Thứ Ba, 10 tháng 1, 2023

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế Việt Nam”

 

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế Việt Nam”

Cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc chiến lâu dài, gay go, quyết liệt. Chính vì sự quyết tâm trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã củng cố niềm tin trong nhân dân và đó cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

Với sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự ủng hộ của nhân dân, cuộc chiến này đã có chuyển biến tích cực, rõ rệt và mang lại những thành quả quan trọng. Đánh giá về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, trong cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18/11/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là "đấu đá nội bộ", "phe cánh", làm "nhụt chí" những người khác”.

Tham nhũng là tệ nạn kéo lùi sự phát triển kinh tế của một quốc gia, hủy hoại uy tín, danh dự của lực lượng cầm quyền, lãnh đạo đất nước. Và chính tham nhũng hiện nay cũng đang trở thành hiểm họa, vấn nạn mà tất cả các quốc gia đều quan tâm. Trong đó, những quốc gia đang phát triển và chậm phát triển thì vấn đề này như một căn bệnh mà nếu không ngăn chặn được sẽ để lại nhiều hậu quả khó lường.

“Cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” - đó là lập luận của những cá nhân, tổ chức, các trung tâm truyền thông chống Đảng, Nhà nước Việt Nam đang tập trung tuyên truyền. Luận điệu này được Đài RFA đăng tải trên website ngày 28/11/2022, cho rằng “cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu”. Đài RFA dẫn lời của Reuters suy diễn rằng, việc chống tham nhũng về dài hạn được nhìn nhận là tích cực nhưng trong ngắn hạn có thể làm tê liệt hoạt động kinh doanh, đặc biệt “nếu việc thực thi pháp luật bị cho là không rõ ràng và có động cơ chính trị”… Đài VOA tiếng Việt hôm 29/11/2022 rêu rao, chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư. Họ lập luận rằng, chiến dịch chống tham nhũng ở Việt Nam đã làm tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á. Cùng phụ họa với RFA, VOA là các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam đã chia sẻ bài viết lên các trang mạng xã hội, từ đó đi đến quy kết, xuyên tạc bản chất cuộc chiến chống tham nhũng, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân, nhất là đối với các doanh nhân, cán bộ trong bộ máy Nhà nước.

Luận điệu “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” là hoàn toàn không có cơ sở. Trước tiên, cần phải nhìn nhận, tham nhũng tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Hành vi này gây ra những hậu quả, tác hại to lớn trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, nhất là đối với kinh tế, tình trạng tham nhũng gây thất thoát nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước để làm lợi cho một cá nhân, nhóm người tham nhũng. Tham nhũng còn đe dọa sự ổn định, an ninh xã hội, xâm hại các thể chế và giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý... Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở thành mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa đến tồn vong của chế độ. Do đó, lập luận cho rằng chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế là sai trái.

Quan điểm trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước Việt Nam rất rõ ràng, những đối tượng tham nhũng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồng thời, Nhà nước tạo điều kiện, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội tích cực thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch trong cả đầu tư công và môi trường đầu tư tư nhân. Như vậy, quan điểm rõ ràng “cây ngay không sợ chết đứng”, đã trong sạch, không tham ô, tham nhũng thì không phải e dè trong công việc của mình. Do đó, không thể cho rằng vì lý do chống tham nhũng nên nhiều cá nhân sợ không dám làm, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, tác động đến các chuỗi cung ứng trong kinh tế.

Cần phải nhận thức rằng, tình trạng tham nhũng làm suy giảm các lực lượng cạnh tranh vốn có của thị trường, gây ra sự cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Tham nhũng làm cạn nguồn đầu tư nội địa, làm giảm đáng kể các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tham nhũng không chỉ gây trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô mà còn kìm hãm hoạt động của các hãng riêng lẻ. Cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam tạo động lực không ngừng cho đầu tư, phát triển kinh tế, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư vào Việt Nam.

Cuộc chiến chống tham nhũng được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm. Để đối phó với tình trạng này, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ban hành Công ước về chống tham nhũng vào ngày 9/12/2003. Cuộc chiến chống tham nhũng cũng là một phần không thể thiếu đối với những quốc gia phát triển như Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU). Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các quốc gia Đông Nam Á... đều tăng cường cuộc chiến chống tham nhũng để tạo đà cho sự phát triển kinh tế xã hội. Các quốc gia tổ chức triển khai cuộc chiến chống tham nhũng tạo động lực to lớn cho tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, một quốc gia trong khối ASEAN là Indonesia đã tổ chức cuộc chiến chống tham nhũng rất bài bản với việc công bố “đường dây nóng” để người dân có thể trực tiếp thông báo những vấn đề họ bức xúc; thành lập Ủy ban Chống tham nhũng quốc gia (KPK); thành lập Tổ cố vấn của Tổng thống về chống tham nhũng... Những việc làm quyết liệt đó đã tạo động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở đất nước này. Do đó, hoàn toàn không có lý lẽ nào để tô vẽ, nguỵ biện rằng, cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế.

Thời gian qua, các thế lực chống phá Việt Nam luôn viện dẫn nhiều lý do để chỉ trích Việt Nam, khi cuộc chiến chống tham nhũng đang cho thấy hiệu quả rất tích cực thì họ cũng không muốn điều đó xảy ra. Những thông tin sai trái từ các cá nhân, tổ chức, trung tâm chống phá Việt Nam về cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi người dân cần cảnh giác, không phụ họa, chia sẻ trên mạng xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã khẳng định: “Công tác chống tham nhũng, tiêu cực đã trở thành xu thế không thể đảo ngược”; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm nản chí, chùn bước, sợ sai không dám làm của cán bộ, đảng viên, mà chỉ làm chùn bước những ai có động cơ không trong sáng, đã trót "nhúng chàm" và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm”.

Cuộc chiến chống tham nhũng đi vào thực chất, không còn vùng cấm và việc nhận được sự ủng hộ tích cực từ phía người dân chính là động lực để cuộc chiến này càng thêm vững vàng với mục tiêu xây dựng một xã hội thực sự trong sạch, vì quyền lợi của mọi người dân, vì lợi ích của quốc gia dân tộc.

Thủ đoạn viết lại lịch sử, làm sai lệch chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”

 

Thủ đoạn viết lại lịch sử, làm sai lệch chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”

50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

Trong những ngày cuối tháng 12/2022, các cơ quan chức năng triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (12/1972 – 12/2022). Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Thế nhưng trong dịp này, các thế lực xấu lại rêu rao, đưa ra nhiều bài viết xuyên tạc lịch sử, cho rằng chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chỉ là do “gặp thời”, “may mắn”. Họ còn cho rằng quân và dân Việt Nam sẽ không thể làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” nếu khi đó Mỹ tiếp tục duy trì cuộc ném bom hủy diệt miền Bắc thêm một thời gian nữa. Có bài viết “vặn” vấn đề rằng, Mỹ ký Hiệp định Paris là do phía Mỹ chủ động chứ không phụ thuộc vào kết quả cuộc ném bom trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 tại miền Bắc Việt Nam...

Một bài viết đăng trên BBC News Tiếng Việt cho rằng, trong cuộc chiến tranh 12 ngày đêm ấy, các phi công Mỹ bị bắt, cầm tù, tra tấn và thường xuyên bị bêu riếu trên truyền hình, tạo sức ép cho chính quyền Mỹ phải ngồi vào bàn đám phán Paris mới được đưa tù binh Mỹ về nước. Họ biến mọi con số thống kê thành ảo khi nghi ngờ rằng, Việt Nam cố tình thống kê quá mức con số bắn hạ máy bay B52 để khuếch trương thanh thế!

Mới đây, trên Quora, thiếu tá Keith Parker từng phục vụ trên các máy bay B-52G và C-130 cố tình xuyên tạc sự thật khi viết rằng, Việt Nam đã bắn hơn 1.400 tên lửa SAM[1]2 lên bầu trời “một cách mù quáng” để hạ gục các máy bay B-52 chứ không phải là do thực lực của phòng không Việt Nam. Keith Parker cho rằng, Bộ Chỉ huy phòng thủ hàng không vũ trụ Bắc Mỹ (NORAD) và Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược (SAC) đã tự nghiên cứu rất nhiều phương pháp chống B-52 nhưng đều thất bại, ngay cả những quốc gia như Liên Xô cũng đều không dám tự tin hạ gục B-52. Từ đó, đánh lái bản chất sự kiện này thành “Việt Nam đã thất bại vào 12/1972 chứ không phải là một chiến thắng như họ tuyên truyền.

Máy bay B-52 đầu tiên bị Tiểu đoàn 59, Trung đoàn Tên lửa 261 bắn rơi trên cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ, Đông Anh (Hà Nội) vào đêm 18/12/1972. Ảnh: Tư liệu

Thiệt hại của Việt Nam nặng nề hơn trong khi chỉ bắn hạ được 2% số B-52 mà Hoa Kỳ có”! Một số cựu phi công của Hạm đội 7 cho rằng, Việt Nam đã may mắn bắn hạ được B-52 nhờ vào chiến thuật “vãi đạn”; là kết quả của chiến thuật sử dụng hỏa lực phòng không “bừa bãi” để hạ gục B-52 chứ không đến từ sự tính toán chiến thuật và năng lực phòng không! Gary Cummings, một cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam còn đặt một giả thuyết rằng, tất cả đều do chính những sĩ quan Liên Xô mới bắn rụng B-52 chứ không có bộ đội nào của Việt Nam bắn hạ. Một cựu binh khác là Paul Reinman còn khôi hài hơn khi cho rằng, phi công MiG của Việt Nam đã bắn hạ B-52 là “do vô tình lạc vào đường bay của B-52 chứ không phải là do năng lực”! Trong một diễn đàn tự cho là “nghiên cứu lịch sử”, có một số người cổ suý những quan điểm lệch lạc trên, từ đó bình luận rằng, Việt Nam đã may mắn bắn hạ B-52 vì sự chủ quan của đối phương, vì trời tối, vì sự chủ quan của quân Mỹ…

Những luận điệu trên làm sai lệch bản chất sự kiện, tung ra những con số ảo và tạo nghi vấn về các số liệu lịch sử nhằm gây nhiễu loạn thông tin, xuyên tạc ý nghĩa, giá trị của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Trên thực tế, chính Mỹ đã thừa nhận mình là bên không chịu nổi tổn thất và buộc phải ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đám phán ký kết Hiệp định Paris.

50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng và Bác Hồ đã sớm chỉ đạo bộ đội Phòng không - Không quân chuẩn bị tinh thần và lực lượng để đánh máy bay B.52 và các loại máy bay chiến thuật khác từ nhiều năm trước đó. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, không khoan nhượng.

Chiến thắng ấy là sự minh chứng hùng hồn sức mạnh của con người Việt Nam, sức mạnh của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cách mạng và khoa học, giữa bản lĩnh vững vàng, khí phách tiến công, quyết đánh và trí tuệ để đánh thắng, sự kết hợp giữa tinh thần quyết chí, tin tưởng với đức hy sinh cao thượng.

Thực tế lịch sử ghi rõ, tháng 12/1972, Mỹ tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B.52 nhằm gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản sửa đổi của Mỹ; đánh phá, hủy diệt tiềm lực kinh tế - quốc phòng của miền Bắc, hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam, làm tê liệt ý chí chiến đấu, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta; đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới. Thực hiện âm mưu này, Mỹ đã huy động số lượng lớn máy bay, tàu chiến và các loại vũ khí vào chiến dịch.

Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của Mỹ kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai đến năm 1972. Trong đó, máy bay chiến lược B.52 gồm 193/tổng số 400 chiếc hiện có của quân đội Mỹ; máy bay không quân chiến thuật gồm 1.077/tổng số 3.043 chiếc (có 1 biên đội máy bay F. 111 khoảng 50 chiếc); tàu sân bay với 6/24 chiếc; hơn 50 máy bay tiếp dầu trên không và một số loại máy bay phục vụ khác như máy bay gây nhiễu từ xa, máy bay trinh sát chiến lược, chiến thuật, máy bay chỉ huy, liên lạc dẫn đường, cấp cứu cùng 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương. Máy bay chiến lược B.52, còn được gọi là siêu pháo đài bay B.52, là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của không lực Hoa Kỳ vào thời điểm đó, có tải trọng vũ khí 18 - 30 tấn bom, có thể mang 12-20 quả tên lửa hành trình ALEM hoặc 8 tên lửa hành trình (tàng hình) ACM, 4 pháo 20mm hoặc một pháo 20mm 6 nòng (gấp 10 lần so với máy bay cường kích). Cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ vào miền Bắc nước ta cuối tháng 12/1972 là một cuộc ném bom có tính hủy diệt.

Trong 12 ngày và đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần máy bay B.52 và 3.920 lần máy bay chiến thuật ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc nước ta hơn 100.000 tấn bom, đạn. Chiến dịch thả bom đã huỷ diệt nhiều phố xá, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết chết 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác.

Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B.52, các lực lượng vũ trang ta với nòng cốt là quân chủng Phòng không - Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân Thủ đô Hà Nội đã phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng.

Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18/12/1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B.52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân vàdân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B.52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Sau thất bại này, Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 17 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Cuối tháng 3/1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Không chỉ Việt Nam mà các nghiên cứu từ phía Mỹ cũng đã nhìn nhận rõ vấn đề này. Trên tạp chí Air & Space của Bảo tàng Smithsonian (Mỹ) có bài viết tựa đề “The Christmas Bombing” (Trận mưa bom Giáng sinh) được trích từ cuốn sách The Eleven Days of Christmas: Americas Last Vietnam Battle (11 ngày Giáng sinh: Trận chiến Việt Nam cuối cùng của Mỹ) của tác giả Marshall Michel, người đã trực tiếp đến Hà Nội, mô tả khá chi tiết về chiến dịch Linebacker II do Mỹ chủ mưu. Theo tác giả Marshall Michel, đầu tháng 12/1972, Nixon điện cho Kissinger thông báo kế hoạch ném bom trong kỳ nghỉ lễ Giáng sinh.

Ngày 14/12, Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, tướng Alexander Haig và chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, đô đốc Thomas Moorer thông qua lần cuối chiến dịch Linerbacker II. Mục tiêu mà Mỹ đặt ra là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng và các vùng lân cận, tạo ra “cường độ khủng khiếp để buộc Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải chấp nhận điều khoản của Mỹ, và cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng Mỹ không bỏ rơi họ”. Cũng qua chiến dịch này, Nixon muốn răn đe Sài Gòn nếu giúp Nixon kéo dài đàm phán, xa hơn là giúp Nixon chiến thắng trong nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo thì Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ...

Bài viết trên tạp chí Air & Space cũng nêu rõ, do thiệt hại ngoài sức tưởng tượng nên ngày 30/12/1972, Tổng thống Nixon đã ra lệnh chấm dứt ném bom… Vậy là Hiệp định Paris đã được ký với nội dung về cơ bản không khác mấy so với phương án đã được ký tắt trước khi đàm phán bị kéo dài do Mỹ từ chối ký kết trước đây. Bài viết cũng cho rằng, Mỹ đã chịu rất nhiều tổn thất để rồi vẫn phải ký vào văn bản mà họ không muốn ký, điều này đồng nghĩa là mục tiêu của Mỹ khi phát động chiến dịch Linebacker II thực sự thất bại. Chiến dịch Linebacker II bị phản đối mạnh mẽ trên khắp thế giới, cả ở các nước XHCN lẫn các nước phương Tây, thậm chí tại Mỹ, Nixon còn bị chỉ trích là kẻ điên rồ…

Mang danh tự do tôn giáo, USCIRF lại hành động lạc lối

 Mang danh tự do tôn giáo, USCIRF lại hành động lạc lối

Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ (USCIRF) vừa đưa các bị cáo Lê Tùng Vân, Lê Thanh Hoàn Nguyên, Lê Thanh Nhất Nguyên, Lê Thanh Nhị Nguyên, Lê Thanh Trùng Dương, Cao Thị Trúc vào danh sách “Nạn nhân tự do tôn giáo và niềm tin” toàn cầu. Hành động này đang đi ngược với giá trị chân chính của tôn giáo

Lâu nay, dư luận bức xúc trước những lùm xùm tại Tịnh thất Bồng Lai (xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) bởi nơi đây có nhiều vi phạm, đặc biệt là hành vi phạm pháp của ông Lê Tùng Vân và các đồng phạm. Theo kết luận của cơ quan chức năng, từ năm 2016, Lê Tùng Vân và một số người khác đến ở tại số 191A, ấp Lập Thành, xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa, Long An do bà Cao Thị Cúc làm chủ hộ. Lê Tùng Vân biến nơi đây thành cơ sở tu tại gia theo Phật giáo, lấy tên “Tịnh thất Bồng Lai” nhưng không được ngành chức năng và Giáo hội Phật giáo tỉnh Long An công nhận. Lê Tùng Vân đổi tên cơ sở này thành “Thiền am bên bờ vũ trụ” để tiếp tục hoạt động.

Từ năm 2019 - 2021, Lê Tùng Vân đã cầm đầu, chỉ đạo Lê Thanh Hoàn Nguyên (32 tuổi), Lê Thanh Nhất Nguyên (31 tuổi), Lê Thanh Trùng Dương (27 tuổi), Lê Thanh Nhị Nguyên (24 tuổi) và Cao Thị Cúc (62 tuổi) sử dụng máy tính, điện thoại di động để đăng lên Facebook và Youtube thông tin sai sự thật, xuyên tạc nhằm tuyên truyền, kích động, xúc phạm uy tín của Công an huyện Đức Hòa (Long An), xúc phạm Phật giáo, xúc phạm danh dự và nhân phẩm ông Trần Ngọc Thảo (pháp danh Thích Nhật Từ), gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa phương.

Tổng cộng, có 5 video và 1 bài viết trên mạng xã hội của nhóm người này được phân tích, giám định và xác định là hành vi có tổ chức. Ngoài ra, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Long An đang điều tra về hành vi lừa đảo xảy ra tại “Tịnh thất Bồng Lai”. Cụ thể, Công an tỉnh Long An nhận được nhiều đơn tố cáo Lê Tùng Vân và những cá nhân sinh sống ở “Tịnh thất Bồng Lai” có hành vi giả sư, giả trẻ mồ côi để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các nhà hảo tâm.

Vụ việc đã gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Liên quan đến vụ án này, ngày 21/7/2022, sau 2 ngày xét xử, TAND huyện Đức Hòa tuyên phạt Lê Tùng Vân 5 năm tù về tội“Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân” theo khoản 2, Điều 331, Bộ luật Hình sự. Với vai trò đồng phạm, bị cáo Lê Thanh Nhất Nguyên (30 tuổi), Lê Thanh Hoàn Nguyên (31 tuổi) và Lê Thanh Trùng Dương (27 tuổi) bị phạt mỗi người 4 năm tù. Bị cáo Lê Thanh Nhị Nguyên lĩnh 3 năm 6 tháng tù, bị cáo Cao Thị Cúc 3 năm tù.

Ngày 3/11/2022, sau 2 ngày xét xử phúc thẩm, HĐXX TAND tỉnh Long An đã bác kháng cáo, đồng thời tuyên y án bị cáo Lê Tùng Vân 5 năm tù. Các bị cáo cũng giữ mức án như sơ thẩm. Cũng theo HĐXX, nhận định của tòa sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, tuyên đúng người, đúng tội, không oan sai. Các bị cáo đã lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước nên không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt.

Tuy nhiên, ngay sau khi phiên tòa phúc thẩm xét xử, USCIRF đã đưa Lê Tùng Vân, Lê Thanh Hoàn Nguyên, Lê Thanh Nhất Nguyên, Lê Thanh Nhị Nguyên, Lê Thanh Trùng Dương, Cao Thị Trúc vào danh sách “Nạn nhân tự do tôn giáo và niềm tin” toàn cầu. Hành động này đang đi ngược với giá trị chân chính của tôn giáo. Một số cá nhân chống đối vin lý do này cũng hùa theo, có những bình luận sai trái, đả phá chính quyền.

Lê Tùng Vân là đối tượng chống đối, không có đóng góp gì cho hoạt động tôn giáo ở Việt Nam. Tự bào chữa cho mình và trả lời trước phiên tòa, bị cáo Lê Tùng Vân cho biết “Tôi không theo tôn giáo nào, chưa có vợ con và mong được lấy vợ”! Trong khi đó, các hành vi vi phạm pháp luật của Lê Tùng Vân đã được Công an tỉnh Long An thu thập đầy đủ chứng cứ và toà sơ thẩm, phúc thẩm đã xem xét, xử lý theo đúng quy định của pháp luật, được dư luận đồng tình. Việc USCIRF lấy danh nghĩa tôn giáo để lên tiếng bênh vực cho các đối tượng vi phạm pháp luật, câu hỏi đặt ra là tổ chức này có đại diện cho những người theo tôn giáo chân chính hay lợi dụng tôn giáo để can thiệp vào nội bộ nước khác? USCIRF đã cố tình làm ngơ trước các chứng cứ mà các cơ quan chức năng Việt Nam thu thập, chứng minh hành vi sai phạm của những người trong cái gọi là “tịnh thất” này. Kết quả điều tra cho thấy, “Tịnh thất Bồng Lai” chỉ là mạo xưng, những người ở đây không phải là tu sĩ Phật giáo, không do Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Long An quản lý.

Các đối tượng lợi dụng danh nghĩa tu sĩ Phật giáo, hình thức cơ sở của giáo hội, lợi dụng hình thức nuôi những người cơ nhỡ làm từ thiện để trục lợi cho mình. Đó là vi phạm về pháp luật, ảnh hưởng đến uy tín của Tổ chức Phật giáo thế giới mà trực tiếp là tổ chức Phật giáo ở Việt Nam. Liên quan đến vụ việc ở “Tịnh thất Bồng Lai”, hiện nay, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Long An đã tiếp tục phục hồi tin báo tố giác tội phạm và khởi tố thêm tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Riêng tin báo về hành vi loạn luân, Cơ quan An ninh điều tra đang chờ văn bản trả lời của cơ quan chuyên môn để làm căn cứ xem xét, giải quyết.

Cần nói thêm rằng, từ năm 2012 đến nay, USCIRF liên tục đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC” bất chấp những thành tựu về đảm bảo các các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. USCIRF đã cố tình áp đặt những định kiến chủ quan của họ để đưa ra những nhận xét sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Với hành động sai lệch như vậy, mục đích của USCIRF đã hậu thuẫn, tiếp sức cho những công dân Việt Nam vi phạm pháp luật núp dưới vỏ bọc “đấu tranh cho tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền” để xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo cớ cho bên ngoài can thiệp nội bộ.

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay. Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật, đồng thời nghiêm cấm hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của công dân. Thời gian qua, các cơ quan chức năng ở một số địa phương như Nghệ An, Hà Tĩnh, Đồng Nai, Long An… đã bắt giữ, xử lý một số trường hợp là chức sắc, tín đồ tôn giáo và cá nhân khác vì đã có hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của các cơ quan Nhà nước, của người dân, truyền bá mê tín dị đoan, phát triển tà đạo hoặc các tôn giáo chưa được Nhà nước công nhận, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự. Đó là việc bắt, xử lý các đối tượng về hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự chứ không hề có chuyện bắt vì hoạt động tôn giáo, không có chuyện chính quyền “đàn áp, bắt bớ” trái pháp luật các tín đồ, chức sắc tôn giáo như USCIRF đã nêu trong báo cáo.

Một tổ chức quốc tế về tôn giáo lẽ ra phải đại diện cho danh dự, giá trị chân chính của chính đạo chứ tại sao lại cổ vũ, bênh vực cho những kẻ bệnh hoạn, đi ngược với lương tri nhân loại, chà đạp lên giá trị đạo đức? Điều đó cho thấy, tổ chức này không đại diện cho những người theo tôn giáo chân chính, không vì sự phát triển xã hội và hòa bình thế giới mà lại lấy danh nghĩa tôn giáo để thực hiện động cơ, ý đồ riêng. Thiết nghĩ, USCIRF với cái tên mang tính nhân quyền “Uỷ ban Tự do Tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ” thì cần phát ngôn và hành động cho đúng với danh xưng đó, cần có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan, đúng sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, tránh đưa ra những đánh giá sai lệch, xuyên tạc.

Bộ Ngoại giao Mỹ cần đánh giá khách quan về tự do tôn giáo ở Việt Nam

 


Đến hẹn lại lên, vào các dịp cuối năm, Bộ Ngoại giao Mỹ thường đưa ra các báo cáo nhân quyền, tự do tôn giáo đối với các nước trên thế giới, Mỹ tự cho mình đóng vai trò “Cảnh sát quốc tế” để giám sát hoạt động của các nước về nhân quyền, tự do tôn giáo.

Ngày 2/12/2022 vừa qua, trên website của Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa Việt Nam vào cái gọi là “Danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo”. Điều này gây nên những phản ứng của dư luận xã hội về sự thiếu khách quan trong nhìn nhận, đánh giá thực chất vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời thể hiện góc nhìn sai lệch của Bộ Ngoại giao Mỹ.

Đại lễ Phật đản Vesak 2019 tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Tam Chúc, Kim Bảng, Hà Nam. (Nguồn: Ban Tôn giáo Chính phủ)

Theo cáo buộc của Bộ Ngoại giao Mỹ, Việt Nam cùng 3 nước khác là Algeria, Cộng hòa Trung Phi, Comoros thuộc cái gọi là “Danh sách giám sát đặc biệt về tự do tôn giáo”. Lý do phía Mỹ đưa ra là Việt Nam trong năm 2022 đã “can dự vào hay dung thứ cho những vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo”. Đồng thời với Bộ Ngoại giao Mỹ là tổ chức Ủy hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo quốc tế (USCIRF) cũng công bố báo cáo mới về “Danh sách nạn nhân tự do tôn giáo hay niềm tin”, theo đó cáo buộc Việt Nam chưa tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, đặc biệt tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân.

Trước những cáo buộc phi lý của Bộ Ngoại giao Mỹ, Việt Nam đã có những phản hồi chính thức về vấn đề này. Cụ thể, ngày 15/12/2022, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định: “Việc Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo là dựa trên những đánh giá thiếu khách quan cũng như các thông tin không chính xác về tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam”.

Từ nội dung tuyên bố trên của Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng như từ thực tiễn tình hình tự do tôn giáo cho thấy, Việt Nam có đầy đủ cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý vững chắc để chứng minh những điều mà Bộ Ngoại giao Mỹ đã nêu trong báo cáo là không chính xác, thiếu khách quan. Cụ thể:

Thứ nhất, việc Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo là dựa trên những đánh giá thiếu khách quan, công bằng. Bộ Ngoại giao Mỹ đơn phương đưa ra danh sách để đánh giá một quốc gia có chủ quyền, độc lập như Việt Nam là đi ngược lại quy định Hiến chương của Liên Hợp Quốc (LHQ) năm 1946. Mặt khác, cáo buộc này đã phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam khi tham gia vào “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966” mà Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982 với điều 18 cam kết về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng” (khoản 1, Điều 18 Công ước năm 1966).

Thực tế tại Việt Nam, tình hình tự do tôn giáo được khẳng định rõ trong Hiến pháp, pháp luật và được tôn trọng, bảo đảm trên thực tế. Nhiều năm qua, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, trong đó có tín đồ, chức sắc tôn giáo được nâng cao, đã có những bước chuyển biến rất rõ nét, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Đặc biệt với việc Việt Nam 2 lần trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ (nhiệm kỳ 2014-2016 và nhiệm kỳ 2023-2025) với số phiếu bầu cao cho thấy sự tín nhiệm của các nước trên thế giới với cách nhìn nhận đánh giá đúng đắn, công tâm về tiến trình bảo đảm nhân quyền nói chung và quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam nói riêng.

Ngoài ra, những thành tựu gần đây về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được bạn bè quốc tế ghi nhận như tổ chức thành công 3 lần Đại lễ VESAK LHQ các năm 2008, 2014 và năm 2019; Việt Nam đã cùng với Giáo hội Công giáo hoàn vũ (Vatican) tổ chức 9 vòng đối thoại thường niên để tiến tới xây dựng quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam - Vatican phục vụ lợi ích giữa giáo hội, giáo dân và dân tộc Việt Nam. Đến nay, số lượng các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận là 16 tôn giáo, 43 tổ chức đăng ký hoạt động tôn giáo, nhiều tổ chức tôn giáo mới hình thành đều được các cơ quan, ban, ngành chức năng hướng dẫn tỉ mỉ theo quy định Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2106 đảm bảo tính thống nhất, ổn định và tuân thủ quy định của luật pháp Việt Nam.

Thứ hai, cáo buộc của Bộ Ngoại giao Mỹ dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Bộ Ngoại giao Mỹ thường cử các phái đoàn ngoại giao vào Việt Nam để theo dõi, quan sát về tình hình tự do tôn giáo, điều này phù hợp với tinh thần đối thoại, hợp tác lẫn nhau giữa Việt Nam và Mỹ. Tính từ năm 2006 đến nay, phía Mỹ hằng năm thường xuyên cử các phái đoàn hỗn hợp của Bộ Ngoại giao, Quốc hội Mỹ, tổ chức phi chính phủ trực thuộc các cơ quan, ban, ngành của Mỹ đến thăm, tiếp xúc làm việc với các cá nhân, chức sắc, tín đồ và tham dự các hội thảo, hội luận, tọa đàm do chính quyền Việt Nam tổ chức để làm rõ hơn quy cách quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam.

Tuy nhiên, Mỹ thường cử phái đoàn đến thăm gặp, tiếp xúc với cá nhân là chức sắc, tín đồ tôn giáo có những hoạt động vi phạm pháp luật hoặc những hội nhóm chưa đủ điều kiện công nhận về tổ chức tôn giáo theo quy định pháp luật. Đơn cử vào tháng 5 và tháng 10/2022, Bộ Ngoại giao Mỹ đã cử phái đoàn vào Việt Nam để khảo sát tình hình tự do tôn giáo chỉ tiếp xúc với các hội nhóm tôn giáo chưa được công nhận, thường xuyên vi phạm pháp luật như “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, “Pháp luân công”, “Tin lành Đấng Christ các dân tộc Việt Nam”, “nhóm Cao Đài, Hòa Hảo độc lập”, “tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình”… Họ lên tiếng bênh vực những cá nhân vi phạm pháp luật như đối tượng Nguyễn Năng Tĩnh, Lê Đình Lượng, Hồ Đức Hòa… trong Công giáo; đối tượng Nguyễn Trung Tôn, Y Hinnie, A Ga, A Đảo… trong đạo Tin lành; đối tượng Thích Không Tánh, Thích Tuệ Sỹ trong “Phật giáo Việt Nam thống nhất”. Thậm chí, những kẻ cố tình lợi dụng danh nghĩa tín ngưỡng, tôn giáo như đối tượng Lê Tùng Vân tại “Thiền am bên bờ vũ trụ” (còn gọi là Tịnh thất Bồng Lai), tỉnh Long An cũng được phía Mỹ liệt kê vào danh sách cần “quan tâm, bảo vệ”.

Chính từ thu nhận bởi những tiếng nói của các cá nhân, tín đồ vi phạm pháp luật như trên nên phía Bộ Ngoại giao Mỹ đã vin vào đó để quy kết phía Việt Nam đang “đàn áp tự do tôn giáo” và cho rằng, việc xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật, phạm tội là “xử lý và đàn áp tôn giáo”. Điều này thể hiện cách nhìn nhận thiếu khách quan và áp đặt tiêu chuẩn tự do tôn giáo của Mỹ đối với Việt Nam.

Thứ ba, Việt Nam và Mỹ đã xây dựng được cơ chế đối thoại trên cơ sở niềm tin, bình đẳng và hướng đến sự ổn định phát triển giữa hai quốc gia, dân tộc. Những năm qua, hai nước đã thường xuyên tổ chức “Đối thoại Nhân quyền thường niên Hoa Kỳ - Việt Nam” nhằm trao đổi, đối thoại giải quyết những vướng mắc, bất đồng xung quanh vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Năm 2022, hai nước đã tổ chức cuộc họp Đối thoại nhân quyền tại Mỹ thu được kết quả thành công tốt đẹp, mở ra triển vọng mới về cải thiện nhân quyền tích cực ở Việt Nam trong thời gian tới.

Thế nhưng, Bộ Ngoại giao Mỹ đơn phương đưa Việt Nam vào “Danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo” năm 2022 đã phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ trong tiến trình tạo niềm tin, củng cố quan hệ ngoại giao. Việc đưa ra những đánh giá, nhận định nêu trên của Bộ Ngoại giao Mỹ đã tạo thêm những cơ sở, điều kiện để các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị tuyên truyền xuyên tạc sai lệch bản chất vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Thứ tư, Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với tổ chức, cá nhân chức sắc, tín đồ. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành năm 2018), Nghị định 162/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Nghị quyết số 25/NQ-TƯ ngày 12/3/2003, Hội nghị Trung ương 7, Khóa IX về công tác tôn giáo, nêu 5 quan điểm về chính sách trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho chức sắc, tín đồ. Những quy định này đã tạo cơ sở cho những phát triển, thành tựu trên lĩnh vực tôn giáo, trong đó nhìn nhận yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo là “nhu cầu không thể thiếu của một bộ phận người dân” và “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo”; xác định tín ngưỡng, tôn giáo là nguồn lực quan trọng mà các cơ quan, ban, ngành chức năng trong hệ thống chính trị phải phát huy nguồn lực này góp phần xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thiết chế văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, gắn tín ngưỡng, tôn giáo với đạo đức con người, văn hóa dân tộc.

Thứ năm, sự phát triển lớn mạnh của các tổ chức tôn giáo ở trong nước và liên kết quan hệ quốc tế trong tôn giáo là minh chứng cho thấy tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu vào thế giới. Định hướng phát triển của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có thể thấy rõ thông qua nội dung Hiến chương, điều lệ, quy định của tôn giáo luôn bám sát yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế. Chẳng hạn, Phật giáo luôn kiên định con đường “Đạo pháp dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; Công giáo tự hào với quan điểm “sống phúc âm trong lòng dân tộc”; đạo Tin lành với Hiến chương “phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc”; đạo Cao Đài với khẩu hiệu “nước vinh - đạo sáng”… đã khơi dậy truyền thống gắn kết giữa tín ngưỡng, tôn giáo với tinh thần tự lực, tự cường, độc lập dân tộc.

Mặt khác, trong xu thế mở cửa hội nhập hiện nay, nhiều tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đã vươn mình, khẳng định sự lớn mạnh bằng việc tổ chức các sự kiện hành hương, đại lễ, lễ trọng thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế. Cụ thể: Đại lễ VESAK Phật giáo LHQ năm 2019 diễn ra tại chùa Tam Chúc, Hà Nam đã có hơn 500 phái đoàn quốc tế đến tham dự; lễ hành hương tại La Vang (Quảng Trị), Sở Kiện (Hà Nam) của Công giáo Việt Nam đã thu hút sự tham gia của hàng trăm tổ chức Công giáo trên thế giới đến hành hương, chiêm bái. Những điều này thể hiện rõ tầm ảnh hưởng của các tổ chức tôn giáo Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế, xã hội trong nước; đồng thời xây dựng hình ảnh một đất nước Việt Nam có đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Tóm lại, từ những thành tựu có được trong bức tranh về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là minh chứng sống động cho thấy hơn bao giờ hết tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trở thành động lực, yếu tố thúc đẩy gắn kết, đoàn kết xã hội, xây dựng xã hội mang bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Những cáo buộc của phía Mỹ khi đưa Việt Nam vào “danh sách cần giám sát đặc biệt về tự do tôn giáo” thực sự chưa thể hiện góc độ tiếp cận tích cực, thiếu căn cứ pháp lý, đi ngược lại những cam kết mà phía Mỹ và Việt Nam đã ký kết, thỏa thuận. Hi vọng rằng trong thời gian tới, phía Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ có những đánh giá khách quan, cụ thể, sâu sát và vì lợi ích của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam để đưa ra những đánh giá, quyết định hữu ích cho quan hệ giữa hai quốc gia, dân tộc.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong các cơ quan đảng, nhà nước và doanh nghiệp

Vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia.

Vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia.

Bối cảnh, tình hình xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành

Quyết định số 27-QĐ/TW, ngày 10-8-2021 của Ban Bí thư về việc ban hành Chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan đảng giai đoạn 2021-2025 nêu rõ mục tiêu tổng quát: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc và cải cách hành chính trong Đảng; tăng cường kết nối, trao đổi thông tin, dữ liệu, phát triển, nâng cấp các hệ thống thông tin, phần mềm ứng dụng, hỗ trợ tích cực, hiệu quả cho công tác tham mưu, thông tin, phục vụ và công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành tại các cơ quan đảng, đồng thời, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan đảng phù hợp với Chương trình chuyển đổi số quốc gia”.

Tại Nghị quyết về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6-2021 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương (Nghị quyết số 75/NQ-CP ngày 14-7-2021), Chính phủ đã quyết nghị việc đẩy mạnh chuyển đổi số, trong đó, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tranh thủ thời cơ để đẩy mạnh chuyển đổi số trong bối cảnh đại dịch Covid-19; phát triển các loại hình thương mại, dịch vụ trực tuyến, tăng cường cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn; thực hiện mạnh mẽ chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt.

Tại Nghị quyết về phiên họp Chính phủ trực tuyến toàn quốc với các địa phương về tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2021 (Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 12-8-2021), Chính phủ đã giao Bộ Thông tin truyền thông tập trung xây dựng và triển khai các giải pháp công nghệ phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19. Chính phủ cũng đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 (Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15-7-2021). Trong đó, giao Bộ Thông tin truyền thông chủ trì triển khai nội dung phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Ngày 2-9-2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030.

Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia đã được xây dựng, từng bước kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương. Đến tháng 12-2020, có 22/22 bộ, cơ quan ngang bộ; 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ/tỉnh và kết nối với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, đạt tỷ lệ 100%. Tổng số hệ thống đã kết nối với dữ liệu quốc gia là 220 hệ thống thông tin của 90 cơ quan, đơn vị; trong đó, có 85 dữ liệu cấp bộ/tỉnh của bộ, ngành, địa phương; 5 cơ sở dữ liệu và 9 hệ thống thông tin có quy mô, phạm vi từ Trung ương đến địa phương.

Thực tiễn quá trình xây dựng một số cơ sở dữ liệu

Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cưBộ Công an đã vận hành chính thức Hệ thống CSDL quốc gia về dân cư từ ngày 1-7-2021. Bộ Công an đã thực hiện cấp số định danh cá nhân cho khoảng 98 triệu công dân thu thập vào CSDL quốc gia về dân cư; hoàn thành việc triển khai thí điểm phần mềm thuộc Dự án CSDL quốc gia về dân cư tại công an 16 tỉnh, thành phố. Bộ Công an đã phối hợp với Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Tư pháp kết nối thành công CSDL quốc gia về dân cư với hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia để thực hiện cấp và huỷ số định danh cá nhân; thực hiện xác thực thông tin công dân theo yêu cầu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Từ cơ sở dữ liệu quan trọng này, Bộ Công an đã cấp mã số định danh cá nhân cho 100% công dân. Đồng thời đã triển khai thu nhận hơn 60 triệu hồ sơ cấp căn cước có gắn chíp điện tử với nhiều ưu điểm nổi bật cho công dân, đã in và trả hơn 50 triệu thẻ đến tay người dân… Bộ Công an cũng đã triển khai kết nối thử nghiệm thành công với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của một số bộ ngành và các tỉnh, thành phố trên cả nước. Đặc biệt, trong đợt cao điểm chống dịch vừa qua, Bộ Công an đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai các ứng dụng để kiểm soát đi lại, phòng chống dịch bệnh mang lại hiệu quả. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cũng góp phần tích cực trong việc bảo đảm an sinh xã hội cho hơn 43 triệu người. Việc tổ chức chiến dịch tiêm chủng thần tốc, lớn nhất trong lịch sử cho gần 100% dân số để Việt Nam “đi sau về trước” trong chiến lược vắc-xin…

Người dân đi làm căn cước công dân.

Người dân đi làm căn cước công dân.

Đối với chiến dịch cấp Căn cước công dân, Bộ Công an đã tổ chức hội nghị và có các văn bản chỉ đạo để thống nhất nhận thức thực hiện trong toàn quốc, giao chỉ tiêu cụ thể cho từng địa phương gắn với tận dụng tối đa số lượng máy móc, thiết bị được trang cấp. Trong đó tập trung thực hiện điểm tại 10 địa phương trọng điểm có đông dân cư, nhiều tạm trú (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai, Bình Dương, Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Ninh). Trong điều kiện dịch bệnh diễn biến phức tạp. Công an các địa phương nghiên cứu những cách làm sáng tạo vừa đảm bảo tiến độ thu nhận hồ sơ cấp thẻ Căn cước công dân, vừa đảm bảo an toàn chống dịch cho cả người dân đến làm Căn cước công dân và cán bộ làm nhiệm vụ.

Với những nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự chung tay, giúp sức của đông đảo quần chúng nhân dân, lực lượng Công an nhân dân đã chiến thắng trong chiến dịch đầy gian nan, thử thách này, tạo nên những chiến công hiển hách, được Đảng, Nhà nước và nhân dân vinh danh. Đến nay, Bộ Công an đã cơ bản hoàn thành theo tiến độ xây dựng, triển khai hai Dự án. Đã xây dựng được Trung tâm dữ liệu quốc gia về dân cư hiện đại, kết nối đường truyền đến tận cấp xã, bảo đảm an ninh, an toàn, theo đúng nguyên tắc đã đề ra là "hiện đại, đồng bộ, bảo mật cao, tránh lãng phí". Việc xây dựng thành công Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân đã góp phần thúc đẩy xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.

Cơ sở dữ liệu về bảo hiểmCSDL quốc gia về Bảo hiểm là cơ sở dữ liệu của Chính phủ được xây dựng thống nhất trên toàn quốc, dùng chung cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm cung cấp chính xác, kịp thời thông tin về bảo hiểm phục vụ công tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu chính đáng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hiện nay, CSDL của bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đang quản lý thông tin của toàn bộ người tham gia, thụ hưởng chế độ, chính sách BHXH, bảo hiểm y tế.

Theo thống kê, năm 2020, toàn Ngành BHXH Việt Nam tiếp nhận và giải quyết 87 triệu hồ sơ giao dịch điện tử, và khoảng 170 triệu hồ sơ đề nghị thanh toán chi phí khám, chữa bệnh liên thông trên hệ thống Giám định Bảo hiểm y tế. Từ tháng 1-2021 đến nay, cũng đã có 38,1 triệu hồ sơ giao dịch điện tử được tiếp nhận và giải quyết. Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu này góp phần giúp Ngành BHXH Việt Nam thực hiện các biện pháp cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ, cũng như hiệu quả quản lý và cải cách hành chính phục vụ nhân dân, đáp ứng các yêu cầu xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

Hiện nay, BHXH Việt Nam tiếp tục tiến hành làm sạch, đồng bộ dữ liệu, bổ sung thông tin để làm giàu thêm CSDL chuyên ngành BHXH, sẵn sàng cung cấp dữ liệu cho CSDL quốc gia về bảo hiểm; tiếp tục kết nối, chia sẻ dữ liệu với Bộ Y tế, Tổng cục Thuế, Cục Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội); Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tư pháp; kết nối, chia sẻ dữ liệu với CSDL quốc gia về dân cư để thực hiệc xác thực đối với toàn bộ nhân khẩu thuộc CSDL của phần mềm Cấp mã số BHXH và quản lý bảo hiểm y tế hộ gia đình; đã hoàn thành việc kết nối, cung cấp số liệu với Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia; đã hoàn thiện chức năng tổng hợp báo cáo số liệu hằng ngày, thông kê tình hình hỗ trợ nhóm đối tượng tại Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 7-7-2021 của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốcTừ tháng 10-2020 đến nay, Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch dùng chung của Bộ Tư pháp đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với hơn 20.000 người dùng tại 10.933 UBND cấp xã, 710 phòng tư pháp và 63 sở tư pháp. Tính đến ngày 20-9-2021, Hệ thống đã có 20.028.021 dữ liệu đăng ký khai sinh, trong đó có 6.140.683 trẻ em được cấp Số định danh cá nhân theo Quy định; 3.960.437 dữ liệu đăng ký kết hôn; 2.759.011 dữ liệu đăng ký khai tử và 5.406.532 dữ liệu khác. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tiếp tục hỗ trợ các địa phương triển khai số hoá sổ hộ tịch; đồng thời, đang nghiên cứu, bổ sung đối với việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, xã trên Hệ thống thông tin đăng ký, quản lý hộ tịch.

Phần mềm này đã giúp giải quyết hầu hết các nghiệp vụ đăng ký hộ tịch theo Luật Hộ tịch trên hệ thống mạng, máy tính và được kết nối với Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công và Hệ thống một cửa điện tử cấp tỉnh. Do đó, người dân có thể thực hiện nhiều thủ tục đăng ký hộ tịch theo phương thức trực tuyến; lấy số định danh cá nhân cho trẻ em khi đăng ký khai sinh. Qua đó cung cấp nguồn thông tin hộ tịch đầu vào, cập nhật dữ liệu “sống” cho CSDL quốc gia về dân cư.

Bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn việc triển khai xây dựng một số CSDL nêu trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Một làCSDL cần bảo đảm luôn “đúng, đủ, sạch, sống”. Từ đó đòi hỏi phải bố trí nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ thông tin để thường xuyên cập nhật dữ liệu, bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, phản ánh chân thực và phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Hai là, quá trình xây dựng CSDL, lãnh đạo các cấp các ngành cần quan tâm chỉ đạo, quyết liệt, sâu sát, sáng tạo, bản lĩnh, đột phá, tâm huyết, trách nhiệm. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cá thể hóa trách nhiệm, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ.

Ba là, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các đơn vị trong và ngoài Ngành, tranh thủ kế thừa nguồn dữ liệu sẵn có, tận dụng, kết nối, chia sẻ dữ liệu thông tin bảo đảm đồng bộ, liên thông, thống nhất.

Bốn là, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, lồng ghép thực hiện đồng thời các dự án nhằm tiết kiệm, chống lãng phí về kinh phí, nhân lực và thời gian. Sử dụng tài nguyên thông tin, dữ liệu thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, nhưng tài nguyên chuyển đổi số càng khai thác càng hiệu quả, càng phát triển.

Năm là, việc xây dựng CSDL cần chú trọng gắn kết chặt chẽ với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, an ninh quốc gia, bảo vệ thông tin cá nhân. Trong đó, công tác tổ chức kiểm tra, đánh giá, giám sát, bảo đảm an toàn, an ninh mạng cho các hệ thống thông tin cần tiếp tục được quan tâm thường xuyên.