Tái diễn những điệp khúc sai lầm
Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023
CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, CHIÊU TRÒ CŨ, THỦ ĐOẠN MỚI
KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI LÀ KỶ LUẬT TỰ GIÁC VÀ NGHIÊM MINH
Hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” in đậm trong lòng Nhân dân được tạo dựng không chỉ từ những chiến công vẻ vang của một quân đội anh hùng mà còn bởi nhiều yếu tố. Một phần quan trọng trong những yếu tố đó chính là ý thức kỷ luật tự giác, nghiêm minh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ được tôi luyện trong suốt chiều dài xây dựng, chiến đấu và trưởng thành; hun đúc, tạo nền xây dựng nên những phẩm chất tốt đẹp của một đội quân trung hiếu, của người quân nhân cách mạng.
V.I.Lênin cho rằng: "Trong chiến tranh “kẻ nào có kỹ thuật cao hơn, có trình độ tổ chức và kỷ luật cao hơn… thì kẻ đó sẽ chiến thắng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua"; “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm, vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”.
Xuất phát từ sứ mệnh lịch sử, QĐNDVN mang trong mình dòng máu, bản chất giai cấp công nhân, bất luận trong điều kiện hoàn cảnh nào cũng luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của ĐCS Việt Nam. Do đó, bản chất kỷ luật của QĐNDVN mang bản chất kỷ luật của Đảng và của giai cấp công nhân, đó là "kỷ luật tự giác, nghiêm minh". Tự giác có thể hiểu là tự mình hiểu mà làm, không cần nhắc nhở, đốc thúc; tự giác không phải là kỹ năng bẩm sinh tự nhiên mà nó đòi hỏi phải có quá trình giáo dục, học tập, rèn luyện; là sự kết hợp từ phía bản thân và phía bên ngoài, nó biểu hiện ở nhiều góc độ, trong ý nghĩ, hành động, ứng xử với chính mình và với người xung quanh; phải trải qua một quá trình giáo dục lâu dài, liên tục, có chọn lọc, tạo nên những thói quen, trở thành ý thức trong suy nghĩ và hành vi của con người. Nghiêm minh là nghiêm ngặt và rõ ràng, áp dụng cho mọi người, ai cũng như ai và trong mọi trường hợp, sự nghiêm minh không có ngoại lệ, nghiêm minh chính là sự thể hiện thái độ với những nguyên tắc được đặt ra, đối với các cá nhân, tổ chức, khi có sai phạm thì sẽ luôn bị xem xét, xử lý nghiêm minh".
Với bản chất, truyền thống kỷ luật của QĐND được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ dày công xây dựng, bồi đắp, tuy có tính ổn định, bền vững, song không phải là "nhất thành bất biến", nó luôn vận động phát triển không ngừng, cùng với sự phát triển đi lên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Nếu chúng ta sao nhãng đến xây dựng, tăng cường đoàn kết và tính "kỷ luật tự giác và nghiêm minh" trong quân đội, để tồn tại các "mầm mống" làm nảy sinh vi phạm kỷ luật ở các đơn vị, sẽ trở thành mảnh đất màu mỡ cho các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng chống phá và "biến cái đơn lẻ thành cái bản chất", sẽ gây tổn hại đến hình ảnh cao quý "Bộ đội cụ Hồ".
Trung Thành 30A ST
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
Vấn
đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc luôn có vị trí đặc biệt quan trọng
trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; là cội nguồn sức mạnh và là động
lực to lớn để giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam XHCN. Kết hợp nhuần nhuyễn luận điểm: “Cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng” của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng “Dân là gốc” của ông cha ta và từ
thực tiễn phong trào cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết nên chân lý:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Thấm
nhuần lời dạy của Người, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chăm
lo, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là nền tảng vững chắc,
có vai trò quyết định mọi thành công của cách mạng Việt Nam.
Ra
đời trong cao trào cách mạng của quần chúng, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt
Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực
tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; thường xuyên được Chủ tịch Hồ Chí
Minh đặc biệt quan tâm, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện. Suốt chặng đường 70 năm
xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, QĐND Việt Nam luôn được sự chăm lo, đùm bọc
của nhân dân, sát cánh cùng toàn dân đánh giặc, giữ nước, góp phần xây dựng và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Thực
hiện chức năng đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất, đội quân công
tác, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc
và nhân dân; tích cực tham gia xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân,
tăng cường sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Quân đội luôn là lực lượng tiên
phong trong việc tuyên truyền, quán triệt tư tưởng đại đoàn kết toàn dân; làm tốt
việc kết nghĩa với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa
phương; kiên trì tuyên truyền, vận động nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn nham
hiểm của các thế lực thù địch hòng chia rẽ đại gia đình các dân tộc Việt Nam,
chia rẽ lương giáo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; chủ động phối hợp với
các lực lượng nắm chắc tình hình, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xử
lý có hiệu quả các tình huống phức tạp, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an
toàn xã hội, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng
xa... Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là những lúc khó khăn, hoạn nạn, thiên
tai, sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam đều trở thành chỗ dựa cho cấp
ủy, chính quyền địa phương và niềm tin cho nhân dân.
Cùng
với việc thường xuyên rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ và khả
năng sẵn sàng chiến đấu; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới. Những năm qua, quân đội luôn thể hiện vai trò là thành viên tích cực
của MTTQ Việt Nam; gương mẫu thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước;
tích cực tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân, xây dựng và củng cố lòng tin
của nhân dân với Đảng, chính quyền các cấp; tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa
phương củng cố tổ chức, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an
ninh; phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là ở các
địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số... Với hàng chục đoàn kinh tế - quốc phòng, hàng trăm tổ đội công
tác và cán bộ tăng cường cơ sở, những hoạt động thiết thực đó không ngừng tô thắm
truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam anh hùng, phẩm chất tốt đẹp
"Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân” trong thời kỳ mới.
Là
“thành viên đặc biệt” của MTTQ Việt Nam, QĐND Việt Nam luôn quán triệt, triển
khai thực hiện tốt các nghị quyết, các chương trình hành động, phong trào thi
đua yêu nước, như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”,
“Ngày vì người nghèo”, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, "Cả nước chung
sức xây dựng nông thôn mới"… và thực hiện chính sách hậu phương quân đội,
các hoạt động từ thiện, nhân đạo.
Trên
cơ sở các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của cả nước, từng cơ quan,
đơn vị và các tổ chức quần chúng trong quân đội đã có các phong trào, các cuộc
vận động mang lại hiệu quả thiết thực, như: “Phát huy truyền thống, cống hiến
tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong toàn quân; “Mái ấm cho người nghèo nơi
biên giới, hải đảo” của Bộ đội Biên phòng, “Thanh niên Quân đội làm theo lời
Bác” của tuổi trẻ toàn quân; “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” của Phụ nữ Quân đội;
“Lao động giỏi, lao động sáng tạo” của Công đoàn Quốc phòng... Có thể khẳng định,
các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam
đã được quân đội hưởng ứng và tham gia tích cực, đạt hiệu quả cao, mang lại ý
nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc,
giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các địa phương, nhất là ở
các địa bàn chiến lược trọng yếu, vùng biên giới, biển, đảo, vùng đồng bào dân
tộc, tôn giáo.
Thực
hiện lời dạy của Bác Hồ: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm”, cùng với việc
triển khai các cuộc vận động, các phong trào cách mạng của Đảng, Nhà nước, MTTQ
và địa phương, các đơn vị trong toàn quân đã thực hiện tốt Chương trình “Kết hợp
quân - dân y”, đào tạo hàng nghìn cán bộ y tế cho vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ
cách mạng, biên giới, hải đảo; tổ chức khám bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn
phí cho nhân dân, tặng trang thiết bị cho các cơ sở y tế địa phương.
Trước
yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn nhận
thức sâu sắc về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; không ngừng tu dưỡng
nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện nếp sống
chính quy, xây dựng chuẩn mực đạo đức của người quân nhân cách mạng, tiêu chí
phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới; tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân
- dân, tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh; không để các tư tưởng,
quan điểm sai trái làm ảnh hưởng tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo vệ Đảng,
bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ nhân dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Về khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam hiện nay.
Đến nay, Việt Nam đã xây dựng và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với 17 nước. Các mối quan hệ này đã và đang đóng góp quan trọng, tạo điều kiện vững chắc giúp bảo đảm, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ lợi thế của các đối tác để bảo vệ, phát triển đất nước nhanh và bền vững, cũng như nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, từng bước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Lý thuyết về đối tác chiến lược
Trong quan hệ quốc tế, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế bàn về đối tác chiến lược nói chung và các mối quan hệ đối tác chiến lược cụ thể, bất kể quãng thời gian khá dài kể từ khi quan hệ đối tác chiến lược đầu tiên xuất hiện vào năm 1992 (Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ)(1) và số lượng ngày càng gia tăng của các mối quan hệ này, nhưng đến nay dường như vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm “đối tác chiến lược”. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, đây là mô hình liên kết mới trong quan hệ quốc tế, trở nên thịnh hành kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, được thiết lập theo cấu trúc mới để đạt được các mục tiêu dài hạn(2). Về đặc điểm, nhà nghiên cứu Vi-đi-a Nác-đa-ni (Vidya Nakdarni) cho rằng, quan hệ đối tác chiến lược: 1- Được hình thành thông qua các tuyên bố, thỏa thuận, ghi nhớ, trong đó chỉ rõ các mục tiêu xây dựng và tăng cường quan hệ nhiều mặt; 2- Thiết lập các cơ chế hoặc liên kết chính thức cấp chính phủ hoặc phi chính phủ nhằm thúc đẩy đối ngoại kênh 1 và kênh 2(3); 3- Thể chế hóa các cơ chế gặp gỡ lãnh đạo cấp cao và các cấp làm việc khác nhằm xác định lợi ích và quan tâm chung, giải quyết các vấn đề cụ thể; 4- Phát triển quan hệ trong lĩnh vực quốc phòng thông qua tập trận chung, các giải pháp xây dựng lòng tin,...; 5- Cam kết đẩy mạnh hợp tác kinh tế; 6- Tăng cường sự hiểu biết về văn hóa của mỗi nước thông qua việc trao đổi giao lưu thế hệ trẻ và tổ chức các hội chợ văn hóa(4). Một số học giả chỉ ra ba đặc điểm của quan hệ đối tác chiến lược, bao gồm: 1- “Không có giới hạn về không gian và thời gian”; 2- “Không hạn chế về đối tượng áp dụng”; 3- “Không hạn chế về lĩnh vực hợp tác, và không nhất thiết phải mang nội dung an ninh - quân sự”(5). Về tính chất, quan hệ đối tác chiến lược mang tính “toàn diện”, “có đi, có lại”, “chia sẻ”, “dài hạn” và “giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu”(6). Về hình thức, do tính chất đa phương và đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế, quan hệ đối tác chiến lược được thể hiện dưới các hình thức, như đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược có lựa chọn theo từng lĩnh vực, đối thoại chiến lược,...
Việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược cần dựa vào một số điều kiện quan trọng, như các bên bình đẳng, tôn trọng thể chế chính trị, hệ tư tưởng và giá trị xã hội; các bên quyết tâm chính trị để xây dựng quan hệ đối tác chiến lược; tương đồng về mục đích, mục tiêu và thậm chí có thể chia sẻ lợi ích sống còn, đặc biệt trong duy trì an ninh, bảo đảm thịnh vượng và phát huy vai trò, vị thế trên trường quốc tế; thống nhất nhận thức về cách tiếp cận và nguyên tắc xây dựng đối tác chiến lược cũng như cơ sở pháp lý, nội dung, khuôn khổ, cơ chế bảo đảm triển khai hiệu quả; chia sẻ tầm nhìn về các lĩnh vực hợp tác, đặc biệt là trong các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược, những vấn đề chính trị khu vực và toàn cầu(7).
Tóm lại, quan hệ đối tác chiến lược là một dạng thức quan hệ có tầm quan trọng lớn và có tính chiến lược, dài hạn giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa quốc gia với tổ chức quốc tế xuất hiện sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc nhằm xây dựng các cơ chế, kế hoạch, công cụ để đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực mà các bên ưu tiên. Mối quan hệ này không phải luôn luôn cố định mà có thể được tăng cường, chuyển biến với các nội hàm hợp tác khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh quốc tế cũng như tình hình của mỗi nước, lợi ích và quyết tâm, ý chí chính trị của mỗi bên trong từng giai đoạn.
Một số quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam hiện nay
Chủ trương đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là các đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu được Đảng và Nhà nước ta đề ra từ Đại hội X của Đảng (năm 2006), tiếp tục khẳng định qua các kỳ Đại hội XI của Đảng (năm 2011), Đại hội XII của Đảng (năm 2016) và Đại hội XIII của Đảng (năm 2021). Trước đó, Đại hội IX của Đảng (năm 2001) ghi nhận bước chuyển quan trọng trong tư duy đối ngoại, thể hiện tinh thần trách nhiệm và uy tín của Việt Nam khi khẳng định: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(8). Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiếp tục nhấn mạnh “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”(9), đồng thời đặt mục tiêu “Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiếp lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững”(10). Như vậy, tại Đại hội X của Đảng, khái niệm “quan hệ đối tác” được đề cập ở “mức độ cao hơn, sâu sắc hơn, chất lượng hơn và toàn diện hơn”. Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng hoạt động đối ngoại, đó là: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác”(11). Với chủ trương được xác định nhất quán và mạnh mẽ như vậy, việc xây dựng nội hàm của dạng thức quan hệ đối tác chiến lược là vô cùng quan trọng. Quan hệ đối tác chiến lược là một dạng thức quan hệ đối ngoại, các bên tham gia đều có nhu cầu tăng cường hợp tác, coi trọng và chú ý hơn tới lợi ích chiến lược của nhau, có hợp tác sâu rộng, gắn kết về lợi ích và hướng tới lòng tin chiến lược.
Tính đến nay, mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam bao gồm 17 nước: Nga (năm 2001), Ấn Độ (năm 2007), Trung Quốc (năm 2008); Hàn Quốc (năm 2022), Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po (năm 2013); Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin (năm 2015); Nhật Bản, Tây Ban Nha (năm 2009); Anh (năm 2010), Đức (năm 2011); I-ta-li-a, Pháp (năm 2013), Ô-xtrây-li-a (năm 2018) và Niu Di-lân (năm 2020). Trong số 17 nước trên, việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với một số nước, như Trung Quốc, Đức và Xin-ga-po(12) có một số nội dung đáng chú ý. Cụ thể:
Về quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc: Kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1991 đến nay, hợp tác Việt Nam - Trung Quốc đã trải qua nhiều dấu mốc lịch sử quan trọng. Đặc biệt vào tháng 6-2008, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã ra Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc nhằm thiết lập “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” trên cơ sở phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần bốn tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Trong thời gian qua, quan hệ Việt Nam - Trung Trung Quốc có những bước tiến lớn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực.
Về chính trị - ngoại giao, đặc điểm nổi bật trong quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Trung Quốc là sự tin cậy và hữu nghị, biểu hiện qua các cuộc tiếp xúc của lãnh đạo cấp cao hai nước được thực hiện thường xuyên với hình thức đa dạng, thể hiện tính chất đặc thù của mối quan hệ truyền thống tốt đẹp và tầm quan trọng của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của mỗi nước. Năm 2017, ngay sau Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Việt Nam là quốc gia đầu tiên mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đến thăm chính thức. Năm 2022, sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhà lãnh đạo cấp cao nước ngoài đầu tiên thăm chính thức Trung Quốc. Với sự tương đồng về thể chế chính trị, hệ tư tưởng, lịch sử và truyền thống gắn bó lâu dài giữa hai nước, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước đã chia sẻ nhận thức chung quan trọng, góp phần củng cố, tăng cường sự tin cậy chính trị, giải quyết các bất đồng tồn tại và thúc đẩy hợp tác toàn diện, lành mạnh, ổn định trên các lĩnh vực.
Hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư luôn chiếm vị trí quan trọng trong mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã và đang là đối tác thương mại lớn nhất, đồng thời là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á và đối tác lớn thứ sáu của Trung Quốc trên thế giới(13). Tính đến tháng 9-2022, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc đạt 131,7 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2021. Về đầu tư, tính đến tháng 9-2022, với 3.486 dự án có tổng số vốn đăng ký đạt 22,44 tỷ USD, Trung Quốc tiếp tục xếp thứ 6/139 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam(14). Vấn đề thâm hụt thương mại cũng được hai bên quan tâm thúc đẩy và đưa vào Tuyên bố chung để được xử lý thỏa đáng, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Đối với vấn đề biên giới lãnh thổ, trên cơ sở các văn kiện được hai bên ký kết vào năm 2009(15) về biên giới trên đất liền giữa hai nước, biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được duy trì hòa bình, ổn định. Bên cạnh đó, hai bên tiếp tục phối hợp chặt chẽ để xử lý thỏa đáng và kịp thời các vấn đề phát sinh. Mặc dù tình hình trên Biển Đông xuất hiện một số nhân tố phức tạp, hai bên vẫn duy trì các kênh đối thoại, đàm phán, nỗ lực kiểm soát bất đồng trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.
Trong khuôn khổ các tổ chức và diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, như Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Liên hợp quốc,... với mục tiêu bảo đảm hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác tại khu vực và trên thế giới, hai bên tích cực phối hợp hiệu quả, ủng hộ chủ nghĩa đa phương và ủng hộ lẫn nhau tham gia các tổ chức đa phương khu vực và quốc tế.

Về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức: Năm 2021 đánh dấu 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức và ghi nhận nhiều bước phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực.
Đối với chính trị - ngoại giao, điểm nổi bật trong quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức là sự tin cậy và đánh giá cao lẫn nhau thể hiện qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước được tiến hành thường xuyên hơn so với giai đoạn trước khi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Tháng 11-2022, Thủ tướng Đức Ô. Sôn (Olaf Scholz) đã thăm chính thức Việt Nam, sau khi thăm Nhật Bản và Trung Quốc, thể hiện tầm quan trọng của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Đức. Bên cạnh đó, hai nước đã thiết lập và duy trì các cơ chế hợp tác đa dạng trên các lĩnh vực, bao gồm: Tham vấn chính trị thường niên cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Tham vấn chính phủ về hợp tác phát triển, Đối thoại cấp cao về kinh tế, Đối thoại về nhà nước pháp quyền, Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế, Ủy ban hỗn hợp về hợp tác khoa học - công nghệ,... nhằm thực hiện các kế hoạch hành động chiến lược được hoạch định theo từng giai đoạn.
Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư được đánh giá là điểm sáng trong quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức. Với ưu thế là đầu tàu của Liên minh châu Âu (EU) và là nước có tiềm lực kinh tế mạnh mẽ, Đức luôn là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, với các chỉ số hết sức ấn tượng khi trong nhiều năm, Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong EU; đặc biệt, năm 2020, Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Đức tại khu vực Đông Nam Á.
Hợp tác về quốc phòng - an ninh giữa hai nước có nhiều bước phát triển tích cực trong những năm qua. Năm 2003, Việt Nam đã cử tùy viên quốc phòng thường trú tại Thủ đô Béc-lin và Đức cử tùy viên quốc phòng tại Thái Lan kiêm nhiệm Việt Nam. Tháng 9-2019, Đức chính thức cử tùy viên quốc phòng thường trú tại Việt Nam. Triển khai “Định hướng đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” được Đức thông qua vào tháng 9-2020, tháng 1-2022, lần đầu tiên trong lịch sử, khinh hạm FGS Bayern với hơn 200 thành viên của hải quân Đức đã thăm Việt Nam.
Trên các tổ chức và diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, Việt Nam và Đức hợp tác hiệu quả và chặt chẽ với nhiều minh chứng sống động. Việt Nam luôn là cầu nối để Đức mở rộng quan hệ hợp tác với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Đức luôn ủng hộ mạnh mẽ mối quan hệ Việt Nam - EU. Năm 2019, với sự ủng hộ tích cực của Đức, Việt Nam và EU đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA). Năm 2020, trên cương vị cùng là Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam là Chủ tịch ASEAN và Đức là Chủ tịch luân phiên của EU, Việt Nam và Đức đã thúc đẩy thành công việc nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược ASEAN - EU và thành lập Nhóm những người bạn của UNCLOS năm 1982, thu hút sự tham gia của hơn 100 quốc gia thành viên.
Về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Xin-ga-po: Với truyền thống tốt đẹp giữa hai nước trong quá khứ, gắn kết bởi sự tương đồng trong văn hóa và lợi ích song trùng ở khu vực và trên thế giới, Việt Nam và Xin-ga-po đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Xin-ga-po Lý Hiển Long vào tháng 9-2013, đặt nền tảng cho những bước phát triển vững vàng và toàn diện trong mối quan hệ này. Khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Xin-ga-po tiếp tục được nhấn mạnh với nội hàm mới vào năm 2022 khi hai nước ra Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác cùng phục hồi sau đại dịch COVID-19.
Điểm sáng trong quan hệ hai nước chính là sự tin cậy, gắn bó và sẻ chia, là nền tảng định hướng cho quan hệ hai nước. Tháng 2-2022, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc là lãnh đạo cấp Nhà nước đầu tiên đến thăm Xin-ga-po sau đại dịch COVID-19 và Việt Nam là quốc gia đầu tiên mà Tổng thống Xin-ga-po Ha-li-ma Y-a-cốp (Halimah Yacob) thăm cấp nhà nước sau khi Xin-ga-po mở cửa trở lại (tháng 10-2022). Trước đó, Chủ tịch Quốc hội Xin-ga-po Tan Chuan-Jin đã thăm chính thức Việt Nam (tháng 5-2022), thể hiện rõ nét nhất thứ tự ưu tiên trong chính sách đối ngoại của hai nước. Nhiều cơ chế hợp tác, như tham vấn hằng năm giữa hai Bộ Ngoại giao, đối thoại quốc phòng đã được xác lập và thực hiện để thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược hai nước.
Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư luôn là điểm nhấn trong quan hệ hai nước. Xin-ga-po hiện là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á. Xin-ga-po đang có hơn 3.000 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam với tổng số vốn đạt hơn 70,16 tỷ USD(16). Dự án Khu công nghiệp Việt Nam - Xin-ga-po (VSIP) được triển khai mạnh mẽ và hiệu quả ở 12 tỉnh, thành phố của Việt Nam, là hình ảnh biểu tượng trong hợp tác kinh tế của hai nước.
Hợp tác quốc phòng - an ninh ngày càng được thúc đẩy với các hoạt động phong phú không chỉ mang ý nghĩa quan trọng đối với hai nước, mà còn nhằm hỗ trợ, ứng phó hiệu quả với các nguy cơ an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống trong khu vực và trên toàn cầu, như phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; chống cướp biển; chống khủng bố;... Tháng 3-2016, Xin-ga-po là nước đầu tiên cử tàu hải quân RSS ENDURANCE với 81 thủy thủ thăm cảng quốc tế Cam Ranh (Khánh Hòa). Tháng 2-2022, Việt Nam và Xin-ga-po đã ký kết Hiệp định về hợp tác quốc phòng song phương, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ giữa hai nước.
Trên các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, hai nước đã phối hợp hiệu quả và chia sẻ lập trường chung của ASEAN đối với các vấn đề an ninh khu vực, nỗ lực duy trì tinh thần đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN trong các vấn đề khu vực. Ngoài ra, sự kiện Đối thoại Shangri-La hằng năm - một diễn đàn cấp cao về an ninh khu vực châu Á và quốc tế - được tổ chức tại Xin-ga-po là dịp quan trọng để Việt Nam khẳng định quan điểm, lập trường về các vấn đề an ninh khu vực, nhằm góp phần thúc đẩy xây dựng lòng tin và nền tảng để duy trì hòa bình, bảo đảm phát triển.
Đánh giá về quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam
Trên cơ sở những phân tích về lý thuyết, nội hàm và thực tiễn về quan hệ đối tác chiến lược trong quan hệ quốc tế nói chung và của Việt Nam nói riêng, cũng như những phân tích về quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với Trung Quốc, Đức và Xin-ga-po, có thể nhận xét như sau:
Thứ nhất, các khuôn khổ đối tác chiến lược của Việt Nam được chính thức thiết lập thông qua hình thức văn bản chính trị quan trọng là Tuyên bố được ký kết bởi các lãnh đạo cấp cao Việt Nam và lãnh đạo cấp cao các nước. Đối tác chiến lược đầu tiên của Việt Nam được thiết lập với Nga nhân dịp Tổng thống Nga Vla-đi-mia Pu-tin thăm chính thức Việt Nam năm 2001 và hai bên cùng ra “Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga”. Gần đây nhất, tháng 7-2020, nhân dịp kỷ niệm 45 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Niu Di-lân, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cùng Thủ tướng Niu Di-lân Gia-xin-đa A-đơn (Jacinda Ardern) đã ký kết “Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam - Niu Di-lân”.
Thứ hai, các khuôn khổ đối tác chiến lược của Việt Nam đều hướng tới các mục tiêu quan trọng, lâu dài, có tầm chiến lược và ý nghĩa quan trọng đối với mỗi bên. Điều thường được nhấn mạnh đầu tiên trong các văn bản thỏa thuận về khuôn khổ đối tác chiến lược Việt Nam và các nước là mục tiêu làm sâu sắc hơn sự hiểu biết và lòng tin cậy lẫn nhau thông qua các hoạt động, như thường xuyên trao đổi các đoàn lãnh đạo cấp cao, bao gồm cả các chuyến thăm chính thức song phương và tiếp xúc bên lề các diễn đàn quốc tế và khu vực; hình thành các cơ chế hợp tác đa dạng giữa các cơ quan Đảng, các bộ, ngành thuộc Quốc hội, Chính phủ và các địa phương hai nước.
Thứ ba, các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam mang tính toàn diện và linh hoạt bao gồm các hợp tác trên nhiều lĩnh vực, như chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, khoa học - công nghệ, văn hóa,... Tuy nhiên, tùy thuộc vào thế mạnh và mong muốn của mỗi nước mà các lĩnh vực có thứ tự ưu tiên khác nhau. Ví dụ, trong quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với Đức, Nhật Bản,... Việt Nam và các đối tác tập trung khai thác hợp tác thúc đẩy đầu tư, chuyển giao khoa học - công nghệ, thương mại, viện trợ phát triển,... Với Niu Di-lân, hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp đóng vai trò then chốt. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam (tháng 11-2022), Thủ tướng Niu Di-lân Gia-xin-đa A-đơn đã nhấn mạnh, với thế mạnh và truyền thống trong sản xuất và xuất khẩu lương thực, Niu Di-lân và Việt Nam là đối tác “trời sinh” trong lĩnh vực nông nghiệp và cả hai cam kết thúc đẩy quan hệ đối tác trong lĩnh vực quan trọng này. Trong quan hệ với Nga, Việt Nam ưu tiên các lĩnh vực mà Nga đã có quan hệ hợp tác truyền thống và thế mạnh như quốc phòng - an ninh. Tương tự, quan hệ trong lĩnh vực quốc phòng là một trong các lĩnh vực ghi nhận nhiều bước phát triển có ý nghĩa trong quan hệ chiến lược Việt Nam - Ấn Độ.
Thứ tư, các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam, mặc dù được thiết lập song phương, nhưng bao gồm cả những nội hàm đa phương quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam và các đối tác phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn khu vực và quốc tế, góp phần giải quyết các vấn đề toàn cầu, như biến đổi khí hậu, đói nghèo, bất bình đẳng và đóng góp vào duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Các khuôn khổ đối tác chiến lược, toàn diện chính là điều kiện thuận lợi để Việt Nam và các đối tác tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thống nhất quan điểm, phối hợp lập trường tại các tổ chức và diễn đàn đa phương từ cấp độ khu vực (ASEAN, APEC) đến liên khu vực (Diễn đàn hợp tác Á - Âu - ASEM) và toàn cầu (Liên hợp quốc, WTO).

Thứ năm, mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam đã và đang mang lại nhiều kết quả có ý nghĩa cho Việt Nam trên các phương diện duy trì an ninh, phát triển kinh tế và nâng cao uy tín, vị thế của đất nước. Về an ninh, thông qua các cơ chế trong quan hệ đối tác chiến lược với các nước, căng thẳng, bất đồng và tranh chấp đã và đang được các bên liên quan kiềm chế, xử lý phù hợp; các vấn đề bảo vệ chủ quyền và biên giới lãnh thổ đang được bảo đảm. Về kinh tế, số liệu về đầu tư và thương mại giữa Việt Nam với phần lớn đối tác chiến lược là tích cực và khả quan. Trong 5 tháng đầu năm 2022, trong tổng số 79 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Xin-ga-po đang đứng đầu với tổng số vốn đạt gần 3 tỷ USD, chiếm 25,3% tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam; tiếp đến là Hàn Quốc, với trên 2,06 tỷ USD(17). Về vị thế, trên các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, Việt Nam không chỉ là một thành viên tích cực và có trách nhiệm, mà còn là nước chủ động, tham gia đề xuất các sáng kiến, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và ủng hộ. Trên cương vị là thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Việt Nam đề xuất một số văn kiện và đã được thông qua, như Nghị quyết về gia hạn các cơ chế tòa án còn tồn đọng và bảo vệ kết cấu hạ tầng thiết yếu; Tuyên bố Chủ tịch về tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, tăng cường quan hệ giữa Liên hợp quốc với các tổ chức khu vực trong thúc đẩy xây dựng lòng tin và giải quyết hậu quả bom mìn; Tuyên bố báo chí về vụ tấn công khủng bố ở In-đô-nê-xi-a; Tuyên bố Hà Nội về phụ nữ, hòa bình và an ninh; Ngày quốc tế phòng, chống dịch bệnh (ngày 27-12) hằng năm... Mới đây, Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Chấp hành của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) nhiệm kỳ 2021 - 2025, Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Hội đồng Khai thác bưu chính của Liên minh Bưu chính thế giới (UPU), Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) nhiệm kỳ 2023 - 2027, Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025.
Có thể thấy, xét trên góc độ lý thuyết và thực tiễn, khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược là một dạng thức mới của quá trình hợp tác quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh lạnh với các đặc điểm và nội hàm thuận lợi cho hợp tác quốc tế. Do vậy, mô hình hợp tác này đã dần trở nên thịnh hành và được xem như là một xu hướng triển khai trong chính sách đối ngoại của các quốc gia. Thực tiễn xây dựng và triển khai các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam đã chứng minh tính hiệu quả của những mô hình này. Tuy nhiên, mức độ hiệu quả không giống nhau với tất cả các cặp quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam. Những nghiên cứu về các nội dung khác liên quan, như các nhân tố thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược; cách tiếp cận trong triển khai đối tác chiến lược của Việt Nam; phân tích, đánh giá sâu về từng cặp quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam... cần tiếp tục được tiến hành để gợi mở những điều chỉnh và bổ sung trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới./.
------------------------------
(1) Lucyna Czechowska - Andriy Tyushka - Agata Domachowska - Karoline Gawron-Tabor - Joanna Piechowiak-Lamparska: States, Organizations and Strategic Partnerships (Tạm dịch: Các quốc gia, tổ chức và quan hệ đối tác chiến lược), Nxb. Edward Elgar Publishing, 2019
(2) Thomas S. Wilkins: “Russo-Chinese Strategic Partnership: A New Form of Security Cooperation?” (Tạm dịch: Quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung Quốc: Một hình thức hợp tác an ninh mới?), Tạp chí Contemporary Security Policy, ngày 10-9-2008, https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/13523260802284365
(3) Đối ngoại kênh 1 - kênh đối ngoại chính thức của Nhà nước với hình thức chủ yếu là đàm phán, thương lượng; đối ngoại kênh 2 - chủ thể là các chuyên gia, học giả, viện nghiên cứu (think-tanks)
(4) Vidya Nadkarni: Strategic Partnerships in Asia: Balancing without alliances (Tạm dịch: Quan hệ đối tác chiến lược ở châu Á: Cân bằng mà không cần liên minh), Nxb. Routledge London và New York, 2010, tr. 48
(5) Nguyễn Vũ Tùng - Hoàng Anh Tuấn: Quan hệ đối tác chiến lược trong quan hệ quốc tế, Học viện Quan hệ quốc tế, 2006, tr. 49 - 50
(6) Renard, T.: “The EU and its strategic partners: a critical assessment of the EU’s strategic partnerships” (Tạm dịch: Liên minh châu Âu và các đối tác chiến lược: Đánh giá quan trọng về quan hệ đối tác chiến lược của Liên minh châu Âu), trong S. Biscop - R. G. Whitman (Chủ biên): The Routledge Handbook of European Security (Tạm dịch: Sổ tay Routledge về an ninh châu Âu), Nxb. Routledge London và New York, 2013, tr. 302 - 314
(7) Xem: Lê Thế Mẫu: “Nhận diện quan hệ đối tác chiến lược trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 8-8-2016, http://tapchiqptd.vn/vi/binh-luan-phe-phan/nhan-dien-quan-he-doi-tac-chien-luoc-trong-ky-nguyen-toan-cau-hoa-va-hoi-nhap-quoc-te/9196.html
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 119
(9), (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 112
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 163
(12) Trung Quốc là quốc gia láng giềng, nước lớn và là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Đức là quốc gia có trị trí quan trọng hàng đầu trong Liên minh châu Âu; Xin-ga-po là quốc gia Đông Nam Á, thành viên trong Cộng đồng ASEAN
(13) Xem: Phạm Sao Mai: “Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa hết sức quan trọng”, Đài Truyền hình Việt Nam điện tử, ngày 30-10-2022, https://vtv.vn/chinh-tri/chuyen-tham-trung-quoc-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-co-y-nghia-het-suc-quan-trong-20221030090608468.htm
(14) Xem: Tuấn Trang: “Việt Nam - Trung Quốc: Duy trì đà phát triển ổn định và tích cực”, Báo Thế giới và Việt Nam điện tử, ngày 26-10-2022, https://baoquocte.vn/viet-nam-trung-quoc-duy-tri-da-phat-trien-on-dinh-va-tich-cuc-203389.html
(15) Nghị định thư phân giới cắm mốc trên đất liền, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới trên đất liền, Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền
(16) Xem: Thông tấn xã Việt Nam: “Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Xin-ga-po đạt hiệu quả cao”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 17-10-2022, https://dangcongsan.vn/multimedia/infographic/quan-he-doi-tac-chien-luoc-viet-nam-singapore-dat-hieu-qua-cao-622112.html
(17) Xem: Cục Đầu tư nước ngoài: “Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 5 tháng đầu năm 2022”, Trang Thông tin điện tử đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, ngày 7-6-2022, https://fia.mpi.gov.vn/Detail/CatID/457641e2-2605-4632-bbd8-39ee65454a06/NewsID/901567d4-a6da-4326-a223-830ce1ebdd05/MenuID
BÁC BỎ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
“Tư tưởng
Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều
kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc
ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành
thắng lợi.”; quan điểm này đã được Đảng ta khẳng định trong văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XI, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những
nguồn gốc rõ ràng, mang tính cách mạng và khoa học; được Đảng ta xác định là nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Tuy
nhiên, gần đây ở trong nước và nước ngoài, một số người nêu danh “nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh”, đã truyền bá luận điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ
nghĩa dân tộc. Họ giải thích tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng cách mạng giải
phóng dân tộc, không có tư tưởng đấu tranh giai cấp, không có tư tưởng về cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Từ sự nhận thức phiến diện, họ rút ra kết luận:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập
với chủ nghĩa Mác - Lênin vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn chủ
nghĩa Mác - Lênin là lý luận đấu tranh giai cấp.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập
với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa
dân tộc, còn đường lối của Đảng là theo tư tưởng đấu tranh giai cấp “tả khuynh”
của Quốc tế Cộng sản và của lãnh tụ các Đảng cộng sản lớn.
Thông qua lịch trình hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những điều chỉnh Người nói về tư tưởng của
mình, chúng ta hãy xem luận điểm trên có phải là “tìm tòi sự thật” hay là sự
xuyên tạc lịch sử?
Hồ Chí Minh sinh ra trong một
gia đình nhà nho nghèo, nghĩa tình nhân đức và thiết tha yêu nước. Người được
chứng kiến sự tàn bạo của thực dân, phong kiến và bản thân cũng lớn lên trong
khổ đau, hoạn nạn. Vì thế, Hồ Chí Minh sớm có lòng yêu nước, thương dân. Hồ Chí
Minh khâm phục tinh thần xả thân vì nước của các bậc tiền bối trong cuộc khởi
nghĩa của Hoàng Hoa Thám, trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong
trào Duy Tân của Phan Chu Trinh... nhưng với nhãn quan chính trị độc lập và
sáng suốt, Người không tán thành con đường cứu nước của các cụ vì mỗi con đường
đó đều có hạn chế, khó có thể đi đến thành công. Hồ Chí Minh đi tìm con đường cứu
nước mới với hành trang chỉ là chủ nghĩa yêu nước truyền thống và một trí tuệ mẫn
tiệp. Trải qua gần mười năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, nung nấu chí hướng cứu
nước cứu dân, vừa lao động cùng những người anh em chung cảnh ngộ, vừa hoạt động
cách mạng, vừa học hỏi các tư tưởng mới..., nhận thức của Hồ Chí Minh chuyển biến
từng bước. Mùa thu năm 1920, Hồ Chí Minh được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương của Lênin chỉ rõ
cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô
sản. Đó là chân lý của thời đại, là giải đáp tuyệt vời điều Hồ Chí Minh đang
trăn trở, tìm tòi. Từ đây, Hồ Chí Minh xác định muốn cứu nước và giải phóng dân
tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Cũng từ đây, Hồ Chí
Minh tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết bất hủ chỉ ra con đường giải
phóng giai cấp vô sản và các giai cấp lao động khác, giải phóng các dân tộc bị
áp bức, giải phóng con người, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng
sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Sự chuyển biến tư tưởng từ
chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước theo lập trường giai cấp
vô sản là một quá trình hợp quy luật. Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng coi việc
chủ nghĩa yêu nước truyền thống Hồ Chí Minh bắt gặp chữ nghĩa Mác - Lênin là cuộc
“hẹn gặp lịch sử”, hoàn toàn không phải như có người cố tình xuyên tạc rằng đó
là một sự lai ghép cưỡng bức, vội vàng giữa cái cây truyền thống với cái mầm
ngoại nhập”, tạo thành một “ảo ảnh”, mang “tính chất huyền diệu”... !
Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã viết về quá trình đó như sau:
Lúc đầu, chính là chủ nghĩa
yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo
Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận
Mác- Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và
những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Tiếp thụ
chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không thụ động, mà dùng lập trường, quan điểm,
phương pháp Mác - Lênin, vận dụng và phát triển những nguyên lý, quy luật chung
của cách mạng thế giới vào đặc điểm tình hình các nước thuộc địa, trong đó có
Việt Nam. Những luận điểm về chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi, tính
chủ động và khả năng thành công trước của cách mạng thuộc địa, nội dung chủ yếu
của cách mạng thuộc địa, quy luật thành lập Đảng ở các nước thuộc địa, v.v...là
những cống hiến lý luận to lớn của Hồ Chí Minh đối với phong trào cách mạng giải
phóng dân tộc trên thế giới.
Ngay từ năm 1924, Hồ Chí
Minh đã khẳng định đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân
tộc là động lực lớn của đất nước”. Phải chỉ rõ rằng Hồ Chí Minh đánh giá cao động
lực của chủ nghĩa dân tộc, nhưng chủ nghĩa dân tộc theo quan niệm của Hồ Chí
Minh không phải là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường phong kiến hay tư sản, mà
đây là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường vô sản.
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu kỹ
các cuộc cách mạng trên thế giới, đánh giá tính chất từng cuộc cách mạng ở từng
nước, để tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Với cách mạng Mỹ, Người
cho rằng: “Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng, giời sinh ra ai cũng có quyền
tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng... Hễ Chính phủ
nào mà có hại cho dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi, và gây nên Chính phủ
khác. Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mạng, ai đụng
đến Chính phủ. Về cách mạng tư sản Pháp, Người chỉ rõ: “tư bản nó dùng chữ Tự
do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ
phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân. Cách mệnh Pháp cũng
như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là
cộng hoà và dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức
thuộc địa. Với Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và thành công đến
nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không
phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An
Nam. Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công,
nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mạng để đập đổ tất cả đế
quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Người xác định cách mạng Việt Nam phải
đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười. Với tác phẩm Đường cách mạng thì đường
lối cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã được xác định về cơ bản.
Trong những năm 20 thế kỷ
XX, Hồ Chí Minh ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân
và phong trào yêu nước để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Cùng với việc truyền
bá chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã chuẩn bị về đường lối cho cách mạng Việt
Nam. Theo Hồ Chí Minh, nước ta từ khi Pháp xâm lược đã trở thành một nước thuộc
địa nửa phong kiến. Trong xã hội đó, chứa đựng cả mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn
giai cấp nhưng mâu thuẫn dân tộc nổi lên gay gắt nhất, giải phóng dân tộc là mục
tiêu cơ bản và trước hết, chống đế quốc và tay sai giải phóng dân tộc đã đã bao
hàm nội dung giải phóng giai cấp nhưng chưa triệt để. Muốn củng cố thành quả của
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng
con người, phải thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Nếu nước
độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có
nghĩa lý gì” và chủ trương: “chúng ta đã hy sinh làm cách mạng, thì nên làm cho
đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều,
chớ để trong tay một số ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng
mới được hạnh phúc”. Chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là một xã hội mọi người
dân đều có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do; đất nước được hoà bình, thống nhất,
độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là
nội dung nổi bật và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng:
con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống,
được kết hợp với tư tưởng cách mạng tiên tiến Mác - Lênin trở thành tư tưởng giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người ở Việt Nam theo lập
trường giai cấp công nhân.
Đầu năm l930, Hồ Chí Minh
triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng. Người trình bày dự thảo Chánh
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, được Hội nghị của Đảng thông
qua, trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Tuy còn “vắn tắt” nhưng cương lĩnh
đã nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng
tuy mới là “vắn tắt”, nhưng đã bao quát được những vấn đề có ý nghĩa định hướng
về chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Nội dung Cương lĩnh vừa thấm
nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với hoàn cảnh và
yêu cầu của cách mạng Việt Nam.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng
ta đã lấy chủ nghĩa - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Song
có thời gian do hạn chế về nhận thức, nên một số đồng chí không quán triệt đầy
đủ tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng của Hội nghị thành lập Đảng. Từ năm 1936,
nhất là từ Hội nghị Trung ương sáu tháng 11 - 1939 đến Hội nghị Trung ương tám
tháng 5 - 1941, đường lối cách mạng của Đảng ta đã trở lại quán triệt tư tưởng
Hồ Chí Minh và từ đó đường lối của Đảng ta luôn luôn thấm nhuần tư tưởng của
Người.
Bằng nhãn quan chính trị sắc,
Đại hội XIII của Đảng vẫn tiếp tục khẳng định phải “kiên định chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng
tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”[1]
Những sử liệu trên, dù mới
chỉ được dẫn ra chưa đầy đủ và còn sơ lược, cũng đã chứng tỏ những luận điệu
như: tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa dân tộc, không có nội dung đấu tranh
giai cấp; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ
Chí Minh đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam... chỉ là một sự bóp
méo sự thật, xuyên tạc lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối. Hơn
bao giờ hết, mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ra sức bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh,
làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh ngày cảng trường tồn và phát triển.
[1]
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện
ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG Sự tật, Tập 1, tr.40
VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG, KIÊN QUYÊT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO, GÓP PHẦN GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC
Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận cấu
thành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn
bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa; đồng thời, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng
thủ hướng đông của đất nước. Kế thừa và phát triển truyền thống dựng và giữ nước
của dân tộc, nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của
biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều chủ trương, chính sách về biển, đảo. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước
ta là quản lý, khai thác đi đôi với bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền,
quyền tài phán quốc gia trên biển, làm cho đất nước giàu mạnh.
Quán triệt sâu sắc chủ trương, quan
điểm của Đảng về biển, đảo Việt Nam, cùng với công tác tuyên truyền, đấu tranh
trên thực địa và chính trị, công tác đấu tranh trên mặt trận đối ngoại đã được
thực hiện một cách chủ động, kiên quyết và kiên trì, góp phần bảo vệ vững chắc
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Trong công tác đối ngoại, Việt Nam đã
chủ động nêu vấn đề Biển Đông trong các cuộc tiếp xúc ở tất cả các cấp với nhiều
nước, tại các diễn đàn đa phương như Hội nghị các cấp ASEAN, Diễn đàn an ninh
khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc
phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng
(ADMM+) và các hội nghị quốc tế khác.
Chủ động xây dựng và lưu hành tại
Liên hợp quốc các tài liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ và phản đối các hành động sai trái, xâm phạm chủ
quyền biển, đảo Việt Nam. Các hoạt động ngoại giao kênh học giả được triển khai
đa dạng và đồng bộ; các cuộc hội thảo thu hút hàng trăm học giả, nhà nghiên cứu
hàng đầu về Biển Đông.
Ngay khi có những tình huống nảy
sinh trên biển, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt
Nam, chúng ta đã chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh với các bên liên
quan để bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia Việt Nam ở Biển Đông. Vụ việc
Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan Hải Dương - 981 (HD981) và các biện pháp
đấu tranh của Việt Nam, trong đó có đấu tranh trên mặt trận ngoại giao là minh
chứng sống động thể hiện quan điểm chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.
Với vị thế là quốc gia hướng biển, có vị thế địa - chính trị, địa
- kinh tế then chốt, nằm ở vị trí xung yếu về mặt trận an ninh, quốc phòng. Việt
Nam có nhiều lợi thế và không ít thách thức trong công cuộc đưa đất nước trở
thành “quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an
toàn” như Chiến lược phát triển bền vững
kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Hội nghị lần
thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Khoá XII đã đề ra.
BỒI DƯỠNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG CHO THẾ HỆ TRẺ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
Thế hệ trẻ trong quân đội là
lực lượng xung kích, đi đầu trong thực hiện nhiệm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây
dựng đất nước trong thời kỳ mới, góp phần to lớn vào sự nghiệp trưởng thành,
chiến thắng của Quân đội, xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh
"Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc
lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng
vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".
Thông qua lời dạy của Bác Hồ
đã toát lên lập trường, bản lĩnh chính trị và sức mạnh chiến đấu của Quân đội
ta. Lập trường, bản lĩnh và sức mạnh đó được thể hiện cụ thể ở danh hiệu mà
nhân dân đã tặng cho quân đội ta là: "Bộ đội Cụ Hồ". "Bộ đội Cụ
Hồ" là bộ đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; là một di sản,
một giá trị tinh thần và đạo đức cao quý, một thành tựu tốt đẹp mà lớp lớp các
thế hệ cha anh đã dày công vun đắp, xây dựng. Thế hệ trẻ quân đội ngày nay phải
luôn luôn trân trọng, học tập và phát huy tinh thần truyền thống đó trong thời
kỳ mới.
Tuy nhiên, bên cạnh thực tế
đáng tự hào đó, vẫn còn tình trạng một bộ phận thế hệ trẻ trong quân đội có những
dấu hiệu sa sút ý chí chiến đấu, suy giảm niềm tin, thoái hóa về đạo đức, lối sống,...
làm ảnh hưởng đến bản chất cách mạng trong sáng và uy tín của “Bộ đội Cụ Hồ”.
Trong khi đó, ở một số đơn vị, có lúc, có nơi, việc chăm lo vun đắp bản chất, truyền
thống cách mạng cho thế hệ trẻ bị xem nhẹ hoặc thiếu tính hiệu quả.
Trong giai đoạn hiện nay,
nhiệm vụ chính trị của quân đội ta có bước phát triển mới. Quân đội thực hiện
các chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất, đội quân công
tác và làm nhiệm vụ quốc tế trong hoàn cảnh mới khác rất nhiều với giai đoạn
cách mạng trước đây. Đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, vừa đứng trước những
thời cơ, vận hội, vừa phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Mặt trái của
kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tác động rất mạnh đến nhận
thức, tâm tư, tình cảm của từng người. Sự giao thoa văn hóa giữa môi trường
quân đội với bên ngoài bên cạnh yếu tố tích cực cũng không tránh khỏi ảnh hưởng
tiêu cực từ những dòng văn hóa xấu độc, xa lạ với bản chất, truyền thống văn
hóa của dân tộc nói chung và của quân đội nói riêng. Hơn nữa, quân đội ta còn
là một đối tượng chủ yếu trong chiến lược "diễn biến hoà bình" của
các thế lực thù địch. Âm mưu “phi chính trị hóa" quân đội của chúng thực
chất là nhằm triệt tiêu bản chất, truyền thống cách mạng, vô hiệu hóa vũ khí
chính trị - tinh thần sắc bén, từ đó vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội
ta.
Phát huy bản chất truyền thống
của Quân đội, trước những khó khăn, thách thức, những năm qua quân đội ta vẫn
phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của mình, xứng đáng là lực lượng chính
trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Cán bộ, chiến sĩ quân đội vẫn luôn luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ
nhất, sát cánh cùng cấp uỷ đảng, chính quyền và nhân dân các địa phương làm thất
bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng nhân dân xây
dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đẩy mạnh sản xuất, xoá đói giảm nghèo, phòng
chống thiên tai, bão lũ,... Những hành động đó đã làm ngời sáng thêm bản chất
cách mạng của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.
Vì vậy, việc chăm lo xây dựng,
bồi dưỡng bản chất cách mạng cho thế hệ trẻ trong quân đội là một yêu cầu vừa
mang tính thường xuyên, lâu dài, vừa là đòi hỏi bức thiết, trước mắt, mà tổ chức
Đảng, người chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp đều phải hết sức quan tâm.
Trước hết, cần tiếp tục đẩy
mạnh công tác giáo dục chính trị - tư tưởng nâng cao lòng yêu nước, giáo dục
sâu sắc lòng yêu CNXH, đưa tình cảm cao quý đó lên một tầm cao mới - yêu Tổ quốc
Việt Nam độc lập, thống nhất, XHCN. Giáo dục các quân nhân lòng trung thành vô
hạn và niềm tin không gì lay chuyển được vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân
dân đã lựa chọn; giữ gìn và phát huy tinh hoa bản sắc dân tộc. Đó là quá trình
xây dựng làm cho thế hệ trẻ quân đội nắm vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của
Quân đội nhân dân trong thời kỳ mới; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất toàn vẹ lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ CNXH, bảo vệ sự
nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia
dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ
gìn sự ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát triển đất nước theo định
hướng XHCN. Mục tiêu trên đây phản ánh sự thống nhất biện chứng giữa quyền lợi
giai cấp và quyền lợi dân tộc, giữa độc lập dân tộc và CNXH, giữa dân tộc và quốc
tế. Để có được bản chất cách mạng trên, lãnh đạo và chỉ huy các cấp cần chăm lo
giáo dục để thế hệ trẻ quân đội luôn luôn đứng vững trên nền tảng chính trị của
Đảng, bảo vệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong bối cảnh hiện nay,
giáo dục chính trị - tư tưởng phải luôn bám sát sự phát triển mới của thực tiễn
cách mạng, chú trọng đi sâu phân tích để cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đầy đủ
hơn về thời cơ và nguy cơ, nhất là những khó khăn, thách thức đặt ra đối với đất
nước, quân đội, trực tiếp là đối với thế hệ trẻ trong quân đội, từ đó chủ động
ngăn ngừa những tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, cảnh giác trước mọi
âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược " diễn biến hoà bình" của các thế lực
thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội ta. Phải coi trọng đấu tranh trên mặt
trận tư tưởng - văn hóa, phê phán sâu sắc những quan điểm sai trái, những luận
điệu tuyên truyền lừa bịp của các thế lực phản động, thù địch; đấu tranh, uốn nắn
kịp thời những nhận thức lệch lạc, những hành vi và thói quen không phù hợp với
bản chất cách mạng và truyền thống vẻ vang của quân đội.
Giáo dục bản chất, truyền thống
quân đội phải gắn liền với giáo dục lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử quân
đội, lịch sử và truyền thống đơn vị, đồng thời coi trọng giáo dục truyền thống
địa phương, nơi sinh trưởng của cán bộ, chiến sĩ và nơi đứng chân của đơn vị. Bởi
lẽ quá khứ, hiện tại và tương lai là một dòng chảy liên tục. Tuy nhiên, giáo dục
không phải chỉ để ca ngợi quá khứ, mà như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói,
phải làm cho quá khứ sống lại đẹp đẽ hơn bao giờ hết trong bản anh hùng ca của
hiện tại.
Giáo dục truyền thống cần
coi trọng giáo dục gương đấu tranh cách mạng của các đảng viên tiền bối và
gương chiến đấu của các anh hùng, dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Đặc
biệt là cần học tập tấm gương và cuộc đời hoạt động của Bác Hồ, đây là một yêu
cầu cấp thiếp đối với sự nghiệp giáo dục, rèn luyện các thế hệ cán bộ,
chiến sĩ quân đội, phù hợp với nguyện vọng và tình cảm thiêng liêng của quân đội
ta đối với Bác. Vì Người là kết tinh những giá trị tinh thần, văn hóa của nhân
dân ta, dân tộc ta qua suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Ở
Bác, tinh hoa của dân tộc được kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin - đỉnh
cao của tư tưởng nhân loại trong thời đại mới. Người là tấm gương tuyệt vời về
chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến
nhân dân, chí công vô tư, khiêm tốn giản dị... thực hiện tốt những yêu cầu nội
dung giáo dục đó, mới động viên và khơi dậy được mạnh mẽ lòng tự hào dân
tộc, tình cảm thiêng liêng gắn bó của thế hệ trẻ quân đội đối với Đảng, với
lãnh tụ, với quân đội và đơn vị mình, từ đó củng cố quyết tâm phấn đấu hoàn
thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Cùng với giáo dục chính trị
- tư tưởng, giáo dục lịch sử, truyền thống, phải coi trọng trau dồi
thường xuyên về đạo đức cách mạng cho bộ đội. Bởi lẽ, nhịp sống trong cơ chế thị
trường tác động rất mạnh đến thị hiếu, tác phong, lối sống, đạo đức của tuổi trẻ.
Hiện nay, do cơ cấu giai cấp trong xã hội có sự phát triển, xuất thân của cán bộ,
chiến sĩ trong quân đội cũng biến đổi theo, vì vậy nhận thức, tư tưởng của mỗi người
cũng đa dạng, phức tạp hơn. Thậm chí, so với trước đây, ngày nay sự nhìn nhận,
đánh giá về nhân cách, phẩm giá của con người cũng có những thay đổi, phát triển
mới. Tuy nhiên, không vì thế những giá trị đạo đức truyền thống như: chủ nghĩa
tập thể, tinh thần sống mình vì mọi người, trọng danh dự, tình đồng chí đồng đội,
"đồng cam cộng khổ", sẵn sàng nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn
về mình, v.v., từng được bao thế hệ cán bộ chiến sĩ trân trọng giữ gìn, lại bị
coi nhẹ hay hạ thấp đi. Ngày nay, quân đội ta vẫn còn khó khăn, thiếu thốn; còn
phải tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ không kém phần gay go, phức tạp, thậm
chí phải đổ máu, hy sinh vì lợi ích Tổ quốc và nhân dân. Để làm được nhiệm vụ
đó, cần luôn quán triệt quan điểm" xây đi đôi với chống"; tích cực đấu
tranh với những biểu hiện chạy theo cuộc sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, coi
vật chất, lợi ích cá nhân, cụ bộ nặng hơn danh dự, nhân cách quân nhân. Kỷ
luật quân đội phải được tôn trọng và duy trì nghiêm túc, tự giác, không dung thứ
cho những hành vi trái với luật pháp và điều lệnh quân đội. Việc giáo dục sâu rộng
về đạo đức cách mạng, phong cách Hồ Chí Minh cần phải được tiến hành một
cách rộng khắp, thường xuyên, sâu sắc đối với thế hệ trẻ trong quân đội.
Để xây dựng bản chất cách mạng
cho thế hệ trẻ trong quân đội, đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp phải luôn
luôn là tấm gương sáng về nhân cách để mọi người noi theo. Thực hiện những
di huấn quý báu của Bác Hồ, người chỉ huy các cấp phải thực sự phấn đấu để có
"trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung", "giàu sang không thể quyến
rũ, uy vũ không thể khuất phục"; người cán bộ chính trị phải thực sự
"thân thiết như người chị, công bình như người anh". Bởi lẽ, thế hệ
trẻ thường học không chỉ trong sách vở, mà chủ yếu học trong đời thường, nhất
là từ đội ngũ đảng viên, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ chính trị trực tiếp tại
đơn vị.
Ngoài ra, để bồi dưỡng bản
chất cách mạng cho thế hệ trẻ trong quân đội, các đơn vị, cơ quan, nhà trường
quân đội, dù đóng quân trên địa bàn nào, cũng cần chú trọng thắt chặt mối liên
hệ với cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương, làm tốt công tác
tuyên truyền, giáo dục thanh niên, tăng cường bồi dưỡng lòng yêu nước XHCN, bản
chất, truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, bản chất, truyền thống của
Quân đội nhân dân cho thế hệ trẻ, tạo điều kiện thuận lợi để thanh niên khi bước
vào quân ngũ có nhận thức đúng, tình cảm tốt đẹp về quân đội, từ đó xác định động
cơ tham gia xây dựng quân đội đúng đắn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao,
góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại”.