Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY02/02
SẮP RA MẮT SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI, BƯỚC NGOẶT VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG NƯỚC TA
CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TIÊN PHONG VÀ THỰC HÀNH VIỆC NÊU GƯƠNG
PHÁT ĐỘNG CUỘC THI CHÍNH LUẬN VỀ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG LẦN THỨ 3
Sự tinh vi của những luận
điệu chống phá chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Trong thời gian qua, tình
hình thế giới và khu vực chuyển biến nhanh chóng với nhiều diễn biến phức tạp,
khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song các nhân tố
bất ổn ngày càng gia tăng. Đặc biệt, trong hơn hai năm qua, đại dịch COVID-19
tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã
hội ở hầu hết các quốc gia. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng
quyết liệt hơn, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi
dậy. Các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ngày càng
gay gắt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ. Quá trình
định hình lại cấu trúc chính trị, kinh tế thế giới đang diễn ra ngày càng nhanh
với những tập hợp lực lượng đa dạng, phức tạp, đan xen, tác động nhiều chiều
đến hòa bình, an ninh và phát triển của các nước.
Lợi dụng bối cảnh quốc tế
diễn biến phức tạp, nhiều biến động mới; tình hình trong nước còn nhiều khó
khăn, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những
luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng,
Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng mà sự chống phá của các thế lực này hướng
tới không gì khác là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, của chế độ xã hội chủ
nghĩa và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sự tinh vi của những thủ
đoạn này ở chỗ, họ lợi dụng không gian mạng xã hội - nơi khởi phát nhanh chóng
những thông tin thật - giả, đúng - sai, tốt - xấu... đa chiều, phức tạp, để
tung ra thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước
Việt Nam. Thậm chí, một số “nhà hoạt động”, “nhà dân chủ”, “học giả” tự
xưng..., kể cả ở ngoài nước, đưa ra những “ý kiến”, “tư vấn”, “phản biện”, tạo
những “cơn sóng ngược” trên mạng xã hội, mưu toan gieo rắc tâm lý hoang mang,
mất phương hướng, tạo sự bức xúc, tâm lý chống đối, gây mất ổn định xã hội, “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.
Tính chất nguy hiểm của các
luận điệu nêu trên là tạo ra sự hoang mang, dao động, gây chia rẽ từ bên trong,
ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, nhất là các
nước đối tác, đối tác chiến lược, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai
lệch về Việt Nam. “Chiến dịch quân sự đặc
biệt” mà Nga thực hiện ở U-crai-na là một sự kiện quốc tế được các thế lực thù
địch, phản động, lợi dụng triệt để nhằm bóp méo, xuyên tạc chủ trương, đường
lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Quan điểm của Việt Nam hết
sức khách quan, rõ ràng, thể hiện qua bốn lần bỏ phiếu, đó là đều khẳng định
lập trường nhất quán về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp
hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, đặc
biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc
gia, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực trong quan hệ
quốc tế, tiếp tục kêu gọi các bên giảm căng thẳng, ngừng bắn, nối lại đối
thoại, tìm giải pháp lâu dài cho các bất đồng trên cơ sở tính tới quyền và lợi
ích chính đáng của các bên liên quan. Phát biểu của Trưởng Phái đoàn Việt Nam
tại Liên hợp quốc trong Phiên họp lần thứ 11 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã
thể hiện rất rõ quan điểm rằng, Việt Nam hết sức lo ngại về tình hình xung đột
vũ trang hiện nay ở U-crai-na, một quốc gia có chủ quyền, thành viên của Liên
hợp quốc. Việt Nam cho rằng, điều cấp bách hiện nay là cần kiềm chế tối đa và
chấm dứt ngay lập tức việc sử dụng vũ lực để tránh thêm thương vong và tổn
thất, đặc biệt là đối với dân thường. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm
leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh,
nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các
bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, trên các trang mạng, diễn đàn,
tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục
đăng tải tin, bài, cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn, võ đoán,
quy chụp rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ”, “không kiên định”, “lập trường
không dứt khoát”, “rõ ràng”; rằng Việt Nam “lạc lõng” trước thời cuộc. Từ đó,
họ đưa ra những kết luận hàm hồ, vô căn cứ rằng Việt Nam sẽ “mất đi sự ủng hộ
của các nước vì thực chất đã “chọn phe””.
Kiên định đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế
Trước hết cần khẳng định,
Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu
nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo
đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của
Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có
lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội
nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là
thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này thể hiện
rõ trong các nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng và thực tiễn sinh động của đất
nước. Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu xuyên suốt, nhất thành bất
biến, không thể đánh đổi, không thể thỏa hiệp, dù trong bất cứ thời đoạn, hoàn
cảnh nào. Trong mỗi bước đường lịch sử cách mạng, trong mỗi giai đoạn và hoàn
cảnh khác nhau, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều có những thứ tự ưu tiên
trước sau, nhưng mục đích xuyên suốt vẫn là độc lập, chủ quyền, tự do cho đất
nước, hạnh phúc cho nhân dân. Chúng ta sẽ không vì bất cứ lợi ích trước mắt,
lợi ích cục bộ nào mà đánh đổi hoặc nhân nhượng. Đây là nguyên tắc tối cao, bất
biến trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Đối với các nước lớn, Việt
Nam thực hiện chính sách đối ngoại “không chọn bên”, đặt mục tiêu lợi ích quốc
gia trong ứng xử với các nước này. Tăng cường đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đối
ngoại với nhiều đối tác sẽ giúp tạo nên một không gian lựa chọn rộng lớn nhiều
chiều, nhiều tuyến, nhiều tầng nấc... nhằm tránh bị lệ thuộc vào một vài đối
tác, thị trường, thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích an ninh và phát triển của Việt
Nam, góp phần huy động những nguồn lực và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế phục
vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong điều kiện hiện nay,
giữ cân bằng trong quan hệ với các nước lớn được hiểu là không ngả nghiêng, dao
động, không chịu sức ép trước sự lôi kéo, tác động ảnh hưởng từ bên ngoài. Cân
bằng trong quan hệ đối ngoại thể hiện sự độc lập, tự chủ trong chính sách,
tránh sự lệ thuộc một chiều vào một bên. Trong thế giới toàn cầu hóa và cạnh
tranh nước lớn, giữ được thế cân bằng đòi hỏi phải có thực lực và tinh thần tự
chủ. Trong hơn 35 năm đổi mới, thực lực cũng như vị trí, vai trò của Việt
Nam trên thế giới không ngừng được nâng cao. Quan hệ song phương và đa phương
của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực ngày càng mở rộng, đi
vào thực chất, hiệu quả. Việt Nam giữ vững chính sách quốc phòng “bốn không”:
Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước
kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để
chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan
hệ quốc tế. Theo đó, chúng ta không dựa vào bên nọ để chống bên kia và ngược
lại; phát triển quan hệ đối ngoại đa phương, thiết lập, củng cố quan hệ với tất
cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược; gia tăng đan xen lợi ích chung với
nhiều nước, tranh thủ tối đa và tạo sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế;
ngăn ngừa nguy cơ và đối phó hiệu quả với mọi hình thức chiến tranh xâm lược...
Đứng vững trên cơ sở luật
pháp quốc tế, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công
lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên
hợp quốc. Thực tế sinh động diễn ra
trong hơn 35 năm đổi mới, nhất là những năm gần đây, đã minh chứng cho tính
đúng đắn trong đường lối đối ngoại của của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Với mục
tiêu tối thượng là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, chính sách đối ngoại độc
lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam đã góp
phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Quan hệ đối ngoại của Việt Nam được mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu, ổn
định; chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; đời sống nhân dân được nâng
cao, cải thiện. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia
thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác
toàn diện với 13 nước. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích
cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên
hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp
tác Á - Âu (ASEM)... Trong thực hiện đường lối đối ngoại, Việt Nam luôn tôn
trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, không can thiệp vào công
việc nội bộ của các nước. Đối với những vấn đề phức tạp của các quốc gia, Việt
Nam luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán, tìm
kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên
cơ sở luật pháp quốc tế. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn phát
huy vai trò thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, thực
hiện tốt các nghĩa vụ đối ngoại. Vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng
được nâng cao trên trường quốc tế. Thực tế đó là minh chứng không thể phủ nhận
về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và
Nhà nước Việt Nam trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược phức
tạp và nhiều xu hướng tập hợp lực lượng đa chiều hiện nay./.
PHẠM TRẦN ĐỪNG ĐỒNG NHẤT “TRẮNG – ĐEN”
Trong học thuyết của mình, trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn vận
động của xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: Nhân loại nhất định sẽ tiến
lên chủ nghĩa xã hội. Đó là điều không phải bàn cãi. Từ khi ra đời cho đến nay,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng
của Đảng và Nhân dân ta, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách
mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã chứng tỏ con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn phù hợp với thực tiễn của
Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Đó là một thực tiễn không thể phủ
nhận.
Ấy vậy mà,
trên trang Danlambao, Phạm Trần có bài viết:
“Quá độ đi về đâu”. Trả lời câu hỏi này, Phạm Trần cho rằng “quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam là một sai lầm lịch sử” “là nguyên nhân của đói nghèo,
tụt hậu”. Điều đáng nói, Phạm Trần đã đồng nhất “trắng – đen” cho rằng: Sự sụp
đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là sự sụp đổ của chủ
nghĩa Mác – Lênin. Phạm Trần “khuyên” Việt Nam “đừng đi vào vết xe đổ” của Liên
Xô và Đông Âu. Phải chăng, đó là lời khuyên “có tình, có lý”?
Chúng ta đều biết, dưới sự tác động của các thế lực thù địch và sự sai
lầm có tính chất “phản bội” của một số người lãnh đạo, ngày 15-3-1990 tại Đại
hội bất thường của các đại biểu nhân dân, Điều 6 Hiến pháp của Liên Xô quy định
về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã bị xóa bỏ. Đây là “dấu mốc” quan trọng
dẫn đến hình thành cơ chế đa nguyên, đa đảng với việc ra đời của nhiều tổ chức,
đảng phái chính trị đối lập cạnh tranh vai trò lãnh đạo. Ngay lập tức, ngoài
Đảng Cộng sản Liên Xô còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh
tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản Liên Xô. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại
của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên Xô vào
tháng 8-1991 là một tất yếu khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo.
Không tốn một viên đạn, nhưng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” đã
có sức “công phá” và “hủy diệt” chưa từng có, đã làm cho một siêu cường quốc,
một Đảng với hơn 20 triệu đảng viên, một quân đội với hơn 4 triệu quân nhân
được trang bị vũ khí hiện đại và tinh nhuệ bậc nhất thế giới đã nhanh chóng mất
sức chiến đấu, quay súng “bắn tan” thành quả cách mạng. “Thành trì vĩ đại” bị
sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của cả một hệ thống xã hội chủ nghĩa trên toàn thế
giới mà hệ lụy của nó còn ảnh hưởng nhiều năm, ở nhiều quốc gia và qua nhiều
thế hệ.
Thực tiễn trên đã cho thấy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở
Liên Xô và các nước Đông Âu không phải là sự “cáo chung” của chủ nghĩa xã hội,
nó cũng không phải do chủ nghĩa Mác -Lênin đã lỗi thời mà đó là sự sụp đổ của
một mô hình chủ nghĩa xã hội không còn phù hợp do đã hiểu sai, vận dụng sai
những quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác -Lênin trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các
nước Đông Âu càng không phải là thực tiễn để khẳng định “quá độ đi về đâu”, “đi
về đói nghèo, tụt hậu” như Phạm Trần đã khẳng định.
Hiện nay “chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất
vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có
của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao
của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng
những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế,
chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra”. Tất cả điều đó là những minh chứng cho
thấy cách thức phát triển kiểu tư bản chủ nghĩa đang chứa đựng nhiều nguy cơ
bất ổn. Những tiền đề cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản đang ngày càng chín muồi
trong lòng chủ nghĩa tư bản.
Thực tiễn sau hơn 35 năm đổi mới, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều
dấu ấn nổi bật. Điều này đã được cả thế giới thừa nhận. Đất nước ta chưa bao
giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay là một minh chứng để
khẳng định “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực
tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”.
Như vây, thực chất luận điểm của Phạm Trần là đòi Việt Nam phải đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm ý đồ xấu xa là xóa bỏ vai trò lãnh đạo
của Đảng cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Phạm Trần
đừng lợi dụng sự kiện chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ để
đồng nhất “trắng – đen”. Mọi người hãy hết sức cảnh giác với âm mưu thâm độc
này và kiên quyết đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ sự lựa chọn đúng
đắn của lịch sử, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh” cũng như
nguyện vọng và khát vọng của nhân dân Việt Nam./.
T3.




