Thứ Năm, 12 tháng 1, 2023

KHOAN THƯ SỨC DÂN – QUỐC SÁCH DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT


Muốn ổn định đất nước, muốn cho thế nước được mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc thì phải làm sao giữ được lòng dân, đoàn kết được toàn dân trên cơ sở những chính sách tiến bộ của mình. Khoan thư sức dân luôn luôn là quốc sách và thượng sách giữ nước.
Theo sử cũ và truyền thuyết, vua Tổ Hùng Vương thứ nhất dựng nước và các vua Hùng nối đời kế nghiệp đã sớm biết chăm dân, dưỡng dân, dạy dân, kéo dài sự hưng thịnh của triều đại mình. Ngay khi lập Quốc đô ở Phong Châu (nay thuộc Phú Thọ), các vua Hùng đã biết chia nước ra làm các bộ để chăm lo đời sống của dân. Chính vì biết lưu tâm dưỡng sức dân, Nhà nước Văn Lang thời đại Hùng Vương là một Nhà nước sớm có các thiết chế, tổ chức xã hội hoàn thiện, đất nước có quy củ, người dân yên hưởng thái bình. Vì thế mà kẻ thù ngoại bang không thể làm gì được trong suốt một thời gian dài. Về thời đại Hùng Vương, thiết nghĩ, trong thời gian tới, những người làm sử Việt Nam nhất định phải lưu tâm và làm rõ một cách khoa học những thành tựu đạt được của thời đại này. Việc chăm dân, giữ dân để dân hết lòng tín phục là một trong những thành công đặc biệt của thời đại Hùng Vương. Chính vì điều này, nhân dân các dân tộc Việt Nam vẫn đời đời nhớ về công đức của tổ tiên. Hàng năm, đến ngày 10 tháng 3 âm lịch, toàn dân hướng về ngày Quốc lễ – Giỗ Tổ – cúng tế hết sức trọng thể. Từ già đến trẻ luôn thuộc lòng và nhắc nhủ nhau:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Không phải ngẫu nhiên mà 18 đời vua Hùng được truyền nối. Trong nhiều lý do, chắc chắn có một lý do là lòng dân đã tạo ra thế vững chắc cho thời đại các vua Hùng.
Tiếp đến thời Thục An Dương Vương mà tiêu biểu là Thục Phán lập nước Âu Lạc đã mạnh dạn dời kinh đô về đồng bằng, chọn đất Kẻ Chủ thuộc bộ Vũ Ninh để định đô (nay thuộc Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội) đây cũng là kinh đô đầu tiên của người Việt tại đồng bằng, kề sát trung tâm Hà Nội ngày nay. Chúng tôi cho rằng, việc định đô ở Cổ Loa cũng là dựa vào tâm nguyện và ý chí của nhân dân. Chính vì biết dưỡng sức dân, mở đất, chăm dân nên việc định đô ở địa hình bằng phẳng rộng lớn, dựa vào các địa thế sông hồ cũng là biểu hiện trí tuệ của nhân dân là vô hạn mà những người đứng đầu Nhà nước Âu Lạc đã biết cách sử dụng. Thành Cổ Loa trải hơn hai nghìn năm lịch sử hiện vẫn đang là một di chỉ văn hóa lịch sử quan trọng, chứng minh bàn tay lao động tài tình của nhân dân Nhà nước Âu Lạc.
Thời Trưng Nữ Vương kéo không dài đã được các nhà nghiên cứu lịch sử phân tích khá thấu đáo nhưng theo chúng tôi, sở dĩ việc lập nước và giữ nước không được lâu bền phần lớn do kẻ thù quá tàn bạo đã gần như giết sạch người dân mà chúng bắt được hoặc những người đứng đầu các bộ lạc bấy giờ chưa cố kết được các tầng lớn nhân dân để giành lại nước.
Trong suốt chiều dài của lịch sử của dân tộc, trong điều kiện phải thường xuyên đối phó với các thế lực ngoại xâm lớn mạnh hơn bội phần, tồ tiên ta không chỉ dựa vào sức mạnh của Nhà nước, của quân đội mà còn phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Để động viên được đông đảo nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước, thực hiện “toàn dân vi binh”, “cử quốc nghênh địch”, bí quyết thành công trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta trải qua nhiều triều đại là “dựa vào dân” và chính sách “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.
Trong lịch sử dân tộc, rất nhiều triều đại nhờ khoan thư sức dân, chăm lo cho dân mà hưng thịnh và phát triển rực rỡ. Sử sách còn chép lại:
Năm 1010, khánh thành cung Thúy Hoa, vua Lý Thái Tổ đại xá cho thiên hạ trong 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều miễn cả.
Năm 1070, đời Lý Thánh Tông, đại hạn, phát thóc và tiền, lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo.
Năm 1103, thời Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan phát tiền ở kho nội phủ để chuộc những người con gái nhà nghèo phải bán mình đi ở đợ, đem gả cho người góa vợ.
Năm 1200, đời Lý Cao Tông, gặp đói to, phát thóc chẩn cấp cho dân nghèo.
Năm 1242, Trần Thái Tông miễn thuế thân đánh cho người không có ruộng đất, hạn hán, miễn một nửa tô ruộng.
Năm 1288, Trần Nhân Tông, sau thắng Nguyên lần thứ ba, đại xá thiên hạ, những nơi bị binh hỏa cướp phá nhiều, thì miễn toàn phần tô, dịch, các nơi khác thì miễn giảm theo mức độ khác nhau.
Năm 1290, đời Trần Anh Tông, gặp đói to, nhiều người bán ruộng, đất, con trai, con gái làm nô tỳ, xuống chiếu phát thóc công chẩn cấp dân nghèo, miễn thuế nhân đinh.
Năm 1303, Thượng hoàng Nhân Tông mở hội Vô lượng phép (một hình thức sinh hoạt của Phật giáo) bố thí vàng bạc tiền, lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước.
Năm 1343 đời Trần Dụ Tông, hạn hán, xuống chiếu giảm một nửa thuế nhân đinh.
Năm 1354 đời Trần Dụ Tông, sâu cắn lúa, giảm một nửa tô ruộng.
Năm 1358, đời Trần Dụ Tông, hạn hán, sâu cắn lúa, xuống chiếu khuyến khích nhà giàu ở các bộ bỏ thóc ra chẩn cấp cho dân nghèo.
Năm 1362, đời Trần Dụ Tông, đói to, xuống chiếu cho nhà giàu dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo, bàn tính theo thứ bậc khác nhau.
Năm 1375, đời Trần Duệ Tông, xuống chiếu cho những người giàu ở các lộ đem dâng thóc, được ban tước theo thứ bậc khác nhau…
Trong triều đại phong kiến, đối với nhà vua “ý trời lòng dân” trở thành lý do định vị. Tuy nhiên một khi đã lên ngôi thì quyền lực của nhà vua là toàn năng và tối thượng, vua lại được coi là “Thiên tử” (con trời) “thế thiên hành đạo” (thay trời cai trị) và là cha mẹ của muôn dân. Vua Lý Thái Tông thì yêu dân như con còn vua Lý Thánh Tông đã từng nói: “Ta yêu con ta như lòng ta làm cha mẹ dân”. Vua Trần Anh Tông có lần khẳng định: “Trẫm là cha mẹ dân, nếu thấy dân lầm than thì phải cứu giúp ngay, há nên so đo khó dễ lợi hại”. Trong “Lộ bố văn”, Lý Thường Kiệt khẳng định: “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân”. Như vậy, với quan niệm lúc đó, vua tuy là tối thượng nhưng lại có quan hệ và trách nhiệm của mình đối với dân chúng. Có khi nhà vua coi đó là một tiêu chuẩn chính trị để tự răn mình.
Thời Lý có thể được coi là một thời đại cực thịnh của Đại Việt, thời kỳ Nho, Phật, Lão đồng nguyên, trong đó đạo Phật là Quốc giáo. Ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn đã hạ chiếu miễn giảm sưu thuế trong nhiều năm. Trong gần 18 năm ông cầm quyền đã 3 lần miễn, giảm sưu thuế cho nhân dân. Đây có lẽ là một trong những vị vua hiền sáng nhất dân tộc Việt. Ông cũng là người quyết định rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Chiếu dời đô có đoạn viết: “…Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh.”… đủ thấy tấm lòng của những ông vua hiền sáng bao giờ cũng hướng đến nhân dân vậy.
Chính vì luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân nên Quốc gia Đại Việt thời Lý luôn có biên cương vững chắc, quốc thổ thống nhất, có võ công, có văn hiến, kinh tế, đặc biệt là các nghề nông ta phát triển rực rỡ. Lý Công Uẩn vừa khai sinh triều Lý, vừa đưa thế nước vươn cao khiến các nước lân bang phải nể trọng.
Bước sang vương triều Trần, một vương triều có võ công hiển hách của dân tộc Việt: Đến nay nước sông tuy chảy hoài/ Mà nhục quân thù khôn rửa nổi (Bạch Đằng Giang phú – Trương Hán Siêu), mà để có được những võ công ấy thì việc dưỡng sức dân, đồng cam cộng khổ với nhân dân luôn là kế sách hàng đầu. Người đứng đầu cho tư tưởng này chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Chính ông có câu nói nổi tiếng cũng là tư tưởng xuyên suốt cuộc đời ông, triều đại nhà Trần mà các triều đại ở những giai đoạn tiến bộ sau đó đều tiếp thu trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
Đến nay, sau hơn 700 năm đại thắng Nguyên – Mông, các nhà nghiên cứu quân sự, sử gia, chính trị gia, các danh tướng mọi thời đại trong và ngoài nước vẫn không ngừng tìm hiểu và tôn vinh thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn. Cách dùng binh độc đáo, nghệ thuật quân sự kỳ tài, tấm gương đạo đức của ông mãi mãi là tài sản vô giá không riêng của dân tộc Việt Nam. Tìm hiểu diễn biến và cục diện chiến tranh trong toàn bộ cuộc đời Hưng Đạo Vương thấy rõ một điều ông không chỉ chủ động trên chiến trường đang diễn ra mà luôn dành toàn bộ tài năng, tâm huyết, chuẩn bị mọi mặt từ trước đó và cả sau khi chiến tranh đã kết thúc.
Tài năng kiệt xuất của Hưng Đạo vương chính là việc nhận thức rõ nhân dân mới là nguồn sức mạnh giữ nước, nguồn sức mạnh vô địch, nguồn sức mạnh mà không một kẻ thù tàn bạo nào có thể khuất phục. Ông luôn chăm lo sức dân ngay từ thời bình cũng như trong thời chiến. Chủ trương sâu sắc của ông mà đỉnh cao là tư tưởng: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc mới là thượng sách giữ nước”.
Cũng chính Hưng Đạo Vương, sau các chiến thắng lừng lẫy đã xác định, đại ý: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục nên quân địch đã phải bị bắt”. Yếu tố đoàn kết từ thượng tầng triều đình đến hạ tầng dân chúng, đoàn kết quân dân, đoàn kết toàn quân, xây dựng đội quân “phụ tử chi binh” chính là khơi dậy mạch nguồn sức mạnh từng bước tiến tới toàn thắng. Đó là nguồn sức mạnh vô địch mà nhân dân Đại Việt không những đứng vững mà còn chiến thắng đế quốc Nguyên – Mông.
Hưng Đạo Vương không những là vị thống soái quân sự cao nhất mà còn là một nhà lý luận, nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng với nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Điển hình của lý luận quân sự của ông thể hiện cao nhất ở Hịch tướng sĩ và sau này là bản Di chúc lịch sử thể hiện tinh hoa khí phách dân tộc Đại Việt trong việc đánh giặc giữ nước. Tư tưởng khoan thư sức dân, dựa vào dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, toàn quân và triều đình để làm kế sách giữ nước của ông là tư tưởng vượt qua mọi thời gian, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đầy sức sống, luôn có mặt trong mọi thời đại mà hậu thế đã tôn vinh.
Tóm lại, muốn ổn định đất nước, muốn cho thế nước được mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc thì phải làm sao giữ được lòng dân, đoàn kết được toàn dân trên cơ sở những chính sách tiến bộ của mình. Khoan thư sức dân luôn luôn là quốc sách và thượng sách giữ nước.
ST
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc TRÂN HƯNG ĐẠO Zing vn 5GGO6'

BỘ NGOẠI GIAO MỸ CẦN ĐÁNH GIÁ KHÁCH QUAN VỀ TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

Đến hẹn lại lên, vào các dịp cuối năm, Bộ Ngoại giao Mỹ thường đưa ra các báo cáo nhân quyền, tự do tôn giáo đối với các nước trên thế giới, Mỹ tự cho mình đóng vai trò “Cảnh sát quốc tế” để giám sát hoạt động của các nước về nhân quyền, tự do tôn giáo.
Ngày 2/12/2022 vừa qua, trên website của Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa Việt Nam vào cái gọi là “Danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo”. Điều này gây nên những phản ứng của dư luận xã hội về sự thiếu khách quan trong nhìn nhận, đánh giá thực chất vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời thể hiện góc nhìn sai lệch của Bộ Ngoại giao Mỹ.
Theo cáo buộc của Bộ Ngoại giao Mỹ, Việt Nam cùng 3 nước khác là Algeria, Cộng hòa Trung Phi, Comoros thuộc cái gọi là “Danh sách giám sát đặc biệt về tự do tôn giáo”. Lý do phía Mỹ đưa ra là Việt Nam trong năm 2022 đã “can dự vào hay dung thứ cho những vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo”. Đồng thời với Bộ Ngoại giao Mỹ là tổ chức Ủy hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo quốc tế (USCIRF) cũng công bố báo cáo mới về “Danh sách nạn nhân tự do tôn giáo hay niềm tin”, theo đó cáo buộc Việt Nam chưa tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, đặc biệt tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân.
Trước những cáo buộc phi lý của Bộ Ngoại giao Mỹ, Việt Nam đã có những phản hồi chính thức về vấn đề này. Cụ thể, ngày 15/12/2022, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định: “Việc Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo là dựa trên những đánh giá thiếu khách quan cũng như các thông tin không chính xác về tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam”.
Từ nội dung tuyên bố trên của Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng như từ thực tiễn tình hình tự do tôn giáo cho thấy, Việt Nam có đầy đủ cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý vững chắc để chứng minh những điều mà Bộ Ngoại giao Mỹ đã nêu trong báo cáo là không chính xác, thiếu khách quan. Cụ thể:
Thứ nhất, việc Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo là dựa trên những đánh giá thiếu khách quan, công bằng. Bộ Ngoại giao Mỹ đơn phương đưa ra danh sách để đánh giá một quốc gia có chủ quyền, độc lập như Việt Nam là đi ngược lại quy định Hiến chương của Liên Hợp Quốc (LHQ) năm 1946. Mặt khác, cáo buộc này đã phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam khi tham gia vào “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966” mà Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982 với điều 18 cam kết về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng” (khoản 1, Điều 18 Công ước năm 1966).
Thực tế tại Việt Nam, tình hình tự do tôn giáo được khẳng định rõ trong Hiến pháp, pháp luật và được tôn trọng, bảo đảm trên thực tế. Nhiều năm qua, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, trong đó có tín đồ, chức sắc tôn giáo được nâng cao, đã có những bước chuyển biến rất rõ nét, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Đặc biệt với việc Việt Nam 2 lần trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ (nhiệm kỳ 2014-2016 và nhiệm kỳ 2023-2025) với số phiếu bầu cao cho thấy sự tín nhiệm của các nước trên thế giới với cách nhìn nhận đánh giá đúng đắn, công tâm về tiến trình bảo đảm nhân quyền nói chung và quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam nói riêng.
Ngoài ra, những thành tựu gần đây về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được bạn bè quốc tế ghi nhận như tổ chức thành công 3 lần Đại lễ VESAK LHQ các năm 2008, 2014 và năm 2019; Việt Nam đã cùng với Giáo hội Công giáo hoàn vũ (Vatican) tổ chức 9 vòng đối thoại thường niên để tiến tới xây dựng quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Vatican phục vụ lợi ích giữa giáo hội, giáo dân và dân tộc Việt Nam. Đến nay, số lượng các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận là 16 tôn giáo, 43 tổ chức đăng ký hoạt động tôn giáo, nhiều tổ chức tôn giáo mới hình thành đều được các cơ quan, ban, ngành chức năng hướng dẫn tỉ mỉ theo quy định Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2106 đảm bảo tính thống nhất, ổn định và tuân thủ quy định của luật pháp Việt Nam.
Thứ hai, cáo buộc của Bộ Ngoại giao Mỹ dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Bộ Ngoại giao Mỹ thường cử các phái đoàn ngoại giao vào Việt Nam để theo dõi, quan sát về tình hình tự do tôn giáo, điều này phù hợp với tinh thần đối thoại, hợp tác lẫn nhau giữa Việt Nam và Mỹ. Tính từ năm 2006 đến nay, phía Mỹ hằng năm thường xuyên cử các phái đoàn hỗn hợp của Bộ Ngoại giao, Quốc hội Mỹ, tổ chức phi chính phủ trực thuộc các cơ quan, ban, ngành của Mỹ đến thăm, tiếp xúc làm việc với các cá nhân, chức sắc, tín đồ và tham dự các hội thảo, hội luận, tọa đàm do chính quyền Việt Nam tổ chức để làm rõ hơn quy cách quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam.
Tuy nhiên, Mỹ thường cử phái đoàn đến thăm gặp, tiếp xúc với cá nhân là chức sắc, tín đồ tôn giáo có những hoạt động vi phạm pháp luật hoặc những hội nhóm chưa đủ điều kiện công nhận về tổ chức tôn giáo theo quy định pháp luật. Đơn cử vào tháng 5 và tháng 10/2022, Bộ Ngoại giao Mỹ đã cử phái đoàn vào Việt Nam để khảo sát tình hình tự do tôn giáo chỉ tiếp xúc với các hội nhóm tôn giáo chưa được công nhận, thường xuyên vi phạm pháp luật như “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, “Pháp luân công”, “Tin lành Đấng Christ các dân tộc Việt Nam”, “nhóm Cao Đài, Hòa Hảo độc lập”, “tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình”… Họ lên tiếng bênh vực những cá nhân vi phạm pháp luật như đối tượng Nguyễn Năng Tĩnh, Lê Đình Lượng, Hồ Đức Hòa… trong Công giáo; đối tượng Nguyễn Trung Tôn, Y Hinnie, A Ga, A Đảo… trong đạo Tin lành; đối tượng Thích Không Tánh, Thích Tuệ Sỹ trong “Phật giáo Việt Nam thống nhất”. Thậm chí, những kẻ cố tình lợi dụng danh nghĩa tín ngưỡng, tôn giáo như đối tượng Lê Tùng Vân tại “Thiền am bên bờ vũ trụ” (còn gọi là Tịnh thất Bồng Lai), tỉnh Long An cũng được phía Mỹ liệt kê vào danh sách cần “quan tâm, bảo vệ”.
Chính từ thu nhận bởi những tiếng nói của các cá nhân, tín đồ vi phạm pháp luật như trên nên phía Bộ Ngoại giao Mỹ đã vin vào đó để quy kết phía Việt Nam đang “đàn áp tự do tôn giáo” và cho rằng, việc xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật, phạm tội là “xử lý và đàn áp tôn giáo”. Điều này thể hiện cách nhìn nhận thiếu khách quan và áp đặt tiêu chuẩn tự do tôn giáo của Mỹ đối với Việt Nam.
Thứ ba, Việt Nam và Mỹ đã xây dựng được cơ chế đối thoại trên cơ sở niềm tin, bình đẳng và hướng đến sự ổn định phát triển giữa hai quốc gia, dân tộc. Những năm qua, hai nước đã thường xuyên tổ chức “Đối thoại Nhân quyền thường niên Hoa Kỳ – Việt Nam” nhằm trao đổi, đối thoại giải quyết những vướng mắc, bất đồng xung quanh vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Năm 2022, hai nước đã tổ chức cuộc họp Đối thoại nhân quyền tại Mỹ thu được kết quả thành công tốt đẹp, mở ra triển vọng mới về cải thiện nhân quyền tích cực ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thế nhưng, Bộ Ngoại giao Mỹ đơn phương đưa Việt Nam vào “Danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo” năm 2022 đã phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ trong tiến trình tạo niềm tin, củng cố quan hệ ngoại giao. Việc đưa ra những đánh giá, nhận định nêu trên của Bộ Ngoại giao Mỹ đã tạo thêm những cơ sở, điều kiện để các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị tuyên truyền xuyên tạc sai lệch bản chất vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Thứ tư, Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với tổ chức, cá nhân chức sắc, tín đồ. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành năm 2018), Nghị định 162/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Nghị quyết số 25/NQ-TƯ ngày 12/3/2003, Hội nghị Trung ương 7, Khóa IX về công tác tôn giáo, nêu 5 quan điểm về chính sách trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho chức sắc, tín đồ. Những quy định này đã tạo cơ sở cho những phát triển, thành tựu trên lĩnh vực tôn giáo, trong đó nhìn nhận yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo là “nhu cầu không thể thiếu của một bộ phận người dân” và “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo”; xác định tín ngưỡng, tôn giáo là nguồn lực quan trọng mà các cơ quan, ban, ngành chức năng trong hệ thống chính trị phải phát huy nguồn lực này góp phần xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng thiết chế văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, gắn tín ngưỡng, tôn giáo với đạo đức con người, văn hóa dân tộc.
Thứ năm, sự phát triển lớn mạnh của các tổ chức tôn giáo ở trong nước và liên kết quan hệ quốc tế trong tôn giáo là minh chứng cho thấy tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu vào thế giới. Định hướng phát triển của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có thể thấy rõ thông qua nội dung Hiến chương, điều lệ, quy định của tôn giáo luôn bám sát yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế. Chẳng hạn, Phật giáo luôn kiên định con đường “Đạo pháp dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; Công giáo tự hào với quan điểm “sống phúc âm trong lòng dân tộc”; đạo Tin lành với Hiến chương “phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc”; đạo Cao Đài với khẩu hiệu “nước vinh – đạo sáng”… đã khơi dậy truyền thống gắn kết giữa tín ngưỡng, tôn giáo với tinh thần tự lực, tự cường, độc lập dân tộc.
Mặt khác, trong xu thế mở cửa hội nhập hiện nay, nhiều tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đã vươn mình, khẳng định sự lớn mạnh bằng việc tổ chức các sự kiện hành hương, đại lễ, lễ trọng thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế. Cụ thể: Đại lễ VESAK Phật giáo LHQ năm 2019 diễn ra tại chùa Tam Chúc, Hà Nam đã có hơn 500 phái đoàn quốc tế đến tham dự; lễ hành hương tại La Vang (Quảng Trị), Sở Kiện (Hà Nam) của Công giáo Việt Nam đã thu hút sự tham gia của hàng trăm tổ chức Công giáo trên thế giới đến hành hương, chiêm bái. Những điều này thể hiện rõ tầm ảnh hưởng của các tổ chức tôn giáo Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế, xã hội trong nước; đồng thời xây dựng hình ảnh một đất nước Việt Nam có đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Tóm lại, từ những thành tựu có được trong bức tranh về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là minh chứng sống động cho thấy hơn bao giờ hết tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trở thành động lực, yếu tố thúc đẩy gắn kết, đoàn kết xã hội, xây dựng xã hội mang bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Những cáo buộc của phía Mỹ khi đưa Việt Nam vào “danh sách cần giám sát đặc biệt về tự do tôn giáo” thực sự chưa thể hiện góc độ tiếp cận tích cực, thiếu căn cứ pháp lý, đi ngược lại những cam kết mà phía Mỹ và Việt Nam đã ký kết, thỏa thuận. Hi vọng rằng trong thời gian tới, phía Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ có những đánh giá khách quan, cụ thể, sâu sát và vì lợi ích của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam để đưa ra những đánh giá, quyết định hữu ích cho quan hệ giữa hai quốc gia, dân tộc.
ST
Có thể là hình ảnh về 1 người và ngoài trời

NHỮNG KẺ GIẢO HOẠT VÀ LÁ BÀI "NHÂN QUYỀN"


Lâu nay, những kẻ giảo hoạt vẫn luôn miệng ca ngợi nền tự do phương Tây, coi đó là “xứ thiên đường” và muốn “ốp” Việt Nam cũng phải rập khuôn theo nền tự do, dân chủ đó. Sự ngợi ca, tâng bốc này khiến những “con rối” trong nước có lúc như “phát cuồng”, lên mạng chế giễu nền văn hoá nước nhà, chế giễu tính cách, con người Việt, miệt thị “chế độ đảng trị”, cáo buộc và đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi phi lý về dân chủ, nhân quyền.
Sự chia sẻ hay cổ xuý của không ít người trên mạng internet đã tiếp tay cho hành động gian xảo của những kẻ giảo hoạt, chống phá đất nước. Tự do, dân chủ ở mỗi quốc gia còn phụ thuộc đặc trưng nền văn hoá, chính trị, xã hội và ngay tại nơi mà họ gọi “xứ thiên đường” cũng có khuôn khổ, phép tắc, có những vấn đề khiến không ít kẻ khi đến định cư tại đây đã phải “vỡ mộng”.
Trần Thị Nga (sinh năm 1977) từng là thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân. Chính Nga đã có những “chia sẻ đắng cay” trên mạng xã hội về cuộc sống của mình và người thân sau quá trình định cư ở “xứ thiên đường”.
Theo chia sẻ trên facebook cá nhân, Nga và người thân gặp rất nhiều khó khăn trên đất Mỹ. Nga viết rằng, Mỹ là thiên đường của người này nhưng là địa ngục của người kia khi rơi vào vòng luẩn quẩn của các loại giấy tờ, trong khi tiền bạc lại không kiếm được. Nga tỏ ra chán nản: “Một gia đình 4 người (1 người già và 2 trẻ nhỏ) đã trải qua cảnh sống đó rồi. Giờ đã chán cảnh ngồi chờ chết dần chết mòn rồi, vì đằng nào cũng chết thì có chết cũng phải chết cho có ý nghĩa. Đi làm giấy tờ thì chỗ nọ chỉ chỗ kia, chỗ kia chỉ chỗ nọ…”.
Trần Thị Nga tham gia tổ chức khủng bố Việt Tân từ năm 2007 với bí danh Sơn Nam, được coi là thành viên có tiềm năng, cốt cán. Nga có những thủ đoạn rất ranh mãnh như nửa đêm mang con ra nằm vỉa hè để đồng bọn chụp ảnh, quay phim tố chính quyền để cho dân khổ, có khi lại đặt hai con nhỏ lên xe nôi đẩy ra đường để biến thành công cụ “ăn cướp, la làng”. Với những hành động chống phá quyết liệt, Nga được các tổ chức, cá nhân thù địch tung hô là “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà cải cách”. Trần Thị Nga bị TAND tỉnh Hà Nam tuyên phạt 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Phiên toà phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Như thường lệ, khi Trần Thị Nga bị bắt, xét xử và thi hành án, một số tổ chức, cá nhân thù địch ở nước ngoài lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền đã tiến hành nhiều hoạt động chống phá Việt Nam. Các đối tượng tung hô Nga là “người đấu tranh cho những thân phận bị dồn vào đường cùng”,“tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, xuyên tạc Việt Nam “vi phạm Công ước chống tra tấn” của Liên hiệp quốc và yêu cầu “trả tự do ngay lập tức, vô điều kiện” cho đối tượng này. Tổ chức khủng bố Việt Tân cũng đã trao cho Nga “giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng”…
Nhận được sự tung hô, cổ suý từ bên ngoài nên trong thời gian chấp hành án tù, Nga thường xuyên bất tuân quy định của trại giam, khi được gọi điện cho người thân thì vu khống bị cán bộ trại giam “đàn áp, tra tấn”… Tuy nhiên, với chính sách nhân đạo, Nga đã được ra tù trước thời hạn và ngày 10/1/2020 bị trục xuất, sang định cư tại Mỹ cùng 3 người thân trong gia đình.
Nay sang Mỹ, người ta chờ đợi xem “nhà dân chủ tự xưng” sẽ nói gì về miền đất mà Nga vẫn tụng ca bấy lâu. Nhưng chỉ sau thời gian ngắn, hiện thực không như ảo mộng, Nga buộc thừa nhận bi kịch với vô vàn thách thức đối mặt ở chính “miền đất hứa”. Thêm nữa, nếu như khi ở trong nước, Nga “khóc thuê” cũng được bên ngoài dụ dỗ, cho tiền thì khi sang Mỹ, những lời hứa “sẽ quan tâm”trở thành bi kịch trớ trêu.
Không nhận được sự trợ giúp từ những tổ chức vẫn nói “luôn đồng hành”, Nga túng thiếu, vật lộn khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần, khi đó mới nhận ra mình đã bị mắc mưu những kẻ giảo hoạt. Còn kẻ giảo hoạt thì nói rồi quên, hứa rồi bỏ, tung hô rồi phó mặc, tưởng đường mật hoá ra đắng chát, sự thật ấy khi Nga nhận ra thì đã quá muộn. Kẻ giảo hoạt bản chất là vậy, chẳng có gì lạ cả, chỉ có những “con rối” ảo vọng, cả tin như Nga mới rơi vào bi kịch!
Thực tiễn vỡ mộng đó đã khiến cho Trần Thị Nga thốt lên chua xót: “Vậy là tôi đã có thêm một bài học một kinh nghiệm có giá trị”! Vậy mà, khi còn trong tù, Nga không hối lỗi cải tạo để sớm được trở về với xã hội, trở về với cộng đồng hưởng cuộc sống thanh bình, tự do, mà còn tìm kiếm mộng ảo nơi “thiên đường đất Mỹ”, giờ đây mới đớn đau tỉnh ngộ. Lời than thở chua cay của Nga cũng như một số đối tượng khác có tư tưởng, hành vi phản bội lại quê hương, đất nước là bài học thức tỉnh, hãy biết dừng lại trước khi quá muộn.
Cũng rơi vào viễn cảnh như Nga là trường hợp của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Như Quỳnh khi ở trong nước hay lên mạng chửi bới chính quyền Việt Nam, ra sức bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước và ca ngợi “thiên đường” ở các nước phương Tây. Sau khi bị bắt giữ, xử lý, Quỳnh được phía Mỹ bảo lãnh theo diện tị nạn chính trị. Nhưng khi được sang Mỹ rồi, Quỳnh mới thấy tất cả không như ảo tưởng của mình.
Trên Facebook của mình, cô ta đã cay đắng thừa nhận “nước Mỹ không vĩ đại như nhiều người đang nghĩ”, đồng thời chĩa mũi nhọn chỉ trích vào tổng thống Mỹ và chính quyền sở tại. Thực tế, trong dịch bệnh COVID-19, tầng lớp không có việc làm ổn định, không có nhà cửa như Quỳnh là những người chịu áp lực nhất khi giá y tế ở Mỹ cao kỷ lục và khó tiếp cận. Trên mạng Internet, Quỳnh có lúc bày tỏ “nhớ nhà”, “muốn được trở lại”…
Tương tự là trường hợp Lê Thu Hà (tháng 4/2018, Hà bị kết án 9 năm tù và 2 năm quản chế về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”). Sau đó, Hà bị trục xuất khỏi Việt Nam, được bảo lãnh theo diện tị nạn. Hà đến ở tại thị trấn Bad Naheim, bang Hawai, Đức, được một số cá nhân chu cấp tiền để học tiếng Đức, thuê nhà, sinh hoạt và đào tạo nghề. Tuy nhiên, do không có trình độ, tiền không đủ, nhà ở thuê, bản thân không thể đáp ứng yêu cầu, điều kiện lao động và mức sống tại đây, Hà vỡ mộng với cuộc sống tại “xứ Tây”, nơi mà Hà từng ao ước, ca ngợi rồi có các hành động phản bội lại đất nước để đạt được mục đích. Chỉ thời gian ngắn, Lê Thu Hà bắt đầu chán nản “xứ phồn vinh” và thấm thía rằng “luôn nhớ quê hương, đất mẹ”, tìm cách trở về.
Cũng có những trường hợp sau khi sang Mỹ, châu Âu, nhờ được sự giúp đỡ của người thân, họ tìm được việc làm, tạm ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, dù không quá vất vả, lận đận kiếm tiền song các “nhà dân chủ” sớm nhận ra sự thật đắng cay: các tổ chức, cá nhân vốn hứa bao bọc, giúp đỡ nhằm tạo ngọn cờ chống đối trong nước, nay tìm cách tảng lờ, coi như không liên quan. Kẻ giảo hoạt vốn vậy, nay con rối đã bị tẩy chay, mất khả năng quậy phá tất bị trở tay, lật kèo, có tức khí chửi bới kẻ “nói lời không giữ lấy lời” thì cũng chỉ như nước đổ lá môn, chửi đấy rồi khóc, đau đớn nhận ra bi kịch khi đã quá muộn!
Quê hương, đất nước bất luận trong hoàn cảnh nào cũng thiêng liêng, cao quý. Người ta bảo “cáo chết quay đầu về núi”, làm sao có thể rời bỏ mẹ cha, ruồng bỏ quê hương. Làm sao có thể phỉ báng quê hương, đất mẹ, nơi chôn rau cắt rốn của mình, nơi dưỡng dục mình lớn lên. Người phụ bạc với đất mẹ, với Tổ quốc thì còn bước đi đâu mà không phải cúi đầu, còn gì liêm sỉ để ngẩng lên mà nhìn người khác?
Xin viện dẫn câu chuyện của ông Hoàng Duy Hùng, người từng có quá khứ chống đối quyết liệt để thấy rằng, không thể nói định kiến là cố hữu mà sự thay đổi nhận thức là hoàn toàn có thể theo nghĩa tiếp cận đạo lý, lẽ phải. “Tôi chống Đảng, Nhà nước từ năm 1984 và trở thành một đảng viên trung ương của đảng Đại Việt vào năm 1986. Khi được tổ chức cử về đất nước, lúc đó quê hương còn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị bao vây, cấm vận từ nhiều phía…
Sau khi bị bắt giữ, được trả tự do vào năm 1993 thì đất nước của vẫn còn nghèo nên tôi vẫn có tư tưởng chống cộng” – ông Hùng nhớ lại những năm tháng lầm đường, lạc bước. Nhưng rồi, những lần trở lại Việt Nam, tiếp xúc với những người thân yêu trên quê hương đất mẹ, chứng kiến những phát triển, đổi thay của đất nước, ông Hùng dần nhận ra lẽ phải. Trong lần trở về quê ăn Tết Nguyên đán năm 2022, ông chia sẻ: “Khi rời quê hương, tôi còn rất nhỏ. Tôi luôn ao ước được ăn một cái Tết đầm ấm ở quê nhà. Ngày 20/1/2022, tôi đáp chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam. Đây không phải là lần đầu tiên người con xa xứ như tôi về với đất mẹ nhưng cảm xúc lần này khác nhiều so với lần trước. Bởi đây là lần đầu tiên, tôi được đón một cái Tết đúng nghĩa của người Việt…
Được nhìn thấy những đổi thay từng ngày, từng giờ ở mảnh đất nơi chôn rau, cắt rốn, cảm xúc của tôi lại xốn xang, khó có thể diễn tả hết bằng lời”. Ông kể rằng, trở về và đi nhiều nơi, chứng kiến sự thay đổi, cuộc sống bình an của người dân, chính điều đó đã tác động không nhỏ đến suy nghĩ của mình. Rồi ông quay những clip về quê hương, đất nước đưa lên mạng. Qua những đoạn clip, góc nhìn của mình, ông mong muốn mỗi người Việt đang có tư tưởng chống cộng hiểu rằng, có thể họ hận thù với chế độ này vì họ chưa được thấy những ảnh thật về quê hương, đất nước, vì những định kiến xưa cũ. Hãy cảm nhận bằng hiện thực cuộc sống, về quê hương, con người, đừng vì những động cơ sai trái mà nói và hành động trái với đạo lý, với lẽ phải…
“Quê hương nghĩa nặng tình sâu”, lòng yêu nước và hướng về quê hương luôn là một giá trị thiêng liêng với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Kẻ giảo hoạt bản chất gian trá, vốn chỉ nhằm phá hoại sự yên bình, ổn định của chúng ta. Đừng biến mình thành quân cờ với những lời lẽ nguỵ biện kiểu “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, “nhà cải cách”, đừng trở thành con rối trong tay kẻ giảo hoạt, làm hại quê hương, đất nước, chống lại Đảng, chế độ.
Nhân quyền, giá trị đó không từ trời Tây rơi xuống, không ngộ nhận từ “phong trào” nào từ hải ngoại.
Nhân quyền, điều đó chỉ có thể đảm bảo bằng cách sống và hành động đúng với lẽ phải, với luật pháp, với đạo lý trên quê hương, đất nước mình.
Kết lại bài này, xin nhắc lại câu nói của nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp gỡ với kiều bào tại quận Cam nhân chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ (tháng 6/2007): “Chúng ta nghĩ Tổ quốc là cái gì xa xôi nhưng Quốc văn giáo khoa thư nói rằng, đó là những gì gần gũi nhất… Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường”.
ST

GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG VỀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 

Sáng 11-1, Ban Nội chính Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp tổ chức gặp mặt báo chí giới thiệu cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Chủ trì buổi gặp mặt báo chí có các đồng chí: Nguyễn Thái Học, Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương; Trần Thanh Lâm, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Phạm Minh Tuấn, Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Tại buổi gặp mặt báo chí, đồng chí Nguyễn Thái Học, Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương giới thiệu tổng quan về mục đích, ý nghĩa và quá trình, biên soạn xuất bản cuốn sách; khái quát những điểm mới và nội dung, hình thức cuốn sách.
Cuốn sách về nội dung gồm 3 phần: Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam; nhất quán phương châm “Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm từ xa, cả ngọn lẫn gốc”; trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt.
Nội dung cuốn sách là tập hợp các bài viết tổng quan công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đúc rút từ kinh nghiệm thực tiễn phong phú, thể hiện sự chỉ đạo sâu sát, quyết liệt, toàn diện và đầy sức thuyết phục của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, góp phần làm sáng rõ bước phát triển nhận thức, tư duy lý luận của Đảng ta về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Các quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) trong các bài phát biểu kết luận tại 36 phiên họp của Ban Chỉ đạo, cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo, không đăng toàn văn mà tập hợp theo các nhóm vấn đề lớn, quan trọng, được chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên, thể hiện tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt, nhất quán của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Các bài viết của đồng chí Nguyễn Phú Trọng được tập hợp qua nhiều thời kỳ, trên nhiều cương vị công tác, đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau (có bài viết từ năm 1973 đến nay vừa tròn 50 năm) cho thấy tầm nhìn xa của đồng chí về các vấn đề xây dựng Đảng; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và phát triển đất nước.
Về hình thức, cuốn sách là sách ảnh, với gần 100 hình ảnh minh họa, được sắp xếp theo trật tự thời gian và gắn với các sự kiện, hoạt động của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, làm tăng độ hấp dẫn, sinh động của cuốn sách.
Cuốn sách được trình bày theo phong cách báo chí hiện đại để gần gũi hơn với đông đảo bạn đọc, góp phần lan tỏa sâu, rộng tinh thần, thái độ kiên quyết, rõ ràng, dứt khoát của Đảng, Nhà nước và đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Cuốn sách dự kiến ra mắt vào đúng dịp kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930/3-2-2023) mang ý nghĩa hết sức sâu sắc trong bối cảnh cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đang được Đảng ta chỉ đạo ráo riết, quyết liệt, trở thành một cuộc chiến không khoan nhượng và đã đạt những kết quả toàn diện, tích cực./.
Báo Quân đội nhân dân

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 12/01


“Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”
Là lời trong Bài "Đạo đức công dân" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng Báo Nhân dân, số 320 ngày 15-1-1955; trong lúc đại đa số nhân dân ta hăng hái đóng góp sức của, sức người, tự giác, tự động làm trọn nghĩa vụ của người chủ nước nhà để khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, tích cực tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà; nhưng vẫn còn một số người chỉ muốn hưởng quyền lợi mà không làm nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc, thậm chí có người còn làm trái pháp luật (như tham ô, buôn gian, lậu thuế, trộm cắp, lưu manh...).
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện tiêu cực, việc làm thiếu trách nhiệm của một số công dân đối với Tổ quốc, với cộng đồng; Người nhắc nhở các địa phương, các ngành phải quan tâm và sử dụng phương pháp giáo dục phù hợp, giải thích cho quần chúng hiểu rõ địa vị cao quý của người làm chủ nước nhà, nhất trí lợi ích chung của Nhà nước và lợi ích riêng của mỗi người, qua đó nêu cao ý thức, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Tổ quốc, với cộng đồng.
Lời của Người nhanh chóng được cấp ủy, chính quyền các địa phương trên toàn miền Bắc quán triệt, hiện thực hóa thành các chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể; tuyên truyền, giáo dục đạo đức công dân, vận động mọi người làm tròn bổn phận của người dân làm chủ; thi đua với bộ đội và nhân dân miềm Nam anh dũng đang chiến đấu hy sinh xương máu để giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà; hàng ngàn khẩu hiệu hành động ở các địa phương được nhân dân đồng thuận, hưởng ứng tích cực; nhân dân bảo nhau, cùng nhau thực hiện nghiêm pháp luật Nhà nước; tuân theo kỷ luật lao động; tự giác đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ hạn, tích cực tham gia xây dựng lợi ích chung; hăng hái trong thực hiện công việc tập thể; quan tâm bảo vệ tài sản của công, góp phần xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện cho chiến trường miền Nam giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện nghĩa vụ và giữ vững đạo đức công dân, tiếp tục được Đảng và Nhà nước ta nghiên cứu, vận dụng sáng tạo phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, làm cho mọi người Việt Nam hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc; nêu cao ý thức công dân tích cực đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến quá trình xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người.
Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng quân đội có bước phát triển, đòi hỏi nghĩa vụ, trách nhiệm và đạo đức của người quân nhân cách mạng phải tiếp tục được củng cố, tu dưỡng, rèn luyện; tập trung nâng cao nhận thức và sự nhạy bén chính trị của cán bộ, chiến sĩ, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và nhân cách quân nhân, giữ vững, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

XIN CHÀO “VƯỜN ĐỊA ĐÀNG”


Các nước châu Âu đã quyết định dừng lại sự phát triển của quốc gia mình để chờ cho những nước đang phát triển đuổi kịp họ. Chẳng những thế, họ còn lùi lại một quãng xa để “cho” những nước “nghèo nàn’ lạc hậu” đuổi kịp. Tại sao tôi lại nói như vậy, bạn có biết không?
Chả là cái ông Borell gì đó cứ vỗ ngực mà nói rằng các quốc gia thuộc EU chẳng khác gì “vườn địa đàng” dưới hạ giới, còn các quốc gia khác chỉ là những cánh rừng hoang vu. “Nói người chẳng ngẫm đến ta. Thử sờ lên gáy xem xa hay gần”, rồi thì “cười người hôm trước, hôm sau người cười”, dân Việt tôi cứ có những câu ca dao tục ngữ để răn đời như thế, hôm nay tôi xin hiến cho các vị.
Nói phải có sách, mách phải có chứng. Bắt đầu từ tháng Hai, 2022 các nước thuộc “Vườn địa đàng” đã nghe theo lời dạy của Mỹ phải “hy sinh” những tiện ích và phúc lợi xã hội để làm cho nền kinh tế của Nga bị kiệt quệ. Thế là các lệnh trừng phạt từ “Vườn địa đàng” lên “nước Nga khốn khổ” lần lượt ra đời. Tám cái lệnh trước thì dễ nhận được cái gật đầu của 27 người chủ “vườn”. Đến cái lệnh thứ 9 thì bắt đầu ông chẳng bà chuộc, vì dân chúng nó khổ quá, chúng biểu tình liên miên, có ông chủ “vườn” còn suýt bị đảo chính. Nhưng ông chủ Mỹ bảo, như thế đã ăn thua gì!
Có người bảo, tình cảnh các nước thuộc “Vườn địa đàng” chẳng khác gì cuộc sống của các nước XHCN. Nói vậy là chưa chính xác, phải nói giống như Việt Nam trong những năm “khói lửa lầm than” cơ. Nếu so tình cảnh dân chúng của các nước này với Việt Nam ở thì hiện tại thì bỉ mặt dân Việt quá. Ngày nay, dân các nước trong “vườn” phải cắt điện luân phiên (giống Việt Nam vào những năm 1990); dân các nước như ở Kiev phải tập trung vào 500 địa điểm tập trung để mà hưởng một chút hơi ấm (giống như ở Việt Nam trong thời kỳ đói và rét của năm 1945 để nhận đồ bố thí vậy).
Còn gì nữa nhỉ? À phải rồi, sau khi hạn chế năng lượng hạt nhân, từ bỏ các nhà máy điện than, tập trung phát triển năng lượng sạch để không khí khu “Vườn địa đàng” được trong lành hơn, bây giờ natural gas từ Nga đã bị tẩy chay rồi, gió thì không phải lúc nào cũng sẵn, vào những tháng mùa đông băng giá thì lấy đâu ra năng lượng mặt trời? Thế là lại quay về với than, với dầu y như cái thời xưa ở Việt Nam toàn thấy than là than!
Ông Alesandro Marangoni, chuyên gia kinh tế đồng thời là giám đốc của Irex Monitor ở Italy, nhận định rằng, giá năng lượng chỉ ổn định trở lại khi cuộc xung đột Nga Ukraine kết thúc. Song chết một nỗi là Mỹ không muốn thế, Mỹ muốn cuộc xung đột này kéo dài cho đến khi Nga suy sụp hoàn toàn. Còn Nga có suy sụp không thì hạ hồi phân giải. Chỉ khổ những người dân là bạn của Mỹ ở châu Âu thôi!
Thế nhưng, chả cần nói về các quốc gia trong “Vườn địa đàng”, ngay như ở cái xứ giàu nhất thế giới, mạnh nhất thế giới, đến nỗi ông tổng thống của nước đó khi đi dự họp về chống biến đổi khí hậu (COP26) ở Ai Cập đã mạnh miệng hứa rằng, nước Mỹ sẽ đi đầu thế giới trong việc giảm khí phát thải ra môi trường. Nhưng có ai đó đã báo cho ngài tổng thống con số tỷ lệ khí CO2 mà Mỹ đã thải ra môi trường, đứng đầu thế giới, chiếm 25% (trong tổng số của cả thế giới), theo sau là EU và Anh – 22%, tiếp đến Trung quốc 13%, Nga 6%, Nhật 4% thì ngài tổng thống bảo rằng, việc thải nhiều khí CO2 ra môi trường sẽ làm cho khí hậu mát hơn và đặc biệt là cây cối sẽ tốt hơn.
Đúng là “Miệng nhà quan có gang có thép. Đồ nhà khó vừa nhọ vừa đen”. Mỹ nói thế nào cũng được. Quy cho ai là khủng bố cũng được, bảo nước nào là vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo cũng xong. Ai chứ, người Việt ta thì đã quá hiểu Mỹ rồi.
Còn một chỉ tiêu nữa tôi khuyên các ông, bà lãnh đạo “Vườn địa đàng” lưu ý áp dụng ngay các biện pháp để đuổi kịp Việt Nam. Đó là mức lạm phát. Nghe nói tỷ lệ lạm phát bình quân của các nước trong “vườn” năm 2022 là 10%, có nước đạt tới con số 25%, trong khi chỉ tiêu này của Việt Nam vẫn chỉ có một con số. Ngoài ra, các vị cố gắng giữ cho tỷ lệ hộ nghèo ở mức hiện tại khoảng trên dưới 40% (chưa có con số chính xác, nên tôi tạm tính vậy), chứ cứ cái đà này thì các vị lại bị Việt Nam bỏ xa hơn nữa, vì con số này ở Việt Nam là chưa tới 3% đâu đấy.
Như có lần tôi đã viết, rằng thu nhập bình quân của người dân trong “vườn” vẫn cao hơn của chúng tôi nhiều lần, nhưng khốn nỗi hàng họ và thức ăn nơi các vị đắt quá. Tỷ như số tiền các vị dùng để mua 01 ổ bánh mì thì bên chúng tôi mua được 10 ổ lận. Cứ tạm nghĩ như vậy thì, nếu thu nhập bình quân của dân tôi là 3.000 đô thì cũng tương đương với dân “Vườn địa đàng” có thu nhập 30.000 đô. Người ta bảo đó là sức mua tuông đương vậy (PPP). Khổ thế đấy!
Nhưng hình như những người đứng đầu “Vườn địa đàng” cũng chưa nhận thức được là chỗ mình đang đứng là ở điểm nào. Một mặt thì chê, thì chửi, thì trừng phạt, mặt khác thì vẫn phải nhập khẩu dầu khí từ Nga. Năm 2021, EU nhập trên 140 tỷ mét khối LNG, sau khi trừng phạt và tẩy chay gas của Nga thì năm 2022 vẫn còn phải nhập trên 60 tỷ mét khối, chưa biết sang năm 2023 sẽ ra sao nữa? Nghe nói Đức, Ba-lan và vài nước nữa đang “lách luật trừng phạt” để nhập thêm khí đốt từ Nga qua đường ông “Hữu nghị” (Druzhba) vào năm tới.
Thôi, chẳng tội gì mà cứ sĩ diện hão, cứ hạ mình xuống để xin Nga chúng nó bán cho lương thực này, phân bón này, dầu khí này, than đá này, uranium này, lithinium này.
“Thiếu gì thì gắng mua cho đủ.
“Khỏi phải xin ai, cướp của ai…” (nhại thơ “Lòng mẹ” của Nguyễn Bính).
Các quốc gia trong “Vườn địa đàng” cố gắng đuổi kịp Việt Nam trong thì hiện tại (present time) nhé, được vậy thì dân Việt chúng tôi cũng mừng cho./.
Hình trong bài: Nhà hoạt động đối ngoại của EU, ông Borell.
ST
Có thể là hình ảnh về 1 người