Thứ Ba, 10 tháng 1, 2023

SỰ SẮP ĐẶT “NGẪU NHIÊN” CỦA TẠO HOÁ!

 


Một sự trùng hợp đến khó tin trong lịch sử Việt Nam - đó là sự xuất hiện cùng lúc của hai người phụ nữ kỳ tài tại Miền Nam Việt Nam trong những năm tháng chống Mỹ ,cứu nước... Tên của hai bà chính là sự khát vọng đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam (Bình - Định).

Một là Nguyễn Thị Bình - bà là người con của quê hương Đồng Tháp - là cháu ngoại của nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Bà là nhà nữ ngoại giao kiệt xuất của mặt trận giải phóng Miền Nam ( tướng văn). Bà từng tham gia đàm phán ở Pari, dự hội nghị bốn bên với vai trò ngoại giao của mặt trận giải phóng Miền Nam Việt Nam. Một người phụ nữ vừa xinh đẹp, lại vừa dịu hiền nhưng đã khiến giới mày râu ngoại giao nhiều phen khiếp sợ cứng họng trước những câu đối đáp hóc búa của bà, không những thế, tài ngoại giao thiên bẩm đã giúp bà hóa giải tài tình những câu hỏi gài bẫy, lắt léo của những nhà ngoại giao cáo già, chuyên nghiệp, sừng xỏ Phương Tây. Những ngày đầu gặp bà tại bàn đàm phán- nhiều nhà ngoại giao lúc đó còn mỉa mai cho rằng: phía mặt trận giải phóng Miền Nam đưa đến hội nghị một người phụ nữ nội trợ... Nhưng sau này chính họ phải thốt lên rằng:  nếu nói Nguyễn Thị Bình là một người nội trợ - thì những nhà ngoại giao Mỹ chính là gia vị trong căn bếp đó”.

Người phụ nữ thứ hai là nữ tướng quân - bà Nguyễn Thị Định (tướng võ).

 Bà là người con của quê hương đồng khởi Bến Tre. Bà là người nữ tướng chỉ huy nhiều mặt trận ác liệt tại Miền Nam - đội quân dưới sự chỉ huy của vị tướng tóc dài đã đánh Đông dẹp Bắc... làm cho kẻ thù nhiều phen điên đảo trước tài thao lược của một vị nữ tướng mưu lược, tài ba, gan dạ. Bà chính là phó tư lệnh quân giải phóng Miền Nam. 

Sau ngày đất nước thống nhất, hai bà giữ nhiều chức vụ quan trọng của nhà nước Việt Nam. Hai người phụ nữ kỳ tài một Văn một Võ (Bình “yên” -  Định “ổn”) người thì xông pha bên ngoài trên mặt trận ngoại giao, một Văn tướng tài ba kiệt xuất - người thì xông pha khắp chiến trường Nam Bộ với vai trò Võ tướng một hình ảnh hy hữu trên chiến trường khói lửa binh đao... Đó chính là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ nói riêng và chính là hiện thân của những khí phách kiêu hùng trong lịch sử dân tộc, con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu... bất diệt.


CẢNH GIÁC, ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU "PHI CHÍNH TRỊ HOÁ QUÂN ĐỘI"!

         Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. 
     Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta cần nhận thức sâu sắc về bản chất, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của kẻ thù là nhằm chuyển hướng chính trị của Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản. Từ đó, làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các bước tiếp theo giống như kiểu “Cách mạng Hoa hồng”, “Cách mạng Đường phố”, “Cách mạng Cam”,... mà chúng đã thành công ở hàng loạt nước trên thế giới./.


Yêu nước ST.

NHỮNG KẺ “CHỚP THỜI CƠ”

 

Mới đây, thông tin bé H.N (10 tuổi) rơi xuống móng cọc sâu 35m ở Đồng Tháp đã nhận được sự quan tâm rất lớn của dư luận, ai cũng hy vọng điều thần kỳ xảy ra với bé. Nhưng đã không có một phép màu nào xảy ra, bé đã được UBND tỉnh Đồng Tháp xác nhận là tử vong vào chiều ngày 04/1/2023. Điều đáng nói là trong khi lực lượng chức năng đang ra sức không kể ngày đêm chiến đấu với thần chết với mong muốn kịp thời đưa bé H.N ra khỏi ống cọc. Thì ngược lại một số thành phần cơ hội, các thế lực thù địch chống phá lại coi đây là một “thời cơ” để kích động dư luận.

Trên các trang mạng xã hội hàng loạt các luận điệu xuyên tạc, sai trái được các đối tượng này đưa ra nhằm chỉ trích công tác cứu hộ cứu nạn chưa kịp thời, “chê bai” nghiệp vụ của các lực lượng cứu hộ cứu nạn còn yếu kém. Thậm chí còn đánh giá chính quyền là thiếu trách nhiệm, không có sự quan tâm để xảy ra hậu quả đáng tiếc. Một số trang như Việt Tân cũng đăng hàng loạt bài viết có nội dung tương tự, hay trong nhóm “Hội những người cầm bút can đảm” một số đối tượng như Bùi Chí Vinh, Nguyễn Thị Thanh Bình,…đã chế ra nhiều bài thơ với mục đích “chế giễu” công tác cứu hộ cứu nạn.

Trong khi lực lượng cứu hộ cứu nạn đang tranh thủ từng giây từng phút chạy đua với thời gian với mong muốn đưa bé ra khỏi ống cọc càng sớm càng tốt, thì nhiều kẻ lại quay ra tìm cách “phá đám”. Thật xấu hổ thay cho những kẻ suốt ngày chỉ biết “chầu chực” chờ đợi cơ hội để chống phá, để phủ nhận sự thật.

Phép màu có thể không đến với bé, song chúng ta cũng phải dành lời động viên cho những lực lượng chức năng đã không ngại khó khăn vất vả dù biết cơ hội là rất ít nhưng vẫn không bỏ cuộc, không dừng lại. Thiết nghĩ những kẻ “ăn cháo đá bát” kia thay vì đi xuyên tạc, đi “rêu rao” những thứ sai trái không đúng tính chất vụ việc thì hãy làm những điều thiết thực, có ý nghĩa sẽ tốt hơn rất nhiều.

TẠI SAO PHẢI “GIẢI TRÌNH” KHI “CẦM TÙ” NHỮNG KẺ VI PHẠM PHÁP LUẬT?

 


Lâu nay một số kẻ tự xưng là “chuyên gia” hay “tổ chức” đội lốt vỏ bọc nhân quyền lợi dụng việc một số kẻ chố.ng phá đất nước dưới vỏ bọc dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam bị bắt, xử lý để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam đã trở thành quy luật. Họ xem đó là cách để hạ uy tín của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền. Họ đã phủ nhận những thành tựu về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và bầu chọn là thành viên Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Điển hình trong số đó là việc 04 người được gọi là “chuyên gia” nhân quyền Liên Hợp quốc đã đưa ra cái gọi là “thư chung” tới Chính phủ Việt Nam để thực hiện cái gọi là “yêu cầu giải trình về việc cầm tù 18 nhà hoạt động, người bảo vệ nhân quyền và nhà báo- những người bị đã bị bắt giữ tùy tiện và bị tước quyền tự do khi thực thi quyền tự do ngôn luận” mà RFA, “Việt Tân” vừa đăng tải.

Có thể kể 18 kẻ vi phạm pháp luật được họ gọi là nhà “hoạt động” bao gồm Phạm Đoan Trang, Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Thị Tâm, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Nguyễn Lân Thắng, Bùi Tuấn Lâm, Lê Chí Thành, Trương Châu Hữu Danh… Những kẻ thiếu thiện chí núp bóng “chuyên gia” này còn xuyên tạc cho rằng “18 nhà hoạt động này bị điều tra hoặc đã bị kết án dựa trên các điều luật mơ hồ”

Việc các cá nhân trên có các hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý nghiêm minh theo các quy định pháp luật Việt Nam là điều đương nhiên. Không có vùng cấm, không có ngoại lệ cho dù họ có được các cá nhân, tổ chức "nhân quyền" danh nghĩa hậu thuẫn, can thiệp từ bên ngoài. Không chỉ Việt Nam mà các quốc gia khác trên thế giới, trong đó có Mỹ, các nước phương Tây đều có những chế tài để xử lý những kẻ vi phạm pháp luật như những kẻ mà chính họ đang gọi là những nhà “hoạt động”. Và có lẽ chiêu trò này cũng chỉ là việc họ đang “tự sướng” với nhau mà thôi chứ Việt Nam không rảnh và cũng chẳng cần gì phải “giải trình” về những việc vô nghĩa này.

ĐINH HỮU THOẠI KHÔNG XỨNG ĐÁNG LÀ MỘT LINH MỤC

 


Không phải là Người Công giáo nhưng qua những thông tin tìm hiểu được biết đến từ những người bạn, trên mạng xã hội thì trách nhiệm dạy giáo lý là một phần trong nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng và là hoạt động ưu tiên mục vụ của các linh mục. Họ có trách nhiệm thúc đẩy, điều động, tổ chức và hướng dẫn hoạt động dạy giáo lý cho các thành phần dân Chúa. Linh mục đồng hành thiêng liêng với giáo dân như linh hướng và mục vụ tư vấn để giúp giáo dân lớn lên trong tương quan với Chúa. Sự cộng tác trong tôn trọng với giáo dân và tu sĩ luôn cần thiết nơi linh mục để xây dựng Giáo hội.

Hơn thế nữa, theo quy định của Giáo hội thì linh mục là thừa tác viên hòa giải nên phải tôn trọng các tín hữu và các đồng bào thuộc tôn giáo khác, các truyền thống văn hoá, không được vô tình hay cố ý cổ vũ hận thù và gây chia rẽ. Vậy nhưng đáng buồn thay, hiện nay một số Cha xứ, linh mục lại đang làm điều ngược lại, họ không rao giảng Tin mừng, ý Chúa đến với các giáo dân mà thay vào đó là họ hướng các giáo dân đến các hoạt động cổ vũ, kí.ch động gây rối, chố.ng phá chính quyền và thậm chí còn khích bác, chia rẽ giữa các tôn giáo hay cả các chức sắc tôn giáo khác.

Điển hình trong số đó là linh mục Đinh Hữu Thoại, vị linh mục này vừa chia sẻ bài viết của những kẻ chố.ng phá đất nước như Huỳnh Ngọc Chênh và còn cho rằng “tâm sinh tướng” không ngờ diện mạo bên ngoài lại tệ hại như vậy” để nói về hình ảnh vị Đại đức Thích Trúc Thái Minh – chùa Ba Vàng, Quảng Ninh và Thượng tọa Thích Nhật Từ, Ủy viên Thường trực Hội đồng trị sự kiêm Phó Trưởng ban Thường trực Ban Phật giáo Quốc tế Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam có hình ảnh tay bắt mặt mừng sau những “lùm xùm” được chia sẻ trên cộng đồng mạng, đặc biệt là sau việc cúng dường ở chùa Ba Vàng đại lễ Vu Lan vừa qua.

Việc vị Đại Đức Thích Trúc Thái Minh và Thượng toạ Thích Nhật Từ vui vẻ bắt tay sau những “lùm xùm”trên mạng xã hội được những người quan tâm ủng hộ về sự đoàn kết trong những vị chức sắc Phật giáo vì một mục đích chung để đất nước được phát triển. Ấy vậy mà, dưới con mắt của Huỳnh Ngọc Chênh hay Đinh Hữu Thoại thì họ lại xem đó là cái “ác” hay lợi dụng vấn đề này để khích bác Phật giáo và những vị chức sắc này. Rõ ràng Giáo hội, Chúa không dạy Đinh Hữu Thoại điều này và Đinh Hữu Thoại không xứng đáng là một linh mục sau những hoạt động đi ngược đời và đạo trong thời gian qua.

                                                                                                Tiến Trung

75 TRIỆU CHO CÔNG TY TỔ CHỨC SỰ KIỆN “NHÀ THƠ THẾ GIỚI” TỐNG THU NGÂN

 


Như vậy với những sai phạm liên quan đến lĩnh vực văn hoá và quảng cáo, công ty cổ phần tổ chức cho sự kiện “nhà thơ thế giới" Tống Thu Ngân gây xôn xao dư luận đã bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt 75 triệu đồng. Đây là hình thức xử phạt được xem là hoàn toàn thích đáng và bài học cho các đơn vị tổ chức sự kiện như công ty cổ phần Hằng Holy khi đang tự biến mình thành chủ đề cho cộng đồng mạng lên án về hành động háo danh.

Trước đó, ngày 26/12/2022, nhiều tài khoản mạng xã hội lan truyền chùm ảnh một phụ nữ xuất hiện trên sân khấu, phía sau màn hình hiển thị nội dung "nhà thơ thế giới Tống Thu Ngân" cùng hàng loạt chức danh như: Chủ tịch hội đồng kỷ luật cấp cao của Liên đoàn các nhà thơ thế giới, đại sứ trọn đời của Liên đoàn các nhà thơ thế giới, Phó chủ tịch hội đồng Những người bảo vệ các nhà thơ thế giới, chủ nhiệm nhiều câu lạc bộ thơ trong và ngoài nước.

Đáng nói hơn, công ty cổ phần Hằng Holy có sử dụng logo VOV, VTV, VTC, ANTV, Hà Nội TV trên các ấn phẩm thiết kế của công ty trong việc tổ chức các sự kiện tại Quảng Ninh khi chưa được chấp thuận của các đơn vị nêu trên, đây là hình thức quảng cáo vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ và cần phải xử lý nghiêm minh, ko để gây hoang mang dư luận và mạng xã hội.

                                                                                                Tiến Trung

TRÒ CÂU VIEW “BẨN”

 

Thời gian vừa qua người dân cả nước đã vô cùng đau xót trước sự ra đi của bé Hạo Nam rơi xuống cọc bê tông sâu 35m ở Đồng Tháp. Đây là một tai nạn vô cùng đáng tiếc xảy ra đã gây nên nỗi đau không thể nào bù đắp được của bậc làm cha làm mẹ, của đội ngũ quản lý, nhà thầu xây dựng. Điều đau xót chưa qua đi thế nhưng lại có những cá nhân trên Tiktoker làm video với nội dung vô cùng phản cảm, cụ thể một TikToker đã khiến dân mạng vô cùng phẫn nộ khi xúi 3 em nhỏ chui vào ống trụ bê tông để thử nghiệm xem có chui lọt hay không.

Video đã nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội và tạo thành làn sóng dư luận với nhiều luồng ý kiến trái chiều khác nhau, tất cả mọi người đều bất bình trước cách tạo nội dung “bẩn”, đục nước béo cò của nam Tiktoker này. Tuy nhiên, để đáp lại làn sóng phản đối của dư luận, anh này lại giải thích rằng việc đăng tải video trên với mục đích giải đáp thắc mắc của bản thân và mọi người xem các bé có thể chui lọt vào ống cống hay không. Tuy nhiên chúng ta cũng nhanh chóng nhận ra đấy chỉ là lời biện hộ cho hành vi câu view “bẩn”, là thử nghiệm vô cùng nguy hiểm, lợi dụng trẻ em nhằm “câu tương tác, câu view”. Hành động này là phản cảm trước vụ việc đau lòng xảy ra ở Đồng Tháp, việc làm nội dung "ăn theo" một sự việc đau lòng như vậy là điều không thể chấp nhận được, chưa kể hành động xúi trẻ em chui đầu vào trong trụ bê tông như vậy sẽ rất nguy hiểm nếu không may những đứa trẻ bị mắc kẹt và không thể kéo ra ngoài.

Những video chứa nội dung phản cảm như trên sẽ gây ra những hệ luỵ vô cùng lớn trong nhận thức của người xem, đặc biệt là trẻ nhỏ. Để ngăn chặn sự phát tán của nội dung này, chúng ta cần gửi báo cáo đoạn clip với TikTok và trách nhiệm của đội ngũ này phải tiếp nhận và xử lý nghiêm người đăng tải video trên để làm gương cho những trường hợp tương tự khác có ý định câu view “bẩn”.

                                                                                            <Nguyễn Anh>

“AI ĐÃ GIÚP HÀNG TRIỆU NGƯỜI KHMER THOÁT KHỎI NẠN DIỆT CHỦNG”?

 

Đó là một trong những lời phát biểu của con trai Thủ tướng Campuchia Hun Sen, vị Đại tướng Hun Manet nhân kỷ niệm 44 năm ngày lễ Chiến thắng Khmer Đỏ (07/01/1979-07/01/2023) với nội dung rằng: "Có nhiều người nói quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia là ngày hận thù. Vậy ai đã giúp hàng triệu người Khmer thoát khỏi nạn diệt chủng?". Cùng với đó, bài phát biểu của Đại tướng Hun Manet cũng giải thích 4 vấn đề về lịch sử cuộc chiến chống Khmer Đỏ:

- Trong giai đoạn 1975-1979, chế độ Pol Pot đã tàn sát nhân dân Campuchia như thế nào?

- Đảo chính 1963 liệu có giúp Pol Pot ngưng thảm sát người dân Campuchia hay không?

- Tại sao không nhờ quốc tế giải cứu?

- Vì sao người Khmer không tự đứng lên lật đổ chế độ Pol Pot?

Đại tướng Hun Manet còn nói thêm rằng, thế giới không biết đến việc người Khmer đang bị thảm sát, người dân chúng ta phải trốn chạy và không đủ mạnh để chống lại. Những người Việt Nam ở ngay cạnh chúng ta và cha tôi đã gửi lời đến họ, họ đắn đo rất nhiều nhưng vẫn đưa đôi tay giúp đỡ. Họ là hàng xóm của chúng ta, là những ân nhân của chúng ta.

Những chia sẻ, phát biểu của con trai Thủ tướng Hunsen, ngài Đại tướng Hun Manet đã phản ánh thực tế về chiến thắng 07/01/1979 và thêm một lần nữa cho cả thế giới, đặc biệt là một số vị nghị sĩ cực đoan tại Campuchia lâu nay vẫn thường xuyên có các bài viết, hoạt động kích động lại mối quan hệ đoàn kết giữa hai quốc gia, phản ánh không đúng về Quân tình nguyện Việt Nam giúp Nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot. Họ là những người đã hy sinh xương máu vì nền độc lập của đất nước Campuchia và đó cũng đã thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, mối quan hệ truyền thống gắn bó thủy chung, lâu đời, sự giúp đỡ trong sáng, chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia.

Trước đây, Thủ tướng Hunsen cũng đã từng nhiều lần phát biểu nhấn mạnh, khẳng định về sự chính nghĩa, tinh thần cao cả và cảm ơn Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân Việt Nam. Điều này không chỉ được cá nhân gia đình ông Hunsen mà cả người dân Campuchia và cộng đồng quốc tế ghi nhận, còn những kẻ cố tình xuyên tạc, phản ánh sai lệch về ngày Chiến thắng Khmer Đỏ 07/01/1979 là những kẻ đang cố tình chống phá lại mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Campuchia hiện nay.

                                                                                        KHOAI LANG

"TRÊN DƯỚI ĐỒNG LÒNG", "DỌC NGANG THÔNG SUỐT" HIỆN THỰC HÓA NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG

 Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị của Chính phủ với lãnh đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vừa qua để lại dấu ấn sâu sắc trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Đặc biệt, bốn bài học mà Tổng Bí thư nêu ra là sự chắt lọc, kết tinh từ thực tiễn đất nước, có ý nghĩa rất lớn trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đối với cấp ủy, chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Năm 2022 có nhiều khó khăn, thách thức lớn với những diễn biến phức tạp hơn dự báo và có lĩnh vực khả năng còn khó khăn hơn nhiều trong năm 2023. Trong bối cảnh ấy, theo nhận định của Quỹ tiền tệ quốc tế, Việt Nam là điểm sáng “trong bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu.
Để phát huy kết quả đạt được, khắc phục hạn chế, yếu kém, hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ năm 2023, Tổng Bí thư cho rằng cần tiếp tục kế thừa, phát huy ba bài học đã được rút ra trước đây, đồng thời bổ sung thêm một bài học mới, đó là nâng cao hơn nữa năng lực dự báo, chủ động nắm chắc tình hình, xử lý hiệu quả các vấn đề nảy sinh,...
Đoàn kết thống nhất, bài học xuyên suốt mọi thời đại
Đây là một trong những bài học mang giá trị lịch sử, xuyên suốt quá trình dựng nước, giữ nước; quá trình đấu tranh cách mạng và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước của Đảng và dân tộc ta được Tổng Bí thư nhắc đến nhiều lần trong các sự kiện chính trị quan trọng, hay các hội nghị toàn quốc quán triệt triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị gần đây.
Tại Hội nghị Chính phủ lần này, thêm một lần nữa, Tổng Bí thư nhấn mạnh bài học này: Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo tinh thần “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt”. Đây không chỉ là tinh thần đoàn kết, thống nhất mà còn là bài học về ý chí, hành động phải triệu người như một của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và nhân dân ta ở mọi miền Tổ quốc trong tổ chức thực hiện các quyết sách của Đảng.
Không phải ngẫu nhiên, những câu nói ấy được Tổng Bí thư nhiều lần nhắc đến trong các bài phát biểu. Đó là nhận thức của quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn, là tư duy và tầm nhìn của Đảng ta gần 93 năm qua. Tại hội nghị Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 16/8/2021, Tổng Bí thư phân tích rất sâu bài học quý này và cho rằng, đoàn kết là giá trị cốt lõi; đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, là động lực to lớn làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta.
Nhờ vận dụng và thực hiện sáng tạo bài học có ý nghĩa lịch sử ấy, giữa bao khó khăn, thách thức của năm vừa qua, như đại dịch Coivd-19, xung đột Nga-Ucraina kéo dài, toàn Đảng, toàn dân ta đã chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi khá toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ, vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả.
Kinh tế nước ta vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh, đạt 8%, cao hơn nhiều so kế hoạch 6% đến 6,5%, và là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhìn lại thực tiễn đó, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Lời dạy ấy đã trở thành chân lý.
Đã đoàn kết càng phải đoàn kết hơn nữa
Thành tựu đạt được trong năm 2022 tiếp tục khẳng định mạnh mẽ đường lối đổi mới đất nước đúng đắn của Đảng ta. Nhưng Tổng Bí thư cũng lưu ý trong bài phát biểu, tuyệt nhiên không chủ quan, tự mãn, quá say sưa với những kết quả, thành tích đã đạt được, bởi vì đất nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, đặc biệt là những khó khăn thách thức gay gắt, mới xuất hiện từ giữa tháng 10/2022 đến nay.
Năm 2023 là năm bản lề, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong khi đó, dự báo tình hình quốc tế và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi phức tạp, nhanh chóng, khó đoán định.
Như một lẽ tự nhiên, càng đi vào đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước càng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức từ tác động bên ngoài và từ chính những vấn đề nội tại của đất nước. Bên cạnh việc cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế là cạnh tranh thương mại tiếp tục gay gắt; sự biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống diễn biến khó lường...
Khó khăn thách thức ngay từ khi dự báo tình hình - điều mà chúng ta đã phải quyết liệt ứng phó trong hai vừa năm qua. Chính vì thế, Tổng Bí thư đã bổ sung đây là một bài học quan trọng: “Nâng cao hơn nữa năng lực phân tích, dự báo; chủ động, nhạy bén nắm bắt những diễn biến mới của tình hình; kịp thời, quyết liệt xử lý có hiệu quả các vấn đề; làm việc nào dứt điểm việc đó, không để kéo dài, gây ách tắc, lãng phí nguồn lực; thích ứng linh hoạt với các tình huống mới phát sinh”.
Nhờ đoàn kết, thống nhất mà chúng ta vượt qua muôn vàn khó khăn để xây dựng đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Bài học không bao giờ quên là đã đoàn kết thì trong khó khăn càng phải đoàn kết hơn bao giờ hết. Đoàn kết để thống nhất khi đánh giá tình hình đất nước, cái gì làm tốt thì phát huy, đâu là tồn tại, yếu kém, cùng tìm cách khắc phục, tuyệt đối không được “cua cậy càng, cá cậy vây” như Tổng Bí thư nhiều lần nhắc nhở.
Trong bối cảnh có nhiều diễn biến khó lường, khó dự báo như hiện nay càng phải nêu cao tinh thần đoàn kết, hội tụ trí tuệ tập thể, phân tích, nhận định tình hình sát thực tế để có giải pháp hiệu quả. Mỗi khi gặp khó khăn càng phải đoàn kết, thống nhất mới vững lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào đồng chí, đồng đội và nhân dân. Từ đó để thống nhất ý chí và hành động vì sự nghiệp chung. Đây là bài học từ lịch sử và cũng là đòi hỏi từ thực tiễn hiện nay, nhất là khi giải quyết những vấn đề mới nảy sinh.
Theo Tổng Bí thư, để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thì trước hết phải đoàn kết trong Đảng; đoàn kết trong Đảng là nền tảng, là tiền đề nâng cao sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Những năm qua, nhờ đoàn kết trong Đảng, chúng ta đã phát huy được sức mạnh đoàn kết trong nhân dân; tranh thủ được sự đồng thuận, đồng tình, ủng hộ, cổ vũ, động viên, góp ý kịp thời của cán bộ, đảng viên, các đồng chí lão thành, các tầng lớp nhân dân, các cơ quan thông tin, báo chí,... tạo nên sức mạnh tổng hợp, sự đồng tâm nhất trí của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Muốn đoàn kết, thống nhất trong Đảng, không thể không chăm lo làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị; đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương.
Trọng tâm là ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết loại bỏ những người vướng vào tham nhũng, hư hỏng; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền; khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm,...
Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ là định hướng hành động cho Chính phủ mà còn mang đến cho cấp ủy, chính quyền các cấp và cán bộ, đảng viên, nhân dân nhiều thông tin quan trọng, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước, đã đoàn kết, đoàn kết hơn nữa “Trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt” hiện thực hóa nghị quyết của Đảng.
Báo Nhân dân

VIỆT NAM ĐỨNG ĐẦU DANH SÁCH GỢI Ý CÁC ĐIỂM ĐẾN HẤP DẪN NĂM 2023

 Năm 2022, thế giới bắt đầu mở cửa trở lại sau hơn 2 năm hạn chế do đại dịch COVID-19, do vậy giờ là thời điểm tốt nhất để đi du lịch và khám phá.Tuy nhiên, việc lựa chọn điểm đến luôn là vấn đề khó vì có vô số điểm thu hút hàng nghìn lượt du khách mỗi năm.

Nhằm giúp tháo gỡ khó khăn này cho du khách, Giám đốc điều hành Alapati Krishna Mohan của Công ty lữ hành phương Nam (Southern Travels - Ấn Độ) đã chia sẻ danh sách các điểm đến trên thế giới nên đi trong năm 2023. Đứng đầu danh sách này là Việt Nam. Đây là một điểm đến phổ biến và là một trong những quốc gia có chi phí phải chăng hơn cho du khách Ấn Độ. Bạn chắc chắn sẽ cảm thấy hài lòng khi đến thăm Việt Nam - nơi có vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ cùng văn hóa và lịch sử lâu đời.
Các hoạt động du lịch phổ biến khi tới Việt Nam là tham quan vùng sông nước, bằng thuyền hoặc du thuyền, cùng đi chợ nổi; thám hiểm hang động; tham quan các di tích văn hóa, lịch sử; nghỉ dưỡng trên đảo và ngắm động vật hoang dã. Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Sapa, Nha Trang, Đồng bằng sông Cửu Long và Di sản Thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận … là những địa điểm không thể bỏ qua ở Việt Nam.
Tiếp đến là Campuchia với di sản lịch sử phong phú, những ngôi đền tráng lệ, ẩm thực độc đáo, những bãi biển và hòn đảo tuyệt đẹp, người dân hiếu khách và cuộc sống về đêm sôi động. Nếu bạn thích khám phá các di tích lịch sử, nên đưa Campuchia vào lịch trình tham quan Đông Nam Á của mình.
Một số địa điểm hàng đầu nên khám phá ở Campuchia là đền Angkor Wat, thủ đô Phnom Penh, Koh Rong Samloem, Siem Reap, Ratanakiri, Prasat Preah Vihear, Battam Bang, Kampot, Hồ Tonle Sap,...
Ở vị trí thứ ba là Tây Ban Nha, một đất nước xinh đẹp với những danh thắng và cảnh quan thiên nhiên ngoạn mục, từ những ngọn núi kỳ lạ đến các bãi biển lung linh. Một số địa điểm đẹp nhất để tham quan và khám phá ở Tây Ban Nha là các bãi biển trên đảo Formentera, Vương cung thánh đường Sagrada Familia ở Barcelona, Bảo tàng Guggenheim ở Bilbao, những bức tường dốc trên hẻm núi ở tỉnh Malaga và những ngôi làng đẹp như tranh vẽ như Ronda, Cadaques và Cudillero.
Danh sách gợi ý cũng đề cập tới Hy Lạp - quốc gia tuyệt đẹp cả trong quá khứ lẫn hiện tại cũng như di sản ẩm thực. Mọi người từ khắp nơi trên thế giới đều lên kế hoạch đổ về đây để ngắm nhìn các thành phố cảng khác nhau, chụp ảnh phong cảnh và thưởng thức những món ăn ngon.
Hầu hết các vùng đất và đảo của Hy Lạp được bao quanh bởi biển, do đó, khi đến đây du khách có nhiều cơ hội trải nghiệm các môn thể thao mạo hiểm. Đi thuyền buồm, chèo thuyền kayak, đi bè trên sông, đi xe máy, chèo thuyền, leo núi và các hoạt động khác đều nằm trong danh sách tham quan nơi đây.Các đảo được ưa thích nhất tại Hy Lạp là Santorini, Mykonos, Paros, Rhodes, Kos, Crete, Skiathos, Corfu và Zakynthos.
Nam Phi thu hút du khách với các cơ sở du lịch nổi bật và nhiều lựa chọn chỗ ở, từ các nhà nghỉ dành cho thú săn sang trọng và khách sạn 5 sao đến các nhà trọ ở vùng nông thôn thân thiện, khách sạn nhỏ, khu cắm trại và chỗ ở tự phục vụ. Nếu bạn muốn một chuyến đi săn kỳ thú, những sa mạc ngoạn mục, những thị trấn xinh xắn hay những bãi biển ấm áp thì Nam Phi, quốc gia cực Nam của lục địa châu Phi, sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn.
Thái Lan có một đại diện là Hua Hin - một điểm du lịch nổi tiếng ở Thái Lan do có nhiều điểm tham quan cùng những hoạt động du lịch và thực tế Hua Hin ở gần thủ đô Bangkok. Tới đây, du khách có thể tận hưởng những bãi biển tuyệt vời, những ngọn núi, khung cảnh, đền thờ, chợ đêm, công viên nước và các cơ sở ăn uống tuyệt vời vào mọi thời điểm trong năm.
Hua Hin có một bãi biển cát mịn, một số nhà hàng hải sản sẵn sàng phục vụ, chợ đêm nhộn nhịp, nhiều hoạt động trên bãi biển cũng như trong đất liền, trong đó không kém phần quan trọng là chơi golf tại một số sân golf danh tiếng nhất của Thái Lan. Du khách có thể cưỡi ngựa trên bãi biển và viếng thăm một ngôi chùa Phật giáo trên đỉnh núi nhìn ra Vịnh Takiab.
Và được mệnh danh là đảo lửa và băng, Iceland đã trở thành điểm đến ấn tượng với du khách trên toàn thế giới, thu hút cả những người yêu thiên nhiên tìm kiếm trải nghiệm độc đáo. Ở quốc gia thưa dân này, nằm giáp Vòng Bắc Cực, du khách có thể tìm thấy những ngọn núi lửa đang hoạt động, mạch nước phun tự nhiên, suối nước nóng, sông băng, cánh đồng băng và vịnh hẹp. Để có những đặc điểm này là do Iceland nằm trên đỉnh của một trong những vùng núi lửa hoạt động mạnh nhất thế giới.
Ngắm cá voi ở Reykjavik, đi bộ đường dài ở Khu bảo tồn Thiên nhiên Landmannalaugar, khám phá Hang băng Skaftafell ở Công viên Quốc gia Vatnajökull, thăm lòng chảo Askja, ngắm thác nước Dettifoss, leo núi Kirkjufell ở Grundarfjördur và nhiều nơi khác là những điểm thu hút khách du lịch ở Iceland.

Những ký ức về trận địa lửa và hoa

     Cuộc sống không ngừng thay đổi, sau 50 năm tôi mới lại đi trên con đường mà trước đây tôi vẫn thường đi bằng xe đạp từ Vĩnh Yên về Hà Nội. Lần này đi bằng xe buýt về Hà Nội, tìm đến nhà ông Đỗ Đình Tân, nguyên trắc thủ phương vị kíp chiến đấu của Tiểu đoàn Tên lửa 77, Tiểu đoàn đã bắn rơi tại chỗ 4 B52 trong chiến dịch chống cuộc tập kích đường không của Mỹ trong 12 ngày đêm cuối năm 1972. Dọc đường đi, tôi được thấy những nơi trước đây là những trận địa súng phòng không, pháo cao xạ, trận địa tên lửa nay đã là những khu công nghiệp, khu chung cư cao vút lưng trời. Chen lẫn là những cánh đồng hoa rực rỡ sắc màu ở vùng đất Mê Linh nơi trước đây chỉ canh tác cấy lúa, trồng rau màu.
Kỷ niệm 50 năm chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, một chiến thắng thể hiện sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam mang tầm thời đại, nhiều ký ức về thời hoa lửa được sống lại qua hồi ức của người chiến sỹ đã góp phần cho chiến công vĩ đại ấy, trắc thủ phương vị, sỹ quan điều khiển tên lửa Đỗ Đình Tân.
    Chúng tôi tay bắt mặt mừng, nhấp chén trà và cùng nhau hàn huyên về những ngày tháng hào hùng 50 năm về trước. Ông Đỗ Đình Tân nhớ lại: Đợt tuyển quân tháng 4-1970, thanh niên Phú Xuyên nhập ngũ đều đã tốt nghiệp cấp 3, nên được biên chế vào các đơn vị tên lửa, tôi về Tiểu đoàn 52, Sư đoàn 363 Quân chủng Phòng không - Không quân. Sau 7 tháng huấn luyện tôi được điều về Tiểu đoàn 56, Trung đoàn 257,  F361. Khi B52 đánh ra Hải Phòng tôi lại được điều về Tiểu đoàn 77.
    Ông tiếp tục dòng ký ức: Trong một thời gian ngắn tôi được điều động đi nhiều đơn vị, nên đơn vị tiếp nhận chỉ biên chế tôi vào kíp 2 trực chiến đấu. Ngày 17-12-1972, ở kíp trực chiến đấu số 1 đồng chí trắc thủ phương vị bị ốm, Tiểu đoàn trưởng gọi tôi thay thế, nên tôi được chuyển lên kíp 1. Ngay trong trận chiến đấu buổi chiều hôm ấy đơn vị bắn rơi 1 chiếc F4. Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn thấy tôi chiến đấu bình tĩnh, thao tác đúng kỹ thuật, phù hợp với ý định tác chiến của Tiểu đoàn trưởng, lại đã cùng kíp chiến đấu bắn rơi máy bay, nên giữ tôi ở lại kíp 1, liên tiếp trong những trận chiến đấu tiếp theo đánh B52 tôi đều hoàn thành nhiệm vụ. Tôi đã được trực tiếp chiến đấu suốt 12 ngày đêm đánh B52, sau đó tôi được bổ nhiệm lên vị trí sỹ quan điều khiển của kíp chiến đấu.
    Nhấp chén trà, ông Tân kể nhiều chuyện thú vị trong chiến đấu, và giúp tôi giải đáp câu hỏi vì sao ta bắn rơi được B52, mà còn bắn rơi tại chỗ nhiều B52? Theo ông Tân, rất nhiều yếu tố để làm nên chiến tích đó, nhưng với người chiến sỹ trực tiếp chiến đấu, đó trước hết là quyết tâm, ý chí chiến đấu và chiến thắng. Anh em trong đơn vị luôn nhắc nhau nhớ lời hứa với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quyết tâm bắn rơi được B52 với tỷ lệ N2 là 6-7%; (tỷ lệ làm Nhà Trắng rung chuyển), N3 là trên 10% (tỷ lệ buộc Mỹ thua cuộc). Bởi vậy, mọi công tác chuẩn bị phải làm thật tốt, quyết tâm thật cao. Trong công tác chuẩn bị chiến đấu có 3 vấn đề chúng tôi quan tâm: Thứ nhất là chống nhiễu và vạch nhiễu tìm B52, thứ hai là tìm cách đánh hiệu quả, thứ ba là bố trí đội hình chiến đấu, ông Tân chia sẻ.
Hà Nội bốn mặt đồng bằng, máy bay địch có thể đột nhập từ nhiều hướng, Tiểu đoàn 77 được bố trí ở trận địa Chèm, là một thế trận rất nhiều lợi thế, thể hiện sự phán đoán sáng suốt. Tất cả các B52 dù cất cánh ở đâu đều tập trung trên bầu trời các tỉnh Tây Bắc, trên vùng núi Tam Đảo, Ba Vì trước khi vào vị trí ném bom Hà Nội. Vì thế, để đón lỏng chúng, một lưới lửa được bố trí theo chiều sâu bao gồm cả súng bộ binh tần thấp, pháo cao xạ và tên lửa từ chân Tam Đảo về Chèm rồi dọc theo sông Hồng vào nội thành Hà Nội.
Với tên lửa, ở mỗi vị trí, mỗi đơn vị và tùy theo sự phán đoán của người chỉ huy mà có những cách đánh khác nhau. Qua nhiều lần hội thảo, rút kinh nghiệm, và đánh thí điểm, Quân chủng Phòng không - Không quân đã viết thành sách, là cuốn “cẩm nang” để huấn luyện bộ đội. Với tên lửa có hai cách đánh cơ bản là đánh theo 3 điểm và đánh vượt trước nửa góc. Để thực hiện mục tiêu bắn rơi nhiều B52 nhất buộc Mỹ phải ngừng chiến dịch không tập, sau hai đêm chiến đấu, Quân chủng đã bố trí lại đội hình các trận địa tên lửa kết hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào, huy động nhiều tiểu đoàn cùng đánh vào một tốp máy bay địch từ các hướng khác nhau, vừa tấn công chính diện, vừa đánh chéo sườn tạo ra các vùng “chồng hỏa lực” khiến B52 sa vào “thiên la địa võng”.
    Phương pháp tìm B52 trong nhiễu là việc cực kỳ khó khăn nhưng là khâu quyết định để tiêu diệt được B52. Có thời gian trước đây, máy bay địch quần đảo trên bầu trời mà tên lửa phải nằm im vì ra-đa không bắt được mục tiêu do nhiễu quá nặng. Đã có nhiều cuộc họp rút kinh nghiệm từ các trận chiến đấu ở Vĩnh Linh, Đường 9. Nhưng cùng với sự trưởng thành của ta, sự cải tiến các phương tiện phát nhiễu và cách phát nhiễu của không quân Mỹ cũng thay đổi. Trước đây trên B52 chỉ có 1 máy phát nhiễu thì đến năm 1972 trên B52 đã lắp đến 12 máy phát nhiễu. Khi B52 vào đánh phá Hà Nội, có cả một dàn máy bay chiến thuật đi hộ tống và phát nhiễu bao trùm lên đường bay của B52, mặt khác chúng còn phát nhiễu từ các tàu sân bay ở ngoài biển, ở các sân bay và các trung tâm phát nhiễu đặt ở nước ngoài. Được biết vào thời điểm ấy ta có dùng ra-đa K8-60 của pháo để bắt mục tiêu B52, sau đó truyền tín hiệu cho ra-đa tên lửa, được biên chế ở Tiểu đoàn 79 thuộc đoàn Cờ Đỏ, tại trận địa Mai Động. Cải tiến này có hiệu quả nhưng đến thời điểm đánh B52 năm 1972 ta mới làm được 2 bộ. Nên việc vạch nhiễu tìm B52 vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự điêu luyện của trắc thủ. Vừa chiến đấu, các đơn vị vừa rút kinh nghiệm, truyền cho nhau kinh nghiệm như: mỗi tốp B52 có 3 chiếc luôn chỉ bay theo một đường bay; khi chúng ném bom xong sẽ ngoặt 90 độ quay ra nên các máy phát nhiễu đều hướng về phía trước chùm nhiễu không che được máy bay; khi B52 ném bom xong các máy bay chiến thuật phát nhiễu hỗ trợ cũng hết trách nhiệm nên mật độ nhiễu giảm nhẹ, đó là lúc nhìn thấy B52 rõ nhất… Điều này đã hỗ trợ nhiều cho vị trí trắc thủ phương vị.
    Người chiến sỹ Đỗ Đình Tân kể lại: Đó là lần đầu tiên vào lúc 4h39 phút ngày 19-12, tôi nhìn thấy B52, một điểm sáng rõ hơn trên một nền nhiễu dày đặc mờ ảo. Sỹ quan điều khiển Nguyễn Văn Đức, trắc thủ cự li Phạm Hồng Hà, trắc thủ góc tà Lưu Văn Mộc đều nhìn thấy. Dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn, chúng tôi “trói gọn” tốp B52 số hiệu 954 đang từ hướng núi Ba Vì bay vào. Chớp thời cơ Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn hạ lệnh phóng hai đạn từ cự li 36km bằng phương pháp vượt trước nửa góc, bám sát tự động (theo Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn, đây là phương pháp đánh rất nguy hiểm, khi phóng đạn nếu không nhanh chóng tắt ra-đa thì địch sẽ bắt được tín hiệu ra-đa của ta, và phóng ngay tên lửa vào trận địa. Chỉ những người dũng cảm nhất mới dám đánh theo phương pháp này). Hai vạch sáng lao đi, chấm sáng tín hiệu máy bay vụt tắt. Tiếng bên ngoài reo hò máy bay rơi. Một vùng sáng như quả cầu lửa rơi xuống cánh đồng xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Tây (nay là Hà Nội). Niềm vui sướng tột độ, chúng tôi ôm nhau cười, rồi khóc, những giọt nước mắt sung sướng, tâm trạng mỗi người lâng lâng trong niềm vui chiến thắng. Bắn rơi máy bay tại chỗ, với chúng tôi, không những là mục tiêu, là quyết tâm cao mà còn là để thực hiện tâm nguyện trả thù cho đồng đội, đồng bào đã bị chúng sát hại. Chiến thắng này mở ra một triển vọng mới cho lực lượng phòng không - không quân có thể đánh tiêu diệt lớn đối với B52.
Những trận đánh tiếp theo chúng tôi tự tin, chắc chắn và bản lĩnh hơn. Lúc 20h30 phút ngày 20-12, theo ra-đa dẫn đường, Tiểu đoàn 77 chúng tôi đã bám sát tốp B52 mang số hiệu 621 ở cự li 50km đang lao từ hướng Tây Bắc vào Hà Nội. Đến cự li 35km, sỹ quan điều khiển và các trắc thủ Phạm Hồng Hà, Lưu Văn Mộc, tôi đều nhìn thấy trên dãi nhiễu dày đặc. Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn hạ lệnh phóng hai quả, bám sát tự động. Cả hai quả đều chạm nổ mục tiêu ở cự li 33km khi chiếc B52 này định quay đầu chạy sang Lào, nhưng đã bị vít cổ xuống đất ở xã Vạn Thắng, Ba Vì, Hà Tây. Chiến thắng này đã góp vào đòn điểm huyệt làm rung chuyển Nhà Trắng.
    Sáng ngày 21-12, 15 tốp B52 có 45 chiếc ầm ầm kéo vào từ các hướng Tây Bắc, Tây Nam. Trung đoàn trưởng, thiếu tá Nguyễn Ngọc Điển giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 77 tiêu diệt tốp B52 mang số hiệu 318 đang từ ngã ba Bạch Hạc, Việt Trì lao vào Hà Nội, đánh phá ga Đông Anh và khu vực kho ở Uy Nổ. Trận địa Chèm nằm chéo hướng đường bay cơ bản, khi B52 vào cự li 40km, sỹ quan điều khiển Nguyễn Văn Đức phát sóng, cả 3 trắc thủ Phạm Hồng Hà, Lưu Văn Mộc và Đỗ Đình Tân đều thấy rõ tín hiệu B52. Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn ra lệnh đánh 2 quả đạn, bằng phương pháp Y, bám sát bằng tay, ngòi nổ hỗn hợp. Hai quả đạn nổ trúng mục tiêu. Máy bay bốc cháy ngùn ngụt, lao xuống thôn Phúc Thắng, thị trấn Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Vĩnh Phúc). Tiểu đoàn 77 trở thành đơn vị dẫn đầu toàn Quân chủng bắn rơi tại chỗ B52 Mỹ.
    Theo ông Tân, báo chí sau này nhấn mạnh đến số lượng B52 bị bắn rơi, nhưng với các lực lượng tên lửa lúc ấy bắn rơi B52 là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là phải bắn rơi tại chỗ. Chỉ có bắn rơi tại chỗ mới có bằng chứng để bộ đội và nhân dân tin tưởng, phấn khởi, còn kẻ địch thì không thể chối cãi. Bắn rơi tại chỗ B52 là sức mạnh cổ vũ, tạo niềm tin vô cùng to lớn với quyết tâm chiến đấu, chiến thắng của bộ đội. Cũng chỉ bắn rơi tại chỗ mới làm cho những kẻ cho rằng B52 là “siêu pháo đài bay”, “bất khả xâm phạm”, rằng không có vũ khí nào hạ được B52 phải tâm phục khẩu phục. Cũng chỉ bắn rơi tại chỗ mới tiêu diệt và bắt sống được giặc lái, nhân viên kỹ thuật của loại máy bay này, tiêu hao sinh lực của địch, mới buộc địch chịu thua. Nhưng để bắn được B52 và bắn rơi tại chỗ nhiều B52, với những vũ khí và khí tài hiện có lúc bấy giờ thì yếu tố dám đánh và quyết đánh thắng là yếu tố quan trọng nhất. Bởi với một trận đồ bát quái, B52 lẫn trong màn nhiễu dày đặc, máy bay chiến thuật hàng đàn chế áp các trận địa, chỉ cần sóng ra-đa ở trận địa tên lửa phát lên là mục tiêu để chúng tiêu diệt. Nhưng bộ đội đã dám phát sóng, quyết tìm B52 trong màn nhiễu và quyết bám chắc B52 để tiêu diệt. Bình tĩnh, mưu trí, phát sóng đúng thời điểm là một thử thách không phải ai cũng dám làm và làm được. Nó đòi hỏi lòng dũng cảm, mưu trí của người chỉ huy và cả kíp trắc thủ. Trước hết đó là trách nhiệm với đơn vị, với nhân dân Thủ đô, và hơn nữa trách nhiệm đối với Tổ quốc.
    Những điều nằm lòng ấy ông Tân vẫn không thể quên được sau 50 năm với nhiều thay đổi của cuộc sống. Kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 77 chỉ còn lại 3 người. Ông Đỗ Đình Tân cũng đã qua lứa tuổi xưa nay hiếm. Người sỹ quan chỉ huy, Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Đinh Thế Văn ở tuổi U90 nhưng vẫn hào sảng chia sẻ kỷ niệm trong Hội thảo "Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không 1972": Sức mạnh Việt Nam và tầm vóc thời đại”, truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm và khí chất của người chiến sỹ tên lửa quyết chiến, quyết thắng kẻ thù vì nhân dân Thủ đô, nhân dân cả nước, vì độc lập dân tộc, đất nước hòa bình, rực rỡ ngàn hoa đón xuân mới.
ST



Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

Chữa căn bệnh “né” trách nhiệm

Một trong những căn bệnh trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tồn tại lâu nay là bệnh né tránh trách nhiệm, sợ trách nhiệm. Mặc dù đã được nhận diện và chỉ rõ là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng, thế nhưng cho đến nay, căn bệnh này vẫn chưa được điều trị hiệu quả. Tác hại của căn bệnh này là rất lớn, đòi hỏi phải có phương thuốc đặc trị. “Trách nhiệm” là gì mà người ta sợ và muốn né tránh đến vậy? Theo Từ điển tiếng Việt, từ “trách nhiệm” có nghĩa là “Điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”; “là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”. Trong xã hội, bất kỳ ai cũng có trách nhiệm, bởi mỗi người đều có một vị trí nhất định trong các mối quan hệ xã hội, như gia đình, dòng họ, địa phương, tập thể, tổ chức chính trị-xã hội, công dân của một nước, thành viên của cộng đồng dân tộc và rộng nhất là của nhân loại… Trong đó, trách nhiệm công vụ có thể coi là hạt nhân tiêu biểu trong tập hợp các trách nhiệm. Đó là vì, suy cho cùng, trách nhiệm ấy là nhiệm vụ mà đất nước giao cho cá nhân cán bộ, công chức, viên chức theo chức trách được phân công. Trách nhiệm công vụ đòi hỏi cán bộ, công chức, viên chức phải thực hiện nhiệm vụ được giao đến cùng, không thể thoái thác hoặc trao lại cho ai khác, buộc người cán bộ, công chức, viên chức phải gắn mình với thực hiện công vụ cho đến khi có kết quả. Vì thế, khi đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, cụm từ “làm tròn nhiệm vụ”, "hoàn thành nhiệm vụ", "hoàn thành tốt nhiệm vụ" thường được dùng để nói về việc đã thực hiện đúng, đủ, tốt nhiệm vụ theo chức trách được phân công.Trong Bộ luật Hình sự có quy định tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng". Vừa qua, có rất nhiều vụ án lớn, khiến Nhà nước bị thất thoát hàng nghìn tỷ đồng, mà trong đó rất nhiều người giữ các trọng trách đã bị kết án vì tội này. Ví dụ như, vụ án Phạm Công Danh và đồng phạm gây thất thoát hơn 15.000 tỷ đồng khiến ông Đặng Thanh Bình, nguyên Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng 4 cán bộ dưới quyền bị truy tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Tương tự, bản án dành cho hai vị từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an là Bùi Văn Thành và Trần Việt Tân cũng vì "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng". Tội “thiếu trách nhiệm” ở những trường hợp này được hiểu là làm không hết trách nhiệm, quản lý kém, thiếu kiểm tra, không phát hiện để cấp dưới sai phạm pháp luật gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tất nhiên là nguyên nhân sâu xa của việc thiếu trách nhiệm trong từng trường hợp cụ thể là rất khác nhau. Nhưng có thể thấy trong khi nền kinh tế đang mở rộng quy mô, vốn và tài sản ngày càng nhiều thì những cán bộ ở vị trí quản lý càng cao mà thiếu trách nhiệm thì hậu quả rất khủng khiếp.Thế nhưng, bệnh né tránh trách nhiệm, lẩn tránh nhiệm vụ cũng gây ra hậu quả, thiệt hại không kém. Đến mức tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương để đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019 vừa được tổ chức thì căn bệnh né tránh trách nhiệm được chỉ đích danh là một trong những trở lực của phát triển, gây lãng phí lớn, thậm chí gây mất niềm tin. Cách đây đúng một năm, tại hội nghị đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đã phê phán một bộ phận cán bộ mắc căn bệnh này, rằng: “Cứ ngại trách nhiệm, cứ sợ trách nhiệm, cứ né tránh trách nhiệm... thì làm sao xã hội phát triển, đất nước phát triển được? Trong khi quyền lực đó, trách nhiệm đó thuộc về các đồng chí-những người thực thi”.Sợ trách nhiệm” và “né trách nhiệm” để chỉ những người được giao nhiệm vụ công nhưng đã không làm tròn nhiệm vụ, thậm chí thoái thác nhiệm vụ, lẩn tránh nhiệm vụ theo chức trách của mình. Tại sao người ta lại “né” quyền lực và trách nhiệm mà tổ chức đã trao cho mình? Đó có thể là vì người ta cho rằng việc thực thi những nhiệm vụ đó khá “xương”, không có lợi cho bản thân, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Điều này giải thích vì sao mà việc tiếp công dân đã được quy định rất cụ thể trong Luật Tiếp công dân, đó là người đứng đầu Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, UBND cấp tỉnh, huyện, xã theo định kỳ hằng tháng, hằng tuần phải trực tiếp tiếp công dân. Thế nhưng, quy định này ở nhiều nơi vẫn chưa được thực hiện tốt. Có thể là vì việc ra mặt tiếp công dân buộc người đứng đầu các cơ quan phải phát ngôn trực tiếp, phải xử lý trực tiếp, mà trong đó có những việc khó, việc nhạy cảm. Do đó, việc tiếp công dân thường được đùn đẩy, giao cho các cấp dưới. Thế rồi quy định về phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí cũng đã có từ lâu, nhưng có lẽ vì sợ “vạ miệng” nên trong rất nhiều trường hợp, người được giao nhiệm vụ phát ngôn cáo bận, đi công tác, họp hành hoặc trong tình trạng điện thoại không liên lạc được.... Chính điều này góp phần làm cho nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo của công dân chậm được xử lý, không được xử lý dứt điểm, gây bức xúc. Những việc cần sớm được cung cấp thông tin để định hướng dư luận thì không có ai phát ngôn, gây ra nhiều lo lắng, rồi những tin đồn, những thông tin xuyên tạc có cơ hội xuất hiện. Biểu hiện "né" trách nhiệm cao độ là trong thời gian qua, rất nhiều việc đáng lẽ phải được giải quyết ở cấp dưới, ở cấp cơ sở, nhưng vì cấp dưới, cấp cơ sở không giải quyết, mà cứ dồn dần lên cấp trên, nên cuối cùng rất nhiều nhiệm vụ lên đến tận cấp quản lý hành chính cao nhất là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Điều này rõ ràng làm giảm hiệu quả quản trị của cả hệ thống, gây dồn ứ nhiệm vụ. Nhiều cấp có thể ra quyết định quản lý theo đúng thẩm quyền thì lại có xu hướng trở thành cấp trung gian, trung chuyển trách nhiệm, và cả hệ thống phải chờ cấp cao nhất ra quyết định quản lý thì mới thực thi được. Nhiều việc vì thế chậm được giải quyết. Xu hướng “dồn việc lên trên” này xuất hiện cả trên bình diện quốc gia và trong mỗi cơ quan, bộ, ngành, địa phương. Đẩy lên cấp trên hoặc đẩy cho bộ phận khác là phương án rất dễ, nhiệm vụ coi như không liên quan gì nữa tới mình, nhưng việc thì vẫn còn nguyên. Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang bước vào cuộc cạnh tranh toàn cầu rất quyết liệt, mà trong đó hiệu quả quản trị công được coi là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh. Thời gian tạo ra chi phí rất lớn, đó chính là chi phí vốn, chi phí lãi suất, bởi với các khoản vay nước ngoài lên đến hàng triệu, hàng tỷ USD thì lãi suất lên tới hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng. Dự án bị đình trệ, chậm tiến độ là "lãi mẹ đẻ lãi con". Và còn lớn hơn nữa là mất cơ hội. Ví dụ như, hiện có 3 dự án nhiệt điện than của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang gặp rất nhiều khó khăn gây ra chậm tiến độ, rất cần có các cơ chế đặc thù để xử lý, vì mỗi ngày trôi qua là rất nhiều tiền của bị lãng phí, cơ hội phát triển bị mất đi, rất xót xa. Thế nhưng, lãnh đạo bộ, ngành nào sẽ dũng cảm, sẽ vì cái chung, dám đứng ra tham mưu chính sách, quyết liệt hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ các dự án nhiệt điện than đó? Trong các nền quản trị tiên tiến trên thế giới, nhiệm vụ được phân công, được giao tương đối rõ ràng, có các bản mô tả công việc của từng vị trí trong hệ thống, có các quy trình làm việc chặt chẽ và cả hệ thống cứ vận hành trơn tru theo các quy trình đó. Trong đó, vai trò của từng chuyên viên rất được đề cao. Thậm chí, ở một số quốc gia có đặc điểm là chính phủ được thay đổi khá thường xuyên nhưng mọi thứ vẫn vận hành trơn tru, vì có hệ thống bên dưới rất tốt, với đội ngũ chuyên viên thạo việc, làm đúng chức trách của mình. Một hệ thống quản trị mà trong đó mọi quy định đều rõ ràng, trách nhiệm rõ ràng, quy trình nghiêm ngặt, ai cũng làm việc hết trách nhiệm thì đó sẽ là một hệ thống mạnh. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, mọi thứ ở xung quanh chúng ta luôn luôn vận động, có những điều luật hôm nay là đúng nhưng ngày mai không còn phù hợp, có những quy trình trong quá khứ là được nhưng hiện tại cần phải thay đổi. Quá trình cải cách thể chế, cải cách hành chính quyết liệt của nước ta hiện nay cũng là để đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì thế, người cán bộ, công chức, viên chức luôn phải lắng nghe cuộc sống, nắm bắt cuộc sống, trên tinh thần phục vụ nhân dân tốt nhất, chứ không phải cứ việc mình mình làm, “nhắm mắt, bịt tai”, tuân thủ đúng quy trình, đúng nhiệm vụ được giao, không cần quan tâm đến hiệu quả và hậu quả của việc ấy. Nếu cứ làm đúng quy trình, quy định, bất chấp kết quả thì đúng là người cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức sẽ tránh được những rắc rối cho bản thân, để được yên thân, mặc dù kết quả chung có thể không tốt. Nhưng nếu như thế, hệ thống của chúng ta rất dễ rơi vào trạng thái vô cảm. Một người bác sĩ cần phải cảm nhận được nỗi đau của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân, từ đó mới đưa ra được phương án điều trị đúng nhất. Chúng ta cần khuyến khích mỗi người trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, chúng ta cần phải luôn luôn mở rộng giác quan để vui khi nhiệm vụ, chức trách của mình được hoàn thành tốt, và phải đau khi nhiệm vụ giao cho mình không được làm tốt, hoặc những việc không hẳn được giao cho mình nhưng mình nhìn thấy chưa được giải quyết tốt. Nỗi đau này còn phải vượt lên sự lo lắng cho tồn tại của bản thân trong hệ thống, vì nó xuất phát từ lương tâm, là danh dự với công việc, là lý tưởng, là lẽ sống của mỗi cán bộ, đảng viên. Nếu xây dựng được tâm thế ấy thì với mỗi việc khó, mỗi con người trong hệ thống chúng ta sẽ không tìm cách "đá" sang cho người khác, cho cấp trên mà sẽ cùng suy nghĩ, tham mưu hướng giải quyết, xây dựng chính sách, các quy định, các điều luật mới cho phù hợp. Việc gì thuộc cấp nào quản lý thì cấp đó phải quyết định, không được đẩy lên cấp trên. Tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” vì cái chung của đồng chí Kim Ngọc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú, “cha đẻ” của “khoán mười” tháo gỡ nút thắt về cơ chế, chính sách, tạo sự phát triển cho nông nghiệp Việt Nam thời kỳ đổi mới cần phải là tấm gương cho các cán bộ, đảng viên hiện nay. Cùng với đó, để khuyến khích tinh thần tự giác, dám đương đầu với khó khăn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì cách đánh giá cán bộ cũng cần được nghiên cứu phù hợp; xóa tư tưởng "an phận thủ thường" vì “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hiện nay. Cách đánh giá cần phải giúp cho cán bộ, đảng viên vững tâm rằng nếu mình hành động vì lợi ích chung, vì cái chung thì sẽ được nhìn nhận đúng, sẽ không gặp rắc rối. Còn nếu “làm ít” hoặc “không làm” cũng chẳng khác nào đang làm sai, bởi vì gây ra hậu quả rất tiêu cực, rất nghiêm trọng.

 

Quá trình bổ sung, hoàn thiện đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới

(LLCT) - Hoạch định, bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng cần kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao và hội nhập quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh; kết hợp chặt chẽ giữa ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa để tăng cường sức mạnh tổng hợp cho đất nước, nâng cao thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế.

 

Tình hình thế giới và đất nước từ giữa thập niên 80 thế kỷ XX có sự chuyển biến sâu sắc. Quan hệ chính trị quốc tế đổi thay và tác động mạnh mẽ đến chiến lược đối ngoại của các quốc gia dân tộc. Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng (12-1986), đề ra chủ trương đổi mới toàn diện, trong đó, nhiệm vụ và chính sách đối ngoại được Đại hội VI xác định là: Ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hòa bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng XHCN, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.

Những điểm mới về tư duy đối ngoại tại Đại hội VI là: đã đúc rút những bài học về sự cần thiết phải đổi mới phương cách tập hợp lực lượng “phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới”; nhận thức được xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế, xã hội khác nhau, để từ đó “sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật với bên ngoài để phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1).

Cụ thể thể hóa quan điểm đối ngoại tại Đại hội VI, ngày 20-5-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13/NQ-TW Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới. Nghị quyết xác định phương châm “lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”(2); quan điểm chỉ đạo trong quan hệ quốc tế là “thêm bạn, bớt thù”, ra sức tranh thủ các nước anh em bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới, làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập ta về kinh tế, chính trị; kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đối đầu sang đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hòa bình; tranh thủ sự phát triển của cách mạng khoa học - kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới để tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ và đang dạng hóa quan hệ hợp tác quốc tế.

Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng về nhiều vấn đề then chốt thuộc lĩnh vực đối ngoại như: Nhận định về tình hình thế giới và xu thế quốc tế; về quan hệ chính trị quốc tế đương đại; về mục tiêu đối ngoại; về an ninh và phát triển; về đoàn kết quốc tế và tập hợp lực lượng trong hệ quốc tế của Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch khẳng định: “Nghị quyết 13 về đối ngoại của Bộ Chính trị là một cuộc đổi mới mạnh mẽ tư duy trong việc đánh giá tình hình thế giới, trong việc đề ra mục tiêu và chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của ta”(3).

Đảng ta xác định phương châm mở rộng quan hệ đối ngoại “thêm bạn, bớt thù” là một trong những nhiệm vụ cấp bách, không để các vấn đề cục bộ, tạm thời, thứ yếu cản trở việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế phù hợp với tình hình mới; đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đẩy lùi từng bước chính sách bao vây, cấm vận đối với Việt Nam; xác định cách đóng góp tốt nhất và thiết thực nhất lúc này vào cách mạng thế giới là thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, làm cho Việt Nam ngày càng ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, xã hội, mạnh về quốc phòng và an ninh.

Thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, từ năm 1986 đến 1990, Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại kinh tế, đối ngoại chính trị. Kết quả bước đầu đạt được trong những năm cuối thập niên 80 có ý nghĩa quan trọng là đã giải tỏa được tình trạng đối đầu, thù địch, mở cửa giao lưu hợp tác với bên ngoài, tạo được vị thế mới cho đất nước trong quan hệ quốc tế.

Bước vào thập niên 90, tình hình các nước XHCN Đông Âu diễn biến phức tạp, Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo, chế độ chính trị thay đổi. Trong hoàn cảnh đó, Đại hội VII của Đảng (6-1991) xác định trọng tâm của công tác đối ngoại là: “giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(4).

Những điểm mới về chủ trương và phương châm đối ngoại: Một là, khẳng định mạnh mẽ chủ trương hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình; Hai là, phương châm đối ngoại “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”; Ba là, khẳng định quan điểm “sẵn sàng thiết lập và mở rộng quan hệ với các Đảng Xã hội - Dân chủ”; Bốn là, xác định nhiệm vụ chỉ đạo lĩnh vực đối ngoại là “tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi, mở rộng và tăng cường quan hệ quốc tế về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi, bảo vệ sản xuất, kinh tế và an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy những truyền thống và bản sắc tốt đẹp của văn hóa dân tộc”(5).

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội xác định phương hướng cơ bản về đối ngoại của Việt Nam là: “thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(6).

Triển khai đường lối đối ngoại do Đại hội VII đề ra, đến giữa thập niên 90, Việt Nam đã phá được thế bao vây, cô lập; mở rộng quan hệ quốc tế trên phạm vi rộng lớn. Lần đầu tiên, Việt Nam có quan hệ chính thức với tất cả các nước lớn, kể cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc và cũng lần đầu tiên Việt Nam gia nhập một tổ chức khu vực là ASEAN, mà trong đó các thành viên không cùng chế độ chính trị, xã hội với Việt Nam; bình thường hóa quan hệ với Mỹ,v.v..

Từ phương diện lý luận và kết quả thực tiễn 10 năm đổi mới, Đại hội VIII của Đảng (1996) xác định nhiệm vụ đối ngoại là: Củng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, CNH, HĐH đất nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội(7).

Đại hội VIII khẳng định: Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp bằng thương lượng(8). Đại hội nêu rõ chủ trương tiếp theo việc gia nhập ASEAN và chuẩn bị cho việc tham gia Khối mậu dịch tự do (AFTA), cần xúc tiến tham gia APEC và WTO.

Tháng 12-1997, Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII ra Nghị quyết Về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để CNH, HĐH, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội đến năm 2000, khẳng định kiên trì đường lối kinh tế đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở. Một trong những chính sách lớn là trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài; tích cực, chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế. Tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO. Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA.

Đó là những nội dung quan trọng, đánh dấu sự phát triển trong quá trình hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng trong những năm cuối thế kỷ XX và chuẩn bị tiền đề bước vào thế kỷ XXI.

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, quan hệ đối ngoại của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh hết sức phức tạp, với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức: cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục có bước phát triển nhảy vọt, ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; xu thế toàn cầu hóa đã lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh trạnh và tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế… Ở trong nước, sau 15 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng; uy tín và vị thế trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy vậy, Việt Nam cũng phải đối phó với nhiều thách thức như sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệnh hướng XHCN; các thế lực thù địch, phản động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.

Đại hội IX của Đảng (4-2001) nhận định tổng quát sau 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội (1991-2000): “Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội; phá được thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”.

Đại hội xác định nhiệm vụ đối ngoại là: “Tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia…”(9).

Đại hội IX đã phát triển phương châm “Việt Nam muốn là bạn với các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” của Đại hội VII thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(10).

Với phương châm này, lần đầu tiên Đảng đề ra chủ trương “xây dựng quan hệ đối tác” trong đường lối đối ngoại. Đây là điều có ý nghĩa quan trọng, bởi mô hình quan hệ đối tác chiến lược được coi là mô hình hợp tác ở mức độ cao và quan trọng hơn so với hợp tác quốc tế thông thường.

Nhằm đẩy mạnh hơn nữa hội nhập kinh tế quốc tế, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 07 NQ/TW (27-1-2001) Về hội nhập kinh tế quốc tế nhằm nhanh chóng đưa Việt Nam vào các thể chế kinh tế trước hết là AFTA và sau đó là WTO trên tinh thần “phát huy tối đa nội lực”. Nghị quyết 07 xác định một số quan điểm chỉ đạo: Một là, hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, phải phát huy tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế; Hai là, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức; Ba là, có kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển đất nước, vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế; Bốn là, kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng, cảnh giác với những âm mưu thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.

Nghị quyết là “kim chỉ nam hướng dẫn chúng ta trên con đường hội nhập, một con đường không ít chông gai mà chúng ta phải vượt qua và nhất định vượt qua để giành lấy cơ hội cho phát triển”(11).

Nếu như chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là một chiến lược lâu dài được Đại hội IX xác định, thì những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước buộc Đảng phải liên tục có những điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. Tháng 7-2003, Hội nghị Trung ương 8 khóa IX ra Nghị quyết Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghị quyết xác định độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu cơ bản của cách mạng và cũng là  lợi ích căn bản của quốc gia. Để thực hiện mục tiêu này, Việt Nam tiếp tục chủ trương “lấy việc giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của Tổ quốc”(12).

Nghị quyết thể hiện những nhận thức mới của Đảng về nguyên tắc xác định đối tác và đối tượng trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh: Những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của Việt Nam; bất kể lực lượng nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh…

Như vậy, Nghị quyết đã xác định nguyên tắc và phương thức đối ngoại của Việt Nam với tất cả các nước trong khu vực và thế giới. Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định: “Tôi tin đây là Nghị quyết đi vào lịch sử bảo vệ Tổ quốc trong hòa bình như Nghị quyết 15 trong chiến tranh chống Mỹ”(13).

Đến năm 2006, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 57 nước, nâng tổng số quốc gia có quan hệ chính thức lên 169 nước và có quan hệ buôn bán với 224/255 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ.

Đại hội X của Đảng (4-2006), khẳng định phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn nữa, phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền vững hơn nhằm sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng  kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.

Đại hội đã nêu chủ trương lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Đại hội X đã điều chỉnh, bổ sung một số nội dung như: Thứ nhất, khẳng định việc thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển (bổ sung cụm từ hòa bình, hợp tác và phát triển); Thứ hai, thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế (coi đa phương hóa, đa dạng hóa là đặc trưng của chính sách đối ngoại rộng mở); Thứ ba, nhấn mạnh yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ với tinh thần “chủ động” mà còn phải “tích cực”, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác; Thứ tư, quan điểm của Đại hội X vừa tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, vừa thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững.

Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương 4 khóa X (15-1-2007) ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Trên cơ sở quan điểm biện chứng, phát triển, Trung ương Đảng cho rằng những cơ hội, thách thức khi Việt Nam là thành viên của WTO có mối quan hệ, tác động qua lại, có thể chuyển hóa lẫn nhau.

Hội nghị Trung ương 9 khóa X (1-2009) một mặt khẳng định những thành tựu mà đối ngoại Việt Nam đã đạt được như trở thành thành viên thứ 150 của WTO, mặt khác tiếp tục khẳng định thứ tự ưu tiên trong quan hệ quốc tế là “đặc biệt coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống và các đối tác quan trọng, các tổ chức quốc tế và khu vực mà ta là thành viên”(14). Hội nghị Trung ương 9 cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường ngoại giao nhân dân, thông tin đối ngoại, ngoại giao văn hóa.

Đại hội XI của Đảng (1-2011) đề ra nhiệm vụ chủ yếu về đối ngoại đến năm 2015 là “mở rộng, nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế”(15). So với nhiệm vụ đối ngoại được xác định tại Đại hội X: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, thì chủ trương đối ngoại trong Nghị quyết Đại hội XI đã thể hiện bước phát triển mới về tư duy, chuyển từ “hội nhập kinh tế quốc tế” lên “hội nhập quốc tế”- hội nhập toàn diện, đồng bộ từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh… Đây là bước ngoặt đổi mới về tư duy và chính sách đối ngoại của Đảng, là kết quả bước chuyển tư duy đối ngoại sang đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực.

Đại hội XI thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Về đối ngoại, Cương lĩnh có những điểm mới như: về đặc trưng, không giới hạn “quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới (như Cương lĩnh 1991), mà mở rộng hơn về đối tác “quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới; diễn đạt gọn và rõ hơn quan điểm, chủ trương đó là “thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; định hướng phát triển đối ngoại được khẳng định mạnh mẽ, rõ ràng và cụ thể, đó là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam XHCN giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. 

Như vậy, đường đối ngoại rộng mở do Đại hội VI đề ra, được các Đại hội và Hội nghị Trung ương, Bộ Chính trị từ khóa VI đến khóa XI tiếp tục bổ sung, phát triển thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế đã khẳng định vị thế và vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Đường lối đó đã góp phần giữ vững môi trường hòa bình, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Cũng từ đường lối đối ngoại đúng đắn đó, Việt Nam đã tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực, đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, đồng thời hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn vào các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương.

Trong thời gian tới, trước tình hình quốc tế, khu vực và trong nước có nhiều biến động khó lường, để tiếp tục nâng cao vị thế và vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc hoạch định, bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại cần thực hiện tốt những nội dung cơ bản sau:

Đảng phải giữ vững và phát huy đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, đồng thời luôn tôn trọng các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế là tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ của nhau và cùng có lợi.

Đường lối đối ngoại của Đảng phải kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam.

Trong quá trình xây dựng và phát triển đường lối đối ngoại, Đảng Cộng sản Việt Nam cần kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao và hội nhập quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nổi bật hơn cả là phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Đường lối đối ngoại của Đảng phải kết hợp chặt chẽ giữa ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa để tăng cường sức mạnh tổng hợp cho đất nước, nâng cao thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế.

_______________

Nguồn

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.30-31.

(2), (3) Nguyễn Cơ Thạch: Những chuyển biến trên thế giới và tư duy của chúng ta, Tạp chí Quan hệ Quốc tế, số 1, tháng 1-1990, tr.7, 9.

(4), (5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.88, 61-62.

(6) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.51 (1991), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.134-136.

(7), (8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.120,120-121.

(9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.119, 119-120.

(11) Phạm Quang Minh: Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986-2010), Nxb Thế giới, Hà Nội, 2012, tr.111.

(12) Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.46-47.

(13) Trả lời phỏng vấn Báo Vietnamnet ngày 8-1-2011: Dẫn theo: Phạm Quang Minh: Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986-2010), Nxb Thế giới, Hà Nội, 2012, tr.117.

(14)ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.20.

(15)ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.189.

 

ThS Lê Văn Phong

                                       Viện Lịch sử quân sự Việt Nam