Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2023

Một số nhận thức lý luận về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc qua tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 TCCS - Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là quan điểm lý luận lớn của Đảng ta. Trong những tác phẩm công bố gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bổ sung, phát triển lý luận về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc với nhân dân thôn Tháp Thượng, xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội_Ảnh: TTXVN

Dân chủ là bản chất, mục tiêu và động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

“Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ(1). Sự lãnh đạo toàn diện của Đảng là điều kiện tiên quyết để bảo đảm nhân dân làm chủ đất nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nhân dân làm chủ đất nước là đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phương thức, phương tiện quan trọng hàng đầu để Đảng lãnh đạo đất nước và nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thực sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(2). Quyền làm chủ đất nước của nhân dân là bản chất và cốt lõi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh ý chí của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân được pháp luật thừa nhận, khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân, sử dụng hệ thống thể chế để bảo đảm giữ vững lòng dân với tư cách là chủ nhân của đất nước. Đồng chí khẳng định: “bản chất cốt lõi nhất của dân chủ là bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(3). Đây là một luận điểm phản ánh đặc trưng bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đó là: vì nhân dân, lấy nhân dân làm gốc, làm chủ, làm lực lượng quyết định toàn bộ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Luận điểm này được kế thừa từ truyền thống “lấy dân làm gốc”, coi trọng sức dân trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; là sự vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong thời đại mới; phản ánh quan điểm xuyên suốt, thống nhất của Đảng ta với tư cách là lực lượng tiên phong, tiên tiến, lãnh đạo đất nước và xã hội trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Tổng Bí thư chỉ rõ: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”(4).

Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở chỗ, nhân dân có quyền làm chủ, tham gia giải quyết công việc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội,... Chẳng hạn, trong quản lý phát triển xã hội, dân chủ thể hiện rõ nhất ở việc người dân cùng với Nhà nước tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, như việc làm, xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội, phúc lợi công cộng... Người dân chẳng những là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà còn là đồng chủ thể với Nhà nước trong xây dựng, hoạch định chính sách và đánh giá việc thực hiện chính sách. Quy chế Dân chủ ở cơ sở khẳng định vai trò của người dân ở cơ sở: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; đến Đại hội XIII của Đảng bổ sung nội dung “dân giám sát” và “dân thụ hưởng” lợi ích. Người dân được bảo đảm các điều kiện, như bảo đảm dân sinh, dân quyền; nâng cao dân trí; thực hiện dân chủ... Tổng Bí thư thường xuyên nhắc nhở: “Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân, tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, các cấp ủy đảng, các cơ quan nhà nước cần động viên, tổ chức nhân dân tham gia rộng rãi và thường xuyên vào các công việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội... Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân, cấp ủy đảng cần lắng nghe ý kiến nhân dân trước khi quyết định. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát” phải trở thành khẩu hiệu hành động, thành phương châm công tác vận động quần chúng. Phải thực hiện đúng nguyên tắc: Chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và trình độ của nhân dân... nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, có ý thức và thái độ đúng đắn với nhân dân, yêu thương, gần gũi, tôn trọng, lắng nghe nhân dân”(5).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: “Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội”(6); “tạo mọi điều kiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia có hiệu quả vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội”(7). Điều này có nghĩa là, ở phương diện cá nhân, mỗi con người trong tư cách công dân là một con người chính trị, có quyền tham gia vào đời sống chính trị, có quan điểm, chính kiến rõ ràng, có quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin, quyền bảo lưu ý kiến theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phù hợp với pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Đảng, quy định, quy chế của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội mà mình tham gia với tư cách là thành viên. Ở phương diện xã hội, đó là quyền tham gia xây dựng, đánh giá đường lối, chính sách, trong xây dựng thể chế và kiểm soát quyền lực. Bên cạnh đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, dân chủ xã hội chủ nghĩa phải gắn với công bằng và bình đẳng xã hội; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội không chỉ là công bằng, bình đẳng trong phân phối lợi ích, mà còn là công bằng, bình đẳng về cơ hội phát triển dành cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt. Đây là những đặc trưng làm nên sự khác biệt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam so với các nền “dân chủ tự do” khác. Tổng Bí thư phân tích và chỉ rõ: “Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội... Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”(8).

Với những đặc trưng ưu việt đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một chế độ dân chủ thực sự; phản ánh đầy đủ tính pháp lý, tính chính trị và mang tính nhân dân, tính nhân văn sâu sắc. Đó là nền dân chủ “lấy con người làm trung tâm”, “thực sự vì con người”. Chính vì lẽ đó, Tổng Bí thư khẳng định: “xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”(9).

Dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ thực sự được bảo đảm trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Lịch sử phát triển của các thể chế chính trị trên thế giới đã cho thấy, dân chủ là một hình thái tổ chức quyền lực của nhà nước trong lịch sử; do đó, dân chủ có quan hệ mật thiết, không thể tách rời với nhà nước - xét về mặt thiết chế, bộ máy.

Trong lịch sử, một khi đã có nhà nước thì dân chủ tất yếu phải thông qua nhà nước mà bộc lộ ra và được thực hiện. Dân chủ phải được thấm nhuần, thẩm thấu trong mọi tổ chức cơ cấu quyền lực và hệ thống thể chế nhà nước cũng như trong môi trường kinh tế - xã hội và các quan hệ xã hội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra vấn đề mấu chốt của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đó là dân chủ phải được xây dựng trên nền tảng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tổng Bí thư đã phân tích về mối quan hệ giữa dân chủ và nhà nước pháp quyền: “Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân... Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(10)Chính vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, hiệu lực, hiệu quả hơn. Xây dựng Nhà nước về cả lập pháp, hành pháp và tư pháp, gắn với đổi mới hoàn thiện chính quyền các địa phương và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Chú trọng hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện nghiêm pháp luật theo các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp năm 2013”(11). Kế thừa quan điểm mang tính nguyên tắc đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã đề ra mục tiêu: “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả...”(12).

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải tăng cường pháp chế, siết chặt kỷ luật, kỷ cương xã hội. Tăng cường pháp chế và quản lý xã hội bằng pháp luật là nguyên tắc hiến định ở nước ta(13). Thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội là sự cần thiết tất yếu để làm cho xã hội trở nên lành mạnh, có trật tự và kỷ cương, không rơi vào hỗn loạn, tự do, vô chính phủ, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Vì vậy, Tổng Bí thư nhiều lần nhấn mạnh, “phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương (14), “dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Một đất nước không có kỷ cương thì xã hội rối loạn, mất ổn định, như vậy thì đất nước ấy không xây dựng, phát triển được. Cho nên, dân chủ và kỷ cương phải đi liền với nhau. Dân chủ nhưng phải kỷ cương và kỷ cương trên cơ sở phát huy dân chủ” (15), “cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn..., đặc biệt là mối quan hệ mới được bổ sung lần này là mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội(16), “chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức”(17). Quan điểm này được Nghị quyết số 27-NQ/TW nhấn mạnh: “Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế,... giữ vững kỷ luật, kỷ cương, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức”(18).

Cán bộ Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh tuyên truyền pháp luật cho đồng bào ở xã Húc Động, huyện Bình Liêu _Nguồn: baovephapluat.vn

Có thể thấy, các bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện rõ quan điểm nhìn nhận dân chủ về chính trị trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chế độ ủy quyền thông qua bầu cử và các phương thức thực hiện dân chủ, từ dân chủ đại diện đến dân chủ trực tiếp. Nhân dân là chủ thể rộng lớn nhất của Nhà nước và xã hội. Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước với tư cách người chủ, là chủ thể gốc của mọi quyền lực, là chủ thể ủy quyền. Nhà nước là chủ thể tiếp nhận và thực thi sự ủy quyền, dùng quyền lực được nhân dân ủy thác để thực hiện quyền lực của nhân dân. Nhân dân làm chủ bằng Nhà nước là cốt lõi của chế độ dân chủ đại diện. Tổng Bí thư nêu rõ, Nhà nước phải thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, là “cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những công việc hệ trọng của đất nước” (19) và nhấn mạnh: “làm tốt công tác nhân sự, bảo đảm phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ, cơ bản giới thiệu được những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân”(20)Bên cạnh cơ chế dân chủ đại diện, người dân còn thực hiện quyền làm chủ trực tiếp thông qua bầu cử những người đại diện cho mình. Tổng Bí thư tin tưởng, việc bầu cử “là cơ hội để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu, có đức, có tài, xứng đáng đại diện cho nhân dân tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đây cũng là dịp để tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(21).

Có thể nói, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra những mắt xích xung yếu để bảo đảm cho một nhà nước dân chủ thực sự phục vụ nhân dân, đó là: tổ chức của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước cũng như việc đào tạo, lựa chọn, bố trí cán bộ, công chức vào các lĩnh vực chuyên môn của quản lý nhà nước... Tất cả mắt xích này cần phải được luật hóa, thể chế hóa, chế định hóa chặt chẽ, để phòng tránh sự biến dạng và tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực đối với các cơ quan nhà nước và những người làm việc trong các tổ chức, bộ máy công quyền.

Dân chủ phải gắn liền với thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

Dân chủ thực chất sẽ thúc đẩy đoàn kết thực chất. Dân chủ và đoàn kết để đi tới đồng thuận xã hội là nhân tố động lực thúc đẩy phát triển. Nguyên lý này trong thực tiễn đổi mới và phát triển ở nước ta thường được biểu đạt bởi mệnh đề “Ý Đảng - lòng dân - phép nước”. Sự hòa hợp này tạo nên sức mạnh của dân chủ, trở thành động lực của đổi mới, của phát triển, đồng thời dân chủ là mục tiêu của đổi mới, của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đại đoàn kết toàn dân tộc là “sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, Nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, Đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh”(22), là “nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam”(23). Để xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, Tổng Bí thư chỉ rõ: “cần phải thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân. Phải thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở; làm tốt, có hiệu quả phương châm: “dân biết, dân bàn, dân giám sát, dân thụ hưởng””(24). Đảng phải tạo ra môi trường lành mạnh, công bằng, bình đẳng; qua đó, giúp cho tất cả đối tượng có điều kiện, cơ hội phát triển, “không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo”(25). Theo đó, thực hành dân chủ trong Đảng và trong toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở là nền tảng vững chắc để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt nhân, động lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, để phát huy và thực hành dân chủ một cách mạnh mẽ, thực chất, khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần được xây dựng, củng cố trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng chí khẳng định: “Sức mạnh vô địch của Đảng, Nhà nước và chế độ ta là ở nhân dân. Mọi công việc lớn hay nhỏ có làm được hay không đều là do nhân dân, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị... Sự ủng hộ, giám sát, giúp đỡ của nhân dân là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(26). Điều đó có nghĩa là mọi tầng lớp nhân dân có quyền tham gia, giám sát, phản biện tất cả công việc của Đảng và Nhà nước. Muốn vậy, Tổng Bí thư cho rằng, phải “thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, tích cực tham gia các hoạt động giám sát chính quyền, bảo đảm chính quyền thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(27). Thực tiễn đã chứng minh, ở bất cứ quốc gia - dân tộc nào, nếu đảng cầm quyền biết tôn trọng và phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, hay nói cách khác là dân chủ được thực thi, thì ở đó, có sự đồng thuận xã hội cao. Đây chính là biểu hiện đầy đủ nhất của sự đoàn kết dân tộc, đoàn kết xã hội.

Chiến sĩ Tiểu đoàn huấn luyện - cơ động, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu xuống đồng giúp đồng bào thu hoạch lúa_Ảnh: TTXVN

Mặt khác, để phát huy và thực hành dân chủ rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng rất coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên là nơi phản ánh tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân; có vị trí, vai trò quan trọng trong hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là trong mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Chính vì thế, trên một tầm nhìn vĩ mô về quá trình hoàn thiện và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu: “Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy, làm tốt vai trò nòng cốt để nhân dân làm chủ”(28); “phát huy dân chủ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thật tốt các chính sách thuận lòng dân; chăm lo xây dựng, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội, đổi mới mạnh mẽ phương thức tập hợp các tầng lớp nhân dân, xây dựng lực lượng nòng cốt ở các lĩnh vực, địa bàn trọng yếu. Thực hiện tốt quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị và quy chế dân chủ ở cơ sở; nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước; làm tốt chính sách dân tộc, tôn giáo. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; khơi dậy lòng yêu nước, động viên mọi nguồn lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị...”(29).

Có thể nói, quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là sự kế thừa những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại về dân chủ, đoàn kết dân tộc, đoàn kết xã hội cũng như vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển xã hội; đồng thời, là sự vận dụng và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề này trong điều kiện xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực hiện mục tiêu đưa nước ta đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, theo tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta./.

---------------------------

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ CHIẾC ĐÀN PIANO

 Trên cương vị một vị tướng cầm quân, một Tổng tư lệnh quân đội, hay một Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, phải góp phần quyết định những vấn đề lớn của chiến tranh, tiếng đàn có lẽ đã tạo nên cho đồng chí Võ Nguyên Giáp những giây phút thư thái, bình lặng trong những ngày căng thẳng, bề bộn của bao việc nước, việc quân.

Vào một buổi tối mùa thu năm ấy, Bác Hồ sang thăm gia đình đồng chí Võ Nguyên Giáp. Giữa câu chuyện, Bác chợt quay sang chị Bích Hà ( vợ của đồng chí Võ Nguyên Giáp), cũng đang ngồi đó. Bác hỏi:
– Có phải không cô Hà, nghe nói chú Văn chịu khó tập đàn? Sao không đánh thử Bác nghe?
Thể tất, đồng chí Võ Nguyên Giáp không thể từ chối. Anh ngồi vào trước cây đàn piano vẫn được kê ngay ở phòng khách.
Cũng cây đàn này, ở phòng khách này, trong những năm tháng căng thẳng nhất của cuộc chiến tranh leo thang của không lực Hoa Kỳ ra miền Bắc và còn điều quan trọng nữa, sau này mới được biết, đó là trong những ngày phải quyết định những vấn đề nghiêm trọng nhất của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, cũng cây đàn này, ở phòng khách này vẫn vang lên âm thanh của tiếng đàn piano, khi ung dung hoặc có khi rộn rã, thúc giục.
Hôm nay, lần đầu tiên được cất tiếng cho Bác Hồ nghe, một dịp hiếm quý biết bao, đàn ơi, đàn sẽ lấy giọng nào, lên cung bậc nào cho xứng đáng đây?
Sau lời Bác hỏi, anh Văn đã ngồi ngay ngắn trước hàng phím đàn đen trắng. Nhưng chưa đánh ngay, có lẽ anh đang nghĩ xem đánh bài gì bây giờ. Rồi, tiếng đàn vang lên một bài quen thuộc – “Chiến thắng Điện Biên”.
Bác lắng nghe, niềm xúc động ngời lên khóe mắt. Còn người biểu diễn thì hoàn toàn không chờ đợi tiếng vỗ tay, anh Văn đánh tiếp để Bác nghe bản “Sônát” của Bétthôven.
Bác nghe chăm chú, rồi chợt hỏi:
– Chú có chơi các bài dân ca của ta không?
Cây đàn liền vang lên bài “Trống cơm” rồi bài “Trảy hội đêm rằm” mà Anh Văn vẫn ưa thích và hay chơi.
Bác Hồ tỏ ra thích thú rõ rệt. Đã dứt tiếng đàn, Bác mỉm cười, gật gù:
– Chú đánh hay đấy… nhưng mà… – Anh Văn đã rời cây đàn, đứng nhìn Bác, chờ đợi – Nhưng mà, chú đã đánh được bài “Kết đoàn” chưa?
Thật là bất ngờ, vị Tướng như bị đột kích, tuy nhiên anh tươi cười thưa với Bác:
– Dạ, chưa.
Bác Hồ còn tươi cười hơn, rồi Bác cười thật sự mà rằng:
– Đánh giặc, chú đã đánh cả trận to lẫn trận nhỏ. Đánh đàn, chú phải đánh cả bài khó lẫn bài dễ mới là giỏi. Bài “Kết đoàn” ai cũng hát, chưa đánh được bài “Kết đoàn” thì chưa giỏi, hà hà…
Cái bài ca ngắn ngủi, bé nhỏ kia, từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở mọi nơi, dường như ai cũng biết hát thật. Chính Bác Hồ đã từng có lần bắt nhịp cho chúng ta cùng hát bài “Kết đoàn” ấy. Nhưng có ngờ đâu Bác lại yêu cầu đánh bài ấy trên phím đàn piano? Vì một lẽ đơn giản là chưa có ai viết bài ca bé nhỏ ấy cho đàn piano.
Vậy là, trong buổi tối mùa thu này, đồng chí Võ Nguyên Giáp đành chịu lỗi với Bác. Có lẽ, đây là lần đầu anh chịu lỗi như thế.
Nhưng, ngay ngày hôm sau, không biết có phải vị tướng coi ý của Bác như một mệnh lệnh quân sự, anh nói với người vẫn thường hướng dẫn cho mình tập đàn hãy soạn bài ca “Kết đoàn” thành bài cho pianô. Và khi có bài “Kết đoàn” cho piano rồi, anh đã tập một cách hào hứng và nghiêm chỉnh.
Chả bao lâu, bài “Kết đoàn” đã được vị tướng đánh một cách trơn tru. Điều ấy có khó gì đâu. Vì anh đã từng đánh được những bài khó của bộ sách đàn cổ điển.
Chỉ có điều, cho đến mãi mãi về sau này, trên phím đàn piano, anh Văn không bao giờ có dịp được đánh bài ca “Kết đoàn” cho Bác Hồ nghe nữa.
Bác đã đi xa…
ST


Nâng cao chất lượng phong trào thi đua trong công nhân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 TCCS - Trong các phong trào hành động cách mạng của toàn dân tộc, công nhân là giai cấp đi đầu, có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước ta “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” theo ước nguyện của Bác Hồ kính yêu. Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, giai cấp công nhân cần tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong lao động, sản xuất, để giữ vững, ngày càng xứng đáng với vai trò tiên phong của mình.

Bác Hồ với công nhân xe lửa Gia Lâm_Tranh: Tư liệu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua của công nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho phong trào thi đua yêu nước ở Việt Nam. Người cho rằng: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất(1). Thi đua là thể hiện tình yêu nước một cách thiết thực và tích cực. Thi đua không chỉ phát huy truyền thống yêu nước quý báu của dân tộc, mà còn tạo ra sức mạnh tinh thần vô song để mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân, cống hiến tinh thần và sức lực vì sự phát triển của đất nước.

Gắn kết phong trào thi đua với sự trưởng thành về mọi mặt của giai cấp công nhân

Thi đua là đua tài, đua sức giữa các cá nhân, các tập thể trong quá trình lao động, sản xuất, thôi thúc mỗi cá nhân phát huy hết tiềm năng sáng tạo để đạt kết quả cao hơn. Từ thực tiễn các phong trào thi đua đã xuất hiện những tấm gương “người mới”, “việc mới”, “người tốt”, “việc tốt”, những công nhân ưu tú làm rực rỡ thêm vườn hoa thi đua ái quốc của đất nước.

Thi đua lao động, sản xuất là một biểu hiện của tinh thần làm chủ của giai cấp công nhân; “thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ”(2), vì thi đua là môi trường để phát triển con người. Thực tiễn các phong trào thi đua sẽ tạo điều kiện, bồi dưỡng công nhân trở thành những người có lý tưởng, lao động, sản xuất giỏi, có tác phong làm việc chuyên nghiệp. Phong trào thi đua cũng giúp giai cấp công nhân thực hiện vai trò của mình trong việc lãnh đạo xã hội, xứng đáng là giai cấp tiên phong trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Như vậy, thi đua là một phương pháp hiệu quả để giáo dục và rèn luyện ý thức chính trị cho giai cấp công nhân.

Giai cấp công nhân giữ vai trò tiên phong trong phong trào thi đua

Dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân đã chứng tỏ khả năng, bản lĩnh lãnh đạo tiến trình cách mạng Việt Nam; vì vậy, Người nhấn mạnh, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, giáo dục, động viên giai cấp công nhân phát huy tính tiên phong trong đấu tranh cách mạng, hăng hái vươn lên đi đầu trong phong trào thi đua lao động, sản xuất và thực hành tiết kiệm. Người chỉ rõ: “Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, muốn xứng đáng là giai cấp lãnh đạo thì phải gương mẫu trong công tác. Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, muốn nước nhà mau chóng thống nhất, muốn được tự do sung sướng, mọi người phải khắc phục khó khăn, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”(3); đồng thời, Người đặt ra yêu cầu công nhân phải hăng hái thi đua chế tạo, nâng cao năng suất lao động, thi đua tiết kiệm nguyên, vật liệu, tiết kiệm điện... cho nước nhà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, trong thời kỳ đất nước vừa dựng xây cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, vừa đấu tranh thống nhất nước nhà, thì nhiệm vụ trước mắt của công nhân là phải lấy xây dựng kinh tế làm mặt trận hàng đầu; muốn vậy, công nhân phải thi đua để phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, giúp cho nhà máy, xí nghiệp, đất nước đi lên. Biểu hiện rõ nét của thi đua là việc công nhân nỗ lực nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, tiết kiệm của công, chống lại chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức, có tinh thần lao động sáng tạo, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, có phương pháp, phong cách làm việc tiên tiến. Công nhân phải nhận thức rằng, để nêu gương và xứng đáng với sứ mệnh vẻ vang của giai cấp mình, họ phải thường xuyên tự rèn luyện, tự cải tạo mình để giữ vững vai trò tiên phong trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, “muốn lãnh đạo thì phải gương mẫu. Vì vậy cần phải khắc phục khuyết điểm, phát triển ưu điểm sẵn có, hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho để xứng đáng là ông chủ, bà chủ, xứng đáng là vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam”(4).

Để thực hiện được vai trò lãnh đạo trong phong trào thi đua, giai cấp công nhân cần đoàn kết với tất cả các đối tượng quần chúng nhân dân khác, như nông dân, trí thức... nhằm đưa thi đua yêu nước trở thành một phong trào rộng lớn trong toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “thi đua phải rộng rãi, phải phổ biến. Có thành tích đột xuất là tốt, nhưng phải kéo tất cả đều thi đua, nếu không thì không có ích lợi mấy”(5). Người định hướng: Giai cấp công nhân phải tổ chức, hướng dẫn các lực lượng xã hội khác thi đua lao động, sản xuất, đồng thời cũng phải học tập kinh nghiệm từ họ. Liên minh công - nông có vai trò quan trọng chiến lược, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi khối liên minh công nhân và nông dân tích cực thi đua trong lao động, sản xuất; công nhân làm ra máy móc, phân bón... cung cấp cho sản xuất nông nghiệp của nông dân, còn nông dân làm ra lương thực, thực phẩm, bảo đảm nhu cầu sinh hoạt cho công nhân để công nhân yên tâm lao động, sản xuất.

Điều kiện tổ chức phong trào thi đua cho công nhân

Phong trào thi đua muốn đạt hiệu quả thì phải phù hợp với đối tượng và mục đích. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra nhiều điều kiện tổ chức phong trào thi đua lao động, sản xuất cho công nhân, trong đó phải hướng tới mục tiêu nâng cao cả chất lượng và số lượng. Người cho rằng: “Bất cứ làm gì cũng phải làm mau, nhưng làm mau mà xấu thì không ăn thua gì, vậy phải làm tốt. Nhưng làm tốt mà ít thì không đủ cho nhân dân dùng, vậy phải làm nhiều. Làm nhiều mà đắt, nhân dân không có tiền mua, vậy phải làm rẻ”(6).

Thi đua là để vừa nâng cao năng suất lao động, sản xuất, vừa rèn luyện đức tính cần cù, chăm chỉ và tiết kiệm; vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt thi đua sản xuất gắn liền với tiết kiệm, vì “thi đua sản xuất tốt chưa đủ, tăng gia sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm. Nếu không cũng như gió vào nhà trống... Phải tiết kiệm thì giờ, nguyên vật liệu và tiền bạc”(7). Như vậy, tiết kiệm là một biểu hiện của thi đua và cũng là điều kiện cần để phong trào thi đua đi đến thành công. Để tiết kiệm thì công nhân phải hăng hái chống tham ô, lãng phí; do vậy, Người cảnh báo: “Công nhân thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, nhưng có bọn tham ô lãng phí, nên các cô, các chú tiết kiệm được chừng nào chúng tham ô lãng phí chừng ấy; phải chống tham ô lãng phí cũng như cảnh giác chống địch phá hoại”(8).

Thi đua phải được hiểu theo nghĩa tích cực, theo đó thi đua chính là việc cùng nhau phấn đấu, cố gắng chứ không phải là ganh đua, giấu nghề. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Thi đua có nghĩa là mọi người phát triển tài năng, sáng kiến của mình, học hỏi điều hay lẫn nhau, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm để cùng nhau tiến bộ... Người này thi đua với người khác, tổ này thi đua với tổ khác, nhà máy này thi đua với nhà máy khác”(9). Để thực hiện thi đua tích cực, giúp nhau cùng tiến bộ, công nhân “phải đưa sáng kiến của mình phổ biến cho nhóm, cho xưởng, cho ngành mình cùng theo. Và phải học kinh nghiệm sáng kiến của người khác. Đây là điều kiện cần thiết trong thi đua”(10). Muốn vậy, mọi người phải có tinh thần cầu thị, ham học điều hay, tích cực học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè thì thi đua sẽ ngày càng phát huy tác dụng.

Vai trò của tổ chức công đoàn trong phong trào thi đua của công nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của Tổng Liên đoàn Lao động là đi sát với toàn thể công nhân, tổ chức và huấn luyện toàn thể công nhân làm cho giai cấp công nhân thành lực lượng vô địch trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc”(11). Ngày 18-7-1969, gặp gỡ với đại biểu lãnh đạo Công đoàn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ lãnh đạo công đoàn phải “làm tốt công tác vận động, tổ chức, giáo dục quần chúng công nhân, viên chức làm tròn vai trò tiên phong cách mạng... tự nguyện tự giác giữ kỷ luật lao động..., giữ gìn của công và thực hành tiết kiệm”(12). Những yêu cầu của Người với tổ chức công đoàn cho thấy, Công đoàn Việt Nam phải là chủ thể trong tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát phong trào thi đua cho công nhân.

Bên cạnh vai trò tổ chức, hướng dẫn phong trào thi đua cho công nhân, Công đoàn Việt Nam còn thực hiện nhiệm vụ tổ chức khuyến khích, động viên, giúp đỡ để công nhân nhiệt tình tham gia phong trào. Tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật cũng là một vấn đề quan trọng. Phải nhận rằng đại đa số công nhân ta đều cần cù, thông minh và có nhiều sáng kiến hay... Nếu công đoàn biết khuyến khích, áp dụng, cải tiến, và phổ biến rộng rãi những sáng kiến ấy, thì năng suất lao động sẽ nâng cao không ngừng”(13). Để tổ chức công đoàn thực hiện tốt vai trò của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công đoàn là phải tiên phong, gương mẫu thi đua để công nhân noi theo và muốn nêu gương tốt thì “phải thực hiện bốn cùng với công nhân: cùng ăn, cùng ở, cùng lao động, cùng bàn bạc”(14).

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm hỏi đời sống của công nhân lao động các khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang_Ảnh: VGP

Thực trạng phong trào thi đua của công nhân Việt Nam hiện nay

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua của công nhân, Công đoàn Việt Nam đã rất quan tâm phát động, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, người lao động với nhiều phong trào hiệu quả, thiết thực, lôi cuốn đông đảo công nhân tham gia. Theo Báo cáo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XI, “Các cấp công đoàn đã cụ thể hóa các phong trào thi đua “Lao động giỏi”, “Lao động sáng tạo”; phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”; phong trào “Xanh - Sạch - Đẹp, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động”, phong trào “Văn hóa, thể thao”; động viên, cổ vũ đoàn viên, người lao động đăng ký hoàn thành 77.753 đề tài nghiên cứu khoa học với giá trị làm lợi là 336.777 tỷ đồng; phát huy 1.170.884 sáng kiến với giá trị làm lợi 203.579 tỷ đồng..., góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”(15)

Qua các phong trào thi đua “Lao động giỏi”, “Lao động sáng tạo”, đã xuất hiện nhiều tấm gương sáng trong lao động, sản xuất, cải tiến kỹ thuật, cũng như trong hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới. Có nhiều mô hình tốt, nhiều cách làm hay tại các địa phương, các ngành đã xuất hiện, bộc lộ và trở thành điển hình, lan tỏa tới các cấp, các ngành và mọi người lao động. Các phong trào thi đua đó đã góp phần nâng cao cả số lượng và chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh.

Để đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, các cấp, các ngành đã có nhiều hình thức tôn vinh, khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất. Những sự ghi nhận đó đã góp phần không nhỏ vào việc nhân rộng các điển hình tiên tiến trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Thực tiễn phong trào thi đua trong lao động, sản xuất của công nhân đã chứng tỏ, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, thi đua vẫn rất cần thiết. Đó là động lực để thúc đẩy mỗi người dân nói chung, mỗi công nhân nói riêng biết vượt qua khó khăn, khắc phục những yếu kém, phát huy sở trường, thế mạnh của mình, nêu cao tinh thần trách nhiệm, sáng tạo, đổi mới để đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.

Ngoài những thành tích đã đạt được đáng ghi nhận thì vẫn còn những hạn chế cần khắc phục trong phong trào thi đua của công nhân, cụ thể là: Tại các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước, các phong trào thi đua chưa được triển khai mạnh mẽ, sâu rộng tới mọi đối tượng công nhân, người lao động; việc tìm kiếm, phát hiện các nhân tố mới, các mô hình hay trong lao động, sản xuất chưa được quan tâm thỏa đáng, nên còn để sót nhiều tấm gương lao động, sản xuất giỏi...

Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trên được xác định là: Một bộ phận công nhân, người lao động chưa chủ động phát huy vai trò của mình trong phong trào thi đua yêu nước. Ngoài ra, hiện nay công nhân đang phải đối mặt với áp lực về thời gian, định mức lao động, trong khi nội dung, hình thức các phong trào thi đua ở nhiều nơi còn đơn điệu, thiếu sức hấp dẫn, chưa phù hợp với đặc thù nghề nghiệp. Vẫn còn có tình trạng cán bộ làm công tác thi đua chưa có kinh nghiệm, thiếu am hiểu về đặc điểm công việc, ngành, nghề... nên chất lượng công tác tham mưu còn hạn chế, dẫn đến kết quả không được như mong đợi.

Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả phong trào thi đua cho công nhân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Năm 2022, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã chuyển về  trạng thái “bình thường mới” sau thời gian dài chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Để khắc phục những khó khăn sau đại dịch, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc nâng cao hiệu quả của phong trào thi đua cho công nhân, cấp ủy, chính quyền, tổ chức công đoàn các cấp và bản thân mỗi người công nhân cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao nhận thức của công nhân về thi đua. Công nhân hiện nay cần được tuyên truyền sâu rộng để nhận thức rõ thi đua là sự đua tài, đua sức giữa các công nhân, giữa các doanh nghiệp trong quá trình lao động, sản xuất. Chính sự thi đua đó đã tạo ra bước đột phá, làm cho năng suất lao động tăng cao hơn so với khi các chủ thể chưa tham gia thi đua. Thi đua không phải là tranh đua, “đấu đá” để tranh giành phần thắng, mà thi đua phải dựa trên nền tảng của sự hợp tác, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trên mọi mặt. Thi đua chính là sự tự khẳng định mình trước tập thể, thể hiện lòng tự trọng, ý chí vươn lên của mỗi người. Qua phong trào thi đua, mỗi công nhân sẽ có thêm kiến thức, kinh nghiệm để khắc phục những hạn chế và ngày càng hoàn thiện bản thân, đóng góp tốt hơn, nhiều hơn nữa vào kết quả lao động, sản xuất của đơn vị.

Người lao động dầu khí quyết tâm thi đua lao động, sản xuất hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ_Nguồn: PVN

Hai là, chú trọng đổi mới nội dung, hình thức thi đua trong công nhân. Nội dung cần thiết thực, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, như thi đua xây dựng đất nước giàu mạnh; thi đua phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; thi đua đi liền với tiết kiệm, chống lãng phí; thi đua trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại vào phát triển sản xuất... Trong phương pháp thi đua, các chủ thể cần quán triệt bài học của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “dựa vào lực lượng của dân(16). Hình thức thi đua phải phong phú, đa dạng, khơi dậy được sức dân. Điểm cốt lõi là phải coi trọng việc phát huy sáng kiến, tổng kết kinh nghiệm. Một mặt, thi đua mà không có tổng kết thì không có hiệu quả, vì khi tổng kết sẽ vinh danh được những cá nhân, tập thể tiêu biểu để nhân rộng cho công nhân cả nước biết tới và học tập; mặt khác, qua tổng kết còn rút ra được những sáng kiến, bài học kinh nghiệm quý để lưu truyền, trao đổi và phổ biến rộng rãi.

Ba là, hoàn thiện công tác thi đua, khen thưởng. Thi đua luôn gắn liền với việc biểu dương, khen thưởng, vì hình thức động viên, khuyến khích này luôn tạo nguồn động lực tinh thần to lớn để công nhân ngày càng tích cực tham gia các phong trào thi đua. Trong công tác khen thưởng, cần xác định rõ các tiêu chí đánh giá cho phù hợp với từng đối tượng công nhân; việc biểu dương, khen thưởng cần kịp thời, tránh hình thức hoặc tình trạng chậm trễ gây tâm lý ức chế cho người được khen thưởng. Hiện nay, tổ chức công đoàn có rất nhiều giải thưởng, như giải thưởng Nguyễn Đức Cảnh, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Đức Thuận... đã phát huy tốt tác dụng; thời gian tới, để tạo thêm động lực cho phong trào thi đua, cũng cần nâng cao giá trị vật chất cho các giải thưởng cao quý đó nhằm thiết thực động viên phong trào, cổ vũ tinh thần hăng hái thi đua của công nhân./.

HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CHỦ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM CỦA VIỆT NAM

 Tʜᴇᴏ ᴄʜᴜ̛́ɴɢ ᴄᴜ̛́ ᴄᴜ̉ᴀ ʟɪ̣ᴄʜ sᴜ̛̉ ᴅᴀ̂ɴ ᴛᴏ̣̂ᴄ ᴠᴀ̀ ʟᴜᴀ̣̂ᴛ ᴘʜᴀ́ᴘ ǫᴜᴏ̂́ᴄ ᴛᴇ̂́ ᴛʜɪ̀ Hᴏᴀ̀ɴɢ Sᴀ ᴠᴀ̀ Tʀᴜ̛ᴏ̛̀ɴɢ Sᴀ ʟᴀ̀ ʜᴀɪ ǫᴜᴀ̂̀ɴ đᴀ̉ᴏ ᴛʜᴜᴏ̣̂ᴄ ᴄʜᴜ̉ ǫᴜʏᴇ̂̀ɴ ᴄᴜ̉ᴀ Vɪᴇ̣̂ᴛ Nᴀᴍ. Nʜᴜ̛ɴɢ ᴛᴜ̛̀ ᴛʀᴜ̛ᴏ̛́ᴄ đᴇ̂́ɴ ɴᴀʏ Tʀᴜɴɢ Qᴜᴏ̂́ᴄ ʟᴜᴏ̂ɴ ɴɢᴀɴɢ ɴɢᴜ̛ᴏ̛̣ᴄ xᴀ̂ᴍ ᴘʜᴀ̣ᴍ ᴄʜᴜ̉ ǫᴜʏᴇ̂̀ɴ ʜᴀɪ ǫᴜᴀ̂̀ɴ đᴀ̉ᴏ ɴᴀ̀ʏ. Cʜᴜ́ɴɢ ᴛᴀ ᴋɪᴇ̂ɴ ǫᴜʏᴇ̂́ᴛ đᴀ̂́ᴜ ᴛʀᴀɴʜ ᴘʜᴀ̉ɴ đᴏ̂́ɪ sᴜ̛̣ ɴɢᴀɴɢ ɴɢᴜ̛ᴏ̛̣ᴄ đᴏ́ ᴄᴜ̉ᴀ Tʀᴜɴɢ Qᴜᴏ̂́ᴄ.

1. Khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Theo các nhà nghiên cứu thì chủ quyền 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam từ thế kỷ thứ XVII. Từ đó đến nay, việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này là rõ ràng, liên tục thể hiện trong sử sách, văn bản và trên hoạt động thực tế phù hợp với nguyên tắc luật phát quốc tế.
Về sử sách, trong cuốn “Phủ biên tạp lục” do nhà bác Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776 ghi rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Nghĩa; trong bộ bách khoa “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú biên soạn năm 1821 chép về Hoàng Sa rất cụ thể từ địa thế, sản vật đến việc tổ chức Đội Hoàng Sa; trong bộ sử ký “Đại Nam thực lục chính biên” (1848) do Quốc sử quán triều đình nhà Nguyễn soạn cũng ghi chép sự kiện các vua triều Nguyễn (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị) chiếm hữu các đảo Hoàng Sa, cho xây miếu, dựng bia, trồng cây, vẽ bản đồ các đảo này; hay trong “Đại Nam nhất thống chí” là bộ sách địa lý chính thức của nước Việt Nam (1865-1910), đã xác định các đảo Hoàng Sa thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi;…
Trên các bản đồ cổ, theo “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” (1630-1653), đã gọi hai quần đảo bằng tên chung là Bãi Cát Vàng và ghi nó vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa; trong “Giáp Ngọ bình Nam đồ” (1774), Bãi Cát Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam; trong “Đại Nam nhất thống toàn đồ” (1838), trên bản đồ có ghi hai tên “Hoàng Sa” và “Vạn lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam; hay “Bộ Atlas thế giới” của Philippe Vandermaelen (1795-1869) xuất bản năm 1827 tại Brussels là một bằng chứng hùng hồn về giá trị pháp lý quốc tế cao, bổ sung vào kho bằng chứng khổng lồ chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Về thực thi chủ quyền (XVII - XIX), các nhà nước Phong Kiến đã lập ra đội Hoàng Sa sau này thêm đội Bắc Hải để tiến hành chiếm hữu, khai thác, đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong thời kỳ thuộc Pháp, chính quyền thực dân Pháp đã tiến hành bảo vệ và quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng thủ tục pháp lý đương đại. Trong thời kỳ 1954 - 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện việc bảo vệ, khai thác và quản lý đối quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên tất cả các phương diện. Sau năm 1975, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt năm 1982 Việt Nam đã thành lập huyện Hoàng Sa và huyện Trường Sa, mà nay huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng, huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Trên một số tài liệu nước ngoài cũng khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, như: các tác giả Le Poivre (1740), J Chaigneau(1816-1819), Taberd (1833), Gutzlagip (1840)… từng khẳng định Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ngay cả các tác giả người Trung Quốc cũng từng viết sách nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, như nhà sư Thích Đại Sán trong cuốn “Hải ngoại ký sự” (1696) đã xác nhận các chúa Nguyễn hàng năm cho thuyền khai thác các sản vật từ các tàu bị đắm ở vùng Vạn lý Trường Sa. Trong các Hội nghị quốc tế, như: Hội nghị Cairo (11/1943), Hội nghị Potsdam (7/1945), Hội nghị hòa bình San Francisco (8/1951), Hội nghị Geneva (1954), Hiệp định Paris (1973) đều khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Như vậy, Việt Nam có đầy đủ các chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý để chứng minh đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam.
2. Kiên quyết phản đối sự ngang ngược xâm phạm chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Với mưu đồ “bành trướng”, mở rộng chủ quyền lãnh thổ quốc gia, từ trước đến nay Trung Quốc luôn dùng nhiều chiêu trò để xâm chiếm vùng biển, đảo, quần đảo trên biển đông, trong đó Hoàng Sa, Trường Sa là đối tượng mà Trung Quốc chú trọng hướng tới. Chẳng hạn, năm 1956 Trung Quốc đã đưa quân ra xâm chiếm nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa; năm 1974, Trung Quốc dùng không quân và hải quân chiếm nốt phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa; năm 1988, Trung Quốc đã đánh chiếm các bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa gồm: Chữ Thập, Châu Viên, Gaven, Tư Nghĩa, Gạc Ma, Su Bi; năm 1995 đánh chiếm bãi đá Vành Khăn;… Thời gian gần đây, năm 2012, Trung Quốc tuyên bố thành lập cái gọi là “Thành phố Tam Sa” để “quản lý” quần đảo Nam Sa (Trường Sa), Tây Sa (Hoàng Sa) và Trung Sa (bãi Macclesfield). Tháng 9/2017, Trung Quốc đưa ra chiến thuật mới là “Yêu sách Tứ Sa”, đòi hỏi chủ quyền với 4 nhóm đảo gồm 3 nhóm trên và thêm Đông Sa (quần đảo Pratas hiện do Đài Loan quản lý), đòi hỏi quyền được hưởng vùng đặc quyền kinh tế xung quanh. Tháng 4/2020, Trung Quốc tiếp tục thông qua quyết định thành lập cái gọi là “quận Tây Sa” và “quận Nam Sa” thuộc “thành phố Tam Sa” nâng cấp đơn vị hành chính để thay mặt nhà nước Trung Quốc “quản lý” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Cùng với đó, họ công bố kinh độ và vĩ độ của các đảo, bãi đá và thực thể. Nhiều đảo đá và thực thể này xuất hiện ở phần phía tây Biển Đông và nằm dọc theo "đường lưỡi bò" mà Trung Quốc tự vẽ ra. Trong những thực thể này có những bãi cạn nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, có điểm chỉ cách bờ biển Việt Nam chưa đầy 60 hải lý hoặc đường cơ sở Việt Nam khoảng 50 hải lý,…
Những gì Trung Quốc đã và đang làm hoàn toàn không có cơ sở lịch sử, giá trị pháp lý. Đấy là hành động “đổi trắng thay đen” với mưu đồ chiếm đoạt biển Đông như họ đã vạch ra bằng “đường lưỡi bò” hay “đường chín đoạn”. Những hành động của Trung Quốc là ngang ngược, trắng trợn vi phạm chủ quyền của Việt Nam và luật pháp quốc tế. Chúng ta kiên quyết đấu tranh phản đối sự ngang ngược, trắng trợn đó. Bởi vì, Trung Quốc hoàn toàn không có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hoàng Sa, Trường Sa là một máu phần máu thịt không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam. Do vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải nắm chắc những cơ sở lịch sử pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; cùng chung sức, đồng lòng đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp, dựa vào “thế trận lòng dân” để kiên trì, kiên quyết, bền bỉ từng bước đấu tranh bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần làm cho nhân loại tiến bộ, kể cả nhân dân Trung Quốc hiểu rõ sự thật, đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thành nội dung đấu tranh ở Liên hiệp quốc, trong dư luận quốc tế. Nhắc lại câu nói của cha ông, để càng thêm khẳng định kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền của dân tộc Việt Nam:“Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”./.
ST



NỮ ANH HÙNG " VAI TRĂM CÂN, CHÂN NGHÌN DẶM "

 Năm 1968, Cục Hậu cần Quân khu 5 thành lậpTiểu đoàn vận tải nữ 232 với nhiệm vụ gùi lương thực, đạn dược, cõng thương binh, mở đường và chống lầy để xe ô-tô đi qua... đúng vào giai đoạn cam go nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường khói lửa miền trung. Phạm Thị Thao khi đó mới ở độ tuổi 19, đôi mươi nhưng đã là Đại đội trưởng Tiểu đoàn Bắc Hải (Tổng đội Thanh niên xung phong Quảng Đà - Nguyễn Văn Trỗi) được điều sang làm Tiểu đoàn trưởng, quản lý bốn đại đội vận tải, một tiểu đoàn bộ, một trạm xá và một đội sản xuất với hơn 600 cô gái ở độ tuổi chỉ mười sáu, đôi mươi.

Trong bốn năm thực hiện nhiệm vụ đó, Tiểu đoàn vận tải nữ 232 dưới sự dẫn dắt của Tiểu đoàn trưởng Phạm Thị Thao đã được quân và dân đất Quảng và chiến trường khu 5 gọi với cái tên rất đỗi dung dị: "Tiểu đoàn bà Thao". Trong bốn năm, đã có hơn 5.000 tấn hàng được các cô gái vận chuyển ra chiến trường. Ước tính trung bình mỗi nữ chiến sĩ của Tiểu đoàn đi bộ khoảng 600km mỗi năm. Với phương châm như: "đạp 50 cân xuống đất, hất 70 cân sang bên, vì chiến trường mang lên một tạ" hay "không tính khối lượng, không tính chỉ tiêu, có sức bao nhiêu cống hiến tất cả"... "Tiểu đoàn bà Thao" đã làm nên bao huyền thoại sống gắn liền với những chiến công trên các cung đường Trường Sơn máu lửa.
P/s: Trong những năm tháng kháng chiến ác liệt, việc khai thêm tuổi để được nhập ngũ như bà Thao (14 tuổi khai thêm 4 tuổi) là rất phổ biến. Đó là minh chứng rõ nét cho một thế hệ thanh niên anh hùng của dân tộc, sẵn sàng xả thân vì đất nước./.
ST


Phát huy giá trị của văn hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay

 TCCS - Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, soi đường cho mọi công việc nói chung, trong đó có công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để Đảng càng văn minh, nhân văn, cần tiếp tục nhận thức sâu sắc giá trị đặc biệt của văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội, trong xây dựng hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân làng Kon Rờ Bàng, xã Vinh Quang (thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum)_Nguồn: baokontum.com.vn

1- Từ lâu văn hóa đã trở thành bộ phận không thể thiếu trong đời sống của mỗi quốc gia - dân tộc, mỗi con người. Nói đến văn hóa là nói đến hệ giá trị chân, thiện, mỹ có giá trị soi đường cho các hoạt động, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng,... Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(1). Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, theo đó văn hóa cũng là nền tảng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi(2). Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc”.

Sức mạnh điều tiết của văn hóa không chỉ dừng lại ở phạm vi đạo đức, ứng xử trong quan hệ cộng đồng, quan hệ con người với con người, hay trong bản thân mỗi con người, không chỉ dừng lại ở việc tạo nên sự hài hòa cụ thể, mà cao hơn, văn hóa còn phát huy tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ lớn, tạo nên sự phát triển cân đối, hài hòa, đồng bộ giữa các lĩnh vực quan trọng của đời sống, của mỗi quốc gia - dân tộc. 

Thực chất của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mang hệ giá trị văn hóa điều tiết, tác động tích cực đến sự chính danh, trong sạch, vững mạnh của Đảng, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta. Văn hóa thẩm thấu, chi phối công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Hệ giá trị của văn hóa là tổ hợp của yếu tố truyền thống, kết hợp với yếu tố hiện đại và sự kết tinh tinh hoa văn hóa thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và cả dân tộc nên càng phải tạo lập hệ giá trị văn hóa trong Đảng để xây dựng, củng cố, nâng cao bản lĩnh, tầm trí tuệ, sức mạnh nội sinh, khả năng tự đề kháng, kiến tạo xây dựng mô hình tổ chức hợp lý, khoa học, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay.

Hệ giá trị văn hóa trong Đảng thể hiện ở một số nội dung, như: 1- Bản lĩnh vững vàng của Đảng trước những khó khăn, thử thách; 2- Xác định đúng quyết sách chính trị để lãnh đạo đất nước phát triển bền vững; 3- Mục tiêu, lý tưởng của Đảng luôn hướng đến chăm lo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc, Đảng ta không có một lợi ích nào khác; 4- Đạo đức của Đảng, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên luôn là “công bộc” tận tụy phục vụ nhân dân; 5- Các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Do đó, các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên phải nắm vững nội dung của hệ giá trị văn hóa trong Đảng để phấn đấu, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nêu cao tính đảng, trách nhiệm trong xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh toàn diện, phát huy vai trò hạt nhân chính trị. Thực tiễn cho thấy, khi Đảng đạt tới tầm cao của văn hóa, của đạo đức, văn minh,... thì Đảng cầm quyền sẽ hiệu quả, trường tồn, phát huy tốt vai trò lãnh đạo đối với đất nước. Khẳng định sứ mệnh và sự cống hiến vĩ đại của Đảng đối với Tổ quốc và dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh(3). Đây được coi là mẫu số chung, giá trị phổ quát đặt ra cho các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt, nỗ lực phấn đấu để Đảng ta luôn biểu trưng cho đạo đức, văn hóa, lương tâm, danh dự của cả dân tộc. Đó là cơ sở để nhân dân tin yêu Đảng, ủy thác vai trò lãnh đạo chính trị cho Đảng đối với sự nghiệp cách mạng hiện nay.

2- Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa trong Đảng - yếu tố tạo nên sức mạnh nội sinh của Đảng. Đầu tư cho xây dựng văn hóa trong Đảng thực chất là đầu tư cho công tác xây dựng Đảng, nâng tầm văn hóa, đạo đức của Đảng. Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ tác động tích cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với đất nước, dân tộc, phát triển đúng định hướng.

Công tác xây dựng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết được Đảng ta quan tâm xây dựng, phát huy tính dân chủ, dựa trên những căn cứ khoa học để đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời, phản ánh nhu cầu cấp thiết từ cuộc sống, thuận lòng dân. Cấp ủy các cấp đã coi trọng khâu chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tổ chức phối hợp hành động chặt chẽ nên chủ trương, nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích cho nhân dân.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được Đảng ta quan tâm chỉ đạo, thực hiện toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, xác định rõ quan điểm, nguyên tắc, phương châm, giải pháp sát hợp với tình hình thực tiễn. Từ Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 26-6-1992, của Hội nghị Trung ương 3 khóa VII, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 2-2-1999, của Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII đã ban hành các nghị quyết, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” (Kết luận số 21-KL/TW). Đây là những dấu mốc rất quan trọng khẳng định Đảng ta luôn kiên định, kiên quyết, kiên trì và tập trung trí tuệ, tâm sức cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nhờ đó công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt được những kết quả tích cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững phẩm chất, tư cách của người đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Nhiệm kỳ Đại hội XI, Đảng ta thẳng thắn nhìn nhận công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được khắc phục thì sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc(4)...

Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm chỉ đạo, nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có chuyển biến tích cực. Điểm mới của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng đã cụ thể hóa thành các tiêu chí phù hợp với thực tiễn của từng đảng bộ để giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”(5).

Các tổ chức đảng đã quan tâm xây dựng văn hóa, từ việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, xác định chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động, mối quan hệ công tác; xây dựng đoàn kết, thống nhất, phối hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả,... đến hành vi ứng xử có văn hóa với nhân dân trong thực thi công vụ của các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã ban hành 14 nghị quyết và 1 quy định, trong đó có 4 nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đảng quán triệt, tổ chức thực hiện. Các quy định về công tác cán bộ ngày càng đồng bộ, chặt chẽ hơn, làm cơ sở để nâng cao chất lượng công tác cán bộ, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã bổ sung những nội dung mới, chỉ ra tệ chạy chức, chạy quyền, coi đây là hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Công tác kiểm tra, giám sát đã có những đổi mới về nội dung, phương pháp, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; kiên quyết kiểm tra, kết luận, thi hành kỷ luật một số cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Thực tế, giai đoạn 2013 - 2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên. Riêng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (trong đó có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang(6).

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn bộc lộ một số hạn chế sau:

Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng. Do đó, khâu chỉ đạo, tổ chức thực hiện ở một số tổ chức đảng thiếu quyết liệt, biểu hiện chùng xuống, chất lượng, hiệu quả thấp. “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, chưa hiệu quả”(7).

Thực tiễn cho thấy, “một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(8).

Một số tổ chức đảng chưa chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức nên chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên, nhất là giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm, bổn phận, lòng tự trọng, ý thức, tinh thần phục vụ nhân dân, sự miễn dịch với tham nhũng, tiêu cực. Một số tổ chức đảng xem nhẹ công tác tự phê bình và phê bình, tiến hành một cách hình thức, chưa quyết liệt, hiệu quả thấp; chưa chú trọng xây dựng văn hóa phê bình. Một số cấp ủy có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, bè phái, cục bộ địa phương trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị; một số cán bộ, đảng viên thiếu tiên phong, gương mẫu, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước.

Mặc dù việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy có chuyển biến tích cực, nhưng “việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở một số nơi thiếu kiên quyết, đồng bộ và chưa đạt mục tiêu đề ra... Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa thật sự gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”(9).

Trong khâu đề bạt, bổ nhiệm cán bộ còn có tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội(10). Đây là phản văn hóa, cần nhận diện, khắc phục, đẩy lùi trong thời gian tới, góp phần làm lành mạnh, nâng cao chất lượng công tác cán bộ.

Những hạn chế trên có nguyên nhân, như một số tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy chưa nhận thức đúng vai trò, tính cấp thiết của xây dựng văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; một số cấp ủy năng lực tổ chức, kiến tạo, tổ chức thực hiện xây dựng văn hóa trong tổ chức đảng còn hạn chế, thiếu chủ động, thiếu những cách làm sáng tạo; một số cán bộ, đảng viên tinh thần trách nhiệm yếu, chưa thực sự tiên phong, gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức, văn hóa.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Pa Chải (tỉnh Điện Biên) giúp đồng bào phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, góp phần xây dựng nông thôn mới, củng cố mối quan hệ đoàn kết, gắn bó quân dân_Ảnh: TTXVN

3- Để phát huy giá trị của văn hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên về xây dựng văn hóa trong Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”(11). Cần nhận thức rằng, xây dựng văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng tầm lãnh đạo, vị thế cầm quyền của Đảng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng tác động biện chứng, làm tiền đề cho nhau; xây dựng Đảng là cơ sở, điều kiện của chỉnh đốn Đảng, ngược lại chỉnh đốn Đảng góp phần làm cho công tác xây dựng Đảng đạt chất lượng, hiệu quả hơn. Văn hóa thẩm thấu tác động đến năm mặt của công tác xây dựng Đảng, từ việc xác định đúng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết; xây dựng đạo đức của Đảng - đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên đến việc xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máy đồng bộ, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt, yếu tố văn hóa góp phần giúp cán bộ, đảng viên nhận diện được hệ giá trị chân - thiện - mỹ, thức tỉnh lương tâm, phân biệt được đúng, sai để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ và hoàn thiện nhân cách. Coi nhẹ yếu tố văn hóa sẽ làm cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng dễ lệch chuẩn, sai phạm ở một số tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên.

Công tác giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, thực chất là tác động văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tính đảng, nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân để phấn đấu, rèn luyện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết và yêu cầu, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi”(12). Giáo dục, rèn luyện phải thông qua giao nhiệm vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ để từng đảng viên đối chiếu với tiêu chuẩn, nhiệm vụ được giao để phấn đấu, rèn luyện; đồng thời, các tổ chức đảng phải thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp nhau phát huy ưu điểm, khắc phục những nhận thức, hành vi chưa đúng, “một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”(13). Từ chiều sâu bản chất của văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý, phải hướng vào phê bình việc chứ không phải phê bình người. Người còn căn dặn: “Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”(14). Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày phải đối chiếu, “tự soi, tự sửa” để hoàn thiện nhân cách, tiến bộ trưởng thành. Tự soi, tự sửa chính là bản lĩnh văn hóa của người cộng sản, dám nhận diện “thứ giặc trong lòng” để đấu tranh loại bỏ. Đây là cuộc chiến cam go, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên trì, dũng cảm mới có thể chiến thắng, vượt qua.

Giáo dục, tác động từ góc độ văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên thấu cảm, lan tỏa tình yêu thương đồng chí. Tinh thần nhân đạo, nhân văn là bản chất của Đảng ta; là mạch nguồn xuyên suốt của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở lô-gíc nội tại để Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”(15). Do đó, mọi sự kèn cựa, đố kỵ, ganh tỵ ở một số cán bộ, đảng viên sẽ được nhường chỗ cho tình thương và lòng nhân ái. Tiếp tục tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh từ những điều nhỏ nhất, bình dị nhất. Đây cũng là kênh để cán bộ, đảng viên luôn có ý thức phấn đấu, rèn luyện, không chủ quan, tự mãn, bằng lòng với kiến thức, kết quả phấn đấu của mình.

Song hành với coi trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, cần gắn với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, “thứ giặc trong lòng không mang gươm, mang súng”, dễ dàng làm tha hóa nhân cách, đưa người ta đi xuống dốc. Từ thực tiễn lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(16).

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có khát vọng cống hiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(17). Hiệu quả văn hóa thẩm thấu đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cao hay thấp tùy thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ, cấp ủy. Trước bối cảnh mới, đội ngũ cán bộ phải tích cực học tập nâng cao phẩm chất, bản lĩnh, trình độ kiến thức các mặt, xây dựng tầm nhìn biện chứng để đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn; đủ sức kiến tạo tổ chức thực tiễn có hiệu quả.

Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ phải thâu thái được yếu tố văn hóa, bởi đó là hệ điều tiết để nâng cao nhận thức, hành vi, năng lực tổ chức hành động luôn vì lợi ích của Đảng, của tập thể và nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, trong sạch về nhân cách, nói không với tiêu cực, tham nhũng, luôn lắng nghe, học hỏi, gần gũi với nhân dân. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân. Cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Gương mẫu là tiêu chí, thước đo văn hóa của người cán bộ. Thực tế cho thấy, khi cán bộ đã “nhúng chàm”, mất uy tín thì chất lượng lãnh đạo, quản lý hạn chế, thậm chí bất lực. Bởi vậy, cần “coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hóa không chạy chức, chạy quyền”(18). Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần coi trọng xây dựng văn hóa tiết kiệm theo tinh thần Kết luận số 21-KL/TW. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn phấn đấu, rèn luyện, bởi “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”(19). Trong tình hình hiện nay, đội ngũ cán bộ cần thực hiện tốt “6 dám” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách,... Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” đã đề cập đến văn hóa từ chức, do đó, đã đến lúc cán bộ có sai phạm, khuyết điểm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao phải có bản lĩnh xin từ chức - đó là dũng khí, lòng tự trọng của cán bộ. Đây là vấn đề bình thường trong công tác cán bộ. Qua đó, kịp thời bổ sung những cán bộ có phẩm chất, tài năng đảm nhận các công việc của tổ chức phân công, không để khoảng trống quyền lực trong lãnh đạo, quản lý. Để xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, nâng cao tính chuyên nghiệp, đủ khả năng làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế, từng cán bộ phải nỗ lực, phấn đấu; đổi mới mạnh mẽ các khâu của công tác cán bộ, nhất là đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý.

Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kiểm soát quyền lực.

Đây là giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Các tổ chức đảng cần nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng (cấp ủy, ban thường vụ, sinh hoạt đảng bộ, sinh hoạt chi bộ) nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức đảng. Sinh hoạt đảng phải đi vào thực chất, bài bản, bảo đảm nguyên tắc, phong phú về nội dung, hình thức sinh hoạt. Đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy phải nâng cao tính đảng, tính chuyên nghiệp trong điều hành sinh hoạt đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong tranh luận, thảo luận, gắn với kỷ luật, kỷ cương. Có phát huy dân chủ mới giúp cho cấp ủy có thêm thông tin, tri thức, kinh nghiệm để đưa ra các quyết định chính xác, hợp lòng dân. Cần tạo ra không gian văn hóa trong tổ chức đảng để đảng viên hiến kế, chia sẻ, đoàn kết, có trách nhiệm xây dựng tổ chức đảng.

Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Đảng ta khẳng định, không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Từ thực tiễn lãnh đạo, quản lý Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, “kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”(20). Công tác kiểm tra, giám sát là công cụ hữu hiệu để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; qua đó, giúp cho cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục, phòng tránh các khuyết điểm, sai phạm. Ngoài việc tăng cường kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động tăng cường kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, nhằm kịp thời giáo dục, ngăn chặn các khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, không để các dấu hiệu vi phạm từ chưa nghiêm trọng đến nghiêm trọng, từ một người liên quan đến nhiều người. Ủy ban kiểm tra cần hướng vào kiểm tra những điểm nóng, người đứng đầu, những lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm để xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát nhằm giáo dục, cảnh báo cho các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Kiên quyết xử lý kỷ luật những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, như tham nhũng, tiêu cực, thao túng quyền lực... Xây dựng văn hóa kiểm tra công tâm, khách quan, minh bạch, giáo dục, răn đe, đúng người, đúng việc, không gây oan sai, thể hiện thấu tình đạt lý, tính nhân văn sâu sắc. Đồng thời, coi trọng việc giám sát, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ nắm giữ các chức vụ chủ chốt, các lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm. Quyền lực phải được “nhốt trong lồng” thể chế, cơ chế. Đây là biện pháp mạnh cần được tăng cường, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để giảm thiểu, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới. “Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng”(21)

Năm là, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nhân dân là cơ sở chính trị của Đảng, Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(22). Do đó, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cần sự đóng góp tích cực, trách nhiệm của nhân dân. Đây là vấn đề mang tính quy luật, sống còn của Đảng. Bởi “Họ chẳng những trông thấy những người tốt, việc tốt, mà họ cũng trông thấy những người xấu, việc xấu trong Đảng”(23). Yếu tố văn hóa chính là sự tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tôn trọng, cầu thị, lắng nghe, tiếp thu, khắc phục, sửa chữa những góp ý đúng đắn của nhân dân. Bởi, tầm trí tuệ, tai mắt của nhân dân rất tinh tường, nhìn nhận, đánh giá cán bộ, đảng viên khá chính xác; ai có trách nhiệm, làm việc có hiệu quả, ai làm tắc trách, quan liêu, nhũng nhiễu dân đều được nhân dân đánh giá. Vì vậy, xác lập cơ chế để thu thập, tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân là hết sức cần thiết để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cần kết hợp các kênh góp ý, như nhân dân trực tiếp góp ý, phản ánh, thông qua hội nghị góp ý phê bình cho cán bộ, đảng viên thông qua hòm thư góp ý hoặc thông qua tổ chức đại diện, như Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng... Đây là cơ sở để tổ chức đảng có thêm thông tin, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, xây dựng tổ chức đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên hiệu quả, nhất là trong điều kiện mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động hiện nay.

Cần khẳng định, sự hiện diện của văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là yêu cầu khách quan, nội tại, mang tính quy luật, do đó đặt ra cho toàn Đảng, cấp ủy các cấp và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao tính đảng, lương tâm, danh dự, trách nhiệm của người cộng sản để phấn đấu, rèn luyện. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta”, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh phải “đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa(24); để Đảng ta mãi mãi trường tồn, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với đất nước, dân tộc./.

----------------------