Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY02/02


“Chính phủ sẽ luôn luôn rộng lượng với những ai biết cải tà quy chính, trọng thưởng những ai biết đái tội lập công”
Câu nói trên được Hồ Chí Minh viết trong Thư chúc tết đồng bào vùng tạm bị địch chiếm, ngày 2/2/1949). Đây là giai đoạn mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, cần phải động viên cao độ sức người, sức của cho cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Mặc dù vậy, trong vùng tạm bị địch chiếm, thực dân Pháp và các thế lực phản động đã tuyên truyền xuyên tạc, dùng đủ mọi cách ép nhân dân đi theo chúng. Do đó, có một bộ phận nhân dân do kém lập trường, thiếu niềm tin vào cách mạng đã đi theo Pháp, phục vụ cho Pháp.
Câu nói trên thể hiện sự thấu hiểu lỗi khổ của đồng bào vùng tạm bị địch chiếm trong ngày tết cổ truyền của dân tộc và tinh thần khoan dung, độ lượng của Chính quyền cách mạng. Góp phần thức tỉnh đồng bào trong vùng tạm chiếm lỡ lầm đường, lạc lối mà đi theo Pháp trở về với dân tộc, với cách mạng và kháng chiến. Câu nói thể cũng hiện tinh thần, chủ trương của chính phủ cách mạng, sẽ nghiêm khắc trừng trị những kẻ kẻ cố ý hại dân, cam tâm phản quốc, nhưng thông cảm, thấu hiểu và tha thứ cho một số nhân dân vùng tạm chiếm vì bị Pháp ép mà phải làm việc cho chúng. Đồng thời kêu gọi đồng bào, đoàn kết lấy công để chuộc tội, góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thức tỉnh tinh thần, ý chí cách mạng, củng cố niềm tin của nhân dân Nam Bộ vào Chính phủ cách mạng, làm cho nhân dân đoàn kết chặt chẽ, giữ vững tinh thần, sẵn sàng giúp đỡ bộ đội và sẵn sàng để diệt địch, góp phần quan trọng vào củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Quán triệt quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ của quân đội, phải biết phân biệt giữa những kẻ phản động với những người lầm đường lạc lối để có cách xử lý cho phù hợp. Kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng và hành động lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, của dân tộc, nhưng phải tỏ rõ tinh thần độ lượng, khoan dung, tạo điều kiện cho những người vô tình bị kẻ xấu lợi dụng, dụ dỗ, mua chuộc được lập công chuộc tội. Mặt khác, cần quán triệt sâu sắc tinh thần nghiêm khắc nhưng khoan dung vào công tác dân vận và công tác tuyên truyền đặc biệt, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, của quân đội trong tình hình hiện nay./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

SẮP RA MẮT SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 

Theo Ban Nội chính Trung ương, kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2023) và 10 năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (1/2/2013 -1/2/2023), ngày 2/2, Lễ ra mắt cuốn sách "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, sẽ diễn ra tại Hà Nội.
Cuốn sách do Ban Nội chính Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp xuất bản. Cuốn sách hệ thống hóa sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trên cương vị người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam và trên cương vị Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thể hiện tư tưởng xuyên suốt, nhất quán của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, để cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ, quán triệt sâu rộng và thực hiện có hiệu quả công tác này.
Cuốn sách "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh" gồm khoảng 600 trang, gần 100 hình ảnh minh họa, được trình bày theo phong cách báo chí, hiện đại, chia thành 3 phần.
Phần thứ nhất: "Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam", gồm bài viết tổng quan "Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược!" của Tổng Bí thư đánh giá lại công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (năm 2013) đến nay; 4 phát biểu kết luận của Tổng Bí thư tại các Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực các năm 2014, 2018, 2020, 2022; kết luận tại 36 phiên họp, cuộc họp của Ban Chỉ đạo và Thường trực Ban Chỉ đạo.
Phần thứ hai: "Nhất quán phương châm: Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, từ sớm, từ xa, cả ngọn lẫn gốc," tuyển chọn 22 bài viết tiêu biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên - công tác luôn được Tổng Bí thư dành sự quan tâm đặc biệt dù ở trên cương vị công tác nào, ở thời kỳ nào. Trong đó, 14 bài viết về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ những năm đầu tiến hành Đổi mới đất nước đến nay; 8 bài viết về rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trong đó có bài được viết từ những năm 70 thế kỷ XX.
Những bài viết này cho thấy tư duy sắc bén, nhãn quan chính trị vượt trội của đồng chí về “vấn đề căn cơ trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là phòng ngừa từ xa, từ sớm mà trọng tâm là xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đặc biệt là phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, tức là trị tận gốc tham nhũng, tiêu cực."
Phần thứ ba: "Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt," tập hợp, chọn lọc 62 ý kiến đánh giá của các tầng lớp nhân dân, 10 ý kiến của đại biểu Quốc hội và 24 ý kiến của các chính khách, học giả, bạn bè quốc tế, thể hiện sự ghi nhận, ủng hộ, niềm tin tưởng sâu sắc của người dân thuộc mọi tầng lớp, ở mọi vùng miền, lãnh thổ đối với cuộc chiến chống “giặc nội xâm” được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Thông qua nội dung sách, bạn đọc có được câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi lớn, bo trùm được đặt ra ngay từ đầu bài viết tổng quan của Tổng Bí thư: Vì sao chúng ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đồng thời nhận diện đúng về tham nhũng, tiêu cực và những tác hại của nó; hiểu rõ quá trình nhận thức của Đảng, Nhà nước ta về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; những kết quả mà toàn hệ thống chính trị, toàn xã hội đã đạt được trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng; xác định được những việc phải làm và cách làm để tiếp tục ngăn chặn, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới.
Bên cạnh việc xuất bản sách giấy truyền thống, nhằm góp phần lan tỏa sâu rộng ý nghĩa, nội dung sách, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật sẽ xuất bản bản điện tử cuốn sách, cung cấp cho bạn đọc miễn phí trên trang stbook. vn ./.
TTXVN
Không có mô tả ảnh.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI, BƯỚC NGOẶT VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG NƯỚC TA

 


Sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, vừa lao động, kiếm sống vừa nghiên cứu lý luận và thực tiễn các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc nhận ra một chân lý, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản và để thực hiện mục tiêu đó, phải có đảng cách mạng. Từ đó, Người sáng lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (tháng 6-1925); tích cực huấn luyện cán bộ, tổ chức truyền bá tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào nước ta qua các phong trào công nhân, phong trào yêu nước. Với sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào cách mạng Việt Nam, tháng 3-1929, tại nhà số 5D, phố Hàm Long, Hà Nội, Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam được thành lập. Chủ trương là tích cực vận động thành lập một Ðảng Cộng sản, thay Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, để lãnh đạo cách mạng. Ba tháng sau, ngày 17-6-1929, tại nhà số 312 phố Khâm Thiên, Hà Nội, đại biểu các tổ chức cơ sở đảng ở miền bắc, họp và quyết định thành lập Ðông Dương Cộng sản Ðảng. Sau đó, tháng 8-1929, An Nam Cộng sản Ðảng được thành lập ở Nam Kỳ và ngày 1-1-1930, Ðông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập.
Chỉ một thời gian ngắn, ở Việt Nam có ba tổ chức cộng sản ra đời phản ánh tất yếu của xu thế cách mạng lúc bấy giờ, nhưng cũng báo hiệu nguy cơ dẫn đến sự chia rẽ rất lớn. Trong khi đó, yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam là phải có một Ðảng Cộng sản thống nhất trong cả nước lãnh đạo. Theo đề nghị của Quốc tế Cộng sản và với tư cách là phái viên của tổ chức này, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập, chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng. Từ ngày 6-1 đến đầu tháng 2-1930, Hội nghị họp tại Cửu Long, Hồng Công (Trung Quốc), với sự tham dự của các đại biểu Ðông Dương Cộng sản Ðảng và An Nam Cộng sản Ðảng, đã nhất trí hợp nhất hai tổ chức cộng sản này, thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Ðiều lệ vắn tắt của Ðảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Hội nghị chủ trương xây dựng các tổ chức Công hội, Nông hội, Hội phản đế và Hội cứu tế. Ngày 3-2-1930 trở thành Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam.
Sau Hội nghị này, ngày 24-2-1930, Ðông Dương Cộng sản Liên đoàn đã đề nghị và được chấp nhận nhập vào Ðảng Cộng sản Việt Nam.
Gắn liền với tên tuổi Nguyễn Ái Quốc, Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp ở nước ta; kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước trong những năm đầu thế kỷ 20. Sự kiện lịch sử trọng đại này đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình của cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ dài bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước. Từ đây, cách mạng nước ta chuyển sang một thời kỳ phát triển mới.
(Biên soạn từ: Văn kiện Ðảng toàn tập; Lịch sử biên niên Ðảng Cộng sản Việt Nam)
Nguồn: Báo Nhân Dân
Có thể là hình ảnh về văn bản
Tất cả cảm xúc:
9

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TIÊN PHONG VÀ THỰC HÀNH VIỆC NÊU GƯƠNG


Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Điều khẳng định đó trong Cương lĩnh của Đảng khẳng định bản chất cách mạng, khoa học của Đảng, nêu bật tính tiên phong của một đảng chân chính cách mạng.
Tính tiên phong của Đảng trước hết là Đảng có lý luận tiên phong soi sáng. "Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong" (1). Từ khi Đảng được thành lập đến nay, lý luận và nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tính tiên phong thể hiện ở trình độ trí tuệ của Đảng, năng lực vận dụng lý luận vào hoàn cảnh thực tiễn của đất nước, đề ra đường lối và Cương lĩnh đúng đắn, bảo đảm đưa sự nghiệp cách mạng đi tới thắng lợi. Từ đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, đường lối kháng chiến chống các thế lực thực dân, đế quốc mạnh nhất trong thế kỷ 20, đến đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, đường lối đổi mới đầy bản lĩnh và sự sáng tạo.
Từ Cương lĩnh đầu tiên khi thành lập Đảng (2/1930), Luận cương tháng 10/1930, Cương lĩnh tháng 2/1951 đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011. Cương lĩnh, đường lối bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng để đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Tính tiên phong đòi hỏi Đảng nêu cao lý tưởng và khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc cho Tổ quốc, đồng bào và không ngừng hành động vì lý tưởng và khát vọng cao cả đó. Đảng tiên phong là đảng hành động, luôn luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Vì lý tưởng, mục tiêu cao cả của sự nghiệp đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, biết bao cán bộ, đảng viên nhiều thế hệ kế tiếp nhau luôn luôn nêu cao tính tiên phong, gương mẫu, anh dũng vượt qua khó khăn, thách thức, chấp nhận sự hy sinh lợi ích cá nhân, kể cả hy sinh tính mạng vì lợi ích chung.
Nhiều cán bộ, đảng viên từ cấp địa phương, cơ sở đến các nhà lãnh đạo hàng đầu của Đảng đã hy sinh và nêu những tấm gương vẻ vang đó. Đó là các đồng chí: Trần Phú, Châu Văn Liêm, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Phùng Chí Kiên, Tô Hiệu, Hoàng Văn Thụ, Hồ Tùng Mậu và nhiều đồng chí khác.
Những người cộng sản đã nêu gương trước nhân dân, đi vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng tự nhiên, thanh thản, không hề tính toán thiệt hơn, được mất của cá nhân mình và lạc quan, vững tin vào thắng lợi. Khi bị giam cầm trong nhà tù đế quốc, người cộng sản trẻ tuổi Tố Hữu đã viết:
"Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu/
Dấn thân vô là phải chịu tù đày/
Là gươm kề tận cổ, súng kề tai/
Là thân sống chỉ coi còn một nửa"
(Trăng trối - Lao Bảo 11/1940).
Trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù, lẽ sống của người cộng sản giản dị và cao cả như thế. Nhờ vậy, Đảng quy tụ được toàn dân tộc và giành lại được độc lập, tự do.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý, đứng trước những thách thức và nguy cơ mới. Chủ nghĩa cá nhân là nguy cơ lớn nhất. Hồ Chí Minh nhiều lần nêu rõ, chủ nghĩa cá nhân là cội nguồn của mọi căn bệnh nguy hiểm, sự suy thoái, tiêu cực và hư hỏng của cán bộ, đảng viên. Đó là sự tham muốn hưởng thụ vật chất, tham ô, hối lộ, tham nhũng. Là sự quan liêu, xa dân, muốn "làm quan phát tài", tự biến mình thành "quan cách mạng". Là chạy chức, chạy quyền, lợi dụng chức quyền để mưu lợi riêng hình thành lợi ích nhóm và nhóm lợi ích. Là thiếu tu dưỡng, rèn luyện, học tập dẫn tới một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
Bốn nguy cơ Đảng nêu ra gần 30 năm trước đến nay vẫn tồn tại có mặt phức tạp hơn, như tham nhũng, suy thoái, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tự phê bình, phê bình trong Đảng, hệ thống chính trị, đánh giá, phân loại đảng viên vẫn còn hình thức. Trong khi đó, số cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp bị kỷ luật vẫn còn nhiều.
Trong tình hình như vậy càng phải tăng cường công tác xây dựng Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt và công tác cán bộ phải thật sự là then chốt trong xây dựng Đảng. Toàn Đảng đang đẩy mạnh chống tham nhũng, tiêu cực và cần thiết phải nắm vững quan điểm: Xây là chiến lược, căn bản, lâu dài, chống là bức thiết, cấp bách. Vấn đề nêu gương của cán bộ, đảng viên có vai trò rất quan trọng trong xây dựng Đảng, trong điều kiện Đảng cầm quyền.
Sinh thời, Hồ Chí Minh không chỉ nhắc nhở mà đòi hỏi mọi cán bộ phải "Cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc" (2). Người nhiều lần nhắc câu "đảng viên đi trước, làng nước theo sau". Theo Hồ Chí Minh, câu nói đó là một lời khen chân thành đối với cán bộ, đảng viên và cũng là đòi hỏi của chính nhân dân. Đã là cán bộ, đảng viên thì phải tiên phong, gương mẫu.
Hiện nay, nêu gương đang trở thành nhân tố tích cực nhằm đẩy lùi tiêu cực, suy thoái, trở thành yêu cầu tất yếu trong đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng. Có thể thấy rõ nêu gương trên mấy yêu cầu.
Nêu gương về sự trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Mọi cán bộ, đảng viên ra sức học tập lý luận chính trị, nâng cao trình độ lý luận, trí tuệ, khắc phục tình trạng ngại, lười học lý luận hoặc học hời hợt, hình thức cốt có bằng cấp để xếp ngạch cán bộ, công chức hoặc quy hoạch cán bộ, thăng tiến.
Cán bộ, đảng viên gương mẫu và nghiêm túc học tập lý luận có ý nghĩa quyết định đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, nâng cao năng lực phê phán, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng. Cần nhận thức rõ sự suy thoái về tư tưởng chính trị là thách thức lớn nhất đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Cán bộ, đảng viên thật sự nêu gương trong thực hiện nhiệm vụ, đề cao trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, trước nhân dân và đất nước. Gương mẫu thực hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không ngừng bồi đắp trí tuệ, bản lĩnh chính trị. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trách nhiệm, cương vị được giao phó phải được đánh giá thực chất.
Ở các địa phương, các ngành, các lĩnh vực công tác ngày càng có nhiều cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám vượt qua khó khăn, thách thức vì lợi ích chung. Đó là sự nêu gương có ảnh hưởng lớn và thiết thực. Đẩy mạnh cải cách hành chính kết hợp với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, công chức, cùng với giám sát, chấm điểm của nhân dân mà mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp ngày càng cao ở nhiều nơi.
Chú trọng nêu gương về đạo đức, lối sống, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, quyết loại trừ chủ nghĩa cá nhân, nói không với tham nhũng, lãng phí và những tiêu cực khác. Gương mẫu thực hiện quy định 19 điều đảng viên không được làm. Thực hiện nghiêm túc những chuẩn mực đạo đức trong Đảng, giữ gìn khí tiết, phẩm giá, uy tín và danh dự của người đảng viên cộng sản. Nghiêm chỉnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực.
Rèn luyện, nêu gương phong cách công tác đoàn kết, gắn bó với thực tiễn và quần chúng nhân dân, tác phong khoa học, chính quy, chuyên nghiệp và thiết thực, kiên quyết khắc phục bệnh quan liêu, bệnh thành tích và bệnh hình thức. Thực hiện chỉ dẫn của Bác Hồ, mọi cán bộ, đảng viên dù ở cấp nào phải thật sự dựa vào dân, hiểu dân, tin dân, bàn bạc với dân, lắng nghe dân và vì dân. Làm sao cho phương châm Đảng đề ra: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng, được hiện thực hóa tốt nhất, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Báo Nhân dân
Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng

PHÁT ĐỘNG CUỘC THI CHÍNH LUẬN VỀ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG LẦN THỨ 3

 

Sáng 1/2, tại Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam và Hội Nhà báo Việt Nam tiến hành Lễ phát động “Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ 3, năm 2023”.
Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, cùng các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Đoàn Minh Huấn, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; đồng chí Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì.
Buổi Lễ được tiến hành tại 63 điểm cầu các Tỉnh ủy, Thành ủy cả nước, với sự tham dự của lãnh đạo các tỉnh, thành phố toàn quốc.
Cuộc thi nhằm tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; triển khai có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đây là sự tiếp nối thành công của hai Cuộc thi viết chính luận về “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” năm 2021, 2022 và tiếp tục có sự mở rộng về quy mô tổ chức, thành phần tham gia và thể loại tác phẩm dự thi.
Mục đích của Cuộc thi là tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Thông qua Cuộc thi, tiếp tục phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng cho lực lượng, hình thành mạng lưới rộng khắp bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ. Nâng cao chất lượng các tác phẩm chính luận trên báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình và mạng xã hội về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, góp phần bảo vệ, tuyên truyền, lan tỏa đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tập trung vào các nội dung Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, các Nghị quyết Hội nghị Trung ương khóa XIII của Đảng.
Cuộc thi góp phần hình thành nguồn sản phẩm phong phú, có chất lượng, có tính chiến đấu cao phục vụ trực tiếp công tác tuyên truyền của các cơ quan, đơn vị, địa phương.
Cuộc thi thiết thực đóng góp vào bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng trên các lĩnh vực đời sống xã hội; đẩy mạnh công tác Xây dựng Đảng; đấu tranh phản bác các quan điểm luận điệu sai trái, thù địch…
Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng thay mặt Ban Chỉ đạo 35 và Ban Chỉ đạo Cuộc thi nêu rõ: Cuộc thi lần này có ý nghĩa quan trọng khi được phát động vào đầu năm 2023, là năm bản lề thực hiện Đại hội XIII của Đảng, khi Trung ương ban hành nhiều chỉ thị, kết luận nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội. Từ những mục tiêu, yêu cầu của Cuộc thi lần thứ 3, khác với hai cuộc thi trước, Cuộc thi cần được mở rộng, lan tỏa trong bối cảnh, tình hình mới, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng. Cuộc thi cần được sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đa dạng các loại hình, tạo sự phong phú, sức lan tỏa.
Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, với tính chất tác phẩm dự thi là sản phẩm mới, sáng tạo, có sức thuyết phục các tác phẩm, Cuộc thi thiết thực đóng góp vào bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng trên các lĩnh vực đời sống xã hội; đẩy mạnh công tác Xây dựng Đảng; đấu tranh phản bác các quan điểm luận điệu sai trái, thù địch…
Với tinh thần đó, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng yêu cầu lãnh đạo các địa phương, ngành, đoàn thể, lĩnh vực cần coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư với cách triển khai linh hoạt, bảo đảm cuộc thi được lan tỏa, tạo hiệu quả rõ rệt.
Tại Lễ phát động, sau khi đại diện Ban Tổ chức phổ biến mục đích, yêu cầu Cuộc thi, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng cùng các đồng chí đại diện Ban Chỉ đạo Cuộc thi đã cùng làm rõ những điểm mới, yêu cầu và những nội dung mới của Cuộc thi và những câu hỏi được báo giới quan tâm./.
Báo Nhân Dân
Có thể là hình ảnh về 7 người và mọi người đang đứng

 

Sự tinh vi của những luận điệu chống phá chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Trong thời gian qua, tình hình thế giới và khu vực chuyển biến nhanh chóng với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song các nhân tố bất ổn ngày càng gia tăng. Đặc biệt, trong hơn hai năm qua, đại dịch COVID-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ. Quá trình định hình lại cấu trúc chính trị, kinh tế thế giới đang diễn ra ngày càng nhanh với những tập hợp lực lượng đa dạng, phức tạp, đan xen, tác động nhiều chiều đến hòa bình, an ninh và phát triển của các nước.

Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhiều biến động mới; tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng mà sự chống phá của các thế lực này hướng tới không gì khác là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Sự tinh vi của những thủ đoạn này ở chỗ, họ lợi dụng không gian mạng xã hội - nơi khởi phát nhanh chóng những thông tin thật - giả, đúng - sai, tốt - xấu... đa chiều, phức tạp, để tung ra thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thậm chí, một số “nhà hoạt động”, “nhà dân chủ”, “học giả” tự xưng..., kể cả ở ngoài nước, đưa ra những “ý kiến”, “tư vấn”, “phản biện”, tạo những “cơn sóng ngược” trên mạng xã hội, mưu toan gieo rắc tâm lý hoang mang, mất phương hướng, tạo sự bức xúc, tâm lý chống đối, gây mất ổn định xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Tính chất nguy hiểm của các luận điệu nêu trên là tạo ra sự hoang mang, dao động, gây chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, nhất là các nước đối tác, đối tác chiến lược, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam. “Chiến dịch quân sự đặc biệt” mà Nga thực hiện ở U-crai-na là một sự kiện quốc tế được các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng triệt để nhằm bóp méo, xuyên tạc chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Quan điểm của Việt Nam hết sức khách quan, rõ ràng, thể hiện qua bốn lần bỏ phiếu, đó là đều khẳng định lập trường nhất quán về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, tiếp tục kêu gọi các bên giảm căng thẳng, ngừng bắn, nối lại đối thoại, tìm giải pháp lâu dài cho các bất đồng trên cơ sở tính tới quyền và lợi ích chính đáng của các bên liên quan. Phát biểu của Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc trong Phiên họp lần thứ 11 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thể hiện rất rõ quan điểm rằng, Việt Nam hết sức lo ngại về tình hình xung đột vũ trang hiện nay ở U-crai-na, một quốc gia có chủ quyền, thành viên của Liên hợp quốc. Việt Nam cho rằng, điều cấp bách hiện nay là cần kiềm chế tối đa và chấm dứt ngay lập tức việc sử dụng vũ lực để tránh thêm thương vong và tổn thất, đặc biệt là đối với dân thường. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài, cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn, võ đoán, quy chụp rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ”, “không kiên định”, “lập trường không dứt khoát”, “rõ ràng”; rằng Việt Nam “lạc lõng” trước thời cuộc. Từ đó, họ đưa ra những kết luận hàm hồ, vô căn cứ rằng Việt Nam sẽ “mất đi sự ủng hộ của các nước vì thực chất đã “chọn phe””.

Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế

Trước hết cần khẳng định, Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này thể hiện rõ trong các nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng và thực tiễn sinh động của đất nước. Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu xuyên suốt, nhất thành bất biến, không thể đánh đổi, không thể thỏa hiệp, dù trong bất cứ thời đoạn, hoàn cảnh nào. Trong mỗi bước đường lịch sử cách mạng, trong mỗi giai đoạn và hoàn cảnh khác nhau, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều có những thứ tự ưu tiên trước sau, nhưng mục đích xuyên suốt vẫn là độc lập, chủ quyền, tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Chúng ta sẽ không vì bất cứ lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ nào mà đánh đổi hoặc nhân nhượng. Đây là nguyên tắc tối cao, bất biến trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Đối với các nước lớn, Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại “không chọn bên”, đặt mục tiêu lợi ích quốc gia trong ứng xử với các nước này. Tăng cường đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đối ngoại với nhiều đối tác sẽ giúp tạo nên một không gian lựa chọn rộng lớn nhiều chiều, nhiều tuyến, nhiều tầng nấc... nhằm tránh bị lệ thuộc vào một vài đối tác, thị trường, thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích an ninh và phát triển của Việt Nam, góp phần huy động những nguồn lực và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong điều kiện hiện nay, giữ cân bằng trong quan hệ với các nước lớn được hiểu là không ngả nghiêng, dao động, không chịu sức ép trước sự lôi kéo, tác động ảnh hưởng từ bên ngoài. Cân bằng trong quan hệ đối ngoại thể hiện sự độc lập, tự chủ trong chính sách, tránh sự lệ thuộc một chiều vào một bên. Trong thế giới toàn cầu hóa và cạnh tranh nước lớn, giữ được thế cân bằng đòi hỏi phải có thực lực và tinh thần tự chủ. Trong hơn 35 năm đổi mới, thực lực cũng như  vị trí, vai trò của Việt Nam trên thế giới không ngừng được nâng cao. Quan hệ song phương và đa phương của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực ngày càng mở rộng, đi vào thực chất, hiệu quả. Việt Nam giữ vững chính sách quốc phòng “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Theo đó, chúng ta không dựa vào bên nọ để chống bên kia và ngược lại; phát triển quan hệ đối ngoại đa phương, thiết lập, củng cố quan hệ với tất cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược; gia tăng đan xen lợi ích chung với nhiều nước, tranh thủ tối đa và tạo sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế; ngăn ngừa nguy cơ và đối phó hiệu quả với mọi hình thức chiến tranh xâm lược...

Đứng vững trên cơ sở luật pháp quốc tế, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Thực tế sinh động diễn ra trong hơn 35 năm đổi mới, nhất là những năm gần đây, đã minh chứng cho tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Với mục tiêu tối thượng là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam đã góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại của Việt Nam được mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định; chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; đời sống nhân dân được nâng cao, cải thiện. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác toàn diện với 13 nước. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)... Trong thực hiện đường lối đối ngoại, Việt Nam luôn tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Đối với những vấn đề phức tạp của các quốc gia, Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn phát huy vai trò thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, thực hiện tốt các nghĩa vụ đối ngoại. Vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Thực tế đó là minh chứng không thể phủ nhận về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược phức tạp và nhiều xu hướng tập hợp lực lượng đa chiều hiện nay./.

 

PHẠM TRẦN ĐỪNG ĐỒNG NHẤT “TRẮNG – ĐEN”

 


Trong học thuyết của mình, trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn vận động của xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: Nhân loại nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là điều không phải bàn cãi. Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và Nhân dân ta, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã chứng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Đó là một thực tiễn không thể phủ nhận.

Ấy vậy mà, trên trang Danlambao, Phạm Trần có bài viết: “Quá độ đi về đâu”. Trả lời câu hỏi này, Phạm Trần cho rằng “quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một sai lầm lịch sử” “là nguyên nhân của đói nghèo, tụt hậu”. Điều đáng nói, Phạm Trần đã đồng nhất “trắng – đen” cho rằng: Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác – Lênin. Phạm Trần “khuyên” Việt Nam “đừng đi vào vết xe đổ” của Liên Xô và Đông Âu. Phải chăng, đó là lời khuyên “có tình, có lý”?

Chúng ta đều biết, dưới sự tác động của các thế lực thù địch và sự sai lầm có tính chất “phản bội” của một số người lãnh đạo, ngày 15-3-1990 tại Đại hội bất thường của các đại biểu nhân dân, Điều 6 Hiến pháp của Liên Xô quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã bị xóa bỏ. Đây là “dấu mốc” quan trọng dẫn đến hình thành cơ chế đa nguyên, đa đảng với việc ra đời của nhiều tổ chức, đảng phái chính trị đối lập cạnh tranh vai trò lãnh đạo. Ngay lập tức, ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản Liên Xô. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên Xô vào tháng 8-1991 là một tất yếu khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo.

Không tốn một viên đạn, nhưng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” đã có sức “công phá” và “hủy diệt” chưa từng có, đã làm cho một siêu cường quốc, một Đảng với hơn 20 triệu đảng viên, một quân đội với hơn 4 triệu quân nhân được trang bị vũ khí hiện đại và tinh nhuệ bậc nhất thế giới đã nhanh chóng mất sức chiến đấu, quay súng “bắn tan” thành quả cách mạng. “Thành trì vĩ đại” bị sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của cả một hệ thống xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới mà hệ lụy của nó còn ảnh hưởng nhiều năm, ở nhiều quốc gia và qua nhiều thế hệ.

Thực tiễn trên đã cho thấy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu không phải là sự “cáo chung” của chủ nghĩa xã hội, nó cũng không phải do chủ nghĩa Mác -Lênin đã lỗi thời mà đó là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội không còn phù hợp do đã hiểu sai, vận dụng sai những quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác -Lênin trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu càng không phải là thực tiễn để khẳng định “quá độ đi về đâu”, “đi về đói nghèo, tụt hậu” như Phạm Trần đã khẳng định.

Hiện nay “chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra”. Tất cả điều đó là những minh chứng cho thấy cách thức phát triển kiểu tư bản chủ nghĩa đang chứa đựng nhiều nguy cơ bất ổn. Những tiền đề cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản đang ngày càng chín muồi trong lòng chủ nghĩa tư bản.

Thực tiễn sau hơn 35 năm đổi mới, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Điều này đã được cả thế giới thừa nhận. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay là một minh chứng để khẳng định “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”.

Như vây, thực chất luận điểm của Phạm Trần là đòi Việt Nam phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm ý đồ xấu xa là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Phạm Trần đừng lợi dụng sự kiện chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ để đồng nhất “trắng – đen”. Mọi người hãy hết sức cảnh giác với âm mưu thâm độc này và kiên quyết đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh” cũng như nguyện vọng và khát vọng của nhân dân Việt Nam./.

T3.

 

Trách nhiệm chính trị người đứng đầu

Ngày 18-1-2023, tại kỳ họp bất thường lần thứ 3, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết về việc miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021-2026 và cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội khóa XV đối với ông Nguyễn Xuân Phúc. Trước đó, ngày 17-1-2023, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã họp đồng ý về nguyện vọng thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác và nghỉ hưu của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng quốc phòng, an ninh nhiệm kỳ 2021-2026. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước. Đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị các khoá tín nhiệm phân công giữ nhiều chức vụ lãnh đạo quan trọng của Đảng và Nhà nước. Trên cương vị Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021, đồng chí đã có nhiều nỗ lực trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công tác phòng, chống dịch Covid-19 đạt kết quả quan trọng. Tuy vậy, đồng chí chịu trách nhiệm chính trị của người đứng đầu khi để nhiều cán bộ, trong đó có 2 đồng chí phó thủ tướng, 3 bộ trưởng có vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng, 2 đồng chí phó thủ tướng đã xin thôi giữ các chức vụ, 2 bộ trưởng và nhiều cán bộ bị xử lý hình sự. Nhận thức rõ trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân, đồng chí đã có đơn xin thôi giữ các chức vụ được phân công, nghỉ công tác và nghỉ hưu. Vậy trách nhiệm chính trị là gì? Trách nhiệm chính trị là trách nhiệm trước cử tri. Trách nhiệm chính trị được xác lập dựa trên sự tín nhiệm. Và bất tín nhiệm là chế tài duy nhất được thực hiện thông qua hoạt động của cơ quan đại diện cho cử tri - Quốc hội và ở địa phương là hội đồng nhân dân các cấp. Trách nhiệm chính trị là chế độ trách nhiệm đòi hỏi các cán bộ phải được sự tín nhiệm của nhân dân hoặc của những người đại diện cho nhân dân. Sự tín nhiệm của nhân dân là điều kiện quan trọng nhất đối với chế độ trách nhiệm chính trị. Không còn sự tín nhiệm của nhân dân đồng nghĩa với không còn được giữ cương vị người đứng đầu. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc với trách nhiệm người đứng đầu Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021, khi có nhiệm vụ và quyền hạn lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ liệu có vô can trước những sai phạm nghiêm trọng của cấp dưới? Liệu có còn đủ tín nhiệm với cử tri? Việc đồng chí Nguyễn Xuân Phúc có đơn xin thôi giữ các chức vụ được phân công, nghỉ công tác và nghỉ hưu, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đồng ý và Quốc hội ra nghị quyết miễn nhiệm thể hiện Đảng ta là đảng chân chính, không giấu giếm khuyết điểm, nói đi đôi với làm, nhìn thẳng vào sự thật để khắc phục. Đồng thời có tính cảnh tỉnh, răn đe cao, thực hiện đúng quy định của Đảng về miễn nhiệm cán bộ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm do không đáp ứng được yêu cầu công việc, uy tín giảm sút, có vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật cách chức. Việc cán bộ lãnh đạo cao cấp, nhất là những cán bộ giữ cương vị là người đứng đầu nhận trách nhiệm chính trị trước Đảng, trước Nhân dân khi để cấp dưới có vi phạm rất nghiêm trọng và tự nguyện xin thôi giữ các chức vụ được phân công là việc làm đúng đắn, cần thiết, được dư luận ủng hộ. Tinh thần này cần tiếp tục được lan tỏa trong hệ thống chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân với vai trò lãnh đạo của Đảng.