Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2023

CHIẾN TRANH THÔNG TIN

 

          Khi các bạn rà sóng radio, thường nghe những câu lặp đi lặp lại như sau: “đây là đài phát thanh của thế giới tự do, được phát tin bỡi đài… Xin kính chào quý thính giả!”. Hầu như các đài phát thanh của Mỹ và đồng minh đều thống nhất với nhau một câu như thế, hình như có một sự thoả thuận nào đó để phân biệt với thế giới còn lại được coi như là… không có tự do? không hiểu những cơ quan ngôn luận của “thế giới còn lại” họ nghĩ gì? có thể gây ra một sự ngộ nhận cho quý thính giả rằng số còn lại không đáng tin cậy, không đáng để nghe tiếp, ví dụ như có một sự kiện nào đó nhưng 9 anh lịch sự của “thế giới tự do” đều phát tin y hệt nhau, còn những anh khác thì mỗi anh nói mỗi ý, vậy bạn tin ai? tất nhiên bạn sẽ tin vào số đông những anh nói giống nhau. Đó là cách truyền tải thông tin của “thế giới tự do”, một nghệ thuật tuyên truyền đầy tâm lý để cuốn hút người nghe làm cho thính giả tin tưởng tuyệt đối nhưng ngớ ngẩn rằng những thông tin đó là trung thực và đáng nghe!

          Cách sắp xếp thông tin trên chương trình của họ cũng hết sức tâm lý để khiến người nghe không bỏ dở một sự kiện nào bằng cách giới thiệu sơ lược các tiêu đề bằng những ngôn từ hấp dẫn trước khi đi vào phần chi tiết, những tin không quan trọng thì phát trước, những tin nóng hổi sốt dẻo thì phát sau cùng, điều đó buộc thính giả phải ngồi nghe từ đầu để chờ tới lượt tin nóng ở phần cuối… Ồ! Thế thì họ đã thành công trong việc chuyển tải thông tin tới thính giả rồi! Những thông tin trước nếu để ý thì có chủ ý rõ ràng là rào trước đón sau để dắt các bạn đi theo một hướng suy nghỉ duy nhất trong nhận thức tâm lý các bạn, mỗi lần phát tin họ đưa ra liên tục trên 10 sự kiện đủ để tạm thời làm đầy bộ nhớ tạm trong não các bạn, làm cho các bạn không kịp tư duy phản biện thông tin đúng sai, Y học gọi đó là tình trạng “mộng du tư duy”, dân gian gọi đó là “mơ màng”. Cho đến khi não của các bạn chuyển sang tình trạng “cụt đường”, hay còn goi là tình trạng “bị treo thông tin”, giống như máy tính bị đơ gây treo máy… rồi đùng một cái họ phát ra lời kết luận hết sức ấn tượng, nó sẽ in sâu vào bộ nhớ tiềm thức. Kết thúc lần phát tin não của bạn chỉ còn ghi nhận những gì có trong tiềm thức, còn những cái dẩn dắt râu ria kia sẽ không nhớ hết và nó phai mờ dần theo thời gian.

          Người ta phát tin theo thời gian múi giờ để tối ưu hoá việc nghe nhìn của thính giả, đọc giả bằng cách chọn những thời điểm bạn nghỉ ngơi rảnh rổi và theo một quy luật thời gian cố định để tạo ra một thói quen cho thính giả nhằm giúp cho gia đình và người thân của bạn phải xếp lịch công việc sao cho phù hợp nhất để bạn có thời gian nghe đài, điều đó lâu ngày sẽ tạo ra một thói quen nghe đài khiến bạn khó từ bỏ thói quen đó, hay còn gọi là nghiện nghe đài.

          Đó là nghệ thuật tuyên truyền của “thế giới tự do” bằng cách “thôi miên ngôn ngữ” biến bạn trở thành một người “yêu thế giới tự do” một cách vô điều kiện bỡi trong nhận thức của bạn chỉ toàn là thông tin một chiều và bạn không có thời gian để tìm hiểu những thông tin phản biện trái chiều của “thế giới còn lại”. Người ta đưa ra những luật lệ tư nhân hoá, cổ phần hoá báo chí truyền thông, quốc gia nào phản đối sẽ bị loại bỏ và qui kết cho cụm từ “thiếu tự do ngôn luận”, bị xếp vào danh sách đen, bị nêu tên một cách miệt thị. Nhưng nếu đồng ý với luật lệ trên thì toàn bộ hệ thống truyền thông của quốc gia đó sẽ bị mua cổ phần bỡi “thế giới tự do” và họ sẽ là chủ tịch hội đồng quản trị, cơ quan truyền thông đó sẽ đưa tin theo mệnh lệnh của xếp.

          Hiện nay “thế giới tự do” đang thống trị truyền thông quốc tế trên tất cả đa phương tiện nghe nhìn, khiến cho mọi tin tức trở thành một chiều. Vậy thiên hạ đang tự do trong “bốn bức vách”. Nhưng chẳng ai chịu nhận là như thế! Tất nhiên có những người khôn hơn họ tự tách mình ra khỏi cái đống lôn xộn đó để tư duy độc lập bằng những kiến thức có được, những trải nghiệm cuộc sống… họ sẽ nhận biết đâu là đúng đâu là sai. Theo nguyên tắc “dối trá mãi cũng cùn đường – sự thật mãi mãi là sự thật”. Thời gian là kẻ thù của sự dối trá, nên họ phải đặt ra nguyên tắc 25 năm mới được giải mật./.

                                                                                                          NTS

HẬU QUẢ KHÔN LƯỜNG TỪ NHỮNG CÁI TAG

 

          Trước hết, chúng ta cần nhận định rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn và hành động lợi dụng vụ việc diễn ra tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng & An ninh – Trường Quân sự Quân khu 7 nhằm định hướng sai dư luận, dẫn dắt câu chuyện, đặc biệt là số đông các bạn trẻ thuộc thế hệ GenZ.

          Trong câu chuyện được lan truyền và nhắc đến liên quan đến vụ việc này, có thể điểm qua một số cụm từ khóa “hi*p d*m”, “nh*y l*u”, “kéo vào c*i áo”, “12 thằng”, “4 thằng”… với mục đích tạo ra sự tò mò, chú ý, thu hút người đọc quan tâm, muốn tìm hiểu cụ thể thông tin về sự việc. Khi dư luận đã vào guồng quay của câu chuyện, những cái tag, cái share chính là điều kiện cần để thổi phồng quả bóng đang bay lơ lửng chưa được xác minh. Và chúng ta đã thấy rõ rằng, chúng lan nhanh, lan mạnh, lan rộng đến chóng mặt và phủ sóng trên nhiều nền tảng mạng xã hội.

          Tiếp theo, khi câu chuyện đã có lượng tương tác khủng, bắt đầu xuất hiện những đoạn ghi âm, ghi hình ngay tại các bài viết trước đó, đồng thời bổ sung thêm nhiều hình ảnh chụp màn hình tin nhắn dưới dạng kể chuyện, tường thuật lại sự việc mà chưa có thông tin xác minh chính xác, rõ ràng từ hai phía. Luồng thông tin sau đó dần bị thổi và làm nhiễu với những con số nhảy từ 14, 12 sau đó lại là 10, 2 rồi lại 4. Song, điều quan trọng là “gia đình nạn nhân” còn chưa xuất hiện.

          Khi dư luận còn đang “ngợp” giữa một bể thông tin mâu thuẫn lẫn nhau, bắt đầu xuất hiện những bài viết, những comment kích động với lời lẽ cho rằng QĐND hay phía trường Đại học đang tìm cách “nhấn chìm”, “tẩy trắng”. Bên cạnh đó còn có những hành vi “tấn công” một cách mù quáng vào các trang, các ứng dụng có “chữ cái liên quan”…

          Như vậy, câu chuyện đang được thêu dệt đến bây giờ phải chăng là một chiêu bài lợi dụng tạo đà đưa những thông tin kích động quần chúng, đánh mạnh vào nhận thức của giới trẻ, đặc biệt là lực lượng thanh niên chuẩn bị nhập ngũ năm 2023? Vụ việc cần được làm sáng tỏ, rõ ràng để xã hội hiểu được, nhận thức được các hành động, hành vi của mình khi tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội. Nên nhớ rằng, nguồn tin chính xác không phải lúc nào cũng đến từ Facebook hay Tiktok, hay bất cứ một trang, một tài khoản nào mà chúng ta cần đợi những thông tin chính thức từ phía cơ quan điều tra và những cá nhân trực tiếp liên quan trong câu chuyện.

                                                                             <Nguyễn Anh>

LM ĐẶNG HỮU NAM LẠI RA TÂM THƯ “CẦU CỨU”

          Ngày 08/01/2023 vừa qua, sau hơn 2 năm bị treo chén, phạt huyền chức, ngưng các hoạt động mục vụ, tại Nhà Hưu dưỡng Toà Giám mục Xã Đoài, linh mục Đặng Hữu Nam đã đưa ra cái gọi là “tâm thư” số 3 gửi linh mục Đoàn Giáo phận Vinh để nói lên những suy nghĩ của vị linh mục này trong thời gian qua. Nội dung tâm thư được trình bày trên 03 tờ giấy A4 và cũng đã được một số người Công giáo đăng tải trong ngày hôm nay. Đọc nội dung tâm thư có thể thấy rằng, bản chất nó cũng không khác nhiều so với những bài viết, bài đăng của vị linh mục Đặng Hữu Nam kể từ khi bị giáo hội trừng phạt.

          Linh mục Đặng Hữu Nam bắt đầu nội dung “tâm thư” cũng bằng những từ ngữ thể hiện sự bất vâng lời đối với bề trên, cụ thể ở đây là Giám mục Giáo phận Vinh ông Nguyễn Hữu Long cùng với những giọng điệu để trách móc các Cha xứ trên địa bàn đã không lên tiếng để “giúp” vị linh mục này như thời kỳ của người tiền nhiệm trước của ông Long là ông Nguyễn Thái Hợp. Thậm chí, trong nội dung “tâm thư” để cầu cứu, vị linh mục Đặng Hữu Nam còn kể lể, than trách với những đấng bề trên Giáo hội đã không quan tâm, tạo điều kiện trong thời gian vị linh mục này đi chữa bệnh hiểm nghèo vì căn bệnh ung thư.

Vậy nhưng, nói người phải nhắc đến ta, lẽ ra trong thời gian cho nghỉ hưu dưỡng, nghỉ các hoạt động mục vụ và cũng là thời gian để có thể thử thách để cảm hoá con người “bất vâng lời bề trên” như Đặng Hữu Nam cũng như tự mình nhìn nhận lại sứ mệnh, vai trò của một người linh mục cũng như những gì mà mình đã gây ra cho Giáo hội, giáo phận, giáo dân và địa phương nơi đây. Tại sao không chỉ đấng bề trên, các Giám mục, linh mục mà ngay cả những tín hữu, giáo dân họ đều lên án trước những hành vi đi ngược lại đời và đạo của linh mục Đặng Hữu Nam? Tại sao Đặng Hữu Nam lại bị treo chén, huyền chức, một những hình phạt nghiêm khắc nhất đối với một vị linh mục Công giáo.

          “Gieo nhân, gặp quả” là quy luật, có trách thì Đặng Hữu Nam nên tự trách mình, trách cho bản thân đã quay lưng lại với dân tộc, quay lưng lại với giáo hội để tiến hành các hoạt động chố.ng ph.á chính quyền, gây rối trật tự, chia rẽ nội bộ giáo hội, kích động lương giáo trên địa bàn các tỉnh miền Trung, đặc biệt là Nghệ An trong thời gian qua. Những gì mà Đặng Hữu Nam đã, đang và sẽ phải nhận cũng là bài học đắt giá cho một số người đang lợi dụng danh nghĩa là chức sắc tôn giáo để tiến hành các hoạt động đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc./.

                                                                             <Tống Giang>

Đối tượng phát tán clip ảo về vụ nữ sinh trường HUFLIT được nhiều lượt tương tác nhất là Bùi Văn Thuận

 

          Clip pha ke về vụ nữ sinh trường HUFLIT được lan truyền mạnh mẽ nhất và được biết tới nhiều nhất là từ Facebook có tên Thuan Van Bui chia sẻ. Trước khi có họp báo đính chính thông tin, số ít người đã phát hiện ra Facebook Thuan Van Bui có dấu hiệu của một đối tượng ch.ống nhà nước và hoài nghi về thông tin hắn đưa. Nhưng lúc đó do bị cảm xúc chi phối, nhiều người đã bỏ qua cảnh báo này.

          Vậy Thuan Van Bui là ai? Tên thật là Bùi Văn Thuận, trú tại thị xã Nghi Sơn, Thanh Hoá, giáo viên hợp đồng của một trường trên địa bàn Hà Nội. Hắn là đối tượng cốt cán trong tổ chức ph.ản đ.ộng "Hội Anh Em Dân Chủ", công khai ủng hộ tổ chức kh.ủng b.ố Việt Tân. Hắn được giao nhiệm vụ phát triển lực lượng ch.ống ph.á tại tỉnh Hoà Bình.

          Bùi Văn Thuận đã lập và sử dụng các tài khoản facebook cá nhân “Thuan Van Bui”, “Từ Việt Dân” và fanpage “Cha già dân tộc - danh nhân văn hóa quốc tế Việt Nam” để phục cho hoạt động tuyên truyền ch.ống ph.á nhà nước, .bôi n.họ và xu.yên t.ạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như đường lối, chính sách của nhà nước...

          Ngày 30/08/2021 Bùi Văn Thuận chính thức bị b.ắt với tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm ch.ống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, bản án là 8 năm tù giam và 5 năm quản chế.

          Theo tìm hiểu của IPC, bản cáo trạng ghi rõ đường link Facebook của Bùi Văn Thuận trùng khớp với Facebook Thuan Van Bui mà có chia sẻ clip pha ke về vụ nữ sinh. Tuy nhiên đối tượng này đã bị b.ắt vào năm 2021. Như vậy có thể tài khoản Facebook của hắn hiện tại đang do đồng bọn quản lý.

          Sau khi có thông tin đính chính từ phía nhà trường về vụ việc, tài khoản Thuan Van Bui cũng xoá vội clip pha ke và tiếp tục đăng bài bóng gió. Tưởng thế nào, núp bóng người khác rồi lên mạng "anh hùng" lắm nhưng cũng phải rén.

 

 

SỰ MÂU THUẪN ĐẾN ĐẢO ĐIÊN TRONG TƯ DUY, NHẬN THỨC 

Trong cái chết của Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định thì Phan Thanh Giản không thể là kẻ vô can. Ấy vậy mà trong khi chính quyền và nhân dân tỉnh Tiền Giang long trọng, thành kính tổ chức lễ húy kị của Đức Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định thì ở ngay kế bên, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long lại long trọng tổ chức lễ húy kị của "bậc danh nhân" của họ là Phan Thanh Giản. Thật là nực cười bởi sự mâu thuẫn này và cười ra cả nước mắt. Ta thật chẳng thể hiểu nổi họ đã học được cái gì và nghiên cứu được những gì!

Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định - Vị nguyên soái của dân.

Trong dòng chảy lịch sử khoa bảng Việt Nam, dòng họ Trương là một dòng họ hiếu học, có nhiều đóng góp cho đất nước. Nếu như ở con đường khoa bảng, họ Trương có Tiến sĩ Trương Công Giai, là vị Tiến sĩ trẻ tuổi nhất trong lịch sử khoa bảng thời phong kiến, hay Tiến sĩ Trương Đăng Quế, người khai khoa đất Quảng Ngãi, thì ở ngạch võ tướng có Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định, ông là võ quan triều Nguyễn và là thủ lĩnh phong trào kháng Pháp ở Nam Bộ giai đoạn nửa sau thế kỷ 19.

Trương Định sinh năm 1820, tại làng Tư Cung, phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi (nay là xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi). Ông còn có tên là Trương Công Định hoặc Trương Trường Định, là hậu duệ dòng họ Trương khai khoa vùng Quảng Ngãi xưa. Cha ông là Lãnh binh Trương Cầm, từng là Hữu thủy Vệ úy ở Gia Định dưới thời vua Thiệu Trị.

Ngược thời gian tìm về lịch sử, theo ghi chép của các sử gia dưới triều Nguyễn, Trương Định sinh ra và lớn lên trong một gia đình danh tiếng, lại sống tại vùng đất hiếu học, nên mặc dù không muốn quan tâm theo con đường cử nghiệp nhưng Trương Định vẫn được giáo dục bài bản, thông hiểu binh thư và võ nghệ, đặc biệt là tài bắn.

Thời vua Thiệu Trị, vào năm 1844, Trương Định theo cha vào Nam và trở thành bậc tiền hiền khai mở vùng đất Tân An - Định Tường. Sau khi cha mất, ông ở lại vùng Gò Công và kết hôn với bà Lê Thị Thưởng, vốn là con gái của một hào phú ở huyện Tân Hòa (Gò Công Đông ngày nay). Năm 1854, hưởng ứng chính sách khẩn hoang của triều đình Huế do Nguyễn Tri Phương thi hành, ông đem hết tài sản đi chiêu mộ dân nghèo vùng Quảng Nam - Quảng Ngãi vào khai hoang lập đồn điền ở Gia Thuận, thuộc huyện Gò Công Đông ngày nay và được bổ chức Phó Quản Cơ của đồn điền. Thực ra, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Trương Định đã sớm mang trong mình tư tưởng kháng Pháp, nên việc quyết định ở lại chiêu mộ quân sĩ, lập đồn điền còn mang nhiều ý nghĩa, trong đó quan trọng nhất là chuẩn bị lực lượng để kháng Pháp.

Cùng với việc tập hợp lực lượng, xây dựng các chiến lược chống lại quân Pháp, Trương Định còn tiến hành nhiều hoạt động khác để xây dựng nguồn lực lâu dài. Trong đó, việc cưới người vợ thứ 2 vừa là cơ duyên, vừa là thêm động lực chống lại quân xâm lược. Bởi người vợ này của ông không phải ai khác mà chính là bà Trần Thị Sanh, là chị em con cô con cậu với bà Từ Dũ Thái Hậu, mẹ của vua Tự Đức. Giới nghiên cứu sử học đánh giá đây là cuộc hôn nhân đặc biệt xứ Nam Kỳ bởi nó liên quan đến vận mệnh của đất nước. Bà vợ này là 1 trong 4 người giàu nhất vùng Gò Công lúc đó, thêm một sự hậu thuẫn để Trương Định kháng Pháp.

Tháng 4/1861, thực dân Pháp chiếm thành Định Tường, tháng 11/1861 chiếm thành Biên Hòa và đến tháng 3/1862, giặc Pháp tấn công chiếm thành Vĩnh Long. Triều đình ký hòa ước "Nhâm Tuất" vào ngày 5/6/1862 cắt 3 tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cho Pháp. Tiếp đó, triều đình ra lệnh cho Trương Định bãi binh, phong làm Lãnh binh An Hà, buộc phải bãi binh ở Tân Hòa và gấp rút nhận chức mới ở An Giang.

Nhưng lòng dân và nghĩa quân không chịu, trong lúc đang lưỡng lự giữa ý dân và lệnh vua chưa biết ngã về đâu thì Trương Định nhận được thư của nghĩa hào huyện Tân Long (Chợ Lớn), tỏ ý muốn cử ông làm chủ soái 3 tỉnh để giết giặc. Cảm kích sự tín nhiệm của những người yêu nước và nhân dân, ông đã khước từ lệnh của triều đình và nhận danh hiệu "Bình Tây Đại Nguyên Soái" do nhân dân phong, tiếp tục cuộc chiến đấu chống giặc Pháp.

Từ đó, Trương Định lấy Gò Công làm địa phận chính để mở các trận tấn công Pháp, lấy biệt danh căn cứ là “Đám lá tối trời” và xây dựng binh pháp riêng của nghĩa quân để kháng Pháp. Một mặt, ông xây dựng lại lực lượng, mặt khác ông kêu gọi các sĩ phu yêu nước hãy đứng lên góp công góp sức, hiến kế đánh giặc, đó là lời hịch tháng 8/1864. Hưởng ứng lời hiệu triệu của Trương Định, khắp nơi một làn sóng kháng chiến lại nổi lên ở Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Cần Giuộc, Chợ lớn và vùng giáp ranh Biên Hòa. Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường, Hội Khoa học Lịch sử Tiền Giang phân tích, sở dĩ Trương Định tập hợp được lực lượng đông đảo như vậy là do ông đã dành được lòng tin của nhân dân và có sự yểm trợ ngầm từ phía triều đình.

Sau hàng loạt cuộc nổi dậy của nghĩa quân của Trương Định mở rộng từ Gò Công đến Gia Định, lan sang nhiều địa phương khác như Bà Rịa, Tây Ninh, quân Pháp tập trung lực lượng đàn áp và ra sức truy tìm để diệt ông. Đêm 19/8/1864, dò biết nơi ở của Trương Định, tên phản bội Huỳnh Công Tấn cho quân bao vây đột nhập vào nhà. Trương Định và những nghĩa quân của ông chiến đấu chống trả quyết liệt, diệt được một số quân địch, nhưng lại bị thương nặng. Biết mình không sống được và quyết không để rơi vào tay giặc, Trương Định đã rút gươm tự sát để bảo toàn khí tiết người anh hùng, năm ấy ông tròn 44 tuổi.

GS Trương Minh Nhật, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, nhà nghiên cứu cũng là hậu duệ dòng họ Trương cho rằng, cuộc khởi nghĩa của Trương Định chỉ kéo dài 5 năm nhưng đã để lại nhiều ý nghĩa: “Thứ nhất là tập hợp được lực lượng nhân dân yêu nước đánh Pháp. Thứ 2 là thể hiện tinh thần độc lập tự chủ trong việc đề ra đường lối kháng Pháp. Thứ 3, cuộc khởi nghĩa của Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất vùng Nam Bộ trong giai đoạn đầu của phong trào kháng Pháp” - GS Trương Minh Nhật nhấn mạnh.

Sau khi Trương Định mất, bà Trần Thị Sanh là người vợ thứ của ông và nhân dân mang ông về an táng rất trọng thể, tại một địa điểm nay thuộc thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Năm 1964, ngôi mộ và đền thờ ông được tu bổ khang trang và giữ nguyên dáng dấp đến ngày nay. Còn ở tại quê nhà phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi, năm 1871 vua Tự Đức sai truy tặng ông phẩm hàm, và cho lập đền thờ ông tại Tư Cung, nơi ông sinh trưởng và giao cho các quan tỉnh Quảng Ngãi tế tự hàng năm.

Tuy sự nghiệp cứu nước chưa thành, nhưng anh hùng dân tộc Trương Định đã để lại tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân và tinh thần kiên trung, bất khuất. Tinh thần Trương Định và cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo mãi mãi lưu danh cùng non sông đất nước.

Biết ơn vị thủ lĩnh “Đám lá tối trời”, anh hùng Trương Định, hàng năm, đến ngày giỗ ông (20 tháng Description: 😎nhân dân vùng Gò Công nhà nào cũng lập bàn thờ ngoài trời và làm lễ tại đình. Lễ giỗ ông ngày nay trở thành ngày hội của nhân dân trong vùng, thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" và tấm lòng thành kính của con cháu hậu duệ đối với vị nhân sỹ nặng lòng yêu nước, thương dân, có công lao to lớn trong sự nhiệp chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Trong khi đó nhân vật bán nước, phản Vua, hại dân như Phan Thanh Giản lại được một số người ca ngợi ngất trời rồi được dựng tượng, dựng đền thờ, đặt tên đường, tên trường, làm lễ, làm giỗ… túi bụi. Còn có người làm nghệ thuật dựng tuồng đổ tội lên mình Vua Tự Đức, chạy tội cho họ Phan để kiếm nước mắt khán giả và hốt bạc nữa kìa!

Nguyễn triều, đại thần Phan Thanh Giản nói nhẹ như Thầy Đồ Chiểu là “Long Hồ uổng phụ thơ sanh lão” hay nói thật, nói thẳng như Cụ Phan Bội Châu thì Phan Thanh Giản là kẻ “Gan dê lợn mà mưu chuột cáo”, hoặc như Vua Tự Đức từng viết: “Phan Thanh Giản thủy chung lời nói không xứng với việc làm, đem học vấn danh vọng một đời trút sạch xuống biển Đông, thực là táng tận lương tâm”. Tuy đã giúp giặc Pháp “nuốt sống” cả Nam kì nhưng họ Phan lại được đối xử một cách khác lạ, từ hồi triều Diệm tới thời Xã hội chủ nghĩa nay cũng vậy luôn mới ghê!

Từng một thời khi nhắc tới cái tên Phan Thanh Giản là dân Nam kì chửi mắng không thôi. Tuy nhiên, thời thế thay đổi Phan Thanh Giản lại được dựng tượng và ca ngợi thấu trời. Trong khi các bạn đồng liêu của Phan biết bao người đã anh dũng ngã xuống trước họng súng của giặc, để giữ thành, giữ nước thì Phan lại lấy đất, lấy thành mà giao cho giặc rồi đem tiếng xấu cho Vua.

Ngày xưa đại thần Lê Quýnh trung can nghĩa đảm tòng Vua Lê Chiêu Thống bôn ba xứ người. Tuy Lê Chiêu Thống bán nước cầu vinh nhưng Lê Quýnh vẫn trọn đời trung liệt, chịu nhiều đau thương, vẫn trọn khí tiết: “Đầu ta có thể chặt chứ tóc không thể cắt. Da có thể lột chứ áo không thể đổi” ngay trên đất Tàu, với quan binh Tàu. Vậy mà khi đặt tên Lê Quýnh cho con phố nhỏ xíu ở Hải Phòng cũng bị báo Tuổi trẻ online soi mói: “Không thể cho qua”.

Ngẫm đến thời thế, thế thời, thế nhân bị tiền tài làm cho mờ mắt, loạn trí mà ta thấy ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa!

Than ôi! hai chữ trung quân, ái quốc thời nay sao mà khó thế?

 

SỰ BẤT NHẤT VÀ SỰ MÂU THUẪN ĐẾN ĐẢO ĐIÊN TRONG TƯ DUY, NHẬN THỨC CỦA LỚP HẬU THẾ.

Trong cái chết của Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định thì Phan Thanh Giản không thể là kẻ vô can. Ấy vậy mà trong khi chính quyền và nhân dân tỉnh Tiền Giang long trọng, thành kính tổ chức lễ húy kị của Đức Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định thì ở ngay kế bên, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long lại long trọng tổ chức lễ húy kị của "bậc danh nhân" của họ là Phan Thanh Giản. Thật là nực cười bởi sự mâu thuẫn này và cười ra cả nước mắt. Ta thật chẳng thể hiểu nổi họ đã học được cái gì và nghiên cứu được những gì!

Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định - Vị nguyên soái của dân.

Trong dòng chảy lịch sử khoa bảng Việt Nam, dòng họ Trương là một dòng họ hiếu học, có nhiều đóng góp cho đất nước. Nếu như ở con đường khoa bảng, họ Trương có Tiến sĩ Trương Công Giai, là vị Tiến sĩ trẻ tuổi nhất trong lịch sử khoa bảng thời phong kiến, hay Tiến sĩ Trương Đăng Quế, người khai khoa đất Quảng Ngãi, thì ở ngạch võ tướng có Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định, ông là võ quan triều Nguyễn và là thủ lĩnh phong trào kháng Pháp ở Nam Bộ giai đoạn nửa sau thế kỷ 19.

Trương Định sinh năm 1820, tại làng Tư Cung, phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi (nay là xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi). Ông còn có tên là Trương Công Định hoặc Trương Trường Định, là hậu duệ dòng họ Trương khai khoa vùng Quảng Ngãi xưa. Cha ông là Lãnh binh Trương Cầm, từng là Hữu thủy Vệ úy ở Gia Định dưới thời vua Thiệu Trị.

Ngược thời gian tìm về lịch sử, theo ghi chép của các sử gia dưới triều Nguyễn, Trương Định sinh ra và lớn lên trong một gia đình danh tiếng, lại sống tại vùng đất hiếu học, nên mặc dù không muốn quan tâm theo con đường cử nghiệp nhưng Trương Định vẫn được giáo dục bài bản, thông hiểu binh thư và võ nghệ, đặc biệt là tài bắn.

Thời vua Thiệu Trị, vào năm 1844, Trương Định theo cha vào Nam và trở thành bậc tiền hiền khai mở vùng đất Tân An - Định Tường. Sau khi cha mất, ông ở lại vùng Gò Công và kết hôn với bà Lê Thị Thưởng, vốn là con gái của một hào phú ở huyện Tân Hòa (Gò Công Đông ngày nay). Năm 1854, hưởng ứng chính sách khẩn hoang của triều đình Huế do Nguyễn Tri Phương thi hành, ông đem hết tài sản đi chiêu mộ dân nghèo vùng Quảng Nam - Quảng Ngãi vào khai hoang lập đồn điền ở Gia Thuận, thuộc huyện Gò Công Đông ngày nay và được bổ chức Phó Quản Cơ của đồn điền. Thực ra, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Trương Định đã sớm mang trong mình tư tưởng kháng Pháp, nên việc quyết định ở lại chiêu mộ quân sĩ, lập đồn điền còn mang nhiều ý nghĩa, trong đó quan trọng nhất là chuẩn bị lực lượng để kháng Pháp.

Cùng với việc tập hợp lực lượng, xây dựng các chiến lược chống lại quân Pháp, Trương Định còn tiến hành nhiều hoạt động khác để xây dựng nguồn lực lâu dài. Trong đó, việc cưới người vợ thứ 2 vừa là cơ duyên, vừa là thêm động lực chống lại quân xâm lược. Bởi người vợ này của ông không phải ai khác mà chính là bà Trần Thị Sanh, là chị em con cô con cậu với bà Từ Dũ Thái Hậu, mẹ của vua Tự Đức. Giới nghiên cứu sử học đánh giá đây là cuộc hôn nhân đặc biệt xứ Nam Kỳ bởi nó liên quan đến vận mệnh của đất nước. Bà vợ này là 1 trong 4 người giàu nhất vùng Gò Công lúc đó, thêm một sự hậu thuẫn để Trương Định kháng Pháp.

Tháng 4/1861, thực dân Pháp chiếm thành Định Tường, tháng 11/1861 chiếm thành Biên Hòa và đến tháng 3/1862, giặc Pháp tấn công chiếm thành Vĩnh Long. Triều đình ký hòa ước "Nhâm Tuất" vào ngày 5/6/1862 cắt 3 tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cho Pháp. Tiếp đó, triều đình ra lệnh cho Trương Định bãi binh, phong làm Lãnh binh An Hà, buộc phải bãi binh ở Tân Hòa và gấp rút nhận chức mới ở An Giang.

Nhưng lòng dân và nghĩa quân không chịu, trong lúc đang lưỡng lự giữa ý dân và lệnh vua chưa biết ngã về đâu thì Trương Định nhận được thư của nghĩa hào huyện Tân Long (Chợ Lớn), tỏ ý muốn cử ông làm chủ soái 3 tỉnh để giết giặc. Cảm kích sự tín nhiệm của những người yêu nước và nhân dân, ông đã khước từ lệnh của triều đình và nhận danh hiệu "Bình Tây Đại Nguyên Soái" do nhân dân phong, tiếp tục cuộc chiến đấu chống giặc Pháp.

Từ đó, Trương Định lấy Gò Công làm địa phận chính để mở các trận tấn công Pháp, lấy biệt danh căn cứ là “Đám lá tối trời” và xây dựng binh pháp riêng của nghĩa quân để kháng Pháp. Một mặt, ông xây dựng lại lực lượng, mặt khác ông kêu gọi các sĩ phu yêu nước hãy đứng lên góp công góp sức, hiến kế đánh giặc, đó là lời hịch tháng 8/1864. Hưởng ứng lời hiệu triệu của Trương Định, khắp nơi một làn sóng kháng chiến lại nổi lên ở Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Cần Giuộc, Chợ lớn và vùng giáp ranh Biên Hòa. Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường, Hội Khoa học Lịch sử Tiền Giang phân tích, sở dĩ Trương Định tập hợp được lực lượng đông đảo như vậy là do ông đã dành được lòng tin của nhân dân và có sự yểm trợ ngầm từ phía triều đình.

Sau hàng loạt cuộc nổi dậy của nghĩa quân của Trương Định mở rộng từ Gò Công đến Gia Định, lan sang nhiều địa phương khác như Bà Rịa, Tây Ninh, quân Pháp tập trung lực lượng đàn áp và ra sức truy tìm để diệt ông. Đêm 19/8/1864, dò biết nơi ở của Trương Định, tên phản bội Huỳnh Công Tấn cho quân bao vây đột nhập vào nhà. Trương Định và những nghĩa quân của ông chiến đấu chống trả quyết liệt, diệt được một số quân địch, nhưng lại bị thương nặng. Biết mình không sống được và quyết không để rơi vào tay giặc, Trương Định đã rút gươm tự sát để bảo toàn khí tiết người anh hùng, năm ấy ông tròn 44 tuổi.

GS Trương Minh Nhật, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, nhà nghiên cứu cũng là hậu duệ dòng họ Trương cho rằng, cuộc khởi nghĩa của Trương Định chỉ kéo dài 5 năm nhưng đã để lại nhiều ý nghĩa: “Thứ nhất là tập hợp được lực lượng nhân dân yêu nước đánh Pháp. Thứ 2 là thể hiện tinh thần độc lập tự chủ trong việc đề ra đường lối kháng Pháp. Thứ 3, cuộc khởi nghĩa của Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất vùng Nam Bộ trong giai đoạn đầu của phong trào kháng Pháp” - GS Trương Minh Nhật nhấn mạnh.

Sau khi Trương Định mất, bà Trần Thị Sanh là người vợ thứ của ông và nhân dân mang ông về an táng rất trọng thể, tại một địa điểm nay thuộc thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Năm 1964, ngôi mộ và đền thờ ông được tu bổ khang trang và giữ nguyên dáng dấp đến ngày nay. Còn ở tại quê nhà phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi, năm 1871 vua Tự Đức sai truy tặng ông phẩm hàm, và cho lập đền thờ ông tại Tư Cung, nơi ông sinh trưởng và giao cho các quan tỉnh Quảng Ngãi tế tự hàng năm.

Tuy sự nghiệp cứu nước chưa thành, nhưng anh hùng dân tộc Trương Định đã để lại tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân và tinh thần kiên trung, bất khuất. Tinh thần Trương Định và cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo mãi mãi lưu danh cùng non sông đất nước.

Biết ơn vị thủ lĩnh “Đám lá tối trời”, anh hùng Trương Định, hàng năm, đến ngày giỗ ông (20 tháng Description: 😎nhân dân vùng Gò Công nhà nào cũng lập bàn thờ ngoài trời và làm lễ tại đình. Lễ giỗ ông ngày nay trở thành ngày hội của nhân dân trong vùng, thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" và tấm lòng thành kính của con cháu hậu duệ đối với vị nhân sỹ nặng lòng yêu nước, thương dân, có công lao to lớn trong sự nhiệp chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Trong khi đó nhân vật bán nước, phản Vua, hại dân như Phan Thanh Giản lại được một số người ca ngợi ngất trời rồi được dựng tượng, dựng đền thờ, đặt tên đường, tên trường, làm lễ, làm giỗ… túi bụi. Còn có người làm nghệ thuật dựng tuồng đổ tội lên mình Vua Tự Đức, chạy tội cho họ Phan để kiếm nước mắt khán giả và hốt bạc nữa kìa!

Nguyễn triều, đại thần Phan Thanh Giản nói nhẹ như Thầy Đồ Chiểu là “Long Hồ uổng phụ thơ sanh lão” hay nói thật, nói thẳng như Cụ Phan Bội Châu thì Phan Thanh Giản là kẻ “Gan dê lợn mà mưu chuột cáo”, hoặc như Vua Tự Đức từng viết: “Phan Thanh Giản thủy chung lời nói không xứng với việc làm, đem học vấn danh vọng một đời trút sạch xuống biển Đông, thực là táng tận lương tâm”. Tuy đã giúp giặc Pháp “nuốt sống” cả Nam kì nhưng họ Phan lại được đối xử một cách khác lạ, từ hồi triều Diệm tới thời Xã hội chủ nghĩa nay cũng vậy luôn mới ghê!

Từng một thời khi nhắc tới cái tên Phan Thanh Giản là dân Nam kì chửi mắng không thôi. Tuy nhiên, thời thế thay đổi Phan Thanh Giản lại được dựng tượng và ca ngợi thấu trời. Trong khi các bạn đồng liêu của Phan biết bao người đã anh dũng ngã xuống trước họng súng của giặc, để giữ thành, giữ nước thì Phan lại lấy đất, lấy thành mà giao cho giặc rồi đem tiếng xấu cho Vua.

Ngày xưa đại thần Lê Quýnh trung can nghĩa đảm tòng Vua Lê Chiêu Thống bôn ba xứ người. Tuy Lê Chiêu Thống bán nước cầu vinh nhưng Lê Quýnh vẫn trọn đời trung liệt, chịu nhiều đau thương, vẫn trọn khí tiết: “Đầu ta có thể chặt chứ tóc không thể cắt. Da có thể lột chứ áo không thể đổi” ngay trên đất Tàu, với quan binh Tàu. Vậy mà khi đặt tên Lê Quýnh cho con phố nhỏ xíu ở Hải Phòng cũng bị báo Tuổi trẻ online soi mói: “Không thể cho qua”.

Ngẫm đến thời thế, thế thời, thế nhân bị tiền tài làm cho mờ mắt, loạn trí mà ta thấy ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa!

Than ôi! hai chữ trung quân, ái quốc thời nay sao mà khó thế?

 

CHIÊU LẬT MẶT CỦA NHỮNG KẺ LÁI BUÔN THUẬT NGỮ

Vì động cơ chống phá Đảng, Nhà nước mà một số đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn, thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn, “đánh tráo khái niệm” nhằm vu cáo, đổ lỗi cho chế độ của Việt Nam. Và lần này, sau hàng loạt sai phạm của một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng điều tra, xử lý, các đối tượng này tiếp tục quay sang công kích chế độ.

1. Thời gian qua, liên tiếp có một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng khởi tố để điều tra, xử lý do những sai phạm trong thực hiện công vụ. Điển hình nhất là các vụ việc liên quan đến ông Trương Quốc Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội; ông Nguyễn Minh Quân, Giám đốc Bệnh viện TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh); trước đó là vụ án của ông Nguyễn Nhật Cảm, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Hà Nội và Nguyễn Quốc Anh, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đã bị đưa ra xét xử. Trong những vụ việc này, nhiều cán bộ liên quan cũng bị khởi tố để điều tra hoặc đã phải vào tù.

Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Dù sai phạm của các cán bộ y tế này là rõ ràng và nguyên nhân hoàn toàn do họ cố tình làm sai, gây bất bình xã hội, nhưng thật nực cười khi một số cá nhân lại sử dụng mạng xã hội để viết bài công kích, vu cáo thể chế chính trị, lên án chế độ của Việt Nam, hoặc lợi dụng đài, báo nước ngoài thiếu thân thiện với đất nước mà điển hình là VOA tiếng Việt để phát biểu bừa bãi. Họ đổ lỗi rằng, sở dĩ các cán bộ trên tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện"; "Đảng Cộng sản Việt Nam không những là nguyên nhân sinh ra tham nhũng mà còn không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công"...

Điển hình là những trang Facebook của các đối tượng như: Dương Quốc Chính, Phạm Minh Vũ, Trân Văn... Trên Facebook, Dương Quốc Chính tán phát bài viết: “Ai cho quan làm người lương thiện” với một cách lý giải kiểu đổi trắng thay đen. Facebook của Phạm Minh Vũ tán phát bài viết: “Cái kết của một người có tài đi theo Đảng”, xóa nhòa ranh giới giữa công và tội. Trên VOA tiếng Việt, bài viết: “Từ vụ Nguyễn Quang Tuấn: Thể chế chuyên biến giả thành thật và ngược lại!” của Trân Văn ra sức công kích chế độ. Đây là những giọng điệu không xa lạ gì trong thời gian qua, vì nó được nuôi dưỡng bởi tiền của các thế lực phản động từ nước ngoài chuyên chống phá đất nước. Vì thế, họ sẵn sàng dựng chuyện bằng bất cứ lý do gì.

2. Đổ lỗi, vu cáo cho thể chế hay đổ lỗi cho chế độ là chiêu bài quen thuộc của một số nhóm đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, họ đã nhầm, hoặc do cố tình “đánh lận con đen” khi quy chụp rằng, chế độ mà chúng ta đang xây dựng đã sinh ra tham nhũng.

Từ cổ đại đến hiện đại, tất cả học giả kinh tế hay chính trị đều thống nhất một quan điểm: Tham nhũng là hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu, khách quan trong xã hội có nhà nước (có giai cấp). Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ chính trị “đa đảng” hay “một đảng” và cũng không phụ thuộc vào trình độ phát triển.

Hiểu một cách cơ bản thì tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực trong xã hội có giai cấp, có nhà nước. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc nó trong một thời gian ngắn. Để phòng, chống tham nhũng, mọi quốc gia đều phải sử dụng các công cụ, biện pháp trong quản trị nhà nước nhằm triệt tiêu nó. Bởi thế, đổ lỗi cho chế độ ta mới sinh ra tham nhũng là rất thiếu hiểu biết, hoặc đó là cách ngụy biện.

Xin được dẫn chứng: Trước vấn đề tham nhũng, Trung Quốc đã ban hành nhiều quy định, đồng thời sử dụng biện pháp rất mạnh để đấu tranh với tham nhũng. Trung Quốc cũng có hàng loạt đạo luật phòng, chống tham nhũng như: Luật Chống hối lộ năm 1988, Luật Chống tham nhũng năm 1997. Năm 2010 Trung Quốc còn ban hành sách trắng về chống tham nhũng. Singapore cũng xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Singapore đã ban hành đạo luật Chống Tham nhũng và Luật Sung công tài sản tham nhũng để đấu tranh với tội phạm tham nhũng. Với Hoa Kỳ, cường quốc này xác định tham nhũng là một tội phạm nghiêm trọng và không thể xóa bỏ hoàn toàn. Hoa Kỳ có cơ quan chuyên làm nhiệm vụ chống tham nhũng trực thuộc Bộ Tư pháp, đó là Cục Điều tra liên bang (FBI). Ngay cả Liên hợp quốc cũng có Công ước về chống tham nhũng. Do là vấn đề tất yếu nên dù có rất nhiều biện pháp phòng, chống thì tham nhũng vẫn không thể mất đi.

Trong 5 năm thực hiện chủ trương “đả hổ, diệt ruồi” (2013-2017) của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Trung Quốc có 182.000 quan chức cấp cao và quan chức ở địa phương bị truy tố vì hành vi tham nhũng và lạm dụng chức vụ quyền hạn.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố Chỉ số Cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2020 cho thấy, một bức tranh màu xám về tình trạng tham nhũng trên toàn thế giới, với hơn 2/3 trong số 180 quốc gia được đánh giá chỉ đạt điểm dưới 50 trên thang điểm 100. Như vậy có thể thấy, tham nhũng là vấn đề toàn cầu chứ không riêng bất cứ một quốc gia nào.

Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Nội chính Trung ương phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, trong thời gian từ năm 2013 đến 2020, tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Kết quả này cũng cho thấy, mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch đối với công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta đều trở nên trơ trẽn, nực cười.

Tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV, phát biểu với Quốc hội về vấn đề liên quan đến các sai phạm của cán bộ ngành y tế trong đấu thầu, mua sắm trang thiết bị y tế, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an đã khẳng định: Sai phạm trong ngành y không phải do lỗi cơ chế. “Chúng tôi khẳng định không phải do các lỗi này, mà đều có việc lợi dụng tình hình khó khăn, lách luật để vi phạm và đây là những vi phạm hình sự rất đáng phải xử lý", Đại tướng Tô Lâm nhấn mạnh.

Quá trình điều tra, các cán bộ này đã thừa nhận sai phạm. Cơ quan điều tra đều có yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm cá nhân trong từng vụ việc và đã chứng minh rõ yếu tố tư lợi, tham ô, tham nhũng, trục lợi... Đơn cử như việc mua máy móc, có trường hợp thông đồng với nhà thầu, đẩy giá ăn chia, trích phần trăm. Đây là yếu tố tư lợi, biểu hiện tham ô, tham nhũng...

3. Nếu phải trả lời trước câu hỏi: Chúng ta có tiếc khi xử lý cán bộ có vi phạm đó hay không? Câu trả lời là: Rất tiếc! Vì họ là đảng viên, là đội ngũ tinh hoa của đất nước. Nhưng nếu hỏi rằng: Có cần thiết phải xử lý họ không? Câu trả lời là: Rất cần thiết. Pháp luật là công bằng.

Thượng tôn pháp luật là lẽ sinh tồn của quốc gia. Luật pháp Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước. Không ai được phép đứng trên pháp luật, đứng ngoài Hiến pháp. Những con số cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm túc thực thi pháp luật, nhất quán giữa nói và làm. Riêng nhiệm kỳ XII, hơn 87.000 đảng viên bị thi hành kỷ luật, trong đó 113 đảng viên là cán bộ diện Trung ương quản lý.

Từ đầu nhiệm kỳ XIII đến nay, nhiều đảng viên là cán bộ cấp cao vi phạm tiếp tục bị xử lý, không có ngoại lệ. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền nhưng Đảng luôn đặt mình trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi quyết định của mình.

Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm chính là bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, để giữ vững ổn định và phát triển của toàn xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm.

Chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mà công và tội phân minh. Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Những cống hiến của các cán bộ này luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận, bằng cách bổ nhiệm họ vào các chức vụ quản lý quan trọng; phong, thăng những chức danh về học hàm, học vị; ưu đãi các chế độ, chính sách...

Vậy thì khi có tội, họ phải chấp nhận hình phạt cũng là bình thường. Sai phạm của họ là do chính cá nhân họ cố tình gây nên, đã không vượt qua được sự cám dỗ của vật chất, đã lợi dụng chức vụ, quyền lực được giao để trục lợi. Nó chính là do sự thoái hóa biến chất của con người. Nó diễn ra ngay ở trong chính bản thân mỗi con người.

 

MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH: THỔI LỬA THÀNH "CHẠY ĐUA VŨ TRANG"

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao, vừa qua, Bộ Công an đã thành lập Trung đoàn Không quân CAND. Đồng thời, Quốc hội cũng thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật Cảnh sát cơ động (CSCĐ). Với mưu đồ chống phá, nhiều cá nhân, tổ chức xấu đã xuyên tạc, hướng lái sai lệch các vấn đề nêu trên.

Một trong những nhiệm vụ lớn được Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu ra là: Giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

Để hoàn thành nhiệm vụ trên, thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với lực lượng CAND. Về công tác xây dựng lực lượng, song song với việc sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức và triển khai đề án Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã, lực lượng CAND cũng đã nghiên cứu, thành lập đơn vị mới là Trung đoàn Không quân CAND trực thuộc Bộ Tư lệnh CSCĐ, góp phần đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Cùng với đó, việc hoàn thiện hành lang pháp lý đối với lực lượng CSCĐ cũng được triển khai, dự thảo Luật CSCĐ được Chính phủ trình Quốc hội thảo luận, cho ý kiến.

Việc góp ý, nêu quan điểm khác nhau về một vấn đề mới là bình thường. Tuy nhiên, lợi dụng việc “đóng góp ý kiến”, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã nhanh chóng “bắt sóng”, tiến hành công kích, xuyên tạc, bóp méo sự thật, đưa ra nhiều thông tin, luận điệu sai trái, hướng lái tiêu cực. Đối với việc thành lập Trung đoàn Không quân CAND, các đối tượng xấu rêu rao đây là việc làm phục vụ “lợi ích nhóm”, việc thành lập là vô bổ, lãng phí về nhân lực, vật lực, là “biểu hiện của lạm quyền, tham nhũng”… Trong khi đó, đối với dự thảo Luật CSCĐ, những luận điệu sai lệch cũng đã được tung ra. Các đối tượng vẽ ra “thuyết âm mưu” cho rằng, theo các công ước quốc tế, các quốc gia không bao giờ được sử dụng lực lượng vũ trang để thực hiện hành vi trấn áp khi có xung đột dân sự nên Đảng, Nhà nước Việt Nam đang xây dựng quy định để biến CSCĐ thành một biến thể của Quân đội, phục vụ việc đàn áp người dân.

Ở một góc độ khác, một số luận điệu lại xuyên tạc, bịa đặt việc xây dựng dự luật là một cuộc “tranh giành quyền lực” giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng; cho rằng lực lượng Công an đang “lấn sân” thực hiện nhiệm vụ của lực lượng Quân đội. Đồng thời, liên quan đến nội dung dự thảo quy định về việc trang bị một số phương tiện, thiết bị kỹ thuật hiện đại như máy bay, tàu thủy, trang thiết bị đặc chủng chuyên dụng hiện đại…, các đối tượng bóp méo bản chất sự việc, cho rằng việc trang bị các phương tiện hiện đại là tốn kém, không cần thiết, mang tính chất “chạy đua vũ trang” phục vụ việc “đối phó với người dân trong nước”.

Ngoài ra, với mưu đồ tiến hành “phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang, các đối tượng đòi xoá bỏ nguyên tắc “đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý Nhà nước của Chính phủ và sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an” trong hoạt động của lực lượng CSCĐ; tiếp tục rêu rao rằng lực lượng CSCĐ nói riêng và lực lượng vũ trang nói chung phải trung lập, phải “nằm ngoài chính trị”.

Suy cho cùng, mục đích của những kẻ này là làm nhiễu loạn thông tin, gieo rắc sự hoài nghi của quần chúng nhân dân đối với lực lượng CAND, khích bác, chia rẽ mối quan hệ gắn bó giữa lực lượng CAND và QĐND, cổ suý tư tưởng đòi “phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang.

Cần phải khẳng định, việc thành lập Trung đoàn Không quân CAND và việc xây dựng Dự thảo Luật CSCĐ là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật, dựa trên những đòi hỏi của thực tiễn công tác bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, có sự cân nhắc, đánh giá kỹ lưỡng.

Thứ nhất, việc thành lập Trung đoàn Không quân CAND xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ huấn luyện và đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, tham gia tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống, khắc phục thảm họa, thiên tai và thực hiện các nhiệm vụ khác của lực lượng CAND.

Tiến hành đánh giá, tổng kết về hoạt động của lực lượng CSCĐ nói riêng và lực lượng CAND nói chung cho thấy, công tác bảo vệ an ninh, trật tự đã phát sinh nhiều trường hợp mà các phương tiện cơ động chiến đấu đường bộ, đường sắt và đường thủy chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là ở những khu vực, địa bàn có địa hình phức tạp, hiểm trở, chia cắt. Do đó, cần có lực lượng không quân để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

Việc thành lập Trung đoàn Không quân CAND góp phần xây dựng lực lượng CAND ngày càng chính quy, tinh nhuệ, từng bước tiến lên hiện đại theo lộ trình được Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung đoàn Không quân CAND được quy định một cách rõ ràng, không có sự chồng chéo về nhiệm vụ với lực lượng Quân đội như một số quan điểm.

Xung quanh hoạt động của lực lượng Không quân CAND, một số ý kiến cho rằng Bộ Quốc phòng đã có lực lượng Không quân, vì vậy việc thành lập Trung đoàn Không quân CAND là không cần thiết, lãng phí nhân lực và vật lực. Tuy nhiên, cần phải thấy rõ, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng là hai lực lượng có chức năng, nhiệm vụ khác nhau; bên cạnh sự phối hợp tác chiến thì trong nhiều tình huống khẩn cấp, cần sự cơ động nhanh, bảo đảm yêu cầu nghiệp vụ, cần phải có các lực lượng độc lập để nâng cao tính chủ động. Do đó, việc thành lập lực lượng Không quân CAND là hoàn toàn phù hợp, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Thứ hai, việc nghiên cứu, ban hành Luật CSCĐ mới thay cho Pháp lệnh CSCĐ là cần thiết, khách quan. Sau hơn 7 năm thực hiện, Pháp lệnh CSCĐ (2013) đã bộc lộ một số điểm bất cập, thiếu đồng bộ so với những quy định khác có liên quan. Cùng với đó, những thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình trong nước, khu vực, thế giới cũng đặt ra nhiều thách thức cho việc bảo đảm an ninh, trật tự. Vì vậy, để kịp thời thể chế hoá các chủ trương, đường lối của Đảng; hoàn thiện hành lang pháp lý về tổ chức và hoạt động của lực lượng CSCĐ, làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa lực lượng CSCĐ với các lực lượng khác, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, việc xây dựng Luật CSCĐ là hoàn toàn phù hợp.

Theo dự thảo, Luật CSCĐ có 5 chương, 30 điều. So với Pháp lệnh cũ, dự thảo Luật CSCĐ đưa ra một số nội dung mới như: Quy định thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn của CSCĐ để bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; quy định cụ thể về các biện pháp công tác và việc sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ của CSCĐ; quy định về việc phối hợp của CSCĐ với cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng có liên quan và chính quyền địa phương trong thực hiện nhiệm vụ…

Để được thông qua, dự luật còn phải trải qua nhiều bước, với sự cân nhắc đánh giá kỹ lưỡng. Tuy nhiên, mục đích cao nhất khi xây dựng luật là tạo cơ sở pháp lý vững chắc phục vụ nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự, bảo đảm an ninh, an toàn cho người dân, nhất là trong bối cảnh các thế lực phản động trong và ngoài nước tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá nước ta, đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kích động, lôi kéo các lực lượng tham gia biểu tình, bạo loạn.