Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022
ĐỂ TỪ CHỨC TRỞ THÀNH NÉT VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA CÁN BỘ!
Bảo vệ văn hóa dân tộc trước biến tướng của ngoại lai
Trong xu thế hòa nhập văn hóa thế giới, Halloween trở thành lễ hội phổ biến và được đa số người trẻ nhiệt tình hưởng ứng. Thế nhưng, dựa trên thực trạng của sự hóa trang quá đà tôn sùng ma quỷ đã diễn ra, chúng ta chỉ vừa “hòa nhập” đã vội “hòa tan”. Những sự học đòi vô tội vạ, không giới hạn trong văn hóa đã tạo ra những biến tướng khủng khiếp.
20 năm thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển
Đông (thường được gọi tắt là Tuyên bố DOC) được ASEAN và Trung Quốc ký ngày
4/11/2002 nhân dịp Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 8 tại Phnôm Pênh
(Căm-pu-chia).
Là văn kiện chung
đầu tiên giữa ASEAN và Trung Quốc trực tiếp liên quan vấn đề Biển Đông, Tuyên
bố DOC 2002 có ý nghĩa to lớn trong việc duy trì hoà bình và ổn định ở vùng
biển này nói riêng và cả khu vực nói chung.
Nhân dịp kỷ niệm 20 năm ký văn kiện quan trọng này, xin trân trọng giới thiệu về những nội dung cơ bản và tình hình thực hiện bản Tuyên bố trong thời gian qua
1. Nội dung Tuyên
bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
Một là, các bên khẳng định cam kết đối với mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ), Công ước Luật Biển năm 1982 của LHQ, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Ðông - Nam Á, 5 nguyên tắc tồn tại hòa bình và các nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế. Cam kết này mang tính chủ đạo. Một mặt nó gắn với nghĩa vụ của các bên theo các văn kiện quốc tế mang tính toàn cầu là Hiến chương LHQ và Công ước Luật Biển năm 1982 cũng như các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó cam kết này cũng gắn với nghĩa vụ của các bên theo điều ước quốc tế mang tính khu vực liên quan các nước là Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á.
Hai là, các bên cam
kết giải quyết mọi tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp về quyền tài phán bằng các
biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thông qua
trao đổi ý kiến và thương lượng hữu nghị giữa các quốc gia có chủ quyền liên
quan phù hợp với các nguyên tắc phổ cập của pháp luật quốc tế, trong đó có Công
ước Luật Biển năm 1982. Căn cứ pháp luật quốc tế cũng như quy định tại Ðiều 33
của Hiến chương LHQ thì các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp gồm có
thương lượng, môi giới, trung gian, hòa giải, trọng tài và tòa án quốc tế. Ðiều
này có nghĩa là các bên có rất nhiều sự lựa chọn và các bên hoàn toàn tự do
trong việc lựa chọn các biện pháp hòa bình này. Ðiều mấu chốt là các bên không
được đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp liên
quan ở Biển Ðông.
Ba là, các bên khẳng định tôn trọng
tự do hàng hải và tự do bay ở Biển Ðông như đã được quy định bởi các nguyên tắc
phổ cập của pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982. Theo
các quy định liên quan của Công ước Luật Biển năm 1982, tàu thuyền của mọi quốc
gia (bất kể ở trong khu vực hay ngoài khu vực) đều được quyền tự do hàng hải
trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước ven Biển Ðông cũng như vùng biển quốc
tế ngoài phạm vi 200 hải lý; tàu bay của mọi quốc gia được quyền tự do bay trên
vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven Biển Ðông và ở vùng trời
trên các vùng biển quốc tế. Mục đích của việc các nước ASEAN và Trung Quốc đưa
quy định này vào DOC chính là tái khẳng định lại nghĩa vụ của họ theo Công ước
Luật Biển năm 1982.
Bốn là, các bên cam
kết kiềm chế không tiến hành các hoạt động có thể làm phức tạp thêm hoặc gia
tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Tuyên bố đặc biệt nhấn
mạnh việc kiềm chế không đưa người lên các đảo, bãi hiện nay không có người ở.
Thực hiện cam kết này vừa tạo điều kiện cho việc tăng cường quan hệ láng giềng
hữu nghị giữa các nước trong khu vực vừa tạo tiền đề cần thiết cho các nước có
tranh chấp ở Biển Đông từng bước tìm kiếm các giải pháp cho các tranh chấp. Hoà
bình và ổn định ở Biển Đông cũng gắn với hòa bình và ổn định của khu vực và thế
giới. Do đó việc thực hiện cam kết này cũng chính là để đóng góp tích cực cho
việc duy trì hoà bình của khu vực và trên thế giới.
Năm là, các bên
đồng ý căn cứ vào các nguyên tắc Hiến chương LHQ, Công ước Luật Biển năm 1982,
Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Ðông - Nam Á, 5 nguyên tắc tồn tại hòa bình và
các nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau
để tìm kiếm các phương cách xây dựng lòng tin. Từ cam kết mang tính nguyên tắc
đó, ASEAN và Trung Quốc nhất trí là trong khi tìm kiếm giải pháp hòa bình cho
các tranh chấp, các bên cam kết tăng cường nỗ lực để xây dựng lòng tin như tiến
hành đối thoại quốc phòng; đối xử nhân đạo với người bị nạn trên biển; thông
báo cho các bên liên quan về các cuộc diễn tập quân sự, trao đổi thông tin liên
quan. Việc thông báo và trao đổi như vậy được các bên liên quan tiến hành trên
cơ sở tự nguyện.
Sáu là, các bên đồng
ý trong khi tìm kiếm giải pháp toàn diện và lâu dài cho vấn đề tranh chấp ở
Biển Ðông, các bên có thể tìm kiếm và tiến hành các hoạt động hợp tác trong các
lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an
toàn và an ninh hàng hải, tìm kiếm, cứu nạn trên biển, đấu tranh chống tội phạm
xuyên quốc gia (buôn bán ma túy, cướp biển, cướp có vũ trang trên biển và buôn
lậu vũ khí). Các bên sẽ thỏa thuận phương thức, địa điểm và phạm vi của các
hoạt động hợp tác này trước khi triển khai.
Bảy là, các bên
long trọng cam kết tôn trọng các quy định của DOC và hành động phù hợp với các
nội dung của DOC. ASEAN và Trung Quốc đồng ý sẽ cùng nhau hợp tác trên cơ sở
đồng thuận để đạt mục tiêu cuối cùng cao hơn là thông qua một Bộ Quy tắc ứng xử
ở Biển Ðông (COC). Các bên đều nhất trí rằng việc thông qua Bộ Quy tắc đó sẽ
tăng cường hơn nữa hòa bình và ổn định của khu vực. Ðồng thời ASEAN và Trung
Quốc cũng khuyến khích các quốc gia khác tôn trọng các nguyên tắc trong DOC.
2. Thực hiện Tuyên
bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
Tuyên bố về ứng xử
của các bên ở Biển Ðông năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc là kết quả nỗ lực
chung của cả ASEAN và Trung Quốc. Việc ký kết văn kiện này là một bước tiến
quan trọng trong việc đối thoại giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông.
Việc tuân thủ nghiêm chỉnh các cam kết trong DOC góp phần tránh được các xung
đột tại Biển Ðông, giữ ổn định cho khu vực và có lợi cho toàn khu vực.
Tuyên bố của Chủ
tịch Hội nghị cấp cao ASEAN 16 tại Hà Nội (tháng 4/2010) đã coi DOC năm 2002 là
một trong số các công cụ và cơ chế quan trọng hiện nay của ASEAN, đặt DOC bên
cạnh các văn kiện pháp lý như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Ðông - Nam Á
(TAC), Hiệp ước về khu vực phi vũ khí hạt nhân ở Ðông - Nam Á (SEANWFZ), Diễn đàn
khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ
trưởng ASEAN về tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC) và Công ước ASEAN về chống
khủng bố.
Chính giới và dư luận
quốc tế cũng đánh giá cao vai trò của DOC và sự cần thiết thực hiện đầy đủ các
cam kết trong văn kiện này. Tuyên bố của Chủ tịch ARF 17 tại Hà Nội (tháng
7/2010) nêu rõ các Bộ trưởng khẳng định tầm quan trọng của DOC như là một văn
kiện lịch sử giữa ASEAN và Trung Quốc, thể hiện cam kết tập thể nhằm đảm bảo
các giải pháp hòa bình cho các tranh chấp trong khu vực. Các Bộ trưởng nhấn
mạnh hiệu quả của DOC trong việc xây dựng sự tin cậy lẫn nhau và sẽ giúp cho
việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực. Các Bộ trưởng khuyến khích các nỗ
lực theo hướng thực hiện đầy đủ DOC và cuối cùng tiến tới COC. Tuyên bố chung
của các nguyên thủ và Thủ tướng các nước ASEAN và Trung Quốc về đối tác chiến
lược ASEAN-Trung Quốc (Ba-li, In-đô-nê-xi-a ngày 8/10/2003) đã coi việc thực
hiện DOC là một biện pháp trong hợp tác an ninh giữa ASEAN và Trung Quốc.
Ðể thúc đẩy thực
hiện đầy đủ các quy định trong DOC, ASEAN và Trung Quốc đã lập 2 cơ chế là Hội
nghị quan chức cấp cao ASEAN - Trung Quốc về DOC (SOM ASEAN - Trung Quốc) và
Nhóm Công tác chung ASEAN - Trung Quốc về thực hiện DOC (ACJWG). Dưới sự chỉ
đạo của SOM ASEAN - Trung Quốc về DOC, từ năm 2005 đến năm 2011 Nhóm Công tác
chung đã tập trung thương thảo về bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC.
Tại Hội nghị Bộ
trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 44 tại Ba-li, In-đô-nê-xi-a (tháng 7/2011),
ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí thông qua Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên
bố DOC. Bản Quy tắc nêu rõ: DOC phải được thực hiện từng bước một phù hợp với
các điều khoản của DOC; các bên tham gia thực hiện DOC tiếp tục tăng cường đối
thoại và tham vấn, phù hợp với tinh thần DOC; việc tiến hành các hoạt động hoặc
các dự án đã được quy định trong DOC cần được xác định rõ ràng; việc tham gia
các hoạt động hoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện; các hoạt
động ban đầu trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp xây dựng lòng tin;
quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa
trên sự đồng thuận của các bên và phải hướng đến mục tiêu cuối cùng là thực hiện
Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông; trong quá trình thực hiện các dự án đã được thoả
thuận, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự đóng góp của các chuyên gia, các nhân vật
nổi tiếng. Bản Quy tắc hướng dẫn quy định tiến trình thực hiện các hoạt động và
các dự án đã được thoả thuận trong DOC sẽ được báo cáo hàng năm cho Hội nghị
Ngoại trưởng ASEAN-Trung Quốc.
Bước phát triển mới
trong quá trình thực hiện Tuyên bố DOC năm 2002 là tại Hội nghị cấp cao ASEAN
lần thứ 18 (Gia-các-ta, In-đô-nê-xi-a, tháng 5/2011), các nhà lãnh đạo cấp cao
ASEAN đã quyết định tăng cường nỗ lực thực hiện toàn diện Tuyên bố về ứng xử
của các bên ở Biển Ðông và đề nghị thảo luận để bắt đầu xây dựng Bộ Quy tắc ứng
xử ở Biển Ðông vào năm 2012 nhân kỷ niệm 10 năm ký kết Tuyên bố DOC. Thực hiện quyết
định đó, trong năm 2012 các nước ASEAN đang tích cực trao đổi và cho đến nay đã
đạt được nhiều kết quả trong việc xây dựng các thành tố cơ bản của COC. Hội
nghị cấp cao ASEAN lần thứ 20 (Nông-pênh, tháng 4/2012) tiếp tục nhấn mạnh để
bảo đảm hoà bình, ổn định và an ninh ở Biển Đông, trong đó có an ninh và an
toàn hàng hải, các bên liên quan cần giải quyết các tranh chấp bằng các biện
pháp hoà bình, tuân thủ pháp luật quốc tế, đặc biệt Công ước Luật Biển năm
1982, bảo đảm tôn trọng và thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở
Biển Đông, sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông.
3. Việt Nam và
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông
Với chính sách đối
ngoại hòa bình, Nhà nước ta đã nhiệt liệt ủng hộ Tuyên bố năm 1992 của ASEAN về
Biển Ðông, mặc dù lúc đó chúng ta chưa phải là thành viên của ASEAN. Sau khi
gia nhập ASEAN, chúng ta đã tích cực thúc đẩy và có đóng góp lớn vào việc xây dựng
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông. Ban đầu chúng ta chủ trương và nỗ
lực theo hướng ASEAN và Trung Quốc ký một văn kiện có tính pháp lý cao hơn liên
quan vấn đề Biển Ðông. Tuy nhiên, trong quá trình thương lượng nảy sinh một số
vấn đề kỹ thuật không đạt được sự nhất trí chung. Trong bối cảnh đó, Nhà nước
ta đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, có bước đi linh hoạt, mềm dẻo cần thiết,
đồng ý bước đầu ký văn kiện ở hình thức Tuyên bố như văn bản DOC hiện hành. Từ
khi Tuyên bố DOC được ký đến nay, chúng ta tiếp tục các nỗ lực to lớn, tuân thủ
các cam kết trong DOC, đồng thời yêu cầu các nước liên quan thực hiện đúng các
cam kết trong Văn kiện này. Tuyên bố DOC thực sự có đóng góp quan trọng cho
việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Ðông. Nghiêm túc tôn trọng tinh thần
Tuyên bố DOC và thực hiện đầy đủ DOC sẽ có lợi cho cả ASEAN và Trung Quốc, đồng
thời đáp ứng mong mỏi và nguyện vọng chung của khu vực và thế giới về một Biển
Ðông hòa bình, hữu nghị và hợp tác.
Trong quá trình
thực hiện DOC, Việt Nam trước sau như một kiên trì chủ trương giải quyết mọi
tranh chấp liên quan Biển Ðông bằng các biện pháp hòa bình, căn cứ pháp luật
quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982, thúc đẩy thực hiện đầy đủ
DOC, tiến tới xây dựng COC vì mục đích góp phần duy trì hòa bình, ổn định ở
Biển Ðông. Chúng ta cũng tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực về biển với các
nước láng giềng liên quan. Các nỗ lực và việc làm của nước ta được chính giới
và dư luận quốc tế và khu vực đánh giá tích cực.
Trả lời câu hỏi
liên quan đến chủ đề Biển Ðông tại buổi họp báo ngày 9/4/2010 về kết quả Hội
nghị cấp cao ASEAN 16, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: "Duy trì
hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn trên Biển Ðông là lợi ích chung và là mối
quan tâm lớn của các nước ASEAN, trong khu vực. Các nước liên quan đã xây dựng
nhiều thỏa thuận và cơ chế hợp tác nhằm đảm bảo hòa bình, ổn định và cùng hợp
tác ở khu vực, trong đó có Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Ðông
(DOC). Ðây là văn kiện được ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc, nhằm thúc đẩy xây
dựng lòng tin, hợp tác”. Thủ tướng nước ta nhấn mạnh: "Với thiện chí của
các bên và vì lợi ích chung của khu vực, các bên liên quan sẽ tiếp tục tuân thủ
và thực hiện tốt DOC, cũng như Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, góp phần thiết
thực duy trì hòa bình, ổn định, an ninh ở Biển Ðông”.
Với tinh thần đó,
từ thực tiễn hiện nay của ASEAN, chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục cùng các nước
ASEAN tham khảo nội bộ chặt chẽ giữa các nước thành viên để thống nhất về các
thành tố cơ bản của COC. Từ đó, ASEAN và Trung Quốc sẽ bàn bạc để sớm hoàn
thành Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần
thứ 20 tại Nông-pênh vừa qua, lãnh đạo ta đánh giá cao việc thông qua Bản Quy
tắc hướng dẫn thực hiện DOC và đề nghị ASEAN cần sớm thống nhất các thành tố cơ
bản của COC để làm cơ sở đối thoại với Trung Quốc.
Cách tiếp cận hợp tình, hợp lý và các
nỗ lực tích cực của Việt Nam trong việc thúc đẩy thực hiện toàn diện DOC và
phối hợp chặt chẽ với các nước ASEAN khác trong việc xây dựng COC sẽ góp phần
nâng cao hơn nữa vai trò và ý nghĩa của DOC, đóng góp xứng đáng vào nỗ lực
chung của ASEAN và cộng đồng quốc tế vì một Biển Ðông hòa bình, hữu nghị và hợp
tác.
Đằng sau luận điệu “Việt Nam nghèo đói”
Cho đến thời điểm hiện tại, rất khó hiểu khi một số trang thông tin vẫn kiên quyết cho rằng Việt Nam vẫn là một quốc gia ngập chìm trong nghèo đói. Vậy thực sự đằng sau những nhận định ấy là gì?
Mỹ, Anh cảnh báo về mối đe dọa “khủng bố”
Theo cố vấn an ninh của Đại sứ quán Mỹ tại Nigeria, có “nguy cơ cao xảy ra các cuộc tấn công khủng bố ở Nigeria, đặc biệt là ở Abuja.
BÀI HỌC XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA LÊ NIN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ.
V.I Lê Nin đã cảnh báo Đảng Cộng sản Liên Xô : " Không có kẻ thù nào, dù chúng hùng mạnh và hung hãn nhất có thể đánh bại được Chủ nghĩa Cộng sẵn, ngoại trừ những người cộng sản tự tiêu diệt chính họ, bằng
Cách mạng Tháng Mười Nga – Chủ đề cũ nhưng luôn luôn mới và hấp dẫn
Hơn 105 năm đã trôi qua, kể từ ngày Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi trên đất nước của Lênin và nhân dân Nga vĩ đại, đến nay, những “kẻ thù lớn nhỏ” của ông và Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn luôn
CẢNH GIÁC TRƯỚC THỦ ĐOẠN NHÂN DANH PHẢN BIỆN XÃ HỘI ĐỂ KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ.
Phản biện xã hội (PBXH) là sự tham gia của cá nhân, các tổ chứcvề một vấn đề, chủ trương, chính sách nào đó của Đảng, Nhà nước nhằm làm cho chủ trương, chính sách đó đầy đủ, đúng đắn, hoàn thiện hơn trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận, phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh.
CÁC THẾ LỰC THU ĐỊCH LẠI XUYÊN TẠC VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII là xem xét Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến
Kỷ niệm 55 năm ngày mở màn chiến dịch Đak Tô - Tân Cảnh 1967
Chiến dịch Đắk Tô - Tân Cảnh hay Trận Đắk Tô - Tân
Cảnh năm 1967,
là một trận đụng độ trực tiếp giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với quân
đội Hoa Kỳ, diễn ra từ ngày 3 đến 22 tháng 11 năm 1967, tại cứ điểm E42 (còn
gọi là đồi Charlie) gần quốc lộ 14, thuộc xã Tân Cảnh cũ, nay thuộc địa bàn thị
trấn Đắk Tô huyện Đắk Tô tỉnh Kon Tum.
![]() |
| Một người lính Mỹ gọi cho một y tá là Tiểu đoàn 1, các trận đánh 503 binh binh cho Đồi 882, phía tây nam Đăk Tô, tháng 11 năm 1967 |
![]() |
| Khu Chiến Thuật Quân Đoàn II, Tây Nguyên Nam Việt Nam |
![]() |
| Nhìn từ trên không của Trại Đăk Tô nhìn về phía Lào . |
![]() |
| 173 quân trong Không quân trong Chiến dịch Greeley |
![]() |
| Hoạt động Greeley và khu vực Đăk Tô |
![]() |
| Thiếu Tướng William R. Peers, Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Bộ Binh và tổng tư lệnh Hoa Kỳ tại Đắk Tô |
![]() |
| Chuẩn Tướng Leo H. Schweiter, Tư Lệnh Lữ Đoàn 173 Dù |
![]() |
| Thành viên của Công ty C, Tiểu đoàn 1, 8 binh xuống bên cạnh Đồi 742, tọa lạc năm dặm về phía tây bắc Dak To. 14–17 tháng 11 năm 1967 |
![]() |
| Xây dựng tại Đắk Tô |
![]() |
| Lính Mỹ bị thương chuyển đến một trạm cứu trợ trong trận chiến với Hill 882 |
![]() |
| Pháo binh 105 mm của Mỹ đang hoạt động ở Tây Nguyên. |
![]() |
| Những người lính kiệt sức của Không quân 173 sau khi vận động ở Tây Nguyên. |
![]() |
| Nguồn ảnh: Wiki. |
![]() |
| Nguồn ảnh: Tom. |
![]() |
| Nguồn ảnh: Life. |
![]() |
| Nguồn ảnh: Tumblr |
![]() |
| Nguồn ảnh: Flickr |
![]() |
| Nguồn ảnh: Press |
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VỀ TẦM VÓC VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA
Ngày 7-11-1917 (tức ngày 25-10-1917 theo lịch Nga), Cách mạng Tháng Mười Nga do V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích lãnh đạo đã giành thắng lợi, lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại mới của xã hội loài người. 105 năm qua, thế giới đã có quá nhiều đổi thay, các thế
KHẮC PHỤC CÁC LOẠI “BỆNH CÁ NHÂN”
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí...
MÀI SẮC VŨ KHÍ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân - vết tích xấu xa của xã hội cũ là kẻ địch “nội xâm”; là thứ vi trùng mẹ “rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc.
Nguyễn Thông, một kẻ ảo tưởng, mơ hồ, vong ân, bội nghĩa
Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng nhận lời mời của Tổng Bí thư-Chủ tịch nước Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa Tập Cận Bình chính thức thăm Trung Quốc từ ngày 30/10 đến ngày
02/11/2022. Hóng hớt được thông tin này, mấy ngày vừa qua trên các phương tiện
đài, báo của các nước phương Tây cũng như một số trang mạng xã hội thù địch,
phản động đã ra rả, rêu rao, loan tải với những luận điệu và sử dụng các ngôn
từ thô bỉ.
Vào mạng
xã hội đọc được bài với cái titte săc mùi khiêu khích, đểu giả, chọc ngoáy lung
tung “Trông “nó” lại ngẫm tới ta” của tác giả có bút danh Nguyễn Thông toàn
những thông tin hóng hớt cóp nhặt từ những bài viết về Đại hội đại biểu Đảng
Cộng sản Trung Quốc lần thứ XX, từ đó Nguyễn Thông đã phán bừa vô căn cứ:“Đảng
cai trị bên Tàu đang đại hội để củng cố quyền cai trị”. Nguyễn Thông khẳng định
“Nói thẳng ra, tôi không có cảm tình với bọn cộng sản Tàu”. Nực cười là Nguyễn
Thông bày trò như học giả mà chẳng hiểu gì nhiều, thế mà cũng phán như đúng
rồi. Việc có cảm tình, hay không có cảm tình với Đảng Cộng sản Trung Quốc là
việc của mỗi cá nhân, mỗi một góc nhìn khác nhau, quan điểm chính trị của riêng
từng người, nhưng viết ra những câu hằn học, chửi bới, “vơ đũa cả nắm” không
mang tính logic, mang nặng cái bản chất vô ơn, bạc nghĩa của mình ra để mà đá
xéo, lôi kéo người khác là thiếu song phẳng, là hẹp hòi ích kỷ, không khách
quan.
Ý đồ đen
tối, bản chất chống phá của Nguyễn Thông đã bộc lộ rõ khi kẻ này cố tình bóp
méo, xuyên tạc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam thống
nhất đất nước bằng viện dẫn: “Chúng dúi cho ta vũ khí, tí gạo tí mì, để rồi ta
dại dột làm người lính đi đầu, tiền đồn hậu đồn, kiêu hãnh trên tuyến đầu chống
Mỹ, huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt nhằm bảo vệ chúng nó, để chúng nó được
yên”. Nhắc lại cho Nguyễn Thông biết, từ cuối năm 1953, Trung ương Đảng đã
quyết định tiến hành trận quyết chiến, chiến lược Điện Biên Phủ với thực dân
Pháp. Trong chiến dịch này Việt Nam chúng ta không đơn độc, nhiều nước dân chủ,
xã hội chủ nghĩa trên thế giới trong đó phải kể đến Trung Quốc, Liên Xô đã kề
vai, sát cánh ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam.
Trung Quốc
đã kịp thời viện trợ 1700 tấn gạo; chi viện 3600 viên đạn pháo 105 mm (đó là cơ
số đạn đi theo 24 khẩu pháo viện trợ đưa về Việt Nam cuối năm 1953); về sau
Trung Quốc chuyển thêm 7400 viên đạn 105 mm (mặc dù lúc này đạn pháo của Trung
Quốc khan hiếm). Trung đoàn lựu pháo 105 mm của Trung Quốc giúp đỡ, đã nã đạn
xuống đầu đối phương. Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tích cực tham gia cùng
Việt Nam trong mọi lĩnh vực chuẩn bị cho chiến trường. Sau khi nghiên cứu kế
hoạch tác chiến đã ủng hộ hoàn toàn phương án của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
“đánh chắc tiến chắc”. Còn đối với Liên Xô từ năm 1950 Liên Xô đã viện trợ
không hoàn lại và thường xuyên vượt mức yêu cầu của Việt Nam cụ thể từ tháng 5/1950
đến tháng 6/1954 với 21.517 tấn hàng viện trợ quốc tế, tổng giá trị 54 triệu
rúp. Cùng với các nước dân chủ khác toàn bộ pháo cao xạ 37 ly; 76 khẩu và 14
dàn hỏa tiễn H6; 745 xe vận tải, súng ống tiểu liên… không kể hết.
Trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Việt Nam chúng ta không được phép quên công lao
của nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân ta kháng chiến, trong đó Liên Xô, Trung
Quốc đóng vai trò to lớn. Mỹ là siêu cường, tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học
công nghệ là rất mạnh. Việt Nam nghèo nàn lạc hậu là nước nhỏ nhưng chúng ta
thắng đế quốc Mỹ vì chính nghĩa, vì lẽ đó mà chúng ta nhận được sự ủng hộ rộng
rãi của nhân dân thế giới trong đó có Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em
khác.
Tổng kết
50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995) Đảng và Nhà nước Việt Nam đã khẳng định
“Thiếu sự giúp đỡ to lớn của liên Xô và Trung Quốc ta khó duy trì và đẩy mạnh
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. Để viết về vấn đề này thì rất dài, không
thể kể hết ra được. Ngạn ngữ cũng có câu “Trên đời này chẳng ai cho không ai
cái gì cả” nhưng cũng có câu “Thù không cần trả nhưng ơn thì nhất định phải
trả”.
Chửi chán
rồi lại “khen đểu”, “nịnh nọt” “so sánh khập khiễng” để đá xoáy, hạ nhục quốc
thể đó là bản chất của nhà báo hai mặt Nguyễn Thông. Gã nhìn thấy tấm ảnh toàn
cảnh Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc và viết“Đại hội của cái đảng chính
trị đông nhất thế giới, của nước đông nhất thế giới, được cả thế giới chú mục
vào, nhưng trang trí khá giản dị, không có lấy một bông hoa, chứ đừng nói một
bó, một lẵng”. Trong quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc có những lúc thăng
trầm, thậm chí xung đột vũ trang nhưng suốt hơn 7 thập kỷ xuyên suốt vẫn phải
là mối quan hệ theo xu thế phát triển, ổn định, hữu nghị truyền thống và tích
cực mang lại lợi ích thiết thực cho hai quốc gia và nhân dân hai nước. Chính vì
thế Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc bế mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã
điện mừng gửi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình, trong đó có đoạn “Tôi
luôn luôn hết sức coi trọng và sẵn sàng cùng đồng chí tiếp tục dành sự quan tâm
cao độ, chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương hai bên quán triệt, thực
hiện tốt các thỏa thuận và nhận thức chung cấp cao, đưa quan hệ láng giềng hữu
nghị và đối tác chiến lược toàn diện Việt nam-Trung Quốc lên một tầm cao mới,
ổn định, lành mạnh, bền vững, đáp ứng lợi ích căn bản, lâu dài của hai đảng,
hai nước và nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của
khu vực và thế giới”
Hiện nay,
Việt Nam là nước đối tác thương mại lớn thứ 6 trên thế giới của Trung Quốc.
Riêng năm 2021, tổng kim ngạch thương mại Việt Nam-Trung Quốc đạt 165,9 tỷ USD
tăng 24,6% so với năm 2020. Trong 8 tháng đầu năm 2022 Trung Quốc đứng thứ 4/94
quốc gia vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 143 dự án, tổng vốn đạt 1,4 tỷ
USD. Năm 2022 Việt Nam Trung Quốc cũng tiến tới ký kết nhiều văn bản hợp tác
với Trung Quốc… Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam đó là: “Độc lập
tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa phương hóa, đa dạng hóa
quan hệ đối ngoại, là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách
nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Trong quan hệ đối ngoại, những cái hay của các
đối tác chúng ta vận dụng, học tập, một cách sáng tạo vào Việt Nam; những cái
dở, những thất bại trong điều hành kinh tế vĩ mô của nước họ, chúng ta coi như
những bài học kinh nghiệm cho đất nước mình. Nhưng mỗi quốc gia phải giữ cho
được bản sắc dân tộc, độc lập tự chủ, không thể rập khuôn máy móc. Những“cái
lưỡi không xương” của các thế lực thù địch sẵn sàng uốn éo chửi bới lung tung,
xuyên tạc bịa đặt về mối quan hệ Việt Nam -Trung Quốc nhằm gây mâu thuẫn, bất
ổn chính trị, khiêu khích, kích bác chiến tranh, để dẫn dến kinh tế-xã hội rối
ren, “đục nước béo cò”. Đó chính là âm mưu thủ đoạn đen tối của cái gọi là
“Diễn biến hòa bình”, mà tất cả người dân Việt Nam cần hết sức nâng cao cảnh
giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi mưu hèn kế bẩn của các thế lực thù địch,
phản động.
Chắc rằng
cha mẹ ông ta đã chọn và đặt cho cái tên là để muốn Nguyễn Thông học tập bậc
tiền bối Nguyễn Thông (1827-1884) – một nhà trí thức giàu lòng yêu nước, nhà
văn hóa tiêu biểu ở nửa đầu thế kỷ 19 của dân tộc Việt Nam. Chứ đâu có ngờ nuôi
dưỡng, cho ăn học đến nơi, đến chốn để trở thành kẻ “vong ân, bội nghĩa”, loại
“ăn cháo, đá bát” hại nước, hại dân thật là nhục nhã. Nhiều người trong cộng
đồng mạng tha thiết đề nghị các cơ quan chức năng cần có biện pháp nghiêm trị,
ngăn chặn, không cho Nguyễn Thông ngang nhiên viết bậy, viết bạ, mang nội dung
tuyên truyển phỉ báng chế độ, bôi nhọ Đảng và Nhà nước Việt Nam trên trang
facebook, blog cá nhân, để cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng loan
tải, rêu rao trên các trang mạng phản động trong và ngoài nước chống phá chế
độ./.
St
ĐỪNG RU NGỦ DÂN TỘC BẰNG TƯ DUY NÔ LỆ!
Về nghệ
thuật ngoại giao, Việt Nam luôn là một cô gái đẹp, ai cũng thèm muốn nhưng cô
gái đó lại không bao giờ thuộc về ai.
Về chủ
trương ngoại giao, Việt Nam là bạn với tất cả các nước, Việt Nam độc lập, tự
chủ, tự lực, tự cường. Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm của
cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Về đối
ngoại quốc phòng, Việt Nam có chính sách 4 không:
- Không
tham gia liên minh quân sự.
- Không
liên kết với nước này để chống nước kia
- Không
cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác
- Không sử
dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Việt Nam
luôn thấu suốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "dĩ bất biến, ứng vạn
biến". Người Việt Nam tự biết quyết định vận mệnh dân tộc của mình, không
theo Tây, theo Tàu, không có tư duy nô lệ, theo bên này, bên kia đâu nhé anh
giảng viên Đại học FULBRIGHT! Đừng ru ngủ dân tộc bằng tư duy nô lệ như thế!

























