Thứ Hai, 31 tháng 10, 2022

Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc này là vấn đề cấp thiết. Bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam được ví như “bảo tàng tôn giáo” của thế giới. Điều đó đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đặc sắc. Hiện nay, ở Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo. Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều đó đã quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta. Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Các Hiến pháp của nước ta năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán và xuyên suốt là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Chính phủ có Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phù hợp với yêu cầu của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thời thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Hiện 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Đặc biệt, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam, trong đó có các sự kiện kỷ niệm 500 năm Cải chánh đạo Tin lành (năm 2017), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak (năm 2019), Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019)… Những nỗ lực này của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Chống lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chiêu bài của họ là đối lập tôn giáo với chế độ xã hội chủ nghĩa, tách các tôn giáo khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Họ coi các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo là lực lượng nòng cốt để lôi kéo tập hợp quần chúng làm đối trọng với Đảng, Nhà nước và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc hậu thuẫn cho các lực lượng này hoạt động chống phá đất nước, họ còn phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi "tự do" tín ngưỡng và "tự do" thờ phụng. Nhiều tổ chức tôn giáo không được Chính phủ công nhận và không cấp giấy phép sinh hoạt… Đây là những luận điệu bịa đặt cũ rích được lặp đi, lặp lại với ý đồ chính trị xấu xa. Điều đó không chỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ, gây mất đoàn kết dân tộc và đe dọa ổn định chính trị - xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội. Nhà nước ta bên cạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng nghiêm cấm mọi hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật dù với bất cứ lý do gì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật. Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế./.

Nhận diện một số phương thức chống phá mới của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

 Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng.

Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây.

Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị.

Lợi dụng tình thế đó, chúng sẽ kích động đòi “dân chủ kinh tế”, yêu cầu Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây.

Đồng thời, kêu gọi “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, tạo áp lực về chính trị - xã hội, thậm chí gây bạo loạn, lật đổ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Chúng thực hiện chính sách “thân thiện giả hiệu”, thâm nhập sâu vào hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận rộng rãi với các đối tượng, tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng, kích động, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại.

Chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong.

Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay.

Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta.

Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các thế lực thù địch sử dụng hòng làm chuyển hóa, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là, thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây.

Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học,... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trên cơ sở đề cao “xã hội dân sự”, các thế lực thù địch âm mưu phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN, về đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng xã hội “dân chủ”, “tự do” theo kiểu phương Tây.

Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đây là những vấn đề rất “nhạy cảm”, luôn được chúng triệt để lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo, chống phá ta. Một số nước phương Tây còn áp đặt “dân chủ và bảo vệ nhân quyền” là yếu tố không thể thiếu trong chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế.

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng.

Lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam mũi tấn công nguy hiểm

 

Trong âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam, vấn đề nhân quyền luôn được các thế lực thù địch coi là một mũi tấn công gây sức ép lớn. Nhưng những gì mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Nhiều năm qua, vấn đề nhân quyền đã và đang được các thế lực thù địch sử dụng như một thứ vũ khí, một vỏ bọc cho các hoạt động chống phá, chuyển hóa Việt Nam theo phương thức “diễn biến hòa bình”. Ở Việt Nam, vấn đề nhân quyền còn được các thế lực thù địch, phản động xem như là một mũi tấn công chính, là một trong bốn “đột phá khẩu” nhằm phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.
 
Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt và nguy hiểm. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền để tác động chuyển hóa nội bộ, gây sức ép về chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm thực hiện mục tiêu “chuyển hóa dân chủ” đối với Việt Nam; kích động biểu tình, phá rối an ninh, trật tự, gây bạo loạn nhằm gây mất ổn định chính trị, xã hội và an ninh, trật tự ở Việt Nam; hậu thuẫn, thúc đẩy hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo tiền, điều kiện để chuyển hóa, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.
 
Có thể nhận diện một số thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam:
 
Thứ nhất, lợi dụng sự khác biệt trong quan điểm, nhận thức về vấn đề quyền con người để công kích, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chế độ XHCN Việt Nam, đả kích vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thể chế chính trị Việt Nam. Chúng quy kết học thuyết Mác - Lênin là độc tài, mất dân chủ, vi phạm quyền con người; tuyên truyền công kích vào Hiến pháp, pháp luật và thể chế chính trị, từ đó đòi thay đổi cương lĩnh, đường lối của Đảng, kêu gọi từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
 
Thứ hai, ra sức xuyên tạc thực trạng dân chủ, nhân quyền ở nước ta, triệt để khai thác các vấn đề nhạy cảm, phức tạp như tham nhũng, khiếu kiện, đình công, phân hóa xã hội, tội phạm, tệ nạn xã hội, tình hình dịch bệnh COVID-19, việc bắt, xử lý các đối tượng chống đối chính trị… để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Hàng năm chính phủ một số quốc gia, một số tổ chức quốc tế thường đưa ra những cái gọi là “báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới” (trong đó có phần đề cập đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam), “báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam”, “dự luật nhân quyền Việt Nam”...; ra các tuyên bố, thông cáo báo chí xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền.
 
Thứ ba, lợi dụng tính phổ biến của vấn đề quyền con người, quan hệ quốc tế trong vấn đề quyền con người để tuyệt đối hóa, tuỳ tiện áp đặt các “chuẩn mực” nhân quyền nhân danh “tinh thần thời đại”, “giá trị phổ biến” đối với Việt Nam; đặt ra các “điều kiện”, “tiêu chuẩn” về nhân quyền trong quan hệ ngoại giao, hợp tác kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục... từ đó gây sức ép, tác động chuyển hóa nội bộ Việt Nam, thúc đẩy Việt Nam cải cách thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý theo chuẩn mực, giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản phương Tây.
 
Thứ tư, lợi dụng chiêu bài “thúc đẩy dân chủ”, “bảo vệ quyền con người” để tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần cho các phần tử, tổ chức chống Đảng, Nhà nước Việt Nam ở cả trong và ngoài nước nhằm hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Các cá nhân, tổ chức nước ngoài thông qua tiếp xúc trực tiếp giữa các nhân vật trong chính giới, nhân viên cơ quan ngoại giao, các phái đoàn của chính phủ các nước với các đối tượng chống đối ở cả trong và ngoài nước để hậu thuẫn, khuyến khích chúng tăng cường hoạt động chống nhà nước Việt Nam; thông qua chiêu bài nhân quyền để can thiệp, bảo vệ cho số đối tượng chống đối chính trị bị bắt, xử lý, kêu gọi trả tự do cho các đối tượng…
 
Thứ năm, gắn vấn đề nhân quyền với vấn đề tôn giáo, dân tộc, lợi dụng những thiếu sót, hạn chế trong quá trình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam để kích động hoạt động chống nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài đòi “tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo”, “quyền tự quyết dân tộc”; gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với các tầng lớp nhân dân; kích động một bộ phận quần chúng hoạt động chống chính quyền nhân dân như gây rối an ninh, trật tự, bạo loạn…
 
Có thể thấy rằng, nhân quyền là sản phẩm kết tinh của nền văn minh nhân loại, có ảnh hưởng rộng lớn và ngày càng trở thành mối quan tâm chung của nhân loại. Hiểu một cách chung nhất, nhân quyền là quyền con người, thế nhưng cho đến nay quan niệm, cách hiểu, cách tiếp cận về nhân quyền giữa các quốc gia lại thường không có sự thống Nhân quyền là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp và thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối. Bởi vậy, hơn lúc nào hết mỗi chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn, hiểu đúng, đầy đủ về nó và luôn tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện các luận điệu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống Việt Nam của các thế lực, thù địch, phần tử xấu./..

Một số âm mưu lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá cách mạng Việt Nam

 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013) đã dành chương II với 36 điều hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Pháp luật Việt Nam bảo đảm mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe… không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Liên hợp quốc đã xác nhận: Việt Nam đứng thứ hai trong khối châu Á - Thái Bình Dương và thứ chín trên 135 nước về tỷ lệ phụ nữ làm việc trong Chính phủ. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em. Đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người như: Công ước về Quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc v.v…

Mặc dù vậy, các thế lực thù địch vẫn ra sức xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, đàn áp “những người bất đồng chính kiến” v.v... Chúng giải thích nhân quyền là tự do thực hiện quyền mà không bị cấm đoán, không bị giới hạn (!) nhằm cổ xuý hoạt động lợi dụng nhân quyền vi phạm pháp luật. Các thế lực thù địch còn lợi dụng những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm thổi phồng, bóp méo tình hình thực tế để xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc, tôn giáo hòng kích động quần chúng, tín đồ gây rối, tạo cớ để bên ngoài can thiệp.

Chúng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận lịch sử dân tộc, cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại để từng bước làm mất lòng tin cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Chúng cho rằng việc tồn tại nhiều đảng phái chính trị lãnh đạo xã hội là tiêu chí duy nhất của dân chủ, đồng thời xuyên tạc rằng, chế độ độc đảng là trở ngại lớn nhất trong quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam nên xóa bỏ chế độ độc đảng (!). Thông qua đó, chúng tập hợp lực lượng hình thành các tổ chức dưới danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, “yêu nước”, ra sức tuyên truyền về vai trò của các tổ chức dân sự trong xã hội, qua đó thúc đẩy sự ra đời của các khuynh hướng dân chủ cực đoan, hình thành các tổ chức chính trị, hội nhóm bất hợp pháp, tập hợp lực lượng hình thành các hội nhóm chống chính quyền, tiến tới hình thành các tổ chức chính trị đối lập.

Bọn chúng còn lợi dụng các vấn đề về lịch sử, đất đai và cuộc sống khó khăn của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số để vu cáo Nhà nước “phân biệt đối xử”, “đàn áp người dân tộc thiểu số”, ép người dân tộc thiểu số phải “bỏ văn hoá dân tộc”, “hoà nhập với cuộc sống văn minh” của người Kinh…(!), triệt để lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, giải quyết khiếu nại tố cáo… ở vùng dân tộc thiểu số để mua chuộc, lôi kéo gây mất ổn định trên địa bàn.  Từ đó, chúng tìm cách kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc đòi “quyền dân tộc tự quyết, tự quản”, đòi thành lập nhà nước riêng như: “Nhà nước Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Khmer Krom” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc... Các tổ chức phản động lưu vong còn tìm cách gây sức ép đòi Nhà nước Việt Nam phải trao “quyền tự quyết, tự quản” cho người Khmer, người Thượng… ở trong nước, thậm chí kích động, lôi kéo người dân tộc thiểu số biểu tình, bạo loạn, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự xã hội như đã từng xảy ra ở Tây Nguyên, Điện Biên.

 Từ phía bên ngoài, Hoa Kỳ và các nước đồng minh luôn gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam, gây sức ép buộc Việt Nam phải có những “tiến bộ cụ thể về nhân quyền, tôn giáo”, yêu cầu Việt Nam phải đưa ra các lộ trình thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, thành lập Tòa án Hiến pháp...

Các thế lực thù địch còn tác động tới Quốc hội Mỹ, EU và các nước phương Tây thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên v…v… với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, điển hình như: Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Mỹ, Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới hàng năm của Anh, Úc, Nghị quyết của Nghị viện châu Âu...v...v... Hạ viện Mỹ đã thông qua nhiều dự luật, nghị quyết về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Các báo cáo thường niên của các tổ chức quốc tế như: Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Nhà Tự do (FH), Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ), Tổ chức Ân xá quốc tế (AI)... mặc dù phải thừa nhận Việt Nam có “chuyển biến tích cực” về dân chủ, nhân quyền nhưng vẫn xuyên tạc tình hình thực tế trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm dân chủ, nhân quyền. Ngoài ra, các thế lực bên ngoài còn tác động các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ, Anh, Đức… tổ chức các buổi điều trần, hội thảo nhằm xuyên tạc, vu cáo hoặc thổi phồng các sự kiện thực tế trong nước để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, dân tộc, hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.

Họ dùng dân chủ, nhân quyền làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Họ tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đòi Việt Nam chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, cải cách dân chủ, pháp luật theo cách phương Tây muốn.

Nhận diện một số âm mưu thủ lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống Việt Nam

 Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống Việt Nam là một trong những thủ đoạn trọng tâm, thâm độc mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện, nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Qua đó, chúng hòng phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Đấu tranh phòng, chống thủ đoạn này của các thế lực thù địch là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống chính trị (HTCT) nước ta hiện nay, trong đó có HTCT cơ sở. 

Gần đây, các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước ráo riết thực hiện thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng nước ta. Chúng tập trung vào việc kích động đòi ly khai, tự trị, tấn công trực diện vào hệ HTCT ở cơ sở - nền móng, nền tảng của HTCT, chế độ XHCN ở nước ta, hòng làm suy yếu HTCT và chế độ ta. Thể hiện cụ thể:

Một là, lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện đường lối, của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo ở một số địa phương để kích động, gây bức xúc trong đồng bào dân tộc thiểu số, các tín đồ tôn giáo với Đảng, Nhà nước; gây mâu thuẫn, chia rẽ, thù hằn dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Điển hình là những vụ việc không chấp hành quy định phòng, chống dịch củacấp ủy, chính quyền địa phương, khuyến cáo hạn chế các hoạt động tập trung đông người, các sinh hoạt tôn giáo không quá 30 người, song ở một số nơi đã tiến hành các hoạt động tôn giáo với hàng trăm tín đồ. Được chính quyền địa phương nhắc nhở, một số đối tượng đã quay phim, chụp hình gửi cho các tổ chức phản động để xuyên tạc, vu khống chính quyền đàn áp, ngăn cản tín đồ hoạt động tôn giáo... Hành động của bọn chúng nhằm gây bức xúc, mâu thuẫn giữa đồng bào dân tộc, tín đồ tôn giáo với cấp ủy, chính quyền địa phương, với Đảng, Nhà nước ta; gây mâu thuẫn, thù hằn giữa các dân tộc, tôn giáo; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. 

Đảng, Nhà nước, các cấp ủy địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo vạch trần các thủ đoạn, phản bác hoạt động phá hoại của bọn chúng; HTCT cơ sở đã tuyên truyền trong đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực phản động, bảo đảm an ninh, trật tự ở địa phương, sự tin tưởng của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương.

Hai là, lợi dụng phong tục, tập quán lạc hậu, trình độ còn hạn chế của một số đồng bào dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo để truyền đạo trái pháp luật; dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, ép buộc đồng bào chống đối chính quyền, vượt biên trái phép, tạo các “điểm nóng” gây mất ổn định về chính trị, an ninh, trật tự.

Ba là, lôi kéo, kích động đồng bào dân tộc thiểu số đòi thành lập “tôn giáo riêng”

Những năm qua, ở một số nơi tại Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực phản động đã tăng cường hoạt động nhằm thành lập một số “tôn giáo riêng” của người dân tộc thiểu số như “Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên, đạo “Tin lành riêng của người Mông”, “Phật giáo riêng của người Khmer”… hòng “tôn giáo hóa” một số vùng dân tộc thiểu số và mục tiêu quốc tế hóa vấn đề “Vương quốc Khmer Krôm”, “Vương quốc Chăm”, “Nhà nước Mông”, “Nhà nước Tin lành Đề-ga”, âm mưu ly khai các vùng này ra khỏi đất nước và cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Bốn là, tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc, kích động tín đồ tôn giáo đòi lại đất đai có nguồn gốc tôn giáo mà từ nhiều năm nay đã và đang phục vụ sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân, gây nên tình hình phức tạp ở một số địa phương.

Năm là, các tổ chức nhân quyền quốc tế dưới sự điều hành của các thế lực phản động, thù địch thường xuyên đưa ra những báo cáo, đánh giá xuyên tạc, vu cáo sự thật về dân chủ, nhân quyền ở nước ta, đòi đưa nước ta vào danh sách “những nước vi phạm nhân quyền nghiêm trọng”.

Tổ chức Theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW) đã lợi dụng sự kiện một số đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng nước ta xử lý để tung ra những luận điệu xuyên tạc dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Họ vu cáo: “Việt Nam đàn áp các nhà hoạt động nhân quyền và đưa ra nhận định sai trái, thù địch, kích động, như: “người dân Việt Nam chưa bao giờ có tự do, dân chủ, nhân quyền”; viện dẫn một số vụ việc gây rối ở một số nơi như Nghệ An, Hà Tĩnh… bị cơ quan chức năng xử lý, nhưng mơ hồ về thực chất vụ việc và cố tình xuyên tạc bản chất vụ việc nhằm phục vụ âm mưu của bọn chúng.  

Một số phần tử cơ hội chính trị trong nước liên kết với bọn phản động ở nước ngoài thành lập các tổ chức, như: “Quỹ người Thượng”, “Hội người Mông thế giới”; “Hội văn hóa cổ truyền người Mông”; “Liên hiệp người Dao Mỹ”; “Trung tâm nghiên cứu Thái học”; “Hội người Thượng Đề-ga (MDA)”, “Hội những người miền núi (MFI)”, “Hội bảo vệ nhân quyền (MHRO)”; “Văn phòng Chămpa quốc tế - IOC”… nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn phá hoại của bọn chúng.

QUỐC CA VIỆT NAM ĐƯỢC BÌNH CHỌN LÀ BÀI HÁT QUỐC CA HÀO HÙNG NHẤT THẾ GIỚI!

         Website cracked đưa tin sau khi lấy ý kiến của người đọc, Quốc ca Việt Nam - bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao, đã xếp thứ nhất trong số các bài quốc ca hào hùng nhất thế giới. Đây là trang tin của Mỹ chuyên thực hiện những thống kê thú vị về lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, xã hội,… trên Thế Giới với hàng triệu lượt độc giả mỗi ngày.
     Cảm xúc thiêng liêng, tự hào khi chào cờ Tổ quốc, hát Quốc ca là một thứ tình cảm thân thuộc và rất đỗi bình thường đối với mỗi con người, ở bất cứ quốc gia nào, dù phương Đông hay phương Tây.
Thực hiện cuộc khảo sát của cracked. com, độc giả đã bình chọn sáu bài quốc ca hào hùng nhất:
1. Tiến quân ca (Việt Nam)
2. La Marseillaire (Pháp)
3. Independence march (Thổ Nhĩ Kỳ)
4. Himnusz (Hungary)
5. Il canto degli Italiani (Ý)
6. Qasaman (Algeria)./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

THẨM THẤU GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO, NHÂN VĂN CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI!

         Lịch sử nhân loại đã chứng minh lý tưởng xã hội chủ nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga là lý tưởng phù hợp với quy luật vận động khách quan; chủ nghĩa xã hội là giá trị nhân văn cao cả của nhân loại. Hàng tỷ người trên hành tinh đang đi theo con đường mà Cách mạng Tháng Mười đã mở ra với những thành tựu đáng tự hào và tương lai xã hội chủ nghĩa tươi sáng càng khẳng định giá trị và sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội.
     Trong dòng chảy lịch sử nhân loại, chủ nghĩa xã hội hiện thực ngày càng thể hiện rõ tính ưu việt, bản chất nhân đạo, nhân văn của chế độ xã hội mới. Điều đó không chỉ thể hiện sinh động trong thực tiễn xây dựng xã hội mới, thể hiện ở việc bảo đảm quyền làm chủ và không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của các tầng lớp nhân dân; mà còn thể hiện ở những đóng góp to lớn của chủ nghĩa xã hội hiện thực đối với loài người, đối với giai cấp cần lao, các dân tộc và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới, đối với tiến trình phát triển của lịch sử của thế giới hiện đại. Nhân loại tiến bộ đã thấy, chính Liên xô, đất nước của Cách mạng Tháng Mười, đã cùng với các lực lượng hoà bình, tiến bộ, là lực lượng quyết định tiêu diệt chủ nghĩa phát xít; chính Liên xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa là trụ cột của hoà bình và cách mạng, làm nguội đi những cái đầu hiếu chiến của các thế lực đế quốc, bảo đảm nền hoà bình của thế giới trong nửa cuối thế kỷ XX. Không có Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa xã hội hiện thực thì các giai cấp lao động và các dân tộc trên thế giới vẫn chìm đắm trong sự áp bức, nô dịch của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Và, trong thế kỷ qua, nếu như chủ nghĩa tư bản có sự tiến bộ nào đó về mặt xã hội, thì đó cũng là kết quả của quá trình đấu tranh bền bỉ, liên tục của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước tư bản và sự tác động, ảnh hưởng bởi những giá trị nhân đạo, nhân văn, những giá trị vì con người của chủ nghĩa xã hội hiện thực thế giới.
     Những luận điệu vu cáo trắng trợn của các thế lực thù địch là nhằm xoá bỏ những giá trị nhân văn, nhân đạo của chủ nghĩa xã hội, thủ tiêu chủ nghĩa xã hội hiện thực; che lấp bản chất xấu xa, phản động và tội ác của chủ nghĩa đế quốc đối với loài người, biện minh cho chính sách xâm lược, nô dịch và bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc trên thế giới. Song, những thành tựu và công lao của chủ nghĩa xã hội từ khi Cách mạng Tháng Mười thành công đến nay đối với nhân loại thật là vĩ đại và vô cùng to lớn; khẳng định những giá trị tốt đẹp, những giá trị nhân đạo, nhân văn của chủ nghĩa xã hội hiện thực và tính ưu việt, tiên tiến của nó trong sự phát triển của lịch sử nhân loại mà không một thế lực thù địch nào có thể phủ nhận được./.


Môi trường (Yêu nước) ST.

NÂNG CAO BẢN LĨNH, NĂNG LỰC CÁN BỘ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng trong hoạt động lãnh đạo và xây dựng nội bộ Đảng trong mỗi nhiệm kỳ đại hội và là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Mong muốn của toàn Đảng, toàn dân là phải lựa chọn được những cán bộ, đảng viên có đức, có tài giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt các cấp để tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi mới thành công. Tài, đức của người lãnh đạo thể hiện cụ thể ở bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác và điều này phải được xác định cụ thể để không chỉ để những người tham gia quá trình nhân sự đại hội phải nắm chắc, đánh giá đúng, bầu cử trúng những người xứng đáng vào cơ quan lãnh đạo của Đảng mà còn để tổ chức đảng giáo dục, rèn luyện cán bộ và để mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện thường xuyên. Bản lĩnh chính trịlà sự tổng hợp biện chứng của lập trường chính trị, phẩm chất chính trị và năng lực chính trị, là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho mỗi cán bộ, đảng viên có định hướng chính trị đúng đắn, luôn làm chủ bản thân, làm chủ hoàn cảnh thực tiễn và kiểm soát được hành vi, thái độ của mình trong mọi tình huống. Đó là sự trung thành với lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc và nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu, lý tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; kiên định những nguyên tắc xây dựng Đảng. Bản lĩnh chính trị thể hiện ở lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trong bất cứ tình huống nào. Trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, nhiều thông tin trái chiều tác động từng ngày, từng giờ đến cán bộ, đảng viên và nhân dân, đòi hỏi người cán bộ phải giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, luôn tỉnh táo, chắt lọc, đủ bản lĩnh để loại bỏ những thông tin xấu độc, không a dua, phát tán, tuyên truyền cho kẻ địch. Đồng thời, cán bộ phải phát huy dân chủ, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng; chủ động, tự giác cùng tập thể cấp ủy, chi bộ đấu tranh bằng nhiều hình thức để phòng, chống có hiệu quả chủ nghĩa cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ, bè phái, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Bản lĩnh chính trị còn thể hiện ở tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm và khát vọng xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh, phồn vinh, luôn đặt lợi ích của Đảng, quốc gia - dân tộc, nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; có tinh thần sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Là người cán bộ cách mạng, bản lĩnh chính trị thể hiện ở sự yên tâm công tác, chấp hành nghiêm sự phân của của tổ chức và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Phẩm chất đạo đức là cách thức ứng xử của mỗi cán bộ, đảng viên trong các mối quan hệ: với mình, với việc và với người khác theo những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của xã hội và những chuẩn mực đạo đức mới - đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên như Bác Hồ đã dạy. Với trọng trách của người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, cần phải có phẩm chất đạo đức thật sự trong sáng, có sức lan tỏa trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, nơi cư trú và ngoài xã hội; phải có lối sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, giản dị; thực sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Là người được giao những trọng trách quan trọng của một địa phương, cơ quan, đơn vị, cán bộ chủ chốt phải thực sự là người tâm huyết và có trách nhiệm với công việc, luôn chăm lo đến đời sống mọi mặt của nhân dân. Yêu cầu đặc biệt đối với cán bộ chủ chốt là không tham vọng quyền lực, không háo danh; có tinh thần đoàn kết, xây dựng, gương mẫu, thương yêu đồng chí, đồng nghiệp. Với trọng trách phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí trong cơ quan, đơn vị, bản thân họ phải trước hết phải là người trong sáng, không tham nhũng, quan liêu, cơ hội, vụ lợi và có quyết tâm chính trị rất cao trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Với vai trò là trung tâm đoàn kết trong cơ quan, đơn vị, người cán bộ chủ chốt luôn gương mẫu tuân thủ và thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Đặc biệt, không được bè phái, không để cho lợi ích nhóm chi phối, dẫn dắt hoạt động lãnh đạo của mình để rồi vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Với trách nhiệm nêu gương, người cán bộ chủ chốt phải hết sức tránh tình trạng nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo, hứa suông, hứa hão không thực hiện và không thể thực hiện được, thậm chí nói đúng, nói giỏi nhưng không hẳn đã tin điều mình nói và không làm theo điều mình nói. Là người lãnh đạo chủ chốt, có rất nhiều mối quan hệ gia đình, bạn bè, dòng tộc nên phải hết sức tránh sự chi phối tiêu cực, kiên quyết không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. Đồng thời, phải thực sự công bằng, chính trực, nhất là trong công tác cán bộ, thực tâm thu hút, trọng dụng, khuyến khích người tài. Năng lực công tác của cán bộ lãnh đạo chủ chốt là khả năng tư duy khoa học, có tầm nhìn xa, trông rộng, có phương pháp làm việc khoa học và năng lực tổng hợp, phân tích, dự báo tình hình để có quyết định hoặc đề xuất để tập thể lãnh đạo quyết định kịp thời, sáng suốt, đúng đắn nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Trong tình hình hiện nay, đòi hỏi cán bộ chủ chốt phải thực sự chủ động, nhạy cảm và có khả năng phát hiện những mâu thuẫn, thách thức, thời cơ, thuận lợi, vấn đề mới, khó và những hạn chế, bất cập trong thực tiễn; mạnh dạn đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, khả thi, hiệu quả để phát huy, thúc đẩy hoặc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Năng lực công tác còn đòi hỏi cán bộ chủ chốt phải có kiến thức lý luận, nắm chắc đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nắm chắc và hiểu biết cơ bản tình hình thực tế để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Năng lực công tác còn được đánh giá ở cả một quá trình công tác liên tục đã qua với khả năng lãnh đạo, chỉ đạo, kinh nghiệm thực tiễn, những thành tích, kết quả công tác nổi trội ở lĩnh vực, địa bàn công tác được phân công, được cấp trên, đồng nghiệp và nhân dân thừa nhận. Cùng với việc rèn luyện đức tính cần cù, chịu khó, cán bộ chủ chốt còn phải thực sự năng động, có tư duy đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đồng thời phải thực sự là người tiên phong, gương mẫu, có khả năng truyền cảm hứng, quy tụ và phát huy được sức mạnh tổng hợp của tập thể cũng như năng lực sở trường của mỗi cá nhân trong công việc. Có nhiều giải pháp và cần phải thực hiện đồng bộ để nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, song trong tình hình hiện nay và cả nhiệm kỳ đại hội XIII của Đảng, các cấp ủy đảng và từng cán bộ đảng viên phải chú trọng thực hiện một số giải pháp cơ bản sau đây: Thứ nhất, nâng cao nhận thức về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ mới. Thấm nhuần quan điểm “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, nhất quán quan điểm: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững". Chính vì vậy, Đảng đã xây dựng Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ năm 1997 và thường xuyên tổng kết việc thực hiện, hoàn thiện các quan điểm, đề ra mục tiêu và nhiều chủ trương đúng đắn, chú trọng việc triển khai thực hiện đạt được nhiều kết quả, góp phần cùng nhân dân cả nước giành được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử và có thể tự hào vì chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, vị thế, tiềm lực và uy tín như ngày nay. Đồng thời, Đảng ta vẫn đặc biệt chú trọng tập trung “xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Những chủ trương, quan điểm nhất quán về xây dựng đội ngũ cán bộ cần được từng cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên thấm nhuần sâu sắc và nhận thức đúng đắn đó phải được thể hiện bằng những đề án, kế hoạch cụ thể trong từng khâu của công tác cán bộ để chỉ đạo thực hiện thành công. Thứ hai, coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên, tạo nguồn cho cán bộ chủ chốt các cấp. Để có đội ngũ cán bộ tốt, công tác cán bộ phải được triển khai bài bản, có kế hoạch, có lộ trình nhằm đào tạo được một đội ngũ cán bộ các cấp một cách toàn diện về chính trị, tư tưởng, chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cách mạng, phong cách công tác, v.v.. theo đúng tiêu chí, tiêu chuẩn, chức danh quy định. Phải thấm nhuần lời dạy của Bác “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Năng lực của cán bộ là sự kết tinh của nhiều yếu tố: trí tuệ, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn,… được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện gian khổ; trong đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng có vai trò quan trọng. Việc học tập, quán triệt, bồi dưỡng, nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước không chỉ tạo cho cán bộ tầm nhìn, phương pháp tư duy khoa học, cách làm đúng đắn, sáng tạo mà còn có khả năng “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” với những cám dỗ tiêu cực từ cơ chế kinh tế thị trường, với những thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Các cấp ủy phải tiến hành đồng bộ, từ việc nâng cao nhận thức tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, nâng cao năng lực công tác, phương pháp làm việc, tác phong công tác; phối hợp nhiều lực lượng cùng tham gia. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần bám sát và theo đúng các nghị quyết, quy định của Đảng như: Quy định số 54 của Bộ Chính trị ngày 12/5/1999 về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng; Quy định số 164-QĐ/TW ngày 1/2/2013 của Bộ Chính trị về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Kết luận số 57-KL/TW ngày 8/3/2013 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Kết luận số 117-KL/TW ngày 20/11/2015 của Ban Bí thư về công tác đào tạo, bồi dưỡng tại các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương... Thứ ba, thực hiện luân chuyển để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Luân chuyển cán bộ là việc cử có thời hạn cán bộ trẻ, có năng lực, triển vọng, trong quy hoạch từ Trung ương về địa phương, từ cấp trên xuống cấp dưới và giữa các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị nhằm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách cán bộ và làm cơ sở lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ. Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ gắn kết với việc đảm thực hiện chủ trương đào tạo, bồi dưỡng toàn diện và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ; tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện thực tiễn; tạo nguồn cán bộ lâu dài cho đất nước,nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các ngành, các cấp, cơ quan, đơn vị và cán bộ cấp chiến lược. Luân chuyển cán bộ không chỉ là cách thức để đào tạo cán bộ mà còn khắc phục tình trạng khép kín trong công tác cán bộ và tránh những tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm, quan hệ dòng họ, thân quen,... trong công tác cán bộ, nhất là bổ nhiệm bố trí người nhà, người thân vào các vị trí quan trọng của hệ thống chính trị - vấn đề hết sức nhức nhối hiện nay. Các cấp ủy cần có kế hoạch, lộ trình để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ và luân chuyển cán bộ, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, công bằng; ngăn chặn tiêu cực, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Thứ tư, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng trong giáo dục, rèn luyện cán bộ. Tổ chức cơ sở đảng là nơi giáo dục, rèn luyện, kết nạp và sàng lọc đảng viên, nơi đào tạo cán bộ cho Đảng, nơi xuất phát để cử ra các cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng. Cấp ủy đảng, ban thường vụ cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự, nhất là chi bộ đảng phải có trách nhiệm kiểm điểm, phê bình từng thành viên của mình trong thực hiện nhiệm vụ mà tổ chức đảng giao cho. Vì thế, cần phải thực sự coi trọng và phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng trong việc giáo dục, rèn luyện cán bộ đảng viên. Những khuyết điểm của nhiều cán bộ, đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý trong những năm qua đều có nguyên nhân thiếu sự quản lý của tổ chức đảng. Những khuyết điểm của nhiều cán bộ, đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý trong những năm qua đều có nguyên nhân thiếu sự quản lý của tổ chức đảng. Thể hiện ở sự yếu kém trong kiểm tra, giám sát, trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, né tránh thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, thậm chí dân chủ hình thức hoặc mất dân chủ đến mức thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh dẫn đến khuyết điểm của đồng chí mình trầm trọng hơn. Đây là những vấn đề căn cốt mà từng tổ chức đảng cần phải sửa chữa, khắc phục ngay vì không ai có thể làm thay được. Thứ năm, đề cao vai trò tự giác tu dưỡng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống, năng lực công tác của cán bộ, đảng viên. Tự học tập, tự giác tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ là phương thức chủ yếu và trực tiếp để họ tự mình nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực công tác đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đảng viên có cương vị lãnh đạo trong hệ thống chính trị phải gương mẫu học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nghiêm khắc với bản thân mình. Tự giác thực hiện các quy định của Đảng về nêu gương, nhất là Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Những giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng và có trình độ chuyên môn cao, xứng tầm với nhiệm vụ của thời kỳ mới đòi hỏi phải được thực hiện đồng bộ, thường xuyên, chú trọng hiệu quả trong từng khâu của công tác cán bộ./.

Nâng cao bản lĩnh chính trị chống diễn biến hoà bình của thế lực thù địch đối với lực lượng vụ trang

Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc mang tính toàn cầu, là chiến lược phản cách mạng, phá hoại toàn diện trên các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quân sự, không giới hạn thời gian, không gian, nhằm đẩy đối phương suy yếu, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, rối loạn nội bộ rồi tự sụp đổ. Các thế lực thù địch đã tiến hành các nội dung, biện pháp, thủ đoạn hết sức tinh vi, vô cùng xảo quyệt. Đặc biệt chúng tận dụng triệt để những thay đổi của tình hình thế giới để chống phá. Trong đó, chống phá về chính trị - tư tưởng là trọng tâm; đồng thời, coi trọng và đi sâu chống phá nội bộ Đảng cộng sản, chính quyền, chuyển hóa đội ngũ cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, “phi chính trị hóa quân đội và công an”. Trong tình hình hiện nay, Âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, tuy chưa thể làm cho Quân đội ta “biến chất”, mất phương hướng và mục tiêu chính trị, nhưng tác động của nó vô cùng nguy hiểm. Bởi vì, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch đã và đang ít nhiều có ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị - tinh thần của Quân đội ta, đến tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, chiến sĩ. Để phòng chống “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay, cần làm tốt những giải pháp cơ bản sau: Một là: Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và từng đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của bộ đội, V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Do đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta đều bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Quân đội và Nhân dân ta. Hơn nữa, vấn đề cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng đã tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của Quân đội ta. Do đó, phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Yêu cầu bản lĩnh chính trị của bộ đội hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, có niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Phải luôn nhạy bén về chính trị, ứng xử kịp thời và đúng đắn các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân đội và từng đơn vị. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ. Để nâng cao bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Xây dựng bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho bộ đội phải triệt để quán triệt vào trong quá trình giáo dục huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác. Trong đó, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị là vấn đề rất quan trọng. Giải quyết tốt giữa toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các khu trọng điểm. Nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho bộ đội. Đồng thời, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng và các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ trong từng đơn vị và giải quyết kịp thời đúng đắn, dứt điểm những diễn biến chính trị, tư tưởng phức tạp, những vấn đề mới nảy sinh, tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Hai là: Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu, luyện tập thành thạo các phương án không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra. Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, luyện tập và thành thạo các phương án chiến đấu là một trong những nhân tố bảo đảm cho các đơn vị trong quân đội đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đồng thời, đây còn là giải pháp trực tiếp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, xây dựng tổ chức đảng là then chốt. Duy trì chặt chẽ đơn vị theo nền nếp chính quy và các chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đơn vị luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống. Xem thêm: Tổng Hợp Bảng Từ Vựng Tiếng Anh Về Màu Xanh Tiếng Anh Là Gì, Màu Sắc Trong Tiếng Anh (Dễ Nhớ) Ba là: Thường xuyên củng cố và phát huy vai trò các tổ chức, quản lý chặt chẽ đơn vị về mọi mặt thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của địch, đồng thời cán bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá, từ đó phát triển chống phá ta trên phạm vi rộng hơn. Trước hết, đối với tổ chức đảng, cấp ủy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Phải thường xuyên quán triệt, giáo dục làm cho mọi tổ chức đảng, đảng viên nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng, ý chí quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Thường xuyên kiện toàn cấp ủy, chi bộ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tính tiền phong của đội ngũ đảng viên, thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉ huy các cấp ở đơn vị cơ sở cả về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt coi trọng bồi dưỡng nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, phức tạp để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội đồng quân nhân là nơi tập trung mọi cán bộ, chiến sĩ trong các phong trào hành động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Bốn là: Phối hợp với địa phương và các đơn vị bạn xây dựng địa bàn vững mạnh, an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan khi có tình huống bạo loạn xảy ra. Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh là một nhiệm vụ của các đơn vị quân đội, là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” và trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với Quân đội ta. Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình” của địch có hiệu quả, thì một trong những biện pháp quan trọng là phải không ngừng tăng cường đẩy mạnh các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, nhằm tạo cơ sở chính trị, tinh thần cho quá trình thực hiện nhiệm vụ, phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi người trong và ngoài đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hào bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội bằng nhiều thủ đoạn vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Do đó, thực hiện đồng bộ những giải pháp trên sẽ góp phần phòng, chống và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.

Bình Phước phát triển các cụm dân cư khu vực biên giới


Ngày 31/8, Bộ Chỉ huy Quân sự phối hợp Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Phước và UBND huyện Bù Đốp, UBND huyện Bù Gia Mập tổ chức lễ khởi công xây dựng 5 căn nhà, thuộc điểm dân cư liền kề Đồn Biên phòng Bù Đốp (ấp Phước Thiện, xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp).

    Đây là 1 trong 4 điểm dân cư liền kề được triển khai xây dựng trong thời gian tới tại Đồn Biên phòng Đắk Ơ (huyện Bù Gia Mập), Đồn Biên phòng Bù Đốp, Đồn biên phòng Phước Thiện (huyện Bù Đốp) và xây dựng mở rộng điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã Thanh Hòa (huyện Bù Đốp). Tại mỗi điểm dân cư liền kề xây mới thêm 5 căn nhà, mỗi căn trị giá 120 triệu đồng.

    Dự kiến, tổng kinh phí đầu tư xây dựng các điểm dân cư liền kề trong năm 2021 gần 10 tỷ đồng; trong đó, Quân khu 7 hỗ trợ 2 tỷ 250 triệu đồng, phần còn lại do ngân sách tỉnh Bình Phước chi.

    Dự kiến công trình hoàn thành, đưa vào sử dụng cuối tháng 11/2021. Ngoài việc hỗ trợ nhà ở, các hộ dân khi chuyển về đây sinh sống còn được hỗ trợ đất sản xuất, cây con giống… để phát triển kinh tế.

Qua 2 năm triển khai Đề án xây dựng “Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới”, đến nay, tỉnh Bình Phước đã xây dựng mới và mở rộng được 9 điểm dân cư liền kề các chốt dân quân biên giới. Tại các điểm dân cư mới này, tỉnh Bình Phước và Quân khu 7 đã hỗ trợ xây dựng được 80 căn nhà và đưa 80 hộ dân lên sinh sống.

Đây là việc làm ý nghĩa, góp phần chăm lo đời sống nhân dân khu vực biên giới, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, gắn với củng cố quốc phòng an ninh.

Qua 2 năm triển khai Đề án xây dựng “Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới”, đến nay, tỉnh Bình Phước đã xây dựng mới và mở rộng được 9 điểm dân cư liền kề các chốt dân quân biên giới. Tại các điểm dân cư mới này, tỉnh Bình Phước và Quân khu 7 đã hỗ trợ xây dựng được 80 căn nhà và đưa 80 hộ dân lên sinh sống.

Đây là việc làm ý nghĩa, góp phần chăm lo đời sống nhân dân khu vực biên giới, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, gắn với củng cố quốc phòng an ninh.

Xây dựng “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới

 


Việt Nam có đường biên giới đất liền dài hơn 5.044, 856 km, tiếp giáp với ba nước: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Cam-pu-chia; có bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng hơn 1 triệu km2; với 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 233 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, 1.084 xã, phường, thị trấn có biên giới. 

    Khu vực xã biên giới có khoảng 2,4 triệu hộ dân, với 9,8 triệu người đang sinh sống, địa hình đa dạng, phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng kinh tế - xã hội còn kém phát triển, đời sống của đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao. Đồng bào các dân tộc vùng biên giới, hải đảo cần cù, chịu khó, đoàn kết, gắn bó, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, có nhiều cống hiến, hy sinh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tích cực tham gia bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.

    Lịch sử đã khẳng định dân là chỗ dựa cơ bản, dân là tai mắt, là lực lượng tại chỗ cùng với các lực lượng đứng chân trên địa bàn tạo ra thế chiến lược, vừa xây dựng biên giới vững mạnh vừa bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới sẽ không thể hoàn thành nếu không dựa vào sức mạnh của “thế trận lòng dân”, “nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong”. Những đóng góp của nhân dân các dân tộc ở biên giới trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước là rất to lớn, nhất là từ khi có Đảng lãnh đạo đã thể hiện rõ hình ảnh của “biên giới lòng dân” vững chắc.

    Vì vậy, việc xây dựng “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với thế trận quân sự, an ninh và đối ngoại tạo thành thế trận biên phòng toàn dân vững chắc, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.



Nghị quyết Đại hội X của Đảng lần đầu tiên sử dụng cụm từ “thế trận lòng dân” và xác định: xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Để củng cố và tăng cường hơn nữa “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới. Đại hội XI của Đảng tiếp tục chỉ rõ: Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

    Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của khu vực biên giới, hải đảo, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ, phát triển vùng biên giới còn nhiều khó khăn, nhờ vậy, tình hình phát triển kinh tế - xã hội biên giới đã có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế của các địa phương biên giới đạt tốc độ khá cao; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được đầu tư xây dựng; hoạt động thương mại biên giới tăng trưởng khá; các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện tốt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao; mối quan hệ Đảng, chính quyền với nhân dân và lực lượng vũ trang được tăng cường; chủ quyền biên giới, lãnh thổ quốc gia được giữ vững, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; quan hệ đối ngoại được mở rộng. Đó chính là cơ sở quan trọng để đồng bào đặt niềm tin vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới, tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” trong thế trận biên phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.


Cùng với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, trong những năm qua, lực lượng Bộ đội Biên phòng luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, gắn bó máu thịt với đồng bào các dân tộc nơi biên giới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Với phương châm “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, cán bộ, chiến sĩ biên phòng đã kiên trì thực hiện “ba bám” - bám đơn vị, bám địa bàn, bám chủ trương, chính sách, “bốn cùng” - cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc. Các phong trào thi đua yêu nước, các mô hình, chương trình tiêu biểu như: “Bộ đội Biên phòng chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Nâng bước em tới trường”, “Hãy làm sạch biển”, Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”... đem lại kết quả cụ thể, thiết thực, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh; phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn biên giới, thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Hình ảnh người “Thầy thuốc quân hàm xanh”, “Thầy giáo quân hàm xanh”, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng quên mình giúp dân trong phòng, chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn đã in đậm trong tâm trí nhân dân cả nước. Đặc biệt, trong thời gian vừa qua, cùng với các lực lượng chức năng, gần 7.000 cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đã và đang ngủ lán, căng mình tại hơn 1.600 tổ, chốt biên giới để tăng cường tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn xuất nhập cảnh trái phép; nhiều đơn vị đã chủ động nhường nơi ăn, chốn nghỉ, huy động lực lượng phục vụ, chăm sóc, bảo đảm điều kiện tốt nhất cho người nhập cảnh thực hiện cách ly, phòng, chống dịch Covid-19. Những việc làm đó đã góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân, qua đó góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.



Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhất là trong xu thế hội nhập đang đặt ra nhiều khó khăn thách thức đối với công tác xây dựng “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới, đó là: khoảng cách phát triển giữa vùng biên giới với các vùng khác trong cả nước có xu hướng gia tăng; các thế lực thù địch, phản động không ngừng lôi kéo, kích động, tăng cường hoạt động chống phá gây mất lòng tin của đồng bào đối với Đảng, chế độ, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc; các hoạt động truyền đạo trái pháp luật, buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm ma túy, mua bán người qua biên giới... vẫn diễn biến rất phức tạp. Những thách thức nêu trên nếu không sớm được khắc phục sẽ làm giảm sức mạnh của “thế trận lòng dân” trong việc bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

    Để tiếp tục củng cố, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở khu vực biên giới, tạo nền tảng xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh, thời gian tới, cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

    Một là, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh khu vực biên giới, nhất là Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28-9-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Nghị quyết số 88-2019-QH14 của Quốc hội khóa XIV phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Kết hợp chặt chẽ chính sách phát triển kinh tế - xã hội gắn với giữ vững quốc phòng - an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tạo môi trường thuận lợi, ổn định dân cư lâu dài ở khu vực biên giới. Đây là nhân tố có tính chất quyết định trong việc xây dựng “thế trận lòng dân”, là mục tiêu của cách mạng, là động lực thúc đẩy sức mạnh của toàn dân.



Hai là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cho toàn dân, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tổ chức đoàn thể và nhân dân các dân tộc trên địa bàn biên giới. Làm tốt công tác tuyên truyền để mọi người dân không chỉ nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mà còn hiểu rõ, hiểu đúng tình hình thực tế, bản chất của các vấn đề nhạy cảm, phức tạp đang diễn ra, những thách thức về an ninh phi truyền thống khu vực biên giới, vạch rõ các quan điểm sai trái, luận điệu phản động, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch nhằm tạo nên sự đồng thuận “ý Đảng, lòng dân”. Trên cơ sở đó, mỗi người dân nhận thức đúng quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh ở địa phương, nâng cao cảnh giác cách mạng, tỉnh táo trước các thủ đoạn chống phá của kẻ xấu, tự giác tham gia cùng các cấp, các ngành, các lực lượng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia.

    Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Để xây dựng “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới thì trước hết phải xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là hệ thống chính trị ở cơ sở thật sự trong sạch, vững mạnh. Các cấp ủy đảng, chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường đối thoại, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người dân với tinh thần “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Chú ý đẩy mạnh phong trào thi đua nhằm phát hiện, khen thưởng các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân” và nhân rộng trong toàn xã hội.  Thực tiễn đất nước qua gần 35 năm đổi mới, đặc biệt là những kết quả quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua là minh chứng rõ nhất để không ngừng củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. 

Bốn là, đổi mới toàn diện, đồng bộ các mặt công tác biên phòng, thường xuyên và chủ động nắm chắc tình hình, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; đấu tranh khôn khéo, kiên quyết và có hiệu quả đối với tội phạm và các đối tượng vi phạm pháp luật, giữ vững ổn định chính trị, giữ gìn an ninh khu vực biên giới. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác vận động quần chúng nhằm tăng cường đoàn kết quân dân ở khu vực biên giới trong tình hình mới. Bộ đội Biên phòng phải ra sức phấn đấu làm tròn vai trò nòng cốt trong xây dựng nền Biên phòng toàn dân; đồng thời có nhiều hình thức, phương pháp tiến hành công tác xây dựng khối đoàn kết quân dân; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới, nhất là việc tuyên truyền, vận động, giáo dục hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thực hiện tốt phương châm: thận trọng, kiên nhẫn, kiên quyết, hiểu phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội của địa phương để nghe được dân nói, nói cho dân hiểu. Coi trọng “lời nói đi đôi với việc làm”, “làm trước, nói sau”, làm đến đâu, chắc đến đó, lấy hiệu quả công tác làm tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ của bộ đội trên từng cương vị được giao. Đồng thời bộ đội phải luôn có thái độ và ý thức chấp hành nghiêm túc 12 điều kỷ luật trong quan hệ quân dân; rèn luyện ý thức tự giác, tính độc lập tự chủ, nhất là trong điều kiện công tác xa đơn vị; tôn trọng, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân; xây dựng đạo đức, lối sống giản dị, khiêm tốn, tâm huyết, trách nhiệm, nhiệt tình trong công việc tạo nên tình đoàn kết quân dân bền chặt, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia./.