Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2023

Bác Hồ trong mắt trẻ thơ tại Không gian văn hóa Hồ Chí Minh trường Mầm non Tuổi thơ 7.

 Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng Trường Mầm non Tuổi thơ 7 (Quận 3) Vũ Đỗ Thúy Hiền -bộc bạch: “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh hay góc sinh hoạt văn hóa của trường là kết quả lao động của tập thể các cô giáo, công nhân viên và sự hỗ trợ của phụ huynh; nhà trường mong muốn xây dựng một môi trường sư phạm thân thiện, mỗi ngày đến trường là một ngày vui và quan trọng là Bác Hồ luôn hiện hữu trong tâm thức trẻ thơ một cách bình dị nhất”.

 

 

Cô Vũ Đỗ Thúy Hiền - Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng trường Mầm non Tuổi thơ 7 (bìa phải) tại buổi ra mắt Không gian văn hóa Hồ Chí Minh.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm đặc biệt, sự quan tâm sâu sắc dành cho các cháu nhi đồng. Với Người, trẻ em như búp trên cành, biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan phải được chăm sóc tận tình, chu đáo về mọi mặt. Tình yêu thương của Bác Hồ dành cho nhi đồng không bao giờ ngơi nghỉ, là tình cảm yêu thương vô bờ bến không gì có thể đong đếm được. Tình yêu của Bác không đơn giản là một tình cảm thông thường. Đó là một tình cảm sâu sắc, rộng lớn xuất phát từ niềm tin rằng các cháu sẽ trở thành lớp người tiếp tục sự nghiệp của cha ông, những người trực tiếp xây dựng đất nước ngày một tươi đẹp hơn.

Nhằm đáp lại lòng mong mỏi của Bác Hồ, làm thế nào để hình thành không gian văn hóa Hồ Chí Minh ngay tại ngôi trường thân yêu, là nơi sinh hoạt truyền thống, đồng thời hình thành những hiểu biết, tình cảm thân thương của các cháu đối với Bác kính yêu luôn được Chi bộ - Ban Giám hiệu trường Mầm non Tuổi thơ 7 tìm hiểu, thảo luận. Nghĩ là làm, bằng sự tìm tòi, quyết tâm, sáng tạo, hiểu về đặc điểm tâm lý của lứa tuổi mầm non cùng hình ảnh trực quan sinh động, phong phú thu hút; các cô giáo đã lên ý tưởng, phát động sưu tầm tài liệu, sách, tranh ảnh, phim tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác, lời dạy của Bác với các tầng lớp Nhân dân.

 Giáo viên tổ chuyên môn sinh hoạt kể mẫu chuyện về Bác Hồ.

 “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” của Trường Mầm non Tuổi thơ 7 được hình thành ở địa điểm thoáng mát, vị trí trang trọng với những hình ảnh chân thực, giản dị về Bác Hồ được các cô giáo trưng bày gồm: sách truyện, tranh ảnh Bác Hồ với các cháu thiếu nhi, Bác Hồ với Nhân dân, hình ảnh nơi Bác sống và làm việc, những vật dùng hàng ngày của Bác… Nhà trường đã ứng dụng công nghệ, đưa “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” lên mạng qua các hình thức: lập trang web, đường link riêng để chia sẻ các hình ảnh, video clip, phim tư liệu về Bác, những lời dạy của Bác cùng những gương điển hình người tốt, việc tốt kết hợp sinh hoạt ngoại khóa, tham quan bảo tàng Hồ Chí Minh... Nhờ đó, cán bộ, giáo viên, nhân viên, phụ huynh và học sinh đều có thể tiếp cận, tìm hiểu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Qua đó, các bé, các cô được thường xuyên tham quan khu trưng bày sách, truyện, những hình ảnh về Bác. Qua từng bức tranh và đặc biệt là những mẩu chuyện về cuộc đời của Bác, các bé, các cô cảm nhận được sự yêu thươngsự giản dị, những lời dạy chân thành sâu sắc của vị lãnh tụ kính yêu. Trong các buổi sinh hoạt Chi bộ, Chi đoàn, tổ chuyên môn, kể chuyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, các cô giáo thường chia sẻ với nhau những câu chuyện kể, bài viết hay về Bác Hồ gắn với liên hệ thực tế của bản thân.

Những câu chuyện về Bác giúp giáo viên rút ra nhiều bài học, đó là sự quan tâm, yêu thương, giúp đỡ, chia sẻ với đồng nghiệp, tận tụy trong công việc, cách quản lý con người, cách xử lý khéo léo các tình huống, biết tiết kiệm, giữ chữ tín, tác phong giản dị, ôn hòa, biết quý trọng thời gian; phê bình việc chưa tốt để xây dựng, tạo đoàn kết cùng nhau tiến bộ...

 Các cháu mầm non tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua tranh ảnh tại lớp.

Riêng các cháu mầm non, hình ảnh Bác Hồ được nhìn thấy hàng ngày mỗi khi đến trường, vào trong lớp học; được các cô giới thiệu, hướng dẫn, dạy các bài hát về Bác, các cháu cảm nhận được phải làm nhiều điều tốt, biết lễ phép với cô giáo, cha mẹ, yêu thương chan hòa, giúp đỡ lẫn nhau, biết cảm ơn, biết xin lỗi, biết giữ gìn vệ sinh, sức khỏe và phải ngoan ngoãn đó là yêu mến, kính trọng Bác Hồ.

Nhìn không gian văn hóa Hồ Chí Minh tại trường Mầm non các con đang học, phụ huynh khi đưa trẻ đến trường hay chờ đón bé thỉnh thoảng dành thời gian dừng lại tham quan, lắng đọng tìm hiểu về vị Chủ tịch kính yêu, soi lại bản thân trong công việc, trong cuộc sống, qua cách giáo dục trẻ con hàng ngày. Đâu đó có những hình ảnh, mẫu chuyện đạo đức, lời Bác dạy rất cần thiết để mỗi người tiếp tục rèn luyện “tự soi, tự sửa” hàng ngày.

 Phụ huynh và các con cùng sinh hoạt tại Không gian văn hóa Hồ Chí Minh.

Thật vậy, từ lâu Bác Hồ đã trong trái tim Nhân dân mọi miền đất nước, đặc biệt là người dân sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh - thành phố mang tên Bác. Chủ trương xây dựng Không gian văn hóa Hồ Chí Minh được triển khai đã hơn 02 năm qua, thời gian đầu nhiều tổ chức, đơn vị cũng gặp lúng túng nhưng với tình cảm chân thành, mong muốn giới thiệu, lan tỏa tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác để những giá trị nhân văn thấm sâu vào môi trường sư phạm, tạo động lực cho sự phát triển, cô - trò trường Mầm non Tuổi thơ 7 đang từng bước hiện thực hóa với những kết quả tích cực.

Cô Vũ Đỗ Thúy Hiền - Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng bộc bạch: “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh hay góc sinh hoạt văn hóa của trường là kết quả lao động của tập thể các cô giáo, công nhân viên và sự hỗ trợ của phụ huynh; nhà trường mong muốn xây dựng một môi trường sư phạm thân thiện, mỗi ngày đến trường là một ngày vui và quan trọng là Bác Hồ luôn hiện hữu trong tâm thức trẻ thơ một cách bình dị.

Đổi mới phong cách lãnh đạo của Chính trị viên ở các Lữ đoàn Tăng, Thiết giáp.

 Phong cách lãnh đạo (PCLĐ) của chính trị viên (CTV) phản ánh phong cách lãnh đạo của Đảng, của chủ tịch Hồ Chí Minh, bao gồm tổng hòa thái độ, phương pháp, cách thức giải quyết công việc, sinh hoạt và ứng xử các mối quan hệ công tác trở thành nề nếp ổn định, nhất quán, riêng biệt của chính trị viên được sử dụng để hiện thực hóa chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và cấp mình, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Một buổi huấn luyện tại Trường Sỹ quan Tăng, Thiết giáp. 

Đội ngũ chính trị viên ở các Lữ đoàn Tăng, Thiết giáp trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay là người chủ trì về chính trị, trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức tiến hành và chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp ủy cấp mình về toàn bộ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Cùng với người chỉ huy, CTV là người trực tiếp quán triệt và tổ chức thực hiện đường lối chính trị, quân sự của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên; xây dựng và phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của cán bộ, chiến sĩ; củng cố mối quan hệ đoàn kết quân dân, phát huy bản chất giai cấp công nhân và truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội ngay từ cơ sở. Vì thế, năng lực công tác và PCLĐ của CTV quyết định đến chất lượng, hiệu quả của đơn vị. Do đó, đổi mới PCLĐ của CTV ở các Lữ đoàn Tăng, Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam là một đòi hỏi tất yếu khách quan của quá trình xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị. Nghị quyết Đại hội đại biểu Quân đội lần thứ XI chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp, tác phong công tác khoa học, hiệu quả” (1) góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Để nâng cao chất lượng PCLĐ của CTV ở các Lữ đoàn Tăng, Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay cần thực hiện tốt những nội dung, biện pháp sau:

Một là, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, tổ chức, lực lượng đối với đổi mới PCLĐ của CTV ở các Lữ đoàn Tăng, Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hoạt động đổi mới PCLĐ của CTV ở các Lữ đoàn Tăng, Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, các tổ chức đoàn, hội đồng quân nhân, cán bộ đảng viên trong quân đội. Vì thế, các chủ thể, tổ chức, lực lượng tham gia cần quán triệt, nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng và sự cần thiết, tính tất yếu khách quan phải đổi mới PCLĐ của CTV. Các chủ thể, lực lượng cần nhận thức đầy đủ những thuật lợi, khó khăn của quá trình đổi mới, nâng cao để phát huy vai trò trách nhiệm của mình đối với hoạt động này. Hơn nữa, nâng cao năng lực của các chủ thể, lực lượng trong tổ chức hoạt động đổi mới PCLĐ của CTV; thường xuyên kiên quyết đấu tranh khắc phục những nhận thức đơn giản, hành vi lệch lạc của các chủ thể, lực lượng đối với hoạt động đổi mới PCLĐ của CTV.

Hai là, xác định nội dung phù hợp, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp đổi mới PCLĐ của CTV ở các Lữ đoàn Tăng, Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nội dung đổi mới PCLĐ của CTV cần tập trung vào: sử dụng phương pháp, cách thức giải quyết công việc trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện theo đúng chỉ thị, nghị quyết, quy chế, quy định và quyền hạn được giao; đổi mới cung cách làm việc khoa học, sáng tạo đảm bảo đúng nguyên tắc, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, có tinh thần nhiệt tình, trách nhiệm chính trị cao, quyết đoán, cụ thể, sâu sát trong công tác. Thường xuyên đổi mới thực hành dân chủ, phương pháp vận động thuyết phục, trách nhiệm nêu gương, nói đi đôi với làm; đổi mới văn hóa ứng xử đúng mực, linh hoạt và mềm dẻo trong giải quyết các mối quan hệ công tác và sinh hoạt của chính trị viên trong mọi hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Thường xuyên kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vi phạm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, duy ý chí, nói không đi đôi với làm, nói ít làm nhiều, dân chủ hình thức, bệnh thành tích, chủ nghĩa cá nhân, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn của cán bộ, chiến sĩ.

Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp đổi mới PCLĐ của CTV, nhất là thông qua công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng; phải có quy chế làm việc rõ rang, đúng nguyên tắc; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị ở các đại đội, tiểu đoàn; tổ chức hội thi, hội thao, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm. Thông qua các hoạt động thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị đòi hỏi các chính trị viên phải theo sát phương châm “… sát chức năng, nhiệm vụ, ngắn gọn dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ đánh giá kết quả”.

Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng đối với đổi mới phong cách lãnh đạo của chính trị viên ở các Lữ đoàn Tăng, Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đổi mới PCLĐ của CTV không chỉ bó hẹp trong một chủ thể nhất định mà cần tạo ra sức mạnh tổng hợp, phát huy thế mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong và ngoài đơn vị. Trước hết, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần có chủ trương, biện pháp lãnh đạo “Đổi mới phương pháp, PCLĐ theo hướng tập trung, sâu sát, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả” (2); phát huy dân chủ phải đi đôi với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện đổi mới PCLĐ của CTV; chỉ đạo tự phê bình và phê bình nghiêm túc và rút kinh nghiệm lãnh đạo hoạt động đổi mới kịp thời. Người chỉ huy các cấp phải thường xuyên thông báo, bàn bạc và trao đổi công việc với CTV theo đúng quy định và chức trách nhiệm vụ được phân công; trao đổi, góp ý với chính trị viên về những hạn chế, bất cập trong phương pháp, cách thức, thái độ ứng xử; đồng thời phải thể hiện trách nhiệm, tình cảm, tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau trong công tác, sinh hoạt. Qua đó, mỗi CTV thấy rõ việc trao đổi, tham gia góp ý của người chỉ huy là nhu cầu, nguyện vọng của bản thân cùng giúp đỡ nhau tiến bộ. Từ đó, CTV chủ động, tự giác điều chỉnh, hoàn thiện PCLĐ, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong cung cách làm việc, sinh hoạt nhất là trong giải quyết các mối quan hệ công tác giữa lãnh đạo với quản lý, chỉ huy, điều hành; giữa tập thể và cá nhân. Đồng thời, thông qua việc chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân thực hiện nhiệm vụ hoặc liên hệ phối hợp công tác với cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị bạn đòi hỏi CTV phải mềm dẻo, linh hoạt, cần lắng nghe, tiếp thu, điều chỉnh để hoàn thiện PCLĐ của bản thân, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của chính trị viên trong tự bồi dưỡng, đổi mới phong cách lãnh đạo.

Kết quả đổi mới PCLĐ của CTV ở các Lữ đoàn Tăng, Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam xét đến cùng, có tính quyết định đến chất lượng, hiệu quả là sự nỗ lực phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện để phong cách lãnh đạo ổn định trở thành đặc trưng tiêu biểu của chính trị viên. Do đó, chính trị viên phải đặt ra nhu cầu tất yếu của bản thân để từ đó vận động, phát triển, tự học, tự rèn, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, có khát vọng, có niềm tin vươn lên trong mọi điều kiện hoàn cảnh khó khăn, tập trung mọi nỗ lực cao nhất với thái độ nghiêm túc, cầu thị để tự bồi đắp những yếu tố cấu thành và phẩm chất để hoàn thiện phong cách lãnh đạo của bản thân mình. Muốn vậy, mỗi chính trị viên cần xây dựng và thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự nghiên cứu, rèn luyện phong cách lãnh đạo trong hoạt động thực tiễn ở đơn vị; phải thường xuyên “tự phê bình và phê bình”, phải thận trọng trong từng lời nói, việc làm, kiên quyết khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết của bản thân, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm để hoàn thiện PCLĐ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao, tránh tư tưởng thỏa mãn dừng lại hoặc tự ti, bảo thủ, trì trệ.

Năm là, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện đồng bộ cơ chế, chính sách đối với chính trị viên ở các Lữ đoàn Tăng, Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thường xuyên bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước, quân đội, đơn vị và nguyện vọng chính đáng của đội ngũ chính trị viên sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy bên trong và phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm các chủ thể, tổ chức, lực lượng tham gia đổi mới và sự nỗ lực phấn đấu, rèn luyện PCLĐ của CTV. Vì thế, cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng các cấp cần bổ sung, hoàn thiện và thực hiện đồng bộ cơ chế, chính sách đối với chính trị viên; đặc biệt quan tâm, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của đội ngũ chính trị viên và chính sách hậu phương quân đội, nhất là đội ngũ chính trị viên ở các địa bàn đặc biệt khó khăn, hoặc khi thực hiện các nhiệm vụ đặc thù, phức tạp trong điều kiện khó khăn gian khổ để chính trị viên yên tâm công tác, gắn bó và cống hiến cho đơn vị, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.

TẤT CẢ “VÌ DÂN”!

 

          

 “Không động viên được dân thì kế hoạch hay mấy cũng hỏng, lúc nào mọi kế hoạch đến tận dân, dân thực hiện, lúc đó mới thật là tổng động viên”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn như vậy trong phần kết luận Phiên họp của Hội đồng Chính phủ thảo luận về tình hình thế giới, tình hình quân sự, việc thực hiện chương trình ba tháng đầu năm và ra Nghị quyết về công tác ngoại giao, giáo dục, cải tổ bộ máy tư pháp, giao thông công chính, nội vụ, tổ chức ngày 11-4-1950.

Thực hiện chỉ huấn của Người, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đoàn kết, tập hợp và động viên không chỉ sức mạnh toàn dân tộc mà còn quy tụ được sự ủng hộ của kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, các nước anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo thành sức mạnh tổng hợp để chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập, thống nhất nước nhà. Thành tựu của hơn 30 năm đổi mới, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những kết quả bước đầu của các phong trào: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Quốc gia khởi nghiệp”… những năm qua là một minh chứng về sức mạnh to lớn của các chủ trương, đường lối đúng đắn, hợp lòng dân và được nhân dân đồng tình ủng hộ, đúng như Bác đã khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân…”.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ quân đội thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, tích cực làm tốt công tác dân vận, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; tuyên truyền sâu rộng về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nhân dân hiểu, tin và thực hiện, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới.

Thấu triệt lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị các cấp trong toàn quân chú trọng làm tốt việc nghiên cứu, điều tra, khảo sát thấu đáo đặc điểm, tình hình của đơn vị, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tâm tư, nguyện vọng và khả năng của bộ đội để ban hành nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan liêu, xa rời quần chúng, độc đoán, gia trưởng, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. St


 

Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa tương lai.

 Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại được bàn nhiều, sâu và rộng như hiện nay. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn Tổ quốc lâm nguy; văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất như Đại văn hào Mácxim Goócky đã nói. Điều có ý nghĩa chân lý đó bị chúng ta bỏ quên quá lâu. Hãy trở về với Hồ Chí Minh, con người đã tỏa ra một nền văn hóa tương lai.

 Nhân dân thủ đô Vácxava nhiệt liệt hoan nghênh Hồ Chủ tịch sang thăm nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan năm 1957. (ảnh tư liệu)

Nền tảng để xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam

“Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa tương lai”. Nhận xét đó là của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam năm 1923, lần đầu tiên được tiếp chuyện chiến sĩ quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc. Một trăm năm trôi qua, quan điểm của Ôxíp Manđenxtam vẫn vẹn nguyên giá trị, ngày càng được kiểm chứng rộng rãi, đúng đắn ở Việt Nam và trên toàn cầu.

Từ giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp đặt ách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam. Chúng thống trị về chính trị đồng thời đè nén, nô dịch về văn hóa. Đất nước độc lập trở thành thuộc địa, mất độc lập tự do. Nhân dân không có một chút quyền tự do, dân chủ nào. Nền văn hóa dân tộc vẫn tồn tại nhưng len lỏi trong sự bủa vây, áp bức của kẻ thù, không thể phát triển.

Cách mạng Tháng Tám thành công, đó không chỉ là một cuộc cách mạng về chính trị mà còn là một cuộc cách mạng về văn hóa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân, một kỷ nguyên mới được mở ra cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập, tự do. Nhân dân từ thân phận nô lệ bước lên địa vị người chủ, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân.

Hồ Chí Minh đã kiến tạo một hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Theo Người văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại; có cái gì tốt của văn hóa xưa và nay, Đông và Tây thì ta phải học lấy để tạo ra một nền văn hóa thuần túy Việt Nam hợp với tinh thần dân chủ. Đó là một nền văn hóa của Hồng Bàng, Văn Lang, Âu Lạc, của con Lạc cháu Hồng, con Rồng cháu Tiên. Người nhấn mạnh: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam/ Kể năm hơn bốn ngàn năm/ Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa/ Hồng Bàng là tổ nước ta/ Nước ta lúc đó gọi là Văn Lang”.

Hệ giá trị văn hóa Việt Nam đặt “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”. Giá trị hạt nhân, cốt lõi của văn hóa Việt Nam là yêu nước. Với lòng yêu nước, quyết không chịu nô lệ, nên dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn chúng ta cũng quyết giành cho kỳ được độc lập tự do. Chính nhờ lòng yêu nước mà khi nền tự do độc lập của dân tộc bị uy hiếp, cả dân tộc vùng lên, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Chính nhờ dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước mà khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, cuộn dâng, quét phăng đi lũ cướp nước và lũ bán nước. Giá trị dân tộc của văn hóa Việt Nam được xác định “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.

Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh tỏ rõ yêu nước là giá trị hàng đầu trong bảng thang giá trị văn hóa Việt Nam; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Việt Nam. Nó không chỉ là động lực trong đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cũng là động lực trong xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.

Hồ Chí Minh đã tạo dựng, xây đắp, vun bồi nền văn hóa dân chủ - dân chủ trong Đảng, dân chủ trong nhân dân và trong xã hội. Đây là một trong những nét khác biệt nhất của nền văn hóa tương lai trong suy tư, trăn trở và hành động của Hồ Chí Minh. Theo Người, dân chủ được hiểu dân là chủ và dân làm chủ. Đó hoàn toàn không phải và xa lạ với dân chủ hình thức, dân chủ trang trí. Văn hóa dân chủ theo Hồ Chí Minh là làm sao cho người dân có năng lực làm chủ, biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ, dám nói, dám làm, có quyền làm, có quyền nói; dân chủ là phải dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Người chỉ rõ, chỉ có một nền Cộng hòa Dân chủ thì mới dám khẳng định và thực hiện bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra. Người chỉ rõ, đối với dân ta đừng làm điều gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy, bởi làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành, làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại. Hồ Chí Minh chỉ rõ nước ta là nước dân chủ. Mà Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ.

Chỉ có Đảng chân chính cách mạng, một Đảng mà đảng viên của Đảng không phải vào Đảng để làm quan phát tài mà phải hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân thì mới sẵn sàng làm trâu ngựa, tôi tớ của nhân dân theo tinh thần của Lỗ Tấn: “Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”. Hồ Chí Minh chỉ rõ, chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương, đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Nền văn hóa tương lai mang tầm vóc thời đại

Nền văn hóa tương lai tỏa ra từ Hồ Chí Minh mang chở những giá trị văn hóa vừa có ý nghĩa đối với dân tộc vừa mang tầm vóc thời đại. Đó là những giá trị nhân văn, hợp tác, trách nhiệm.

Hồ Chí Minh là con người mang chở một chủ nghĩa nhân văn sâu nặng, trong sáng, cao cả. Những năm hai mươi Người nghĩ nhiều đến những người cùng khổ, và đến tận cuối đời, Người dặn lại đầu tiên là công việc đối với con người. Ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp, người Mỹ đã tử vong, Hồ Chí Minh thổ lộ trước lòng bác ái rằng máu nào cũng đều là máu, người nào cũng đều là người. Người yêu Tổ quốc và đồng bào mình, cũng yêu Tổ quốc và nhân dân các nước. Đó là một trong những cội nguồn khiến Người muốn đoàn kết, hợp tác với mọi nước dân chủ, không gây thù oán với một ai. Với Người không chỉ đoàn kết trong nước mà còn phải nhận thức và hành động theo tinh thần chúng ta đấu tranh giành độc lập cho dân tộc mình đồng thời cũng mong các dân tộc khác giành được độc lập, bởi “quan sơn muôn dặm một nhà/ Vàng, đen, trắng, đỏ, bốn phương vô sản, bốn biển đều là anh em”.

Hồ Chí Minh là con người luôn đề cao và gắn chặt trách nhiệm với dân tộc và nhân loại. Với dân tộc, Người nhấn mạnh bổn phận chỉ có mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Người chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

Với nhân loại, Người luôn mong muốn một thế giới hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác, tiến bộ và phát triển. Đây là hạt nhân, lõi cốt của văn hóa tương lai, là xu thế lớn của nhân loại. Thế giới nói đến Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là nói tới một người giải phóng dân tộc và đấu tranh cho tự do. Với nhân dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh là con người của hòa bình, hòa giải, công bằng, bình đẳng, luôn đấu tranh cho sự phát triển của đất nước, khu vực và thế giới. Được ghi nhận, tôn vinh là một nhân vật quan trọng và kiệt xuất, Hồ Chí Minh hội tụ nhiều tư tưởng, thể hiện khát vọng của các dân tộc trên thế giới trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự tăng cường, hiểu biết lẫn nhau. Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề văn hóa một cách có ý thức. Người tìm thấy điểm tương đồng, mẫu số chung của Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên là mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Hồ Chí Minh để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, bởi Người góp phần to lớn trong việc chia sẻ sự đa dạng văn hóa, vừa tôn trọng vừa thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau, xóa bỏ những hiểu lầm, định kiến, rào cản giữa các nền văn hóa khác nhau. Với Người, trao đổi và đối thoại giữa các nền văn hóa là công cụ hữu hiệu nhất để kiến tạo hòa bình, hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc. Nhân loại nói về Hồ Chí Minh với tư cách là một người thầy về cuộc sống tiếp thu trong kỷ nguyên toàn cầu hóa của một thế giới hội nhập.

Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa tương lai chính là hệ giá trị văn hóa Việt Nam mà chúng ta đang nghiên cứu, xác định, triển khai xây dựng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nó vừa thuần túy Việt Nam vừa hợp với tinh thần của thời đại./.


NHỮNG CÂU NÓI CỦA BÁC VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG

 


1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người.

2. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

3. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

4. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

5. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.

6. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

7. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.

8. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

9. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

10. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác.St

 

CHIẾN THẮNG THƯỢNG LÀO 1953: BIỂU TƯỢNG CỦA TÌNH ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VIỆT - LÀO!

     Nhân kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Thượng Lào (1953-2023), sáng 13-4, tại TP Sơn La, tỉnh Sơn La, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với tỉnh Sơn La tổ chức Hội thảo khoa học cấp Bộ Quốc phòng với chủ đề: “Chiến thắng Thượng Lào 1953 - Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm”!

Dự Hội thảo có đồng chí Tòng Thị Phóng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội.

Đoàn chủ tịch Hội thảo gồm các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo Hội thảo; Nguyễn Hữu Đông, Bí thư Tỉnh ủy Sơn La, đồng Trưởng ban chỉ đạo Hội thảo. Tham gia đoàn chủ tịch còn có Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Thiếu tướng Phạm Hồng Chương, Tư lệnh Quân khu 2 và Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự. 

Cách đây 70 năm, thực hiện chủ trương tăng cường liên minh chiến đấu của Đảng Lao động Việt Nam và quán triệt sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Kháng chiến Lào quyết định phối hợp mở Chiến dịch Thượng Lào.

Với sự chuẩn bị tích cực, chủ động và tinh thần, ý chí quyết tâm cao, Chiến dịch Thượng Lào diễn ra từ ngày 13-4 đến ngày 3-5-1953. Sau 3 tuần vận động tiến công, truy kích địch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 2.800 quân địch (1/5 tổng số quân địch ở Lào), đánh tan 3 tiểu đoàn và 3 đại đội ở Sầm Nưa, 8 đại đội ở khu vực sông Nậm Hu và hàng trăm tên địch ở mặt trận đường 7 - Xiêng Khoảng; giải phóng 5 vị trí và bức rút 25 vị trí khác; giải phóng khoảng 40 nghìn km2, gồm toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và một số huyện dọc sông Nậm Hu thuộc các tỉnh Louangphabang và Phongsaly.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thượng tướng Lê Huy Vịnh khẳng định: Chiến thắng Thượng Lào năm 1953 góp phần mở rộng địa bàn đứng chân cho lực lượng kháng chiến Lào, nối liền vùng giải phóng và tạo thế chiến lược có lợi cho cách mạng Việt Nam và Lào, củng cố khối đoàn kết thống nhất và liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương, đẩy thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động, lúng túng, mất quyền chủ động chiến lược.

Thắng lợi của Chiến dịch Thượng Lào là thành quả của việc hiện thực hóa phương châm đoàn kết quốc tế “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch của Quân đội và lực lượng vũ trang cách mạng hai nước. Đây là lần đầu tiên kể từ ngày đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào thực hiện thành công một chiến dịch dài ngày và lớn nhất trên chiến trường Lào và giành thắng lợi.

“Chiến thắng đó mãi là mốc son trong tiến trình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, là biểu tượng sinh động của tình hữu nghị thủy chung và liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào; thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tài tình, sáng tạo của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ chỉ huy chiến dịch”, Thượng tướng Lê Huy Vịnh nhấn mạnh./.




Yêu nước ST.

Xây dựng Đảng từ việc nâng cao chất lượng và phát triển đảng viên.

 Những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã tập trung công tác phát triển đảng viên, chú trọng chất lượng kết nạp. Nhờ vậy, kết quả kết nạp đảng viên mới trong toàn Đảng bộ tỉnh có chiều hướng tăng dần theo từng năm, chất lượng đội ngũ đảng viên có chuyển biến tích cực...

Phát triển đảng viên là một yêu cầu khách quan, đồng thời là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng, nhằm bổ sung lực lượng đảng viên có chất lượng, trẻ hoá đội ngũ, bảo đảm tính kế thừa và phát triển của Đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn cách mạng. Xác định tầm quan trọng của công tác này, những năm qua các cấp ủy, tổ chức đảng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã tập trung phát triển đảng viên, chú trọng chất lượng kết nạp. Bằng những giải pháp quyết liệt và hiệu quả nên kết quả kết nạp đảng viên mới trong toàn Đảng bộ tỉnh có chiều hướng tăng dần theo từng năm, chất lượng đội ngũ đảng viên có chuyển biến, trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ ngày càng nâng cao; tỷ lệ đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong tổng số đảng viên mới được kết nạp đạt 71%.

Vượt chỉ tiêu phát triển đảng viên mới

Năm 2020 toàn tỉnh kết nạp 957 đảng viên, năm 2021 kết nạp 1.188 đảng viên, riêng năm 2022 vừa qua, công tác kết nạp đảng viên mới trên toàn tỉnh đạt con số ấn tượng, với 2.472 đảng viên mới, đạt 190% chỉ tiêu đề ra; nâng tổng số đảng viên của toàn Đảng bộ Tỉnh là 62.985 đảng viên. Đây là tiền đề quan trọng, góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu cụ thể đề ra tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Hội nghị Trung ương 5 khoá XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

 Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phan Văn Thắng làm việc với Đảng bộ Công ty Cổ phần
Dược phẩm Imexpharm và mong muốn Công ty tiếp tục tạo cơ hội cho người lao động
phấn đấu, nỗ lực đứng vào hàng ngũ của Đảng.

Đồng chí Lê Văn Dư – Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Tỉnh ủy cho biết, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 đặt chỉ tiêu tỷ lệ đảng viên phải chiếm trên 4% dân số tỉnh. Do đó, để đạt chỉ tiêu này, Ban Tổ chức Tỉnh uỷ đã ban hành Kế hoạch và tiến hành khảo sát tại 32 tổ chức cơ sở đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ và các tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc cấp uỷ cấp huyện và tương đương về công tác phát triển đảng viên giai đoạn 2021 - 2025.

Trên cơ sở đó, tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Kế hoạch số 34-KH/TU, ngày 12/8/2021 về kết nạp đảng viên giai đoạn 2021 - 2025 bảo đảm yêu cầu và sát với tình hình thực tiễn của tỉnh.

Từ kế hoạch chung của Tỉnh ủy, các cấp ủy, tổ chức đảng xây dựng kế hoạch cụ thể để tạo nguồn, bồi dưỡng kết nạp đảng viên ở cấp mình. Trong đó, thực hiện chặt chẽ từ khâu rà soát nguồn quần chúng là đoàn viên, hội viên, thanh niên ưu tú, giáo viên, học sinh, sinh viên và cả cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang, người lao động tại doanh nghiệp... để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ, phấn đấu rèn luyện được kết nạp vào Đảng. 

Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng thực hiện tốt công tác kết nạp đảng viên. Điển hình như Đảng ủy cơ sở Trường Đại học Đồng Tháp, bình quân hằng năm, Đảng ủy giới thiệu khoảng 200 lượt quần chúng ưu tú tham gia học lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng. Đối với đối tượng là sinh viên, Đảng ủy đề ra tiêu chuẩn kết nạp cụ thể để các em phấn đấu (về mặt rèn luyện phải đạt từ loại tốt trở lên, điểm học lực trung bình đạt từ 2.8 trở lên - tính theo thang điểm 4 của bậc đại học và phải có Giấy khen hoặc Giấy chứng nhận tham gia các hoạt động phong trào trong hoặc ngoài nhà trường). Từ năm 2020 đến nay Đảng ủy đã kết nạp được 235 đảng viên mới (đạt 53% so với chỉ tiêu đề ra trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 là 440 đảng viên).

Hay như Huyện ủy Cao Lãnh, trong năm 2022 đã kết nạp 178 quần chúng ưu tú vào Đảng, vượt 4,1% kế hoạch được giao.

Huyện ủy Lai Vung vượt xa chỉ tiêu được giao về kết nạp đảng viên mới trong năm 2022. Theo đó, năm 2022, toàn huyện kết nạp mới 239 đảng viên, đạt 159% kế hoạch, nâng tổng số đảng viên toàn huyện là 4.343 đảng viên. Ngay trong ngày kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2023), Huyện ủy Lai Vung đã tổ chức lễ kết nạp đảng tập trung cho 53 đảng viên là những đoàn viên ưu tú.

Trước cờ Tổ quốc, cờ Đảng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh các đảng viên mới đã đọc lời tuyên thệ của đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết tâm phấn đấu để luôn xứng đáng là người đảng viên trung thành, gương mẫu, đóng góp sức mình xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.

 Lê Thị Kiều Nương (sinh năm 1991), giáo viên Trường Trung học cơ sở Định Hòa, huyện Lai Vung, là đảng viên vừa được kết nạp cho biết, được đứng vào hàng ngũ của Đảng là niềm vinh dự của bản thân và càng vinh dự hơn khi được cấp ủy tổ chức lễ kết nạp vào đúng ngày thành lập Đảng, tại di tích lịch sử văn hóa của địa phương.

Bắt đầu 12 tháng thử thách và rèn luyện để trở thành đảng viên chính thức, em sẽ cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ của người đảng viên và công tác chuyên môn được phân công, trong đó có giáo dục cho học sinh những kiến thức bổ ích về lịch sử Đảng, dân tộc - Lê Thị Kiều Nương chia sẻ thêm.

 Đồng chí Võ Hoàng Cương - Bí thư Huyện ủy Lai Vung
trao quyết định kết nạp đảng cho các đảng viên trên địa bàn huyện.

Phấn đấu kết nạp từ 1.890 đảng viên mới trở lên

Năm 2023, toàn tỉnh phấn đấu kết nạp từ 1.890 đảng viên mới trở lên. Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lê Văn Dư cho biết, thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Hội nghị Trung ương 5 khoá XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số 42-CTr/TU, ngày 06/12/2022 về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

Theo đó, tỷ lệ kết nạp đảng viên mới hằng năm trong giai đoạn 2021 - 2025 đạt từ 3 - 4% tổng số đảng viên của Đảng bộ Tỉnh, cụ thể chỉ tiêu kết nạp đảng viên mới năm 2023 từ 1.890 đảng viên đến 2.519 đảng viên. Vì vậy, nhiệm vụ trong năm 2023 và những năm tới là khá nặng nề. Ban Tổ chức Tỉnh ủy sẽ tiếp tục đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên; phối hợp tổ chức hội nghị chuyên đề phát triển đảng viên trong học sinh, sinh viên và khu vực ngoài nhà nước.

Ngoài việc giao chỉ tiêu kết nạp đảng viên cho từng chi bộ, Ban Tổ chức Tỉnh ủy đề nghị cấp uỷ cần chỉ đạo củng cố các tổ chức đoàn thể và đẩy mạnh phong trào thi đua ở cơ sở. Thông qua hoạt động thi đua, phát hiện được các cá nhân điển hình để phân công đảng viên có kinh nghiệm bồi dưỡng, giúp đỡ. Điển hình như trong giai đoạn phòng chống dịch Covid-19, Đồng Tháp đã phát hiện, bồi dưỡng và đã kết nạp được 152 đảng viên trong lực lượng này.

Mặc dù phải nỗ lực đạt chỉ tiêu đề ra, tuy nhiên Đồng Tháp đặt chất lượng đảng viên lên hàng đầu – đồng chí Lê Văn Dư nhấn mạnh và cho biết, trong năm 2023 tỉnh tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên; kịp thời rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không còn đủ tư cách để giữ sự trong sạch của Đảng.

Cùng với kết nạp đảng viên mới, Ban Tổ chức Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm đến việc hạn chế tối đa số lượng đảng viên bị xoá tên, xin ra khỏi Đảng. Trong đó, thí điểm mô hình “Tổ đảng nơi đảng viên đi lao động, làm việc xa nơi cư trú”, để tạo điều kiện cho đảng viên đi lao động, làm việc xa nơi cư trú làm tròn trách nhiệm của đảng viên. Qua đó, nắm tâm tư, nguyện vọng và diễn biến tư tưởng của đảng viên đi làm xa nơi cư trú, kịp thời định hướng đảng viên trước những vấn đề phát sinh.

Không chỉ quan tâm phát triển đảng viên mới, Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp luôn chú trọng phát huy vai trò của đảng viên cao tuổi trong sinh hoạt tại Chi bộ, cũng như các cấp ủy địa phương.

Trong đợt kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2023), Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Tháp quyết định tặng Huy hiệu Đảng cho 181 đảng viên và tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng cho đảng viên được tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng trở lên.

 Bí thư Tỉnh ủy Lê Quốc Phong trao Huy hiệu Đảng cho đảng viên đợt 03/02/2023.

Tổ chức lễ trao Huy hiệu Đảng là hoạt động định kỳ của Tỉnh ủy, đây cũng là dịp để lãnh đạo tỉnh gặp gỡ, tri ân, lắng nghe đảng viên chia sẻ, đóng góp cho công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh – đồng chí Lê Quốc Phong - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp nhấn mạnh. Đồng thời mong muốn các đảng viên cao tuổi Đảng, cao tuổi đời tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm của người đảng viên, là những tấm gương trong cuộc sống, cộng đồng, tổ chức đảng đang sinh hoạt; tham gia tích cực vào công tác giáo dục truyền thống Cách mạng, giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ, đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ để kế thừa, tiếp nối đảm bảo thường xuyên, liên tục.

Bí thư Tỉnh ủy Lê Quốc Phong cho biết, năm 2023, Tỉnh ủy đặt yêu cầu cao hơn đối với xây dựng Đảng bộ, điển hình như tập trung xây dựng Chi bộ 4 tốt, Đảng bộ cơ sở 4 tốt, thực hiện tốt các Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh có đủ về đạo đức, phẩm chất, năng lực để thực hiện các nhiệm vụ Đảng bộ tỉnh đã ban hành.

Bên cạnh đó chú trọng về chất lượng đảng viên, tính tiêu biểu của đảng viên trong cả cuộc sống và trong cả công việc sẽ được Tỉnh ủy tập trung chỉ đạo, để xây dựng Đảng bộ Tỉnh trong sạch, vững mạnh và tiếp tục đạt kết quả ấn tượng trong năm 2023./.

Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi sáng con đường cách mạng Việt Nam!

 


 

Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.

Dù Người đã đi xa nhưng sẽ luôn hiện hữu trong mỗi trái tim của người dân Việt Nam, hình ảnh Tổ Quốc chiến đấu kiên cường, yêu thương, đoàn kết hơn bao giờ hết hiện hữu ngày ngày qua hình ảnh lăng Bác.

Lăng Bác Hồ là tên gọi thân thương của Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để người dân cả nước và du khách quốc tế có thể viếng thăm. Nơi đây đã trở thành không gian thiêng liêng của Hà Nội và cả nước.St

 

SỨC MẠNH TỪ SỰ THẦN TỐC, QUYẾT CHIẾN


Góp phần quan trọng làm nên chiến thắng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đó là sự lãnh đạo hết sức sáng tạo, biết nắm lấy thời cơ của Đảng và quân đội ta. Từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976 đã được rút xuống còn một năm, và từ một năm đã rút xuống còn ba tháng…

Ngay sau khi Tổng thống Mỹ Nixon từ chức liên quan đến vụ nghe trộm điện thoại, Hội nghị Bộ Chính trị đã họp vào cuối tháng 9/1974 xác định: Nhiệm vụ cấp bách lúc này là động viên những nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tiến công và nổi dậy cuối cùng. Sau khi đánh thăm dò và giành chiến thắng lớn trong chiến dịch đường 14, giải phóng toàn tỉnh Phước Long, bên cạnh chiến lược cơ bản 2 năm, Bộ Chính trị còn dự kiến một kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975 khi thời cơ chiến lược xuất hiện.

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. (Trích Mệnh lệnh ngày 7/4/1975 của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi các Bộ Tư lệnh toàn miền Nam).

Chỉ tính trong vòng 1 năm từ đầu năm 1974-1975, Bộ Tổng tư lệnh đã đưa vào chiến trường miền Nam 410.000 lượt người gồm nhiều quân binh chủng và nhiều quân trang, thiết bị, vật tư, lương thực phục vụ chiến đấu. Ngay sau khi quân ta giành thắng lợi vang dội ở mặt trận Tây Nguyên, chính quyền Sài Gòn hoang mang cực độ. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã quyết định rút quân khỏi Kon Tum, Pleiku, rút chạy khỏi Tây Nguyên. Chớp lấy thời cơ chiến lược này, quân ta thừa thắng xông lên, truy kích, giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh duyên hải miền Trung. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhận thấy thời cơ có thể giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975 như dự kiến. Trên nhiều mặt trận, quân địch liên tục suy yếu.

Sau khi giành thắng lợi tại Đà Nẵng và nhiều chiến trường, Bộ Chính trị nhận định: Nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng Tư năm nay, không để chậm. Phải hành động thần tốc, táo bạo và bất ngờ. Phải tiến công ngay lúc địch hoang mang, suy sụp. Ngày 10/4/1975, bộ chỉ huy Chiến dịch Sài Gòn-Gia Định quyết định tập trung lực lượng và binh khí kỹ thuật, phát huy sức mạnh tổng hợp tạo thành thế áp đảo nhanh chóng, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch còn lại, đập tan ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, tạo điều kiện giải phóng miền Nam.

Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị đồng ý đổi tên Chiến dịch giải phóng sài Gòn-Gia Định thành Chiến dịch Hồ Chí Minh. Chiều ngày 26/4/1975, từ năm hướng (Bắc, Đông, Đông Nam, Tây, Tây Nam), các cánh quân đồng loạt nổ súng tiến công, mở màn cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử! Với khí thế tiến công dũng mãnh, áp đảo về lực lượng và thế trận, trưa ngày 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh đã kết thúc với thời gian ngắn nhất trong lịch sử chiến dịch có quy mô lớn nhất từ trước đến nay. St

 

BỘ ĐỘI CỤ HỒ" VÀ KHÁT VỌNG HÒA BÌNH CHO THẾ GIỚI!

 


Là một đất nước từng đi qua chiến tranh, Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình. Bản thân những người lính sinh ra khi đất nước đã im tiếng súng lại càng trân trọng hơn những điều mà thế hệ ngày nay đang được thụ hưởng. Vì vậy những chiến sĩ của lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam luôn ấp ủ trong mình khát vọng được mang màu xanh của hòa bình đến những mảnh đất đầy đau thương vẫn còn bị đạn bom giày xéo.

Chứng kiến tận mắt sự nghèo đói, khổ cực của người dân ở những vùng bị ảnh hưởng nặng nề từ xung đột phe phái và bất ổn chính trị. Với sứ mệnh vô cùng quan trọng và ý nghĩa của những người lính gìn giữ hòa bình.

Điều trăn trở lớn nhất với những người lính "Bộ đội Cụ Hồ" là làm sao để người dân ở Nam Sudan nói riêng và các quốc gia đang còn xung đột trên thế giới sớm được hưởng hòa bình, hạnh phúc. St