là “cứu tinh’ của dân, “công thần” của Đảng nên đã “kể công” với Đảng, “muốn Đảng phải “cảm ơn” họ. Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ”. Khi không được thỏa mãn thì họ quay sang bất mãn, “oán trách Đảng”, vì cho rằng mình “không có tiền đồ”, “bị hy sinh”, thậm chí theo đuôi và cổ xúy cho những đối tượng phản động, cơ hội nhằm bôi đen sự thật, chống phá Đảng và chế độ. 

Trong công việc, vì không muốn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và tự cho mình quyền hành động tự do, vô tổ chức, vô kỷ luật, nên họ độc đoán, chuyên quyền và mắc các trọng bệnh là “con đẻ” của chủ nghĩa cá nhân như: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh khai hội, bệnh nể nang, bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh; bệnh cận thị, bệnh tị nạnh, bệnh xu nịnh, a dua, bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, bệnh nóng tính, bệnh lụp chụp... Những chứng tật bệnh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong nhiều bài viết, bài nói và bài phát biểu của mình; và cũng theo Người, những “bệnh cá nhân” này không chỉ gây bức xúc, làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân với những cán bộ, đảng viên đã và đang suy thoái, mà còn đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng.  

Trong quan hệ với quần chúng, họ tự cho rằng “mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng". Họ không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”, nên đóng cửa, ngồi bàn giấy, xây dựng kế hoạch, viết chương trình rồi dùng mệnh lệnh “cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo”, ép dân chúng làm. Vì tự cho mình quyền là “quan phụ mẫu”, nên những cán bộ, đảng viên để chủ nghĩa cá nhân chi phối này thậm chí trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện còn không bàn bạc, không giải thích với quần chúng; không cho quần chúng phát biểu, tham gia ý kiến đóng góp mà chỉ “bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh” của mình. Vì tự cho mình quyền được “ăn trên ngồi trốc”, nên những vị “cha mẹ dân” này không cần biết đến cơ sở, cũng không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, ý kiến xác đáng của quần chúng... khiến “quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.

Tất cả những chứng bệnh nêu trên đều do chủ nghĩa cá nhân sinh ra; đều xuất hiện ở những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tất cả những “bệnh cá nhân” này dường như không chững lại mà còn tiếp tục nảy nở cùng với thời gian. “Chúng” đã, đang và sẽ xuất hiện với những biểu hiện mới, khi công khai, khi ngấm ngầm, song dù ở dưới dạng nào thì “chúng” cũng đều trái với đạo đức cách mạng, trái với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính và vì thế “chúng” đều vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật đảng và các nguyên tắc của một Đảng Mácxít-Lêninnít chân chính, cách mạng. Tất cả những “trọng bệnh” này đều đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tự soi để nhận diện đúng và tự sửa/tự khắc phục bằng những phương pháp hữu hiệu theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh! 

Rèn luyện đạo đức cách mạng thường xuyên, liên tục  

Đấu tranh để trừ bỏ, khắc phục các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân là “tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”. Đó là cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài mà Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên không được nản chí, buông xuôi. Dùng đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để khắc phục những “bệnh cá nhân”, để kiên quyết loại bỏ kẻ địch nội xâm ra khỏi mỗi con người, ra khỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương là nhiệm vụ trọng tâm hiện nay. 

Vì rằng, “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”, cho nên để đấu tranh trừ bỏ, khắc phục những “bệnh cá nhân”, thì: 

Một là, đối với mình: Mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Trong đó, chú trọng việc tự rèn mình, tự sửa mình để phòng, tránh sự kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, vì tự mãn, tự túc sẽ thoái bộ, lạc hậu, sẽ không thể tiến bộ. Đồng thời, phải tìm tòi, học hỏi trong nhân dân; trong đồng nghiệp, đồng chí; trong cấp trên và cả cấp dưới để cầu tiến bộ, để học lấy điều hay của người mà làm giàu tri thức khoa học, nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý của bản thân mình, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Hai là, đối với tổ chức: Quán triệt yêu cầu xây dựng Đảng về đạo đức, nỗ lực “rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” gắn với phát huy vai trò nêu gương theo Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, với Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm... để kiên quyết làm đúng nghị quyết của Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, trọng trách càng cao càng yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích của Đảng, lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên hết, trên tinh thần “đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”. 

Ba là, đối với công việc: Mỗi người đều phải “ra sức học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin”, “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn” và “luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. Trong mọi công việc, trước khi quyết định đều phải nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra rõ ràng, xem xét kỹ lưỡng, vì lợi ích chung. Khi đã triển khai thực hiện thì phải quyết tâm làm và làm đến cùng, chứ không làm nửa vời, được chăng hay chớ; đồng thời, phải phát huy vai trò tiền phong của mình, của đội ngũ cán bộ, đảng viên để khắc phục mọi khó khăn, trở ngại hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình triển khai, không vì thành tích, sự hiếu danh, hiếu vị và tiền tài mà bất chấp tổn hại, bất chấp quy luật khách quan...

Bốn là, đối với nhân dân: Một trong những phương pháp để đấu tranh thắng lợi, trừ bỏ được các “bệnh cá nhân” chính là người cán bộ, đảng viên hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng; tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hǎng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng. Vì thế, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, để giám sát cán bộ, đảng viên ở cơ quan và địa bàn cư trú cũng chính là một trong những “biệt dược” để chữa được các “bệnh cá nhân”. Và cũng vì thế, khi đội ngũ cán bộ, đảng viên hướng về nhân dân, vì nhân dân hết lòng, hết sức phụng sự với tinh thần liêm chính, với phương châm “việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, thì nhất định sẽ không còn sự lợi dụng, lạm dụng quyền lực để tham ô, tham nhũng, lãng phí, cũng như sẽ không còn những cán bộ vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật phải xử lý như thời gian qua.

(còn nữa)

TS VĂN THỊ THANH MAI 

Đấu tranh, bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống

  Văn hóa truyền thống là hồn cốt của dân tộc, được coi như giá trị thương hiệu, quyền lực mềm, vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển bền vững ở Việt Nam.

Tuy nhiên, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, giao lưu, tiếp biến văn hóa của Đảng, Nhà nước, các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi phương thức, thủ đoạn chống phá văn hóa truyền thống, sử dụng không gian mạng để du nhập, cổ xúy cho văn hóa ngoại lai, độc hại. 

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những tinh hoa, giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã được hun đúc, vun đắp và trở thành truyền thống quý báu, đó là: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”(1). Những giá trị văn hóa truyền thống này đã cố kết những người dân nước Việt thành một cộng đồng thống nhất trong mọi hoạt động sống, lao động, bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

  

Những năm gần đây, các thế lực thù địch ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa truyền thống. Sự chống phá này đã tạo ra hệ lụy không hề nhỏ, là một thứ “giặc nội xâm” đã và đang làm băng hoại thuần phong mỹ tục, giá trị truyền thống của dân tộc. Xét về mục tiêu, nội dung và lực lượng tiến hành của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa bao gồm hai điểm chính, đan xen, hỗ trợ và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là:

Thứ nhất: Truyền bá, tiêm nhiễm các sản phẩm van hóa ngoại lai có tính chất xấu độc, làm xói mòn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc để tác động vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất của mỗi người dân; từng bước làm thay đổi các thang giá trị xã hội, đạo đức, lối sống, làm cho một bộ phận nhân dân nhận thức không đầy đủ về trách nhiệm cộng đồng; chạy theo lợi ích vật chất, chỉ biết đến “cái tôi” mà quên đạo nghĩa, quay lưng lại với truyền thống và những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Thứ hai: Từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, coi văn hóa là tự do sáng tạo, không cần tính định hướng và xa rời chính trị; từ lĩnh vực văn hóa chuyển hóa dần sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.

Chúng vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển các lực lượng và phương tiện ở trong nước, tạo ra sự chống đối từ xã hội, từng bước làm cho nhân tố chống đối bên trong phát triển để tập hợp lực lượng phá ta từ bên trong nội bộ Đảng và xã hội ta. Đối tượng tác động mà chúng hướng tới là quần chúng nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ sinh ra trong thời bình, đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách, dễ dàng chạy theo cái mới, bản lĩnh chính trị chưa vững vàng, còn ít kinh nghiệm sống. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, chiêu trò thâm hiểm; đặc biệt là chiến thuật “tâm công” theo phương châm “mưa dầm thấm lâu” để đánh vào lòng người.

Về hình thức và thủ đoạn tiến hành: Trên nền tảng của mạng xã hội, các thế lực thù địch đã thành lập các website, nhiều chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt; lập hàng nghìn blog, trang Facebook, Twitter, YouTube, Zalo... để livestream, tung clip, đăng tải những nội dung xuyên tạc, bài xích; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm trực tuyến hoặc qua tiếp xúc với các cá nhân, cơ quan trong nước. Các kênh phát thanh, truyền hình trên không gian mạng được chúng tạo giao diện như thật, mô phỏng theo các kênh chính thống của Đảng, Nhà nước nhằm lập lờ, lộn sòng đen trắng, nhào nặn trộn lẫn những thông tin đúng-sai, thật-giả, đưa thông tin giật gân, lấp lửng giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người, gây tâm lý bi quan, hoài nghi, hoang mang trong dư luận.

Trong tập hợp lực lượng, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường dùng nhiều thủ đoạn rất nham hiểm, thường qua 4 bước gồm: 1. Đồng cảm: Chúng đóng vai “một người lạ” để tiếp xúc với một bộ phận người dân, những người đã từng vi phạm pháp luật, rồi giả nhân, giả nghĩa, vờ đồng cảm, tự cho mình “đại diện” để nói lên tiếng nói cho họ, rồi kích động người dân đấu tranh với chính quyền để đòi công bằng. 2. Tôn vinh: Chúng vờ coi những người có tư tưởng bất mãn, chống đối ở lĩnh vực văn hóa là những người đúng đắn, cấp tiến, đại diện của nền văn hóa hiện đại, rồi tổ chức tọa đàm, livestream để tôn vinh hoặc trao những “giải thưởng”. 3. Dụ dỗ, mua chuộc: Sau khi vờ đồng cảm và tôn vinh, các thế lực thù địch sẽ tìm mọi cách để dụ dỗ, mua chuộc đối tượng mà chúng hướng tới. Sự dụ dỗ, mua chuộc được thực hiện bằng cả vật chất, tinh thần cũng như những viễn cảnh tốt đẹp do chúng tạo dựng lên. 4. Khống chế: Sau khi bị dụ dỗ, mua chuộc, những đối tượng này sẽ bị các phần tử phản động từng bước khống chế, nói và làm theo ý muốn của chúng.

Để góp phần đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn và luận điệu xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống dân tộc trên không gian mạng, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về mục tiêu, định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để thực hiện tốt biện pháp này, trước hết cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý của các cơ quan, tổ chức trên lĩnh vực văn hóa để đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cấp ủy, tổ chức đảng và tổ chức hành chính các cấp cần xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách phù hợp, chú ý đến tính đặc thù của hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Nâng mức đầu tư một cách hợp lý từ các nguồn lực cho phát triển văn hóa, chú trọng đầu tư vào dòng chủ lưu của văn hóa cách mạng để làm nòng cốt và dẫn dắt, truyền cảm hứng chủ đạo trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tâm hồn, tình cảm trong sáng, lành mạnh, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội.

Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, giáo dục ý thức sử dụng và xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng. Phát triển và ứng dụng dịch vụ internet, không gian mạng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, mang lại nhiều giá trị đích thực. Song, những mặt trái, tiêu cực của không gian mạng cũng đặt ra yêu cầu và thách thức không nhỏ cho công tác quản lý; đòi hỏi cần đẩy mạnh thực hiện những giải pháp công nghệ như: Cung cấp thông tin chính thống; bảo vệ thông tin cá nhân; kỹ thuật dự báo, phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ, khóa tài khoản của đối phương. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, hiệu quả, có tính răn đe cao đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật khi tham gia mạng xã hội. Cấp ủy, tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động trên không gian mạng.

Ba là, chủ động hợp tác quốc tế, thường xuyên trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý mạng xã hội với các nước trên thế giới. Cơ quan chức năng cần chủ động hợp tác quốc tế, nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá trên mạng xã hội của các tài khoản, máy chủ ở nước ngoài để đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam trên mạng xã hội như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá; kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới. Chủ động hợp tác, nắm bắt và yêu cầu các tập đoàn truyền thông như: Google, YouTube, Facebook, Twitter... cần tuân thủ pháp luật Việt Nam khi tham gia hoạt động trên đất nước ta. Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các dịch vụ mạng xã hội để gỡ bỏ các clip, bài viết với nội dung xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống Việt Nam trên không gian mạng.

Văn hóa là sản phẩm của lịch sử và là phương thức tồn tại của một dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam luôn mang trong mình những yếu tố lịch sử, truyền thống, tâm lý gắn với các biểu tượng, phong tục, tập quán của một cộng đồng dân tộc. Nhận diện những luận điệu xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống do các thế lực thù địch tiến hành trên không gian mạng là hết sức cần thiết, góp phần giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo ra sức mạnh vô song để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phồn vinh.

(1) Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021.

Trung tá, TS PHẠM VĂN DUY, Giảng viên Bộ môn Tâm lý giáo dục học quân sự, Trường Sĩ quan Công binh, Binh chủng Công binh

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt, chủ trương nhất quán, đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian qua, nhiều đối tượng phản động đã tìm mọi cách xuyên tạc mục tiêu nói trên, nhằm làm chệch hướng cách mạng Việt Nam…

 

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Song với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị luôn tìm cách xuyên tạc mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH); phá bỏ mục tiêu xây dựng CNXH tại Việt Nam. Chúng rêu rao luận điệu cho rằng: Mô hình CNXH là không tưởng; mô hình CNXH đã sụp đổ ở Liên Xô nên không phù hợp với Việt Nam; trong điều kiện hiện nay, Việt Nam chỉ cần độc lập dân tộc, không cần CNXH…

Đặc biệt, lợi dụng những mặt trái của xã hội, những hạn chế, khuyết điểm trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy công quyền, nhiều đối tượng cơ hội chính trị đã ra sức xuyên tạc bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ đó, đòi xóa bỏ CNXH, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam…

Trước hết cần khẳng định, độc lập dân tộc và CNXH có mối quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau. Độc lập dân tộc là sự không lệ thuộc, không phụ thuộc, không chịu sự chi phối, hướng lái từ bên ngoài; là việc bất khả xâm phạm của quốc gia trên tất cả các lĩnh vực; là quyền tự quyết định tương lai, vận mệnh của chính dân tộc mình. Mô hình CNXH mà chúng ta đang xây dựng là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển… Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng CNXH; CNXH là cơ sở để bảo đảm độc lập dân tộc trên thực tiễn. Do đó, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là điều kiện bảo đảm thắng lợi của cách mạng nước ta.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, quá trình xây dựng CNXH là quá trình lâu dài, chưa từng có trong tiền lệ; đòi hỏi các đảng Cộng sản phải vừa thực hiện, vừa nghiên cứu, điều chỉnh, rút kinh nghiệm. Đã có thời điểm, các đảng Cộng sản phải trả giá cho những sai lầm, khuyết điểm trong xây dựng CNXH mà sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu là ví dụ rõ nét nhất. Song, cần nhận thấy, đây là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể của CNXH đã lạc hậu. Việc Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta tiếp tục kiên định lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển.

 

Trên thực tế, những thành tựu trong hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định rõ tính đúng đắn của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Việt Nam đã đạt được những thành tự to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa, xã hội có bước phát triển mới; đời sống nhân dân từng bước được nâng lên; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được củng cố; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam cũng được thế giới đánh giá cao về hiệu quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Điển hình nhất là công tác phòng, chống dịch COVID-19, bảo vệ sức khỏe của nhân dân trong hơn 2 năm qua.

Trước xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, nước ta cũng phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Bên cạnh đó là hiện tượng tham nhũng, tiêu cực ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Với tinh thần thẳng thắn, Đảng ta xác định, tham nhũng, tiêu cực là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Song, tham nhũng là “căn bệnh chung” của hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phải là “sản phẩm riêng” của chế độ XHCN, không phải là hệ quả của chế độ CNXH như các thế lực đang tìm mọi cách tuyên truyền. Mặt khác, thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã nêu cao quyết tâm chính trị, kiên quyết xử lý nghiêm đối với các trường hợp sai phạm với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu cách mạng, phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân, vì lợi ích của quần chúng nhân dân. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là chủ trương nhất quán, đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH, đòi xóa bỏ CNXH… đều đi ngược lại quyền lợi, lợi ích của nhân dân, dân tộc. Các luận điệu này cần phải bị vạch trần và đấu tranh, loại bỏ./.

Bản lĩnh vững vàng trước thông tin xuyên tạc

 

Lợi dụng xã hội thông tin mở và đa dạng hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động chống phá nước ta.

Chỉ cần mở điện thoại thông minh, lên mạng xã hội là mỗi người chúng ta đã có thể bị tấn công bởi rất nhiều tin giả, tin đồn thất thiệt, xuyên tạc. Do đó, nếu cán bộ, đảng viên không đủ bản lĩnh, không tỉnh táo nhận diện thì rất dễ mắc mưu, dẫn đến những trạng thái tâm lý, những hành động tiêu cực.

Cạm bẫy từ những “bả thông tin”

Tôi quen một bác cán bộ đã nghỉ hưu, từng có nhiều năm công tác và có những đóng góp nhất định tại một bộ nọ. Thời gian gần đây, bác liên tục thể hiện trên facebook một trạng thái tâm lý và những phát ngôn tiêu cực về thực trạng đất nước. Theo cách nhìn của bác thì bất cứ lĩnh vực nào của Việt Nam cũng "rất tệ hại". Với những thành tựu trong phát triển kinh tế thì bác cho rằng số liệu không đúng. Với kết quả rõ ràng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bác lại cho rằng đó chẳng qua là đấu đá trong nội bộ Đảng. Hay kể cả niềm vui sau những thành công vang dội của bóng đá Việt Nam, bác cũng lắc đầu bảo là do ăn may. Quan sát cách cán bộ nghỉ hưu này thu thập, tiếp nhận thông tin, tôi phần nào lý giải được tại sao bác lại có một thế giới quan nhiều màu xám. Ấy là do bác chủ yếu chỉ tiếp nhận thông tin qua mạng xã hội facebook, youtube, những trang thông tin mù mờ trên mạng, hoặc những trang thông tin của các tổ chức, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước. Bác nhầm lẫn cho rằng, những trang thông tin ấy "dám nói thẳng, nói thật" vào những vấn đề mà các cơ quan báo chí chính thống không dám đề cập. Đáng lo ngại là không chỉ các cán bộ đã nghỉ hưu mà ngay cả những cán bộ đang đương chức nếu không tỉnh táo, không có bản lĩnh vững vàng thì cũng rất dễ bị lừa phỉnh, bị ăn phải "bả thông tin".

 


 

Cần bản lĩnh vững vàng trước thông tin xuyên tạc. Ảnh minh họa: dangcongsan.vn 

 

Mấy ngày gần đây, liên quan đến sự việc cơ quan công an bắt bà Trương Mỹ Lan, Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, xuất hiện những tin đồn, những lời xì xầm to nhỏ, những thuyết âm mưu là vụ việc liên quan đến vị lãnh đạo này, quan chức kia, rồi những sự đổ vỡ... Các thông tin được thổi phồng, cắt ghép, khớp nối có vẻ hợp lý, nếu người nghe thiếu hiểu biết, không đủ bản lĩnh thì rất dễ mắc bẫy, sẽ tin vào những thông tin xuyên tạc đó. Khi hỏi những người lan truyền thông tin là họ nghe thông tin từ đâu, thì họ nói rằng nghe trên đài, trên báo. Hỏi kỹ hơn là: “Đài, báo nào?” thì họ kể ra một loạt cái tên, hóa ra lại là toàn các trang mạng điện tử chuyên đưa thông tin phản động, các trang thông tin mù mờ không rõ ràng về nguồn gốc. Mặc dù trên Đài Truyền hình Việt Nam đã có những lãnh đạo đầu ngành trả lời rất rõ ràng về các vấn đề liên quan đến vụ việc này, thế nhưng vẫn có người bán tín, bán nghi, vẫn xì xào về các thông tin mù mờ trên mạng mà mình xem, nghe được.

Những người tiếp nhận và tin theo các thông tin mù mờ trên mạng là hết sức ngây thơ. Bởi họ không biết, hoặc biết không đầy đủ rằng các tổ chức khủng bố, phản động như Việt Tân, Hội anh em dân chủ... thiết lập rất nhiều website, blog, facebook, youtube, mở nhiều diễn đàn, câu lạc bộ nhằm tán phát các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc. Một số cơ quan báo chí của phương Tây như RFA, BBC Việt ngữ, hay các trang thông tin do một số đối tượng có tiền án, tiền sự, chống đối Đảng, Nhà nước ta lập ra như thoibao.de... thường xuyên đăng tải, tung những thông tin sai sự thật, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phạm vi của các thông tin xuyên tạc là rất rộng, các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... đều là "chiến địa" của chúng. Đối tượng công kích của chúng rất đa dạng từ các cơ quan Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành địa phương, cơ quan, đơn vị cho tới các tổ chức chính trị-xã hội, từ lãnh đạo cấp cao cho tới cả các nghệ sĩ, nhà báo, doanh nhân, người nổi tiếng đều có thể trở thành mục tiêu của họ... Đến cả việc Việt Nam vừa trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua phiên bỏ phiếu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc một cách dân chủ, công khai, khách quan, chứng tỏ uy tín cao của Việt Nam trên trường quốc tế thì trên trang facebook của mình, tổ chức Việt Tân vẫn trơ trẽn xuyên tạc rằng kết quả trên chứng tỏ Việt Nam đã hoàn toàn lệ thuộc vào một nước khác (!?)...

Nhìn chung những thông tin xấu, độc đều có một mục đích là bôi đen hiện thực Việt Nam; thổi phồng những hạn chế, khiếm khuyết trong quá trình lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; xuyên tạc về cán bộ, về công tác nhân sự; phóng đại những tiêu cực trong xã hội; bóp méo các chủ trương, chính sách, luật pháp hòng gây rối tình hình đất nước; kích động, chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội... Từ đó tạo ra nhận thức sai lệch về hiện thực theo chiều hướng xấu, hình thành tâm lý chán ghét, phẫn nộ, thậm chí căm thù chế độ và bộ máy chính quyền các cấp.

Thông qua mạng xã hội, các phần tử xấu, cơ hội chính trị cũng điên cuồng chống phá, không từ một thủ đoạn nào, từ xuyên tạc sự thật lịch sử cho đến tìm mọi cách hạ thấp uy tín, bôi nhọ lãnh tụ Đảng ta, bài bác, hòng phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Các thế lực thù địch còn ra sức rêu rao: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là điều kiện cần thiết để thực thi dân chủ ở Việt Nam, để chống tham nhũng có hiệu quả, để bảo đảm đất nước phát triển; rằng lựa chọn con đường cách mạng vô sản, đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm của dân tộc ta...

Thông thường thì những thông tin xấu, độc này lại được đăng tải dưới những chủ đề khá hấp dẫn và thu hút người đọc, bởi nó khơi gợi sự tò mò và tâm lý phản kháng, bất mãn trước những tiêu cực của một bộ phận cán bộ, quan chức. Những thông tin như vậy thường có tính kích động, tạo cảm xúc tiêu cực cho người đọc. Những kẻ thực hiện các thông tin xuyên tạc cũng rất tinh vi trong việc đưa thông tin. Thường thì chúng đưa khoảng 6-7 phần là sự thật, rồi cài 3-4 phần là xuyên tạc, suy diễn với các thuyết âm mưu vào để dẫn dắt người đọc, người xem. Nếu không thận trọng để nhận diện chính xác vấn đề, người đọc sẽ dần dần hình thành niềm tin vào các trang thông tin chống phá Nhà nước, chống phá chế độ.

Đừng tự biến mình thành “cục máu đông”

Trong buổi nói chuyện tại lễ bế mạc Lớp bổ túc trung cấp, được Báo Vệ quốc quân đăng lại trên số 15, ngày 10-10-1947, Bác Hồ ví một tập thể, một tổ chức như một cơ thể và mỗi khâu, mỗi cá nhân là một bộ phận hợp thành cơ thể ấy. Người nói: “Mệnh lệnh cũng như dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà mắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại người sẽ yếu đi”.

Có thể thấy, việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hiện nay cũng như “dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi”, tắc ở bộ phận nào là “bại” ở bộ phận ấy, “bại” ở một bộ phận cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện chủ trương lớn. Do đó, việc rèn luyện bản lĩnh chính trị, đủ tỉnh táo trước các thông tin xuyên tạc, bịa đặt chính là một yêu cầu để cán bộ, đảng viên không tự biến mình thành một “cục máu đông” trong đơn vị, tổ chức.

Trước những thông tin bịa đặt, có những cán bộ, đảng viên suy nghĩ một cách giản đơn rồi chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội hoặc tán phát trong cộng đồng. Vô hình trung những thông tin này có vỏ bọc vững chắc hơn vì nó được nói ra từ những cán bộ, đảng viên có trách nhiệm. Mảnh đất sống màu mỡ nhất của thông tin xấu, độc chính là dư luận. Nếu như không bình tĩnh, tỉnh táo tiếp nhận thông tin thì cán bộ, đảng viên sẽ mắc bẫy và tiếp tay, lan truyền những thông tin xấu, độc của các đối tượng chống phá.

Ngoài ra, còn có một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt lý tưởng, cơ hội, đầy tham vọng quyền lực cá nhân. Những người có thể sẽ phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng, và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, hay cách ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác. Họ rất dễ trở thành "miếng mồi ngon" cho những thông tin xấu, độc và bản thân họ cũng có thể trở thành những tác nhân của thông tin xấu, độc, cả những khiếu nại, tố cáo với mục đích không trong sáng gây nhiễu loạn nội bộ.  

Để tránh những tác hại lan truyền của thông tin xấu, độc, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình hệ miễn dịch trước thông tin xấu, độc, cần nhận thức sâu sắc, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với những giải pháp như sau:

Thứ nhất, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc học tập, kết hợp tự học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, quản lý nhà nước..., hình thành thói quen chỉ tiếp nhận thông tin qua các kênh thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước. Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác và phông nhận thức, hiểu biết, tạo thành bản lĩnh vững vàng trước các thông tin xấu, độc.

Thứ ba, các tổ chức đảng trong sinh hoạt thường kỳ nên lồng ghép những buổi sinh hoạt tư tưởng, nhanh nhạy nắm bắt, phát hiện các thông tin xấu, độc, bịa đặt lan truyền trong xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng để kịp thời có sự định hướng bằng những thông tin đúng đắn, các luận điểm thuyết phục để phản bác, hạn chế sự lan tỏa, ảnh hưởng của các luồng thông tin xấu, độc trong đơn vị.

Thứ tư, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cơ quan nhà nước cần phát huy vai trò của báo chí, truyền thông; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản; tăng tính đấu tranh của báo chí với các thông tin xuyên tạc. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội, trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ năm, các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, nghiêm cấm lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Để những thông tin xấu, độc không còn đất dung thân thì cán bộ, đảng viên phải giữ vững lập trường, quan điểm, giữ gìn đạo đức, lối sống trong sáng, bình tĩnh trong việc tiếp nhận thông tin, kiểm chứng thông tin, thận trọng trong lan truyền thông tin. Đồng thời, việc cung cấp thông tin chính thống kịp thời, đúng đắn, chính xác của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, cơ quan báo chí sẽ có tác động rất lớn giúp cho đảng viên và nhân dân có thêm kiến thức, sự hiểu biết và tư tưởng ổn định, giúp loại bỏ các khoảng trống cho thông tin xấu, độc.

 

Theo QĐND