Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

ĐỂ TỪ CHỨC TRỞ THÀNH NÉT VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA CÁN BỘ!

     Trong đời sống xã hội, tuy không phải là hiếm, nhưng rất khó khăn để một cán bộ từ chức dù với lý do nào. Có nhiều rào cản khiến cho việc từ chức không hề dễ như nguyên tắc “có lên-có xuống”, “có vào-có ra” trong công tác cán bộ.
     Điều đó cho thấy, để từ chức thực sự trở thành vấn đề bình thường, là nét văn hóa ứng xử trong công vụ cần có cả quá trình thay đổi từ quan niệm, nhận thức đến hành vi của mỗi người, cùng những thiết chế phù hợp.

Vì sao từ chức
khó khăn?
     Trong hệ thống công quyền ở nước ta, cán bộ từ chức hiện nay được nhìn nhận dưới hai góc độ. Thứ nhất là cán bộ có sai phạm khi thực thi công vụ. Trong đó, một số từ chức vì tự trọng, danh dự khi sai phạm của họ chưa đến mức phải cách chức. Số còn lại từ chức, nghỉ việc vì sai phạm của họ đến mức phải xử lý, nếu họ không từ chức thì tổ chức cũng sẽ cách chức. Thứ hai là cán bộ từ chức vì sức khỏe; vì tạo cơ hội cho người khác; vì công việc không phù hợp với chuyên môn; vì có định hướng khác... Thẳng thắn nhìn nhận, từ chức vốn là vấn đề không dễ dàng với mỗi cá nhân do nó liên quan đến lợi ích, quyền lực, danh dự... thậm chí là "cơm áo" hằng ngày của chính người đó. 
     Những năm tháng kháng chiến, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cán bộ phần lớn xả thân đi làm cách mạng, chịu mọi tù đày cũng chỉ mong cách mạng thành công, đến ngày được giải phóng. Khi đó, bổng lộc, quyền lợi với họ chỉ là thứ yếu, họ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng vì tổ chức. Bởi thế, chuyện họ từ chức khi thấy mình không hoàn thành tốt công việc, hay nhường cơ hội cho người khác... diễn ra nhẹ nhàng. Ngày nay, nhiều cán bộ trưởng thành trong hòa bình (một số được thừa hưởng cuộc sống đầy đủ từ gia đình), gắn liền với quyền lợi, bổng lộc, bởi thế không dễ để họ từ bỏ những điều đang có.
     Bên cạnh đó, gánh nặng khiến nhiều cán bộ không dám từ chức đó là sức ép từ gia đình, dòng họ, đồng nghiệp. Sức ép từ quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ” là áp lực lớn với nhiều cán bộ. Chức tước ở nước ta vẫn bị mặc định là “tiêu chuẩn” đánh giá sự thành đạt, địa vị xã hội không chỉ với cá nhân mà còn với gia đình, dòng họ, thậm chí mang tính địa phương. Dân tộc ta trọng tri thức, trọng danh nên luôn quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ”, “làm quan phát tài”. Về bản chất, đây là những quan niệm tốt đẹp, cái “cả họ được nhờ” ở đây là tiếng tốt, tiếng thơm, nhưng dần dần nó mặc nhiên được hiểu là sự nâng đỡ, mang lại lợi ích vật chất, quyền lực cho dòng họ.
     Mặt khác, dù là một góc khuất nhưng rất cần “điểm mặt, chỉ tên” đó là tình trạng cán bộ chạy chức, chạy quyền không phải là chuyện hiếm. Ai đó, bỏ tiền bạc để chạy chức thì khó để họ từ chức.
     Mặc dù Đảng, Nhà nước đã có những quy định rõ ràng cũng như khuyến khích cán bộ có sai phạm, không đủ uy tín từ chức, tuy vậy, chúng ta chưa xây dựng được thiết chế thuận tiện để cán bộ đã từ chức, nghỉ việc quay trở lại làm việc. Thực tế, những cán bộ đã từ chức, nghỉ việc thì rất khó có cơ hội trở lại hệ thống công quyền.

Những tấm gương
trong lịch sử
     Từ chức theo Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 của Bộ Chính trị “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” là việc cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
     Ở một chừng mực nhất định, trong lịch sử dân tộc, văn hóa công vụ về từ chức đã hình thành dù chưa phổ biến. Nó thể hiện lòng tự trọng, giữ phẩm giá của mỗi người. Khi thấy mình không đủ năng lực, không đủ uy tín để lãnh đạo, dẫn dắt, mở đường thì từ chức là cần thiết. Từ chức đúng cũng là tiếng nói phản biện, chống lại cái sai, cái không phù hợp. Lịch sử dân tộc ta đã có những người như thế. Nhà giáo-đại quan Chu Văn An, đại thi hào Nguyễn Trãi, Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm... là những người đã khẳng khái từ quan khi khuyên can triều đình những việc làm sai trái mà không được chấp thuận. Lịch sử dân tộc còn ghi việc nhiều vị quan tướng đã từ quan để phản đối sau khi Vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn ký các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp. Cũng trong lịch sử các triều đại phong kiến, nhiều bậc danh tướng cầm quân đánh giặc, khi thất bại đã từ chức, tự trói mình chịu tội với triều đình.
     Thời đại Hồ Chí Minh, vì sự nghiệp lớn lao của cách mạng, nhiều đồng chí giữ các cương vị quan trọng đã sẵn sàng rút lui khỏi chức vụ để thuận lợi cho cách mạng, sẵn sàng từ chức khi thấy mình chưa hoàn thành tốt trọng trách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành lập, khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Ủy ban Trung ương Quốc dân Đại hội bầu ra, đáng lẽ cũng tham dự Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin rút, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng còn ở ngoài Việt Minh. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần phát biểu trước Đảng, trước dân cũng đã đánh giá rất cao công lao và sự hy sinh quyền lợi của các đồng chí đó. Trong quá trình công tác, cũng có nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng tự nguyện xin rút khỏi các vị trí lãnh đạo. Sau sai lầm của cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đảng, đồng chí Trường Chinh xin từ chức Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã xin rút khỏi Bộ Chính trị. Hay như đồng chí Nguyễn Văn Linh từng xin rút khỏi Bộ Chính trị, nhưng sau đó, với những đóng góp quan trọng cho Đảng, cho đất nước, ông trở lại tham gia Bộ Chính trị rồi trở thành Tổng Bí thư.
     Ngày nay, có một số cán bộ mạnh dạn từ chức để dành cơ hội cho người khác. Một trong số đó là ông Nguyễn Sự, nguyên Bí thư Thành ủy Hội An (Quảng Nam). Ông Nguyễn Sự từ chức Bí thư Thành ủy trước hai năm của nhiệm kỳ. Việc ông Nguyễn Sự từ chức đã gây sự tiếc nuối với nhiều người vì ông là cán bộ có uy tín, luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao và không có sai phạm.
     Trên thực tế, thời gian qua, đã có một số cán bộ giữ các chức vụ quan trọng ở cả Trung ương và địa phương xin từ chức. Phần lớn số cán bộ này từ chức là do có vi phạm khuyết điểm. Dù việc họ từ chức là thể hiện sự chủ động, tuy nhiên việc từ chức sau khi đã nhận hình thức kỷ luật thì tính chất, ý nghĩa cũng khác. Chúng ta cần những cán bộ làm gương như ông Nguyễn Sự, với lời chia sẻ của ông: "Mình đã làm được một thời gian rồi, tư duy của mình không thể tạo ra những cái mới, vì thế, để tạo điều kiện cho lớp trẻ kế tục sự nghiệp của mình và sự nghiệp chung thì tốt nhất nên từ chức...".

Cần có “Khoán 100”, “Khoán 10” về từ chức-phục chức
     Trên thực tế, Đảng, Nhà nước đã có các quy định pháp lý cho việc từ chức. Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng "về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ" xác định phải "xây dựng quy định để việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở thành nếp văn hóa ứng xử của cán bộ". Luật Công chức, viên chức cũng quy định những vấn đề này. Đặc biệt, ngày 3-11-2021, Bộ Chính trị ban hành Quy định 41-QĐ/TW “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” và ngày 8-9-2022, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Thông báo số 20-TB/TW Kết luận của Bộ Chính trị “về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật”. Điểm đáng chú ý, Bộ Chính trị khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức.
     Có thể thấy, những quy định này đã có nội hàm rất rõ khi coi việc từ chức là vấn đề bình thường trong thực thi công vụ. Nó cũng mở đường cho những cán bộ có sai phạm, yếu kém; đồng thời tạo thuận lợi cho những cán bộ muốn từ chức vì những lý do chính đáng khác. Tuy nhiên, trên thực tế, còn một rào cản khác khiến cho cán bộ không dễ dàng từ chức, đó là nếu đã từ chức thì gần như không còn cơ hội để quay lại hệ thống công quyền. Thực tế, các quy định của Đảng không chặn đường tiến của cán bộ đã từ chức. Điểm 2 Điều 10 Quy định số 41-QĐ/TW nêu: “2. Cán bộ đã từ chức và bố trí công tác khác, nếu được cấp có thẩm quyền đánh giá tốt, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện và khắc phục được những yếu kém, sai phạm, khuyết điểm thì có thể được xem xét để quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử theo quy định”. Dù vậy, trên thực tế vẫn còn quan điểm nặng nề, định kiến khi phục chức, hay thăng chức cho một cán bộ từ chức. Dư luận dường như chưa sẵn sàng chấp nhận điều đó. Có ý kiến cho rằng, cần có một “Khoán 100”, “Khoán 10” trong việc “từ chức-phục chức”.
     Như đã đề cập, nếu ai đó đã chạy chức thì rất khó để họ từ chức, mà bằng mọi cách để giữ chức. Bởi thế, cần xử lý cương quyết với tình trạng chạy chức. Cùng với thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về cán bộ nêu gương, chống chạy chức, chạy quyền thì điều rất quan trọng là thực hiện các giải pháp để ngăn chặn hành vi này. Từ thực tiễn cho thấy, Đảng phải kiên quyết siết chặt quy trình, quy định về công tác bổ nhiệm cán bộ theo hướng gắn trách nhiệm cụ thể của người đề cử cán bộ và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm. Trường hợp cán bộ có sai phạm trong phạm vi thời gian nhất định thì người đề cử và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm cán bộ đó cũng bị xem xét xử lý kỷ luật. Cùng với đó, cần thực hiện công khai danh sách cán bộ từ quy hoạch đến đề bạt, bổ nhiệm, đánh giá, luân chuyển để quần chúng biết và cùng giám sát. Thực hiện cơ chế cạnh tranh bình đẳng để tuyển chọn những người tài giỏi, trong sạch làm lãnh đạo, quản lý. Và điều quan trọng nhất, phải ban hành được tiêu chuẩn đánh giá cán bộ hằng năm một cách công khai, minh bạch, công bố trong tập thể để giám sát. Những người bị đánh giá hạn chế về năng lực, phẩm chất, không có quy hoạch thì cũng không dễ để chạy chức.
     Trở lại vấn đề gốc của người cán bộ thì từ chức cần được xem là vấn đề bình thường trong bộ máy công quyền, đúng cả về lý luận và thực tiễn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhiều lần khẳng định quan điểm xuyên suốt: “Cán bộ là công bộc của dân”; chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ... Chức tước, địa vị của cán bộ thực ra là do nhân dân ủy thác. Khi thấy mình không thể làm tốt vai trò là một công bộc thì từ chức là việc nên làm. Đó không đơn thuần là một hành động mà cần xem nó là văn hóa ứng xử của cán bộ, rất cần thiết dù trong bất cứ môi trường, công việc nào./.
Yêu nước ST.

Bảo vệ văn hóa dân tộc trước biến tướng của ngoại lai

 



Trong xu thế hòa nhập văn hóa thế giới, Halloween trở thành lễ hội phổ biến và được đa số người trẻ nhiệt tình hưởng ứng. Thế nhưng, dựa trên thực trạng của sự hóa trang quá đà tôn sùng ma quỷ đã diễn ra, chúng ta chỉ vừa “hòa nhập” đã vội “hòa tan”. Những sự học đòi vô tội vạ, không giới hạn trong văn hóa đã tạo ra những biến tướng khủng khiếp.

20 năm thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (thường được gọi tắt là Tuyên bố DOC) được ASEAN và Trung Quốc ký ngày 4/11/2002 nhân dịp Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 8 tại Phnôm Pênh (Căm-pu-chia).

Là văn kiện chung đầu tiên giữa ASEAN và Trung Quốc trực tiếp liên quan vấn đề Biển Đông, Tuyên bố DOC 2002 có ý nghĩa to lớn trong việc duy trì hoà bình và ổn định ở vùng biển này nói riêng và cả khu vực nói chung.

 Nhân dịp kỷ niệm 20 năm ký văn kiện quan trọng này, xin trân trọng giới thiệu về những nội dung cơ bản và tình hình thực hiện bản Tuyên bố trong thời gian qua

1. Nội dung Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông

 Một là, các bên khẳng định cam kết đối với mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ), Công ước Luật Biển năm 1982 của LHQ, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Ðông - Nam Á, 5 nguyên tắc tồn tại hòa bình và các nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế. Cam kết này mang tính chủ đạo. Một mặt nó gắn với nghĩa vụ của các bên theo các văn kiện quốc tế mang tính toàn cầu là Hiến chương LHQ và Công ước Luật Biển năm 1982 cũng như các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó cam kết này cũng gắn với nghĩa vụ của các bên theo điều ước quốc tế mang tính khu vực liên quan các nước là Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á.

 

Hai là, các bên cam kết giải quyết mọi tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp về quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thông qua trao đổi ý kiến và thương lượng hữu nghị giữa các quốc gia có chủ quyền liên quan phù hợp với các nguyên tắc phổ cập của pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982. Căn cứ pháp luật quốc tế cũng như quy định tại Ðiều 33 của Hiến chương LHQ thì các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp gồm có thương lượng, môi giới, trung gian, hòa giải, trọng tài và tòa án quốc tế. Ðiều này có nghĩa là các bên có rất nhiều sự lựa chọn và các bên hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn các biện pháp hòa bình này. Ðiều mấu chốt là các bên không được đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp liên quan ở Biển Ðông.

 

        Ba là, các bên khẳng định tôn trọng tự do hàng hải và tự do bay ở Biển Ðông như đã được quy định bởi các nguyên tắc phổ cập của pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982. Theo các quy định liên quan của Công ước Luật Biển năm 1982, tàu thuyền của mọi quốc gia (bất kể ở trong khu vực hay ngoài khu vực) đều được quyền tự do hàng hải trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước ven Biển Ðông cũng như vùng biển quốc tế ngoài phạm vi 200 hải lý; tàu bay của mọi quốc gia được quyền tự do bay trên vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven Biển Ðông và ở vùng trời trên các vùng biển quốc tế. Mục đích của việc các nước ASEAN và Trung Quốc đưa quy định này vào DOC chính là tái khẳng định lại nghĩa vụ của họ theo Công ước Luật Biển năm 1982.

 

Bốn là, các bên cam kết kiềm chế không tiến hành các hoạt động có thể làm phức tạp thêm hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Tuyên bố đặc biệt nhấn mạnh việc kiềm chế không đưa người lên các đảo, bãi hiện nay không có người ở. Thực hiện cam kết này vừa tạo điều kiện cho việc tăng cường quan hệ láng giềng hữu nghị giữa các nước trong khu vực vừa tạo tiền đề cần thiết cho các nước có tranh chấp ở Biển Đông từng bước tìm kiếm các giải pháp cho các tranh chấp. Hoà bình và ổn định ở Biển Đông cũng gắn với hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới. Do đó việc thực hiện cam kết này cũng chính là để đóng góp tích cực cho việc duy trì hoà bình của khu vực và trên thế giới.

 

Năm là, các bên đồng ý căn cứ vào các nguyên tắc Hiến chương LHQ, Công ước Luật Biển năm 1982, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Ðông - Nam Á, 5 nguyên tắc tồn tại hòa bình và các nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau để tìm kiếm các phương cách xây dựng lòng tin. Từ cam kết mang tính nguyên tắc đó, ASEAN và Trung Quốc nhất trí là trong khi tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, các bên cam kết tăng cường nỗ lực để xây dựng lòng tin như tiến hành đối thoại quốc phòng; đối xử nhân đạo với người bị nạn trên biển; thông báo cho các bên liên quan về các cuộc diễn tập quân sự, trao đổi thông tin liên quan. Việc thông báo và trao đổi như vậy được các bên liên quan tiến hành trên cơ sở tự nguyện.

 

Sáu là, các bên đồng ý trong khi tìm kiếm giải pháp toàn diện và lâu dài cho vấn đề tranh chấp ở Biển Ðông, các bên có thể tìm kiếm và tiến hành các hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an toàn và an ninh hàng hải, tìm kiếm, cứu nạn trên biển, đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia (buôn bán ma túy, cướp biển, cướp có vũ trang trên biển và buôn lậu vũ khí). Các bên sẽ thỏa thuận phương thức, địa điểm và phạm vi của các hoạt động hợp tác này trước khi triển khai.

 

Bảy là, các bên long trọng cam kết tôn trọng các quy định của DOC và hành động phù hợp với các nội dung của DOC. ASEAN và Trung Quốc đồng ý sẽ cùng nhau hợp tác trên cơ sở đồng thuận để đạt mục tiêu cuối cùng cao hơn là thông qua một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Ðông (COC). Các bên đều nhất trí rằng việc thông qua Bộ Quy tắc đó sẽ tăng cường hơn nữa hòa bình và ổn định của khu vực. Ðồng thời ASEAN và Trung Quốc cũng khuyến khích các quốc gia khác tôn trọng các nguyên tắc trong DOC.

 

2. Thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông

 

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc là kết quả nỗ lực chung của cả ASEAN và Trung Quốc. Việc ký kết văn kiện này là một bước tiến quan trọng trong việc đối thoại giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông. Việc tuân thủ nghiêm chỉnh các cam kết trong DOC góp phần tránh được các xung đột tại Biển Ðông, giữ ổn định cho khu vực và có lợi cho toàn khu vực.

 

Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN 16 tại Hà Nội (tháng 4/2010) đã coi DOC năm 2002 là một trong số các công cụ và cơ chế quan trọng hiện nay của ASEAN, đặt DOC bên cạnh các văn kiện pháp lý như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Ðông - Nam Á (TAC), Hiệp ước về khu vực phi vũ khí hạt nhân ở Ðông - Nam Á (SEANWFZ), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC) và Công ước ASEAN về chống khủng bố.

 

Chính giới và dư luận quốc tế cũng đánh giá cao vai trò của DOC và sự cần thiết thực hiện đầy đủ các cam kết trong văn kiện này. Tuyên bố của Chủ tịch ARF 17 tại Hà Nội (tháng 7/2010) nêu rõ các Bộ trưởng khẳng định tầm quan trọng của DOC như là một văn kiện lịch sử giữa ASEAN và Trung Quốc, thể hiện cam kết tập thể nhằm đảm bảo các giải pháp hòa bình cho các tranh chấp trong khu vực. Các Bộ trưởng nhấn mạnh hiệu quả của DOC trong việc xây dựng sự tin cậy lẫn nhau và sẽ giúp cho việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực. Các Bộ trưởng khuyến khích các nỗ lực theo hướng thực hiện đầy đủ DOC và cuối cùng tiến tới COC. Tuyên bố chung của các nguyên thủ và Thủ tướng các nước ASEAN và Trung Quốc về đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc (Ba-li, In-đô-nê-xi-a ngày 8/10/2003) đã coi việc thực hiện DOC là một biện pháp trong hợp tác an ninh giữa ASEAN và Trung Quốc.

 

Ðể thúc đẩy thực hiện đầy đủ các quy định trong DOC, ASEAN và Trung Quốc đã lập 2 cơ chế là Hội nghị quan chức cấp cao ASEAN - Trung Quốc về DOC (SOM ASEAN - Trung Quốc) và Nhóm Công tác chung ASEAN - Trung Quốc về thực hiện DOC (ACJWG). Dưới sự chỉ đạo của SOM ASEAN - Trung Quốc về DOC, từ năm 2005 đến năm 2011 Nhóm Công tác chung đã tập trung thương thảo về bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC.

 

Tại Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 44 tại Ba-li, In-đô-nê-xi-a (tháng 7/2011), ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí thông qua Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên bố DOC. Bản Quy tắc nêu rõ: DOC phải được thực hiện từng bước một phù hợp với các điều khoản của DOC; các bên tham gia thực hiện DOC tiếp tục tăng cường đối thoại và tham vấn, phù hợp với tinh thần DOC; việc tiến hành các hoạt động hoặc các dự án đã được quy định trong DOC cần được xác định rõ ràng; việc tham gia các hoạt động hoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện; các hoạt động ban đầu trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp xây dựng lòng tin; quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa trên sự đồng thuận của các bên và phải hướng đến mục tiêu cuối cùng là thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông; trong quá trình thực hiện các dự án đã được thoả thuận, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự đóng góp của các chuyên gia, các nhân vật nổi tiếng. Bản Quy tắc hướng dẫn quy định tiến trình thực hiện các hoạt động và các dự án đã được thoả thuận trong DOC sẽ được báo cáo hàng năm cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN-Trung Quốc.

 

Bước phát triển mới trong quá trình thực hiện Tuyên bố DOC năm 2002 là tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 18 (Gia-các-ta, In-đô-nê-xi-a, tháng 5/2011), các nhà lãnh đạo cấp cao ASEAN đã quyết định tăng cường nỗ lực thực hiện toàn diện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông và đề nghị thảo luận để bắt đầu xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Ðông vào năm 2012 nhân kỷ niệm 10 năm ký kết Tuyên bố DOC. Thực hiện quyết định đó, trong năm 2012 các nước ASEAN đang tích cực trao đổi và cho đến nay đã đạt được nhiều kết quả trong việc xây dựng các thành tố cơ bản của COC. Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 20 (Nông-pênh, tháng 4/2012) tiếp tục nhấn mạnh để bảo đảm hoà bình, ổn định và an ninh ở Biển Đông, trong đó có an ninh và an toàn hàng hải, các bên liên quan cần giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình, tuân thủ pháp luật quốc tế, đặc biệt Công ước Luật Biển năm 1982, bảo đảm tôn trọng và thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông, sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông.

 

3. Việt Nam và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông

 

Với chính sách đối ngoại hòa bình, Nhà nước ta đã nhiệt liệt ủng hộ Tuyên bố năm 1992 của ASEAN về Biển Ðông, mặc dù lúc đó chúng ta chưa phải là thành viên của ASEAN. Sau khi gia nhập ASEAN, chúng ta đã tích cực thúc đẩy và có đóng góp lớn vào việc xây dựng Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông. Ban đầu chúng ta chủ trương và nỗ lực theo hướng ASEAN và Trung Quốc ký một văn kiện có tính pháp lý cao hơn liên quan vấn đề Biển Ðông. Tuy nhiên, trong quá trình thương lượng nảy sinh một số vấn đề kỹ thuật không đạt được sự nhất trí chung. Trong bối cảnh đó, Nhà nước ta đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, có bước đi linh hoạt, mềm dẻo cần thiết, đồng ý bước đầu ký văn kiện ở hình thức Tuyên bố như văn bản DOC hiện hành. Từ khi Tuyên bố DOC được ký đến nay, chúng ta tiếp tục các nỗ lực to lớn, tuân thủ các cam kết trong DOC, đồng thời yêu cầu các nước liên quan thực hiện đúng các cam kết trong Văn kiện này. Tuyên bố DOC thực sự có đóng góp quan trọng cho việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Ðông. Nghiêm túc tôn trọng tinh thần Tuyên bố DOC và thực hiện đầy đủ DOC sẽ có lợi cho cả ASEAN và Trung Quốc, đồng thời đáp ứng mong mỏi và nguyện vọng chung của khu vực và thế giới về một Biển Ðông hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

 

Trong quá trình thực hiện DOC, Việt Nam trước sau như một kiên trì chủ trương giải quyết mọi tranh chấp liên quan Biển Ðông bằng các biện pháp hòa bình, căn cứ pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982, thúc đẩy thực hiện đầy đủ DOC, tiến tới xây dựng COC vì mục đích góp phần duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Ðông. Chúng ta cũng tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực về biển với các nước láng giềng liên quan. Các nỗ lực và việc làm của nước ta được chính giới và dư luận quốc tế và khu vực đánh giá tích cực.

 

Trả lời câu hỏi liên quan đến chủ đề Biển Ðông tại buổi họp báo ngày 9/4/2010 về kết quả Hội nghị cấp cao ASEAN 16, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: "Duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn trên Biển Ðông là lợi ích chung và là mối quan tâm lớn của các nước ASEAN, trong khu vực. Các nước liên quan đã xây dựng nhiều thỏa thuận và cơ chế hợp tác nhằm đảm bảo hòa bình, ổn định và cùng hợp tác ở khu vực, trong đó có Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Ðông (DOC). Ðây là văn kiện được ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc, nhằm thúc đẩy xây dựng lòng tin, hợp tác”. Thủ tướng nước ta nhấn mạnh: "Với thiện chí của các bên và vì lợi ích chung của khu vực, các bên liên quan sẽ tiếp tục tuân thủ và thực hiện tốt DOC, cũng như Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, góp phần thiết thực duy trì hòa bình, ổn định, an ninh ở Biển Ðông”.

 

Với tinh thần đó, từ thực tiễn hiện nay của ASEAN, chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục cùng các nước ASEAN tham khảo nội bộ chặt chẽ giữa các nước thành viên để thống nhất về các thành tố cơ bản của COC. Từ đó, ASEAN và Trung Quốc sẽ bàn bạc để sớm hoàn thành Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 20 tại Nông-pênh vừa qua, lãnh đạo ta đánh giá cao việc thông qua Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC và đề nghị ASEAN cần sớm thống nhất các thành tố cơ bản của COC để làm cơ sở đối thoại với Trung Quốc.

 

Cách tiếp cận hợp tình, hợp lý và các nỗ lực tích cực của Việt Nam trong việc thúc đẩy thực hiện toàn diện DOC và phối hợp chặt chẽ với các nước ASEAN khác trong việc xây dựng COC sẽ góp phần nâng cao hơn nữa vai trò và ý nghĩa của DOC, đóng góp xứng đáng vào nỗ lực chung của ASEAN và cộng đồng quốc tế vì một Biển Ðông hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Đằng sau luận điệu “Việt Nam nghèo đói”

Cho đến thời điểm hiện tại, rất khó hiểu khi một số trang thông tin vẫn kiên quyết cho rằng Việt Nam vẫn là một quốc gia ngập chìm trong nghèo đói. Vậy thực sự đằng sau những nhận định ấy là gì?

Mỹ, Anh cảnh báo về mối đe dọa “khủng bố”

 Theo cố vấn an ninh của Đại sứ quán Mỹ tại Nigeria, có “nguy cơ cao xảy ra các cuộc tấn công khủng bố ở Nigeria, đặc biệt là ở Abuja.

BÀI HỌC XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA LÊ NIN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ.


V.I Lê Nin đã cảnh báo Đảng Cộng sản Liên Xô : " Không có kẻ thù nào, dù chúng hùng mạnh và hung hãn nhất có thể đánh bại được Chủ nghĩa Cộng sẵn, ngoại trừ những người cộng sản tự tiêu diệt chính họ, bằng

Cách mạng Tháng Mười Nga – Chủ đề cũ nhưng luôn luôn mới và hấp dẫn


Hơn 105 năm đã trôi qua, kể từ ngày Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi trên đất nước của Lênin và nhân dân Nga vĩ đại, đến nay, những “kẻ thù lớn nhỏ” của ông và Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn luôn

CẢNH GIÁC TRƯỚC THỦ ĐOẠN NHÂN DANH PHẢN BIỆN XÃ HỘI ĐỂ KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ.

Phản biện xã hội (PBXH) là sự tham gia của cá nhân, các tổ chứcvề một vấn đề, chủ trương, chính sách nào đó của Đảng, Nhà nước nhằm làm cho chủ trương, chính sách đó đầy đủ, đúng đắn, hoàn thiện hơn trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận, phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh.

CÁC THẾ LỰC THU ĐỊCH LẠI XUYÊN TẠC VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII là xem xét Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến

Kỷ niệm 55 năm ngày mở màn chiến dịch Đak Tô - Tân Cảnh 1967

Chiến dịch Đắk Tô - Tân Cảnh hay Trận Đắk Tô - Tân Cảnh năm 1967, là một trận đụng độ trực tiếp giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với quân đội Hoa Kỳ, diễn ra từ ngày 3 đến 22 tháng 11 năm 1967, tại cứ điểm E42 (còn gọi là đồi Charlie) gần quốc lộ 14, thuộc xã Tân Cảnh cũ, nay thuộc địa bàn thị trấn Đắk Tô huyện Đắk Tô tỉnh Kon Tum.

Một người lính Mỹ gọi cho một y tá là Tiểu đoàn 1,
các trận đánh 503 binh binh cho Đồi 882, phía tây nam Đăk Tô, tháng 11 năm 1967
Bắt đầu từ ngày 3 và kết thúc vào ngày 22/11/1967, chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh được coi là một trận đánh thắng ngoạn mục của quân và dân ta trước Quân đội Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam
Khu Chiến Thuật Quân Đoàn II, Tây Nguyên Nam Việt Nam
Nhìn từ trên không của Trại Đăk Tô nhìn về phía Lào .
Trong trận đánh này, phía Quân giải phóng đã dụ được một lực lượng chủ lực cơ động của Mỹ lên Tây Nguyên hay còn gọi là Cao Nguyên Trung Phần vào thời đó để tiêu diệt. 
173 quân trong Không quân trong Chiến dịch Greeley
Hoạt động Greeley và khu vực Đăk Tô
Thiếu Tướng William R. Peers, Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Bộ Binh và tổng tư lệnh Hoa Kỳ tại Đắk Tô
Chuẩn Tướng Leo H. Schweiter, Tư Lệnh Lữ Đoàn 173 Dù
Tham gia trận đánh này, phía Mỹ có 16.000 quân cùng với pháo binh yểm trợ đã bắn tổng cộng 151.900 quả đạn pháo. Ngoài ra còn có 2101 phi vụ trực thăng vận, 2096 phi vụ ném bom, 257 phi vụ ném bom bằng B-52, ném tổng cộng 10.000 tấn bom.
Thành viên của Công ty C, Tiểu đoàn 1, 8 binh xuống bên cạnh Đồi 742,
tọa lạc năm dặm về phía tây bắc Dak To. 14–17 tháng 11 năm 1967
Phía ta hoàn toàn ngược lại, chỉ có 6000 quân với một đại đội súng cối hỗ trợ.
Xây dựng tại Đắk Tô
Với lối đánh nghi binh, luồn lách, cơ động, ào lên tấn công trực diện ở cự ly gần rồi lại rút lui nhanh, quân ta đã khiến phía Mỹ phải vất vả chống đỡ. 
Lính Mỹ bị thương chuyển đến một trạm cứu trợ trong trận chiến với Hill 882
Nếu như địa hình rừng núi quá quen thuộc với ta thì đối với binh lính Mỹ, địa hình này là cơn ác mộng khi trực thăng không thể tiếp cận còn binh lính Mỹ rất khó xác định khoảng cách để gọi pháo dội chính xác do bị cây cối che chắn tầm nhìn.
Pháo binh 105 mm của Mỹ đang hoạt động ở Tây Nguyên.
Ngoài ra, phía ta cũng tiến hành nghi binh chiến thuật ở nhiều hướng, đặc biệt là ở những khu vực phía sau lưng địch và sau phòng tuyến của địch, khiến chúng bị hỗn loạn, không thể phán đoán được vị trí của các đơn vị chủ lực của ta để tiến hành đánh lớn.
Quân đội Mỹ trong chiến đấu trên đồi 875.

Những người lính kiệt sức của Không quân 173 sau khi vận động ở Tây Nguyên.
Trong chiến dịch này, các cuộc đụng độ lớn giữa ta và địch chủ yếu chỉ diễn ra trên một vài cao điểm trọng yếu bao gồm cao điểm 882, cao điểm 875, cao điểm 724, cao điểm 823 và cao điểm 1262. 
Nguồn ảnh: Wiki.
Những cao điểm này đã phải hứng chịu hàng vạn quả đạn pháo của đối phương, cháy trụi hết cây cối và oằn mình dưới những màn dội bom từ B-52. Mặc dù vậy, phía Quân giải phóng vẫn ngoan cường bám trụ, tiến hành cơ động đánh địch trên địa hình trống trải, tiêu hao nhiều sinh lực địch
Nguồn ảnh: Tom.
Thậm chí, tại cao điểm 875 phía ta còn tổ chức tấn công bao vây, áp đảo lực lượng Quân đội Mỹ đang bị kìm chặt dưới chân đồi, bắn rơi tới 12 máy bay trực thăng khi chúng cố giải vây cho lính Mỹ. 
Nguồn ảnh: Life.
Cuộc đụng độ ở cao điểm 875 được Mỹ coi là cuộc đụng độ đẫm máu nhất đối với quân đội nước này trong chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh. Thậm chí ở Mỹ, trận đụng độ ở cao điểm 875 mà Mỹ gọi là Đồi 875 thậm chí còn nổi tiếng hơn cả chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh. Ảnh: Mỗi đôi giày tượng trưng cho một binh lính Mỹ đã ngã xuống. 
Nguồn ảnh: Tumblr
Tổng cộng, trong số 570 lính Mỹ tham chiến ở đồi 875, có 123 lính thiệt mạng tại chỗ và 252 lính bị thương, kèm theo 12 máy bay bị bắn rơi. 
Nguồn ảnh: Flickr
Tổng kết toàn chiến dịch, phía Quân giải phóng giành được cả hai chiến thắng về mặt chiến thuật và chiến lược. Phía Mỹ có 4570 lính thiệt mạng, mất 70 máy bay, 3 sân bay bị phá hỏng, 52 xe quân sự trong đó có 16 xe tăng-thiết giáp bị bắn cháy, 2 kho đạn và 3 kho xăng bị phá hủy hoàn toàn.
Nguồn ảnh: Press
Trận Đăk Tô - 1967, được coi là chiến thắng lớn đối với quân ta khi đã tiêu hao nặng những đơn vị thiện chiến nhất của Mỹ, đây cũng được xếp vào là 1 trong 3 chiến dịch thắng lớn nhất trên địa bàn Tây Nguyên cùng với chiến dịch Plây Me năm 1965 và chiến dịch Đăk Siêng năm 1970.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VỀ TẦM VÓC VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

 


Ngày 7-11-1917 (tức ngày 25-10-1917 theo lịch Nga), Cách mạng Tháng Mười Nga do V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích lãnh đạo đã giành thắng lợi, lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại mới của xã hội loài người. 105 năm qua, thế giới đã có quá nhiều đổi thay, các thế

KHẮC PHỤC CÁC LOẠI “BỆNH CÁ NHÂN”


Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí...

MÀI SẮC VŨ KHÍ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH



Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân - vết tích xấu xa của xã hội cũ là kẻ địch “nội xâm”; là thứ vi trùng mẹ “rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc.

Nguyễn Thông, một kẻ ảo tưởng, mơ hồ, vong ân, bội nghĩa

 

          Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận lời mời của Tổng Bí thư-Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình chính thức thăm Trung Quốc từ ngày 30/10 đến ngày 02/11/2022. Hóng hớt được thông tin này, mấy ngày vừa qua trên các phương tiện đài, báo của các nước phương Tây cũng như một số trang mạng xã hội thù địch, phản động đã ra rả, rêu rao, loan tải với những luận điệu và sử dụng các ngôn từ thô bỉ.

          Vào mạng xã hội đọc được bài với cái titte săc mùi khiêu khích, đểu giả, chọc ngoáy lung tung “Trông “nó” lại ngẫm tới ta” của tác giả có bút danh Nguyễn Thông toàn những thông tin hóng hớt cóp nhặt từ những bài viết về Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XX, từ đó Nguyễn Thông đã phán bừa vô căn cứ:“Đảng cai trị bên Tàu đang đại hội để củng cố quyền cai trị”. Nguyễn Thông khẳng định “Nói thẳng ra, tôi không có cảm tình với bọn cộng sản Tàu”. Nực cười là Nguyễn Thông bày trò như học giả mà chẳng hiểu gì nhiều, thế mà cũng phán như đúng rồi. Việc có cảm tình, hay không có cảm tình với Đảng Cộng sản Trung Quốc là việc của mỗi cá nhân, mỗi một góc nhìn khác nhau, quan điểm chính trị của riêng từng người, nhưng viết ra những câu hằn học, chửi bới, “vơ đũa cả nắm” không mang tính logic, mang nặng cái bản chất vô ơn, bạc nghĩa của mình ra để mà đá xéo, lôi kéo người khác là thiếu song phẳng, là hẹp hòi ích kỷ, không khách quan.

          Ý đồ đen tối, bản chất chống phá của Nguyễn Thông đã bộc lộ rõ khi kẻ này cố tình bóp méo, xuyên tạc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước bằng viện dẫn: “Chúng dúi cho ta vũ khí, tí gạo tí mì, để rồi ta dại dột làm người lính đi đầu, tiền đồn hậu đồn, kiêu hãnh trên tuyến đầu chống Mỹ, huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt nhằm bảo vệ chúng nó, để chúng nó được yên”. Nhắc lại cho Nguyễn Thông biết, từ cuối năm 1953, Trung ương Đảng đã quyết định tiến hành trận quyết chiến, chiến lược Điện Biên Phủ với thực dân Pháp. Trong chiến dịch này Việt Nam chúng ta không đơn độc, nhiều nước dân chủ, xã hội chủ nghĩa trên thế giới trong đó phải kể đến Trung Quốc, Liên Xô đã kề vai, sát cánh ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam.

          Trung Quốc đã kịp thời viện trợ 1700 tấn gạo; chi viện 3600 viên đạn pháo 105 mm (đó là cơ số đạn đi theo 24 khẩu pháo viện trợ đưa về Việt Nam cuối năm 1953); về sau Trung Quốc chuyển thêm 7400 viên đạn 105 mm (mặc dù lúc này đạn pháo của Trung Quốc khan hiếm). Trung đoàn lựu pháo 105 mm của Trung Quốc giúp đỡ, đã nã đạn xuống đầu đối phương. Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tích cực tham gia cùng Việt Nam trong mọi lĩnh vực chuẩn bị cho chiến trường. Sau khi nghiên cứu kế hoạch tác chiến đã ủng hộ hoàn toàn phương án của Đại tướng Võ Nguyên Giáp “đánh chắc tiến chắc”. Còn đối với Liên Xô từ năm 1950 Liên Xô đã viện trợ không hoàn lại và thường xuyên vượt mức yêu cầu của Việt Nam cụ thể từ tháng 5/1950 đến tháng 6/1954 với 21.517 tấn hàng viện trợ quốc tế, tổng giá trị 54 triệu rúp. Cùng với các nước dân chủ khác toàn bộ pháo cao xạ 37 ly; 76 khẩu và 14 dàn hỏa tiễn H6; 745 xe vận tải, súng ống tiểu liên… không kể hết.

          Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Việt Nam chúng ta không được phép quên công lao của nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân ta kháng chiến, trong đó Liên Xô, Trung Quốc đóng vai trò to lớn. Mỹ là siêu cường, tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ là rất mạnh. Việt Nam nghèo nàn lạc hậu là nước nhỏ nhưng chúng ta thắng đế quốc Mỹ vì chính nghĩa, vì lẽ đó mà chúng ta nhận được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới trong đó có Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác.

          Tổng kết 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995) Đảng và Nhà nước Việt Nam đã khẳng định “Thiếu sự giúp đỡ to lớn của liên Xô và Trung Quốc ta khó duy trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. Để viết về vấn đề này thì rất dài, không thể kể hết ra được. Ngạn ngữ cũng có câu “Trên đời này chẳng ai cho không ai cái gì cả” nhưng cũng có câu “Thù không cần trả nhưng ơn thì nhất định phải trả”.

          Chửi chán rồi lại “khen đểu”, “nịnh nọt” “so sánh khập khiễng” để đá xoáy, hạ nhục quốc thể đó là bản chất của nhà báo hai mặt Nguyễn Thông. Gã nhìn thấy tấm ảnh toàn cảnh Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc và viết“Đại hội của cái đảng chính trị đông nhất thế giới, của nước đông nhất thế giới, được cả thế giới chú mục vào, nhưng trang trí khá giản dị, không có lấy một bông hoa, chứ đừng nói một bó, một lẵng”. Trong quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc có những lúc thăng trầm, thậm chí xung đột vũ trang nhưng suốt hơn 7 thập kỷ xuyên suốt vẫn phải là mối quan hệ theo xu thế phát triển, ổn định, hữu nghị truyền thống và tích cực mang lại lợi ích thiết thực cho hai quốc gia và nhân dân hai nước. Chính vì thế Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc bế mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã điện mừng gửi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình, trong đó có đoạn “Tôi luôn luôn hết sức coi trọng và sẵn sàng cùng đồng chí tiếp tục dành sự quan tâm cao độ, chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương hai bên quán triệt, thực hiện tốt các thỏa thuận và nhận thức chung cấp cao, đưa quan hệ láng giềng hữu nghị và đối tác chiến lược toàn diện Việt nam-Trung Quốc lên một tầm cao mới, ổn định, lành mạnh, bền vững, đáp ứng lợi ích căn bản, lâu dài của hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới”

          Hiện nay, Việt Nam là nước đối tác thương mại lớn thứ 6 trên thế giới của Trung Quốc. Riêng năm 2021, tổng kim ngạch thương mại Việt Nam-Trung Quốc đạt 165,9 tỷ USD tăng 24,6% so với năm 2020. Trong 8 tháng đầu năm 2022 Trung Quốc đứng thứ 4/94 quốc gia vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 143 dự án, tổng vốn đạt 1,4 tỷ USD. Năm 2022 Việt Nam Trung Quốc cũng tiến tới ký kết nhiều văn bản hợp tác với Trung Quốc… Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam đó là: “Độc lập tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Trong quan hệ đối ngoại, những cái hay của các đối tác chúng ta vận dụng, học tập, một cách sáng tạo vào Việt Nam; những cái dở, những thất bại trong điều hành kinh tế vĩ mô của nước họ, chúng ta coi như những bài học kinh nghiệm cho đất nước mình. Nhưng mỗi quốc gia phải giữ cho được bản sắc dân tộc, độc lập tự chủ, không thể rập khuôn máy móc. Những“cái lưỡi không xương” của các thế lực thù địch sẵn sàng uốn éo chửi bới lung tung, xuyên tạc bịa đặt về mối quan hệ Việt Nam -Trung Quốc nhằm gây mâu thuẫn, bất ổn chính trị, khiêu khích, kích bác chiến tranh, để dẫn dến kinh tế-xã hội rối ren, “đục nước béo cò”. Đó chính là âm mưu thủ đoạn đen tối của cái gọi là “Diễn biến hòa bình”, mà tất cả người dân Việt Nam cần hết sức nâng cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi mưu hèn kế bẩn của các thế lực thù địch, phản động.

          Chắc rằng cha mẹ ông ta đã chọn và đặt cho cái tên là để muốn Nguyễn Thông học tập bậc tiền bối Nguyễn Thông (1827-1884) – một nhà trí thức giàu lòng yêu nước, nhà văn hóa tiêu biểu ở nửa đầu thế kỷ 19 của dân tộc Việt Nam. Chứ đâu có ngờ nuôi dưỡng, cho ăn học đến nơi, đến chốn để trở thành kẻ “vong ân, bội nghĩa”, loại “ăn cháo, đá bát” hại nước, hại dân thật là nhục nhã. Nhiều người trong cộng đồng mạng tha thiết đề nghị các cơ quan chức năng cần có biện pháp nghiêm trị, ngăn chặn, không cho Nguyễn Thông ngang nhiên viết bậy, viết bạ, mang nội dung tuyên truyển phỉ báng chế độ, bôi nhọ Đảng và Nhà nước Việt Nam trên trang facebook, blog cá nhân, để cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng loan tải, rêu rao trên các trang mạng phản động trong và ngoài nước chống phá chế độ./.

                                                                                                St

ĐỪNG RU NGỦ DÂN TỘC BẰNG TƯ DUY NÔ LỆ!

 

          Về nghệ thuật ngoại giao, Việt Nam luôn là một cô gái đẹp, ai cũng thèm muốn nhưng cô gái đó lại không bao giờ thuộc về ai.

          Về chủ trương ngoại giao, Việt Nam là bạn với tất cả các nước, Việt Nam độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

          Về đối ngoại quốc phòng, Việt Nam có chính sách 4 không:

          - Không tham gia liên minh quân sự.

          - Không liên kết với nước này để chống nước kia

          - Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác

          - Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

          Việt Nam luôn thấu suốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Người Việt Nam tự biết quyết định vận mệnh dân tộc của mình, không theo Tây, theo Tàu, không có tư duy nô lệ, theo bên này, bên kia đâu nhé anh giảng viên Đại học FULBRIGHT! Đừng ru ngủ dân tộc bằng tư duy nô lệ như thế!