Thứ Hai, 17 tháng 4, 2023

Ngăn chặn trẻ hóa bệnh suy thoái

 


 

    Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống là căn bệnh vô cùng nguy hiểm, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, với phương châm lấy xây để chống, phòng bệnh hơn chữa bệnh, ngăn chặn sự lây lan, phát triển của căn bệnh suy thoái trong giới trẻ đang đặt ra những yêu cầu, thách thức mới...

Khi người trẻ mắc bệnh suy thoái

    Thời gian gần đây, dư luận tích cực trên không gian mạng bày tỏ bức xúc trước việc nhiều đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài thường xuyên lên mạng xã hội tung tin xuyên tạc, nói xấu đất nước, xúc phạm danh dự lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh chính trị. Điều đáng bàn ở đây là đại đa số những đối tượng phản động này đều còn trẻ. Trước khi quay lưng, phản bội Tổ quốc, họ từng là những trí thức trẻ, từng có thời gian là công chức, viên chức, công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị ở một số địa phương. Do bất mãn với tổ chức, non kém về tư tưởng chính trị, bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, họ đã bị căn bệnh suy thoái tấn công. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, biến mình trở thành những con rối cho các thế lực thù địch ở hải ngoại giật dây. Sau khi ra nước ngoài sống lưu vong, chúng trở thành những kẻ phản bội, càng ngày càng điên cuồng thực hiện các hành vi phản quốc.

    Dù chỉ là những thành phần cá biệt, nhưng thực trạng này cho thấy khi căn bệnh suy thoái trẻ hóa, mức độ nguy hiểm đối với môi trường chính trị và đời sống xã hội là vô cùng lớn. Hằng ngày, hằng giờ, chúng ra rả các luận điệu phản động trên không gian mạng làm cho một bộ phận giới trẻ trong nước bị tác động, ảnh hưởng bởi tư tưởng thù địch, dẫn đến dao động, bi quan, phai nhạt niềm tin.

Nhìn rộng ra, sâu hơn những vụ án tham nhũng lớn được đưa ra ánh sáng công lý thời gian qua, chúng ta thấy hành vi tham nhũng, suy thoái đều liên quan đến những cán bộ có chức quyền. Cán bộ có chức quyền càng to, ảnh hưởng của suy thoái càng lớn. Tuy nhiên, để đến lúc phải điều tra, xử lý thì đó là giải pháp “trị bệnh”. Làm sao để cán bộ, đảng viên không “nhúng chàm” thì phải coi trọng “phòng bệnh”, ngăn ngừa các mầm mống dẫn đến suy thoái ngay từ khi còn trẻ.

    Biểu hiện phổ biến của tình trạng trẻ hóa bệnh suy thoái là sự thờ ơ, bàng quan với lợi ích dân tộc, chỉ tập trung lo kiếm tiền, không quan tâm đến các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, không thiết tha vào Đảng. Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trẻ thì đó là biểu hiện né tránh đấu tranh, dĩ hòa vi quý, mũ ni che tai, tư tưởng cầu an, lười học chính trị, lười nghiên cứu nghị quyết... Thực trạng này ở một bộ phận không nhỏ người trẻ đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, đó là “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Khi một người trẻ bị hổng kiến thức lý luận chính trị, không được bồi đắp tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đến nơi đến chốn thì đến lúc anh ta giàu lên, rất dễ trở thành những “trọc phú” thời đại mới. Khi những “trọc phú” ấy tìm cách “chui” vào hệ thống chính trị để thăng tiến thì nguy hại cho tổ chức đảng, cho vận mệnh chính trị của đất nước là rất khó lường. Thực tế đã chứng minh không ít người giàu có sau khi có chân trong hệ thống chính trị, hành vi kiểu “trọc phú” của họ đã gây ra những hệ lụy phức tạp cho tổ chức. Đối với những người trẻ “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”, từ suy thoái đạo đức, lối sống đến suy thoái tư tưởng chính trị là khoảng cách rất mong manh. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nêu rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc...

Không thể cứ hô hào chung chung

    Ở phường 14, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Thôn được coi là một trong những người rất có uy tín. Ông là Anh hùng LLVT nhân dân, từng hoạt động tình báo trong lòng địch. Sau khi thực hiện thành công phi vụ cài bom cho nổ tung kho vũ khí lớn của địch ở sân bay Biên Hòa năm 1972, ông bị chỉ điểm và bị địch bắt. Trong thời gian bị giam cầm tại khám Chí Hòa (Sài Gòn), ông Thôn nhiều lần chạm mặt những tướng cướp khét tiếng như Điền Khắc Kim, Lâm “chín ngón”...  Danh tiếng của những “đại ca” giang hồ này khiến bất cứ tù nhân nào cũng e sợ, nhưng với Nguyễn Văn Thôn thì ngược lại. Khi biết ông là tác giả của vụ nổ long trời lở đất ở sân bay Biên Hòa, ngay cả các “đại ca” giang hồ cũng bày tỏ sự thán phục, kính nể. “Tôi chẳng phải là người có võ nghệ cao cường gì, nhưng họ nể là vì mình có bản lĩnh. Người có bản lĩnh thì ở đâu, lúc nào cũng giữ được vị thế, giá trị của mình, kể cả khi đứng trước giang hồ cộm cán. Bản lĩnh ấy phải thông qua giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng mới có được. Thiếu và yếu bản lĩnh thì càng làm to càng dễ “chết”. Tiêu cực, suy thoái là từ trong suy nghĩ, tư duy mà ra. Đổ lỗi do cơ chế, khách quan chỉ là cách ngụy biện của người kém bản lĩnh. Ngụy biện cho cái sai cũng là một dạng suy thoái”, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Thôn “chốt” như vậy khi chúng tôi phỏng vấn. Những năm gần đây, ông Thôn luôn là nhân tố “truyền lửa” cho các tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương. Cấp ủy, chính quyền và các cơ quan, đoàn thể coi ông là vốn quý trong công tác giáo dục, bồi đắp lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ.

    Dẫn một câu chuyện cụ thể như vậy để thấy, giáo dục, tuyên truyền, xây dựng bản lĩnh chính trị nhằm ngăn ngừa nguy cơ suy thoái trong giới trẻ phải thực hiện ngay từ cơ sở, thông qua những việc làm, chương trình cụ thể. Nếu chỉ tuyên truyền kiểu hô hào chung chung, rất khó để đưa thông điệp, tư tưởng thấm vào tư duy người trẻ. Bởi, trong kỷ nguyên 4.0, sự tiếp nhận, sàng lọc, đào thải thông tin diễn ra rất gay gắt. Chỉ những thông tin thực sự hấp dẫn, có ích, có sức thuyết phục mới có sức mạnh cảm hóa. Tìm những nhân tố tích cực, điển hình, đặc biệt là những người có uy tín trong cộng đồng dân cư để làm gương giáo dục là cách làm không mới, nhưng luôn luôn đòi hỏi chúng ta phải quan tâm đổi mới cách làm, thực hiện bằng trách nhiệm, tâm huyết cao nhất mới mong có kết quả.

Vài dẫn chứng từ thực tiễn

    Ngày 22-3, Ban Đại diện Báo Quân đội nhân dân tại TP Hồ Chí Minh nhận được thư mời của Quận ủy quận 7, TP Hồ Chí Minh mời tham dự cuộc tọa đàm giữa Thường trực Quận ủy với bí thư, cấp ủy chi bộ chung cư và đại biểu cán bộ, đảng viên trên địa bàn quận. Sự kiện sẽ diễn ra vào ngày mai (24-3). Nhận thấy đây là hoạt động rất hữu ích, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với đồng chí Võ Khắc Thái, Bí thư Quận ủy quận 7. Đồng chí Võ Khắc Thái cho biết: Cuộc tọa đàm nhằm tìm giải pháp kiện toàn, phát triển tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của chi bộ đảng, phát huy vai trò nòng cốt của cán bộ, đảng viên ở các khu chung cư trên địa bàn quận. Quận 7 là địa bàn có rất nhiều khu chung cư. Cộng đồng dân cư ở các khu chung cư đa số là người trẻ, trong đó có nhiều cán bộ, đảng viên. Nhận thức rõ vai trò của chi bộ đảng và cán bộ, đảng viên ở các chung cư, lãnh đạo quận chủ trương đẩy mạnh các hình thức, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các chi bộ chung cư vững mạnh. Chi bộ sát cánh cùng Ban quản trị chung cư triển khai các hình thức, biện pháp quản lý, tuyên truyền pháp luật, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng đến với mọi cán bộ, đảng viên và người dân. Đây là một trong những hình thức sinh động, hiệu quả để đưa nghị quyết của Đảng thấm sâu vào đời sống xã hội. Thông qua các hình thức tọa đàm để lan tỏa tinh thần, thông điệp, ý nghĩa giáo dục đến với cộng đồng dân cư nhằm bồi đắp lý tưởng cách mạng, thiết thực phòng, chống suy thoái trong giới trẻ...

    Đây là một dẫn chứng sinh động từ thực tiễn. Chung cư là một đặc trưng của đời sống xã hội ở các đô thị lớn. Công tác quản lý nhân khẩu, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội không thể tách rời công tác giáo dục, tuyên truyền chính sách, xây dựng môi trường văn hóa. Đặc trưng đó đã tạo môi trường thuận lợi để cấp ủy địa phương đẩy mạnh xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là chi bộ chung cư.

    Các hoạt động tọa đàm đã được Quận ủy quận 7 chỉ đạo, triển khai nhiều lần trong hệ thống chính trị các cấp và các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, trường học... trong thời gian qua. Những hình thức hoạt động tương tự như trên cũng đã được cấp ủy ở nhiều địa phương, đơn vị tổ chức. Trực tiếp tham dự và theo dõi các hoạt động này, chúng tôi nhận thấy đó là không gian, môi trường được nhiều người quan tâm. Với tinh thần dân chủ, thẳng thắn, các cuộc đối thoại, tọa đàm giúp cấp ủy, người lãnh đạo các cấp nắm chắc thực tế từ cơ sở, qua đó kịp thời điều chỉnh, bổ sung chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo. Trong môi trường học đường, doanh nghiệp, tổ chức Đoàn Thanh niên các cấp, những hình thức như: Thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng tiếng Anh; thi Olympic Triết học, tư tưởng Hồ Chí Minh; thi “Rung chuông vàng” tìm hiểu lịch sử Đảng... rất được bạn trẻ yêu thích. Đó là những cách làm năng động, sáng tạo để dẫn dắt người trẻ trở thành chủ thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó cũng là cách “lấy xây để chống”, góp phần ngăn chặn tình trạng trẻ hóa bệnh suy thoái.

PQ st

Lời Bác dạy: Ngày 18/4

 


“... Nhân dân nước nào cũng yêu chuộng hòa bình, cũng chán ghét chiến tranh, cũng muốn sống tự do độc lập”.

Đây là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết chúc mừng Hội nghị Á-Phi (các nước châu Á và châu Phi), được khai mạc vào ngày 18 tháng 4 năm 1955, tại Băng-đung (In-đô-nê-xi-a).

Tham dự hội nghị có đại biểu của 29 quốc gia, đại diện cho 1.440 triệu nhân dân châu Á và châu Phi (trong đó có đoàn đại biểu Việt Nam). Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Chúc mừng Hội nghị Á - Phi”. Người ca ngợi cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Á-Phi vì độc lập, tự do, hòa bình, dân chủ và bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam đối với cuộc đấu tranh của nhân dân các nước châu Á và châu Phi.

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống lại các thế lực ngoại xâm để giành và bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trải qua những cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, chịu đựng biết bao mất mát, hy sinh, hơn ai hết, dân tộc ta nhận rõ giá trị của hòa bình, độc lập, tự do. Bởi vậy, yêu chuộng hòa bình là một trong những truyền thống nổi bật, là nét đẹp văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.

Kế tục truyền thống yêu chuộng hòa bình, giữ vững ý chí độc lập, tự do; trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển đã thực hiện thành công chủ trương “Giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, mà thường xuyên trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển và quan điểm: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; trong đó biện pháp chủ yếu là thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan, vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và vì hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế. Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Lời Bác dạy: Ngày 17/4

 


 “Anh hùng là những người thật cần, kiệm, liêm, chính, hết lòng hết sức phục vụ kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, của giai cấp”.

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Ai là Anh hùng?”, bút danh C.B, đăng trên Báo Nhân Dân số 54, ngày 17-4-1952. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta liên tiếp giành được nhiều thắng lợi trên chiến trường, xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng, dũng cảm trong chiến đấu, tiêu biểu trong sản xuất. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng trước tiên phải là người có đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính; có những phẩm chất cao đẹp của đạo đức cách mạng: Cần cù, siêng năng, tiết kiệm, trong sạch...; đồng thời phải hết lòng, hết sức phục vụ kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, là đầy tớ của nhân dân. Đó là những người đặt lợi ích cách mạng cao hơn hết; có tinh thần trách nhiệm và tính tích cực hơn hết; lòng son dạ sắt, suốt đời đấu tranh vì lợi ích của cách mạng, của dân tộc, không bao giờ nghĩ đến lợi ích riêng cho mình.

Để động viên, khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua hăng hái sản xuất, chiến đấu, Đảng và Nhà nước đã tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ nhất, từ ngày 1 đến 6-5-1952, tại Chiến khu Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự, chỉ đạo và phát biểu tại đại hội. Đây là đại hội đánh dấu những thắng lợi của phong trào thi đua diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm. Thành công của đại hội đã cổ vũ, động viên quân và dân cả nước tiến lên giành thắng lợi to lớn trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt Phong trào Thi đua yêu nước, Phong trào Thi đua Quyết thắng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn ra sức học tập, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân; có phẩm chất đạo đức, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có trình độ kỹ chiến thuật tốt, làm chủ các loại vũ khí, trang bị; có ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh, đoàn kết gắn bó mật thiết với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng. Bất luận trong hoàn cảnh nào, khó khăn đến đâu, cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc, nhân dân; là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, xứng đáng với danh xưng Bộ đội Cụ Hồ.

Lời Bác dạy: Ngày 16/4

 

 “Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được”.

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ III năm 1962. Trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi báo chí và đội ngũ người làm báo là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân.

Người cho rằng, hoạt động báo chí thực chất là hoạt động chính trị, báo chí là vũ khí đấu tranh cách mạng, nên báo chí cách mạng trước tiên phải mang tính chiến đấu, tính định hướng và tính quần chúng. Bác đặc biệt lưu ý với những người làm báo phải có bản lĩnh và hiểu biết sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, phải giữ đúng tôn chỉ mục đích của báo chí cách mạng, tiên phong trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng-văn hóa, làm sáng tỏ mục tiêu của cách mạng Việt Nam, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ và thiện cảm của bạn bè quốc tế, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Báo chí quân đội là một bộ phận quan trọng của báo chí cách mạng Việt Nam; kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam, luôn bám sát, tôn chỉ mục đích, là lực lượng nòng cốt, tin cậy trong việc thông tin, tuyên truyền kịp thời về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, đối ngoại; luôn xung kích đi đầu trong việc tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng về công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước... tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và đáp ứng tốt nhu cầu hưởng thụ thông tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Tư tưởng “chính trị là gốc, chính trị trọng hơn quân sự” của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đòi hỏi phải không ngừng xây dựng quân đội, đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; phải có tổ chức mạnh, chủ trương đúng, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Lời Bác dạy: Ngày 15/4

 


 “…Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ…”.

Đây là lời Bác viết Trên Báo Sự thật số 109, ra ngày 15 tháng 4 năm 1949 trong  bài “Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng” của tác giả L.T (bút danh của Người). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách để làm sao kẻ địch không thực hiện được thủ đoạn phản tuyên truyền; đó là, “không có gì hơn là tránh các khuyết điểm, sửa chữa khuyết điểm”, còn nếu khi đã phạm khuyết điểm, thì dù “mình muốn bưng bít, người ta cũng biết”. Người còn khẳng định: “Một đoàn thể hoặc chính quyền mà che giấu khuyết điểm của cán bộ mình là một đoàn thể hoặc chính quyền “yếu ớt”, “thoái bộ”. Đoàn thể và chính quyền có can đảm vạch rõ khuyết điểm của cán bộ mình, có phương pháp sửa chữa cho cán bộ, thì “uy tín chẳng những không giảm bớt, mà lại thêm cao. Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”. Người nhấn mạnh: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. Bác Hồ chủ trương tất cả cán bộ, từ cấp trên đến cấp dưới, phải “thi đua sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm”.

Thực hiện những chỉ huấn của Người, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác tự chỉnh đốn, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm; đề cao tự phê bình và phê bình, xác định là nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng để khắc phục những khuyết điểm đã được chỉ ra sau kiểm điểm tự phê bình, phê bình. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng. 

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã triển khai quyết liệt việc tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, lãng phí, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tạo không khí phấn khởi trong toàn xã hội, tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Thực hiện lời Bác dạy, các cấp ủy, tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, coi đây là vũ khí sắc bén ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên, là cách tốt nhất để không ngừng củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện nghiêm khắc, ráo riết, triệt để, không nể nang, không “dĩ hòa vi quý”; căn cứ vào sự việc có thật để nhận xét, phân tích, đánh giá, chỉ rõ cả ưu điểm, khuyết điểm, có lý, có tình, để khuyến khích phần thiện trong mỗi con người nảy nở, thức tỉnh, nâng đỡ người có sai lầm khuyết điểm tiếp thu phê bình, sửa chữa lỗi lầm, khuyết điểm.

Tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc trong tự phê bình và phê bình là tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau; cấp trên tự giác, gương mẫu tự phê bình trước để cấp dưới noi theo, phê bình từ trên xuống, từ trong cấp ủy ra ngoài quần chúng, ai cũng thực hiện tự phê bình và phê bình, coi đây là việc làm thường xuyên, hằng ngày.

Lời Bác dạy: Ngày 14/4

 


“…Đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri”.

Trong buổi thăm và nói chuyện với Đại hội đại biểu nhân dân Thủ đô ngày 14 tháng 4 năm 1964, nhân cuộc bầu cử Quốc hội khóa III, Bác cho biết, bản thân Người đã làm đại biểu Quốc hội gần 20 năm, nhưng vì nhiệm vụ và yêu cầu của cách mạng nên vẫn chưa thể thảnh thơi vui thú thanh nhàn được.

Bác hứa: “Cố gắng phấn đấu và phấn đấu mạnh, phấn đấu cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; phấn đấu ủng hộ đồng bào miền Nam, phấn đấu cho sự nghiệp hòa bình, thống nhất nước nhà, phấn đấu cho:

Nam Bắc sum họp một nhà

Cho người thấy mặt thì ta vui lòng”.

Và Bác căn dặn: “…Đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri”

Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân,… Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”. Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân (gọi chung là đại biểu dân cử) là dịp để người dân thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, trực tiếp lựa chọn những người có đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân bầu vào cơ quan quyền lực nhà nước các cấp, thiết thực góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

Mỗi cử tri khi tham gia bầu cử không những là niềm vinh dự được thực hiện quyền dân chủ, mà còn là nghĩa vụ công dân, thể hiện trách nhiệm chính trị của mình đối với vận mệnh đất nước, với bao thế hệ đã chiến đấu, hy sinh để giành lại quyền thiêng liêng cho dân tộc là độc lập, tự do. Lá phiếu bầu cử biểu hiện sâu sắc lòng tin của dân với Đảng, với chế độ. Mỗi lá phiếu của cử tri đều mang theo quyền lợi và trách nhiệm của người công dân góp phần xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn nhận thức sâu sắc niềm vinh dự, tự hào khi được thực hiện quyền lợi, trách nhiệm của người công dân, đã nghiên cứu và lựa chọn cho mình những đại biểu ưu tú, tiêu biểu về đức - tài để bầu vào đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gánh vác trọng trách lớn lao mà nhân dân tin tưởng trao gửi.

Lời Bác dạy: Ngày 13/4

 


“…Pháo binh ta có truyền thống oanh liệt, chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”.

 Đây là nội dung trong thư khen ngợi bộ đội Pháo binh mà Bác Hồ gửi ngày 13 tháng 4 năm 1967 vì đã lập được thành tích vẻ vang bắn trúng nhiều tàu chiến, bắn chìm nhiều tàu biệt kích của Mỹ - Ngụy và đánh trả pháo binh địch ở Cồn Tiên - Dốc Miếu. Trong thư khen, Người còn cǎn dặn: "Phải ra sức học tập và thi đua với pháo binh quân giải phóng miền Nam tài giỏi, anh hùng".

 

Binh chủng Pháo binh là binh chủng chiến đấu, binh chủng kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trưởng thành trong chiến đấu và gắn liền với những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, không ngừng lớn mạnh, trưởng thành trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; truyền thống của Bộ đội Pháo binh gắn liền với truyền thống và sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Pháo binh luôn khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm sắt đá, vượt mọi khó khăn gian khổ, tích cực huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, đoàn kết tốt, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, nắm chắc kỹ, chiến thuật, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Phát huy truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội, truyền thống vẻ vang của binh chủng, mỗi cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Pháo binh không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực làm chủ tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, đoàn kết thống nhất, xứng đáng với truyền thống “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng” và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

 NGƯỜI VẼ HUY HIỆU ĐOÀN

Chặng đường 92 năm của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trải qua biết bao thăng trầm cùng sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhưng có lẽ ít ai biết về người vẽ Huy hiệu Đoàn!

Sau 20 năm thành lập (năm 1951), nhận thấy sự cần thiết phải có biểu trưng riêng cho tổ chức của mình (lúc ấy là Đoàn Thanh niên Cứu quốc) và để thể hiện đặc trưng tính tiên phong của Đoàn Thanh niên nên Trung ương Đoàn giao trách nhiệm cho 2 họa sĩ Huỳnh Văn Thuận và Tôn Đức Lượng sáng tác mẫu Huy hiệu Đoàn. Đây là vinh dự và cũng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, với mục tiêu làm sao phải truyền tải được ý chí và tinh thần của Đoàn Thanh niên Cứu quốc, sức mạnh của thanh niên Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này, vì vậy đòi hỏi 2 họa sĩ phải sáng tác với tâm huyết cũng như tinh thần trách nhiệm rất cao. Trong thời gian nhanh nhất, 2 họa sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ với 2 mẫu huy hiệu và đưa đến cho Bác Hồ chọn lựa. Bác Hồ đã chọn mẫu huy hiệu của họa sĩ Huỳnh Văn Thuận làm huy hiệu chính thức của Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Bác ghi bên dưới bản vẽ: “Huy hiệu Đoàn Thanh niên là tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên, ý nghĩa của nó là thanh niên phải xung phong gương mẫu trong mọi lĩnh vực công tác, trong học tập, lao động và rèn luyện đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát...”.

Huỳnh Văn Thuận là một trong những họa sĩ thế hệ đầu tiên của mỹ thuật Việt Nam. Ông nhớ lại: “Lúc ấy, tôi chỉ nghĩ một điều rất đơn giản và tâm huyết rằng, lớp thanh niên, đặc biệt là đoàn viên là những người tiên phong đi đầu cầm lá cờ đỏ sao vàng tiến lên dưới sự lãnh đạo vẻ vang của Đảng, của Đoàn, học tập, lao động và chiến đấu vì Tổ quốc thân yêu. Từ ý tưởng ấy, tôi chọn bàn tay cầm ngọn cờ Tổ quốc đang tung bay trong gió với tư thế sẵn sàng tiến bước, thế là tôi vẽ thôi, không ngờ được Bác Hồ chọn”.

Theo Điều lệ mới của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Huy hiệu Đoàn có đổi mới đôi chút. Huy hiệu Đoàn vẫn giữ nguyên cấu trúc hình khối ban đầu, chỉ khác cán cờ Tổ quốc to và chắc chắn hơn; nắm tay cầm cờ to, khỏe, tròn nét; da tay màu trắng; tay áo màu xanh lá cây, rõ nét xắn tay. Hình tròn nhỏ bên trong cũng màu xanh lá cây được chia ô lớn bằng các vạch trắng nét nhỏ, mảnh. Hình tròn lớn bên ngoài có viền mảnh màu xanh lá cây cùng dòng chữ “Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh” màu đỏ trên nền trắng.

Với tác phẩm huy hiệu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, họa sĩ Huỳnh Văn Thuận đã tạo một dấu ấn tốt đẹp đối với thế hệ trẻ, một dấu ấn khó phai trong sự nghiệp hội họa của mình nói riêng, trong nền mỹ thuật cách mạng Việt Nam nói chung.

 DỌN DẸP PHIM ĐỘC HẠI TRÊN MẠNG.

Thời nay, nhiều người muốn nổi tiếng thường qua hai con đường: Tài năng và chiêu trò. Hiện nay, đa phần nhà sản xuất web drama chọn nổi tiếng bằng chiêu trò. Bởi vậy thị trường web drama-phim được chiếu trên nền tảng mạng xã hội (phim mạng) sản sinh nhiều bộ phim nhảm nhí, phản cảm, độc hại.

Sự bùng nổ của thể loại phim này thời gian qua ngoài lý do kiếm tiền một cách dễ dàng thì còn liên quan đến khâu kiểm duyệt. Sự kiểm duyệt lỏng lẻo khiến thị trường béo bở này trở thành “vàng thau lẫn lộn”. Việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa thành lập tổ công tác quản lý hoạt động phổ biến phim trên không gian mạng để “dọn dẹp” những nội dung xấu độc là một quyết định đúng, tuy muộn còn hơn không. Công tác kiểm duyệt phim chính là điểm tựa để bảo vệ khán giả, nghệ sĩ cũng như các tác phẩm nghệ thuật chân chính.

Những đoạn phim trái với thuần phong mỹ tục có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi, nhận thức của con người. Nó sẽ hướng con người tới những hành vi tiêu cực trong xã hội, đặc biệt là đối với giới trẻ. Do non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm sống, cùng đặc điểm tâm lý thích tìm hiểu, thể hiện cá tính nên một bộ phận giới trẻ chịu sự tác động rất mạnh từ những vấn đề đương đại, trong đó có xu hướng nội dung ngắn trên nền tảng mạng xã hội như phim mạng, TikTok, Instagram, Facebook...  

Họ sẽ coi những tệ nạn đó là có thật đang diễn ra ngoài xã hội. Dần dần, người trẻ sẽ hình thành lối sống thờ ơ, thực dụng, thậm chí có nhận thức và hành vi sai lệch trong xã hội. Chưa kể, xu hướng khó cưỡng của những nội dung dạng ngắn sẽ dần khiến con người có thói quen tiếp nhận kiến thức bề nổi. Con người trở nên lười nhác, quên việc đào sâu kiến thức ở những nội dung dạng dài như đọc sách, xem phim tài liệu... dù điều này giúp người xem hiểu sâu về một chủ đề cụ thể và sẽ rất hữu ích trong quá trình ra quyết định của họ sau này.

Web drama hay những phim ngắn là sản phẩm của thời đại số, nên việc kiểm duyệt sẽ vô cùng khó khăn, bởi hệ thống của chúng ta có lẽ chưa bắt kịp xu hướng, sự phát triển đó. Vì vậy, ngoài sự vào cuộc của các cơ quan liên quan, cần sự tham gia, liên kết các cơ quan chức năng trong việc xử lý vấn nạn này. Khi web drama được đưa vào quản lý, nhà sản xuất phải chủ động gắn mác cho sản phẩm. Nhà quản lý đưa ra những biện pháp về mặt kỹ thuật để ngăn chặn. Các nhà cung cấp dịch vụ cũng cần chủ động chặn những nội dung không tốt trên các kênh của mình.

Trong khi chờ đợi các giải pháp được đưa vào hiệu quả, mỗi chúng ta cần nâng cao nhận thức, ý thức, thẩm mỹ. Các cơ quan báo chí truyền thông cần tích cực hơn trong việc tuyên truyền với người dân về tác hại đối với việc xem những nội dung xấu độc. Nhà trường cũng nên đưa nội dung kỹ năng tồn tại trong thế giới số như một kỹ năng cần thiết để dạy ở các cấp học. Xây dựng năng lực số cho học sinh để các em có thể tạo được màng lọc trong việc lựa chọn những sản phẩm có giá trị trên không gian mạng. Gia đình cần quản lý con em mình tốt hơn trong việc sử dụng các thiết bị thông minh. Chỉ khi con trẻ được trang bị những kiến thức, kỹ năng tốt trong xã hội số thì những nội dung ngắn và kể cả dài có nội dung xấu độc sẽ không còn chỗ đứng và ảnh hưởng đến sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của con trẻ.


CỤC AN TOÀN THÔNG TIN CẢNH BÁO 16 HÌNH THỨC LỪA ĐẢO PHỔ BIẾN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VIỆT NAM

Theo Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông, có 16 hình thức lừa đảo thường xuyên diễn ra trên không gian mạng Việt Nam. Người dùng cần nâng cao cảnh giác để nhận biết, phòng tránh.

Ước tính Việt Nam hiện có hơn 70 triệu người sử dụng Internet. Trong giai đoạn đẩy mạnh và tăng tốc chuyển đổi số hiện nay, các đối tượng xấu đã lợi dụng sự bùng nổ về công nghệ thông tin, những tiện ích mà công nghệ thông tin mang lại để thực hiện nhiều vụ lừa đảo trực tuyến, chiếm đoạt tài sản có giá trị cao trên không gian mạng.


TTXVN

"Chỉ sợ lòng dân không yên"

 

Trong di sản Hồ Chí Minh có những từ "sợ", "lòng dạ", "lòng dân", "lương tâm", "chính tâm", "niềm tin". Đáng chú ý nhất khi Người nói "chỉ sợ lòng dân không yên".

Có mấy trường hợp điển hình Bác nói đến những cụm từ trên. 

Thứ nhất, chuyện kể rằng sau Cách mạng Tháng Tám thành công, có cán bộ cao cấp hỏi Bác: "Thưa Bác, cách mạng thành công rồi, chính quyền về tay nhân dân, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Bác có điều gì sợ không ạ?". Bác trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi trả lời: "Bác vẫn còn một điều sợ, đó là sợ các chú làm bậy, ảnh hưởng đến uy tín của Chính phủ, dẫn đến mất lòng tin của nhân dân".Đối chiếu câu chuyện ở trên với những bài viết, bài nói của Bác ngay sau Cách mạng Tháng thành công nhận thấy rất logic, rất hợp lý. Đúng nửa tháng sau Tuyên ngôn độc lập, trong "Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà", Người đã nói đến việc đề phòng hủ hóa, cán bộ lên mặt làm quan cách mạng, độc hành độc đoán, hoặc dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng), v.v.. Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lung lay.

Trong bài "Sao cho được lòng dân" Người viết: "Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư".

Ngày 17/10/1945, trong bài "Gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng" đăng báo Cứu quốc, sau khi nêu thành tích nhiều người làm theo đúng chương trình của Chính phủ và rất được lòng dân, Bác chỉ ra sáu lầm lỗi rất nặng nề như: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Những người mắc lỗi lầm đó tưởng mình là thần thánh, coi khinh dân gian, huênh hoang, khoác lác, kiêu ngạo, cử chỉ vác mặt "quan cách mạng", làm mất lòng tin cậy của dân, hại đến uy tín của Chính phủ.

Thứ hai, tháng 6/1949, trong tác phẩm Cần Kiệm Liêm Chính, khi bàn về chữ Liêm, Bác viết "cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp "dĩ công vi tư"

Thứ ba, tháng 9/1950, trên đường đi chiến dịch Biên giới, ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong, Bác làm bài thơ có 4 câu: "Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên". 

Thứ tư, tại kỳ họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1966, Bác nói: "Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng/ Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên". 

Thứ năm, tháng 6/1968, khi nêu ý kiến về làm và xuất bản loại sách "Người tốt việc tốt", Bác nói: "Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân".

Một lần duy nhất khi trả lời một nhà báo nước ngoài của báo Frères D'armes, khi được hỏi: "Chủ tịch sợ gì nhất?", Bác trả lời: "Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì". Như vậy theo Bác, một người yêu nước, người cách mạng thì không sợ gì cả, chỉ sợ lòng dân không yên, vì lòng dân không yên, mất lòng dân là mất tất cả.

Xâu chuỗi những bài viết, bài nói của Bác liên quan tới những cụm từ trên cần nhận thức thấu đáo rằng Bác cho ta thấy sức mạnh của nhân dân gồm hệ thống một nguồn lực như tài dân, sức dân, của dân, quyền hành, lực lượng; khôn khéo, trí tuệ, thông minh, sáng tạo, hăng hái, anh hùng, dũng cảm, cần cù. Đó là sức mạnh chúng ta có thể nhìn thấy.

Còn một nguồn "sức mạnh mềm" tiềm ẩn bên trong có ý nghĩa nền tảng, động lực, tiền đề của những sức mạnh trên, đó là lòng tốt, lòng trung thành của nhân dân. Lòng dân là sức mạnh vô biên, vô địch, có ý nghĩa quyết định thành bại của cách mạng.

Bác viết "dân rất tốt". Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Cán bộ, đảng viên phải ghi tạc vào đầu cái chân lý ấy. Nếu cán bộ, đảng viên có tâm trong sáng, chính trực, biết nuôi dưỡng, vun bồi, khơi dậy lòng tốt của dân - tuyệt đối không được lạm dụng, lợi dụng lòng tốt đó - thì dân sẽ ủng hộ, giúp đỡ ta.

Nói với Công an nhân dân, Bác chỉ rõ ta được lòng dân thì không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì không thể làm tốt công tác. Nói về Chính phủ lo phấn đấu cho lợi ích của nhân dân nên nhân dân hăng hái, hoàn toàn tin tưởng và nhiệt liệt ủng hộ Chính phủ, Bác kết luận: "Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được; trái ý dân thì chạy ngược chạy xuôi".

Khi Bác nói "nước lấy dân làm gốc", "dân là gốc" cần được hiểu lõi cốt của gốc là lòng dân. Việc gì đúng với nguyện vọng và hợp lòng dân thì được quần chúng ủng hộ và hăng hái đấu tranh. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thành công hoàn toàn.

2. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay khi bước vào sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm đầu tiên là trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc". Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2021), nghị quyết các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII nhấn mạnh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của cán bộ, đảng viên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Trong thời gian gần đây, Tổng Bí thư Đảng ta trăn trở nhiều về hai chữ "lòng dân" bởi nó liên quan tới vận mệnh của Đảng, của Tổ quốc, dân tộc và chế độ. Ông viết: "Cần khẳng định, ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả" (Nguyễn Phú Trọng: Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2019, tr.80). Từ đó, ông nhấn mạnh: "Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm" (Nguyễn Phú Trọng: Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Sđd, tr.116-117).

Gần đây, khi bàn về một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, người đứng đầu Đảng ta suy nghĩ nhiều về các giải pháp thúc đẩy công cuộc đổi mới. Cùng với việc chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, ông nhấn mạnh hai nhân tố có ý nghĩa quyết định. Đó là cùng với việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển.

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, Đại hội XIII rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó bài học thứ hai có tinh thần, nội dung cốt lõi là lòng dân, sức dân, niềm tin của nhân dân. Đảng ta khẳng định: "Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa".

Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người viết Di chúc được coi như cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh theo tinh thần đổi mới (quốc bảo). Theo Bác, xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn là một nhiệm vụ hết sức to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này, cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cho thấy chỉ có dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân, làm hợp lòng dân thì mới đi tới thắng lợi hoàn toàn.

PGS. TS Bùi Đình Phong

"Giải phóng tư tưởng để khắc phục việc cán bộ thụ động, không dám làm"

 

 Tại buổi làm việc của Chính phủ với Thành ủy TPHCM, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung chỉ ra những điểm vướng cần tháo gỡ, trong đó quan trọng hàng đầu là việc giải phóng tư tưởng với cán bộ.

Sáng 16/4, tại TPHCM, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì buổi làm việc của Thường trực Chính phủ với Ban Thường vụ Thành ủy TPHCM về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.

Nêu vấn đề, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, TPHCM là đầu tàu kinh tế, là trung tâm văn hóa, xã hội của khu vực phía Nam và cả nước. Thành phố phát triển hay khó khăn đều tác động đến tình hình phát triển chung của cả nước."Cán bộ... 3 không, vừa làm vừa nghe ngóng"

Báo cáo của Thành ủy TPHCM cho biết, năm 2022 dù có nhiều khó khăn song Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố đã nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng.

Tuy nhiên, sang quý 1/2023, tình hình phát triển kinh tế của thành phố gặp khó khăn. GRDP của thành phố năng động nhất nước chỉ tăng 0,7% so với cùng kỳ. Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, sụt giảm; tốc độ tăng trưởng chậm dần, dẫn đến vai trò đầu tàu, động lực tăng trưởng kinh tế của cả nước có phần giảm sút…

Phát biểu tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho rằng, việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho thành phố để thúc đẩy tăng trưởng là quan trọng nhất thời điểm hiện tại. Bộ trưởng đề xuất 4 vấn đề mà Thành ủy, UBND Thành phố cần sớm giải quyết để thúc đẩy tăng trưởng.

Bộ trưởng nhấn mạnh: "Tôi cho rằng, vấn đề quan trọng hàng đầu của Thành phố cũng như một số địa phương là phải giải phóng được tư tưởng cho cán bộ lãnh đạo và những người thực thi. Muốn làm được điều này, làm sao phải khắc phục được tư tưởng thụ động, không dám làm".

Theo Bộ trưởng, tư tưởng thụ động của một bộ phận cán bộ hiện nay thể hiện ở "3 không": không nói, không tham mưu đề xuất và không triển khai hoặc triển khai cầm chừng, vừa làm vừa nghe ngóng.

Ông cho rằng muốn khắc phục được vấn đề này, ngoài quán triệt chủ trương còn phải có cơ chế, quy định và tạo môi trường an toàn cho cán bộ làm việc.Vấn đề thứ 2 mà Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhắc đến là tăng trưởng kinh tế và đầu tư công. Thực tế, kết quả thực hiện các mục tiêu của TPHCM trong quý 1/2023 chưa đạt được mong muốn nên phải tập trung, đẩy nhanh tăng tốc từ quý 2/2023. Do đó, việc quan trọng nhất đối với thành phố trong thời gian tới là giải ngân đầu tư công.

Vấn đề thứ 3, lãnh đạo Bộ LĐ-TB&XH đề nghị Thành ủy, UBND TPHCM chú trọng phát triển lĩnh vực dịch vụ. Ông đánh giá, khu vực dịch vụ của thành phố đang lộ rõ 2 dấu hiệu đình trệ: hoạt động của các nhà hàng, khách sạn cho thuê chưa trở lại được như thời kỳ trước Covid-19 và việc thu hút lượng khách quốc tế không đạt. Trong khi đó, đây là những thị trường rất quan trọng đối với nền kinh tế.

Sau cùng, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhắc tới vấn đề doanh nghiệp và lao động. Ông bày tỏ lo lắng vì chưa bao giờ khu vực miền Tây có tỷ lệ thất nghiệp cao như quý 1/2023 (2,64%, cao hơn so với bình quân 2,22% của cả nước). Điều này cho thấy, lực lượng lao động tại TPHCM đã trở về miền Tây và nhìn chung là tỷ lệ không nhỏ lao động của khu vực Đông Nam bộ về quê và không trở lại.

Để giải quyết vấn đề doanh nghiệp và lao động, người đứng đầu ngành đề nghị Thành ủy, UBND Thành phố đẩy mạnh thực hiện 3 nội dung.

Thứ nhất, thành phố phải tập trung thực hiện các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp ổn định tình hình sản xuất kinh doanh, từ đó ổn định thị trường lao động.

Thứ hai là chú trọng hơn đến tuyên truyền, vận động để ổn định, không để xảy ra tình trạng người lao động ồ ạt rút bảo hiểm xã hội một lần như thời gian vừa qua. Việc này gây hệ lụy rất lâu dài cho người lao động.

Thứ ba, TPHCM hiện có 86 hồ sơ đã chuyển sang đề nghị các cơ quan chức năng xem xét, đề nghị xử lý khởi tố đối với những trường hợp nợ đọng bảo hiểm xã hội, trốn đóng bảo hiểm xã hội mà chưa xử lý được bất cứ trường hợp nào.

"Tôi đề nghị mạnh dạn làm thí điểm một vài trường hợp để rút kinh nghiệm trên quy mô toàn quốc về hướng xử lý tình trạng này" - Bộ trưởng Đào Ngọc Dung phát biểu.

Liên quan đến các nội dung quản lý về lao động - thương binh và xã hội, chính quyền TPHCM đề xuất sửa đổi Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam; sửa Luật Giáo dục nghề nghiệp, Quyết định 46/2015/QĐ-TTg quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng và thí điểm cấp phép qua giao dịch điện tử.

Với 3 vấn đề trên, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung khẳng định, Bộ LĐ-TB&XH sẽ cố gắng giải quyết trong thời gian sớm nhất với tinh thần quyết tâm nhanh nhất để giúp TPHCM tháo gỡ khó khăn.

Như việc sửa đổi Nghị định 152, Chính phủ đã giao cho Bộ LĐ-TB&XH thực hiện trong tháng 11/2023 nhưng nếu như trong kỳ họp tới, Chính phủ cho bàn nội dung này, Bộ LĐ-TB&XH sẽ quyết tâm làm xong trong đầu tháng 7.

75 năm khắc ghi lời Bác dạy "Nước lấy dân làm gốc… xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân"

 

Tư tưởng "nước lấy dân làm gốc…xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" là lý tưởng, mục tiêu sống và chiến đấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cả cuộc đời của Người đều lấy Nhân dân làm lẽ sống, làm mục tiêu phụng sự.

Tư tưởng ấy soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, không ngừng được Đảng ta bổ sung và phát triển trong công cuộc đổi mới hiện nay.

1. "Nước lấy dân làm gốc"

Trong suốt hơn 1.000 năm đấu tranh chống xâm lược thời kỳ Bắc thuộc đã minh chứng vai trò, sức mạnh to lớn của nhân dân. Nhận thức được điều đó, nhiều triều đại phong kiến đã dựa vào dân, tin dân, thương yêu nhân dân để xây dựng đất nước. Thời kỳ Lý - Trần, Vua Lý Thái Tổ đã thực hiện xóa thuế cho dân, không phải để cứu trợ trong hoàn cảnh khó khăn do thiên tai mà thể hiện sự cảm thông với cuộc sống vất vả của họ. Lý Thường Kiệt yêu cầu phải khoan hòa giúp đỡ trăm họ, yêu mến, quan tâm đến sự no ấm của dân, phải nuôi dưỡng người già nơi thôn dã: "Làm việc cốt tránh phiền dân. Sai khiến dân, cốt khuyên nhủ dân vui theo… Đem bụng khoan thư cứu dân, lấy lòng nhân ái yêu dân…Lấy no đủ làm nguyện vọng của dân, coi việc cày cấy làm gốc của nước…"[1]. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn luôn căn dặn "chúng chí thành thành", "khoan thư sức dân" là thượng sách để giữ nước. Vua Trần Minh Tông động lòng thương xót trước sự nghèo khổ của nhân dân: "Hết thảy sinh dân đều là đồng bào của ta, nỡ lòng nào để cho bốn bể khốn cùng"[2] . Sau mỗi cuộc kháng chiến giành độc lập cho dân tộc, các triều đại thường hạn chế việc huy động sức dân vào việc phu phen, tạp dịch mà tập trung sức dân để khôi phục kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, tạo cơ sở huy động sức người, sức của khi đất nước lâm nguy. Yêu nước, thương dân, quan tâm đến nguyện vọng, đời sống của nhân dân cũng là mục tiêu chính trị nhằm cứu nước, an dân của Nguyễn Trãi - Người "suốt đời mang một hoài bão lớn: làm gì cho dân, người dân lầm than khổ cực"[3]. Ông luôn chủ trương phải yêu nuôi nhân dân để cho các làng mạc không có tiếng oán giận than sầu, không được sưu cao thuế nặng mà phải chăm lo đến cái ăn, cái học của dân.

Kế thừa và phát huy truyền thống yêu dân, an dân giữ nước của cha ông ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 để làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi lầm than, áp bức. Trong suốt hơn 90 năm Đảng ra đời đã luôn mang trong mình yếu tố dân tộc, đồng hành cùng Nhân dân, Nhân dân đi theo Đảng, Đảng vì Nhân dân, tạo nên ý Đảng - lòng dân, trường tồn phát triển. Ngày 5/4/1948, trong lúc nhân dân cả nước đang thi đua lập công chống thực dân Pháp xâm lược, Người viết bài "6 điều nên làm và 6 điều không nên làm", khẳng định "Nước lấy dân làm gốc…Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"[4]. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nước ta là một nước dân chủ, cho nên:

"Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền  từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân"[5].

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng trong mọi công việc, Đảng, Nhà nước đã xác định "dân là gốc" thì "đừng có làm điều gì trái ý dân", "Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại"[6]. Dân là chủ, là gốc, thì Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên phải phục vụ Nhân dân, học hỏi Nhân dân, "Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân"[7].

Khẳng định Đảng là Đảng lãnh đạo, nhưng lãnh đạo không có nghĩa là "ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống các địa phương kiểm tra công tác"[8], mà "lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt". Bằng cách cắt nghĩa đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ "Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đày tớ cho quần chúng… Xa quần chúng là hỏng, cần phải nhớ nhiệm vụ của Đảng là làm đầy tớ cho quần chúng"[9]. Làm "đầy tớ nhân dân" với ý nghĩa cao đẹp nhất là phục vụ Nhân dân, học hỏi Nhân dân, đem lại hạnh phúc cho Nhân dân, làm cho Nhân dân hài lòng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Không học hỏi nhân dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân"[10]. Một cách tiếp cận khác mang tính nguyên tắc thể hiện chiều sâu và bề rộng của nội hàm "dân là gốc", cho thấy Đảng và Nhà nước khi đã xác định "lấy dân làm gốc" thì phải hoàn thành trách nhiệm, bổn phận với dân không chỉ là vấn đề lợi ích mà sâu xa hơn là tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, bàn bạc với dân, học hỏi dân, gương mẫu và tự phê bình trước dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ để chữa bệnh quan liêu, xa dân, khinh thường dân, phụng sự nhân dân tốt, có một "đơn thuốc" - nguyên tắc là: "Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:

Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;"

Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo"[11].

2. Phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về "lấy dân làm gốc" trong công cuộc đổi mới hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Muốn đem sức dân, tài dân, của dân để làm lợi cho dân thì cán bộ từ trên xuống dưới, từ Trung ương đến địa phương; từ Đảng, chính quyền cho đến các cơ quan, tổ chức, đoàn thể; từ cán bộ lãnh đạo cho đến mọi đảng viên, tất cả phải hết lòng hết sức vì dân, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân: "Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta".[12] 

Người căn dặn, Đảng Cộng sản Việt Nam "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phấn đấu", và "ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác". Do đó, "phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là: hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối"[13]. 

Tiếp nối tư tưởng lấy dân làm gốc, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phấn đấu, "xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân", hơn 90 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định: "Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng"[14]. Vì thế, phải thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng", đồng thời lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: "trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân"; kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"; "Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa"[15]. Điều đó khẳng định, "dân là gốc" là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ cương lĩnh, chủ trương, đường lối, chính sách và phản ánh quan điểm của Đảng về mục tiêu, động lực của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Với tinh thần đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: "Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng Nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì Nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm"[16].

*************

Thực tiễn những năm qua đã chứng minh một cách hùng hồn, "lòng dân" là cội nguồn sức mạnh, quyết định sự thành bại của công cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả xây dựng đất nước, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Tin vào dân, quy tụ được lòng dân, khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc là nhân tố quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước bối cảnh trong nước và quốc tế nhiều biến động rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo hiện nay, nhằm xây dựng đất nước vững mạnh, phát huy hiệu quả của công cuộc đổi mới, việc dựa vào nhân dân, khai thác mọi nguồn lực trong dân, phát huy tiềm năng, sức mạnh toàn dân tộc, là "nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên" của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị theo tư tưởng "lấy dân làm gốc" của Bác Hồ kính yêu.

Dân trí.

Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh vô song

 

Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì "sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn".

Đại đoàn kết toàn dân/đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là một giá trị tinh thần, một truyền thống quý báu được hun đúc suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nhờ có đại đoàn kết toàn dân tộc mà đất nước Việt Nam trường tồn, chiến thắng mọi thiên tai, địch họa, dịch bệnh, khó khăn… Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì "sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn".Đại đoàn kết làm nên sức mạnh của dân tộc

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết chính là sức mạnh, là cội nguồn của mọi thành công: "Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi" và "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công"[1]… Cho nên, dù là "đại đoàn kết toàn dân"/"đại đoàn kết toàn dân tộc"/"đoàn kết dân tộc"/"toàn dân tộc ta đoàn kết"… thì đó cũng chính là "trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, cái gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác"[2] và "trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; và công, nông, trí cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối"[3] để giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Hiểu một cách cụ thể nhất, thì đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đại đoàn kết tất cả các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, không phân biệt nam hay nữ, già hay trẻ, ở miền xuôi hay miền núi, người Việt Nam hay kiều bào ta đang sinh sống ở nước ngoài… thành một khối vững chắc trên cơ sở thống nhất về mục tiêu chung và những lợi ích căn bản. Song cũng theo Người, thì đại đoàn kết toàn dân tộc không đơn giản chỉ là tổ chức, tập hợp lực lượng, mà cao cả hơn thì "đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà"[4], bởi đó là điều kiện sống còn đối với sự nghiệp cách mạng; đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu, vừa cấp bách vừa thường xuyên, liên tục cần phải thực hiện nghiêm túc.

Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc kiến thiết đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh vừa xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng, vừa là đòi hỏi tự thân của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, cho nên, trong bất kỳ thời điểm nào, hoàn cảnh nào việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng được chú trọng thực hiện. Vì thế, kiên cường trong hành trình đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng đất nước khỏi kiếp lầm than cũng như trong 30 năm trường kỳ tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1945-1975), khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam không chỉ được xây dựng, củng cố, bồi bắp bằng tinh thần và ý chí: "Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, Chỉ có một ý chí: Quyết không chịu mất nước, Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại"[5], mà còn ngày càng được phát huy trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ dừng lại ở việc lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm nền tảng, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế, mà còn phải được định hướng bởi một đường lối chính trị đúng đắn dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời cũng phải luôn luôn phòng, chống khuynh hướng cô độc, hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc thì nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mới được củng cố, bền vững và phát huy được sức mạnh. Cho nên, mỗi khi phải đối diện với khó khăn, thử thách như đất nước gặp nạn ngoại xâm, hay một vùng của đất nước gặp lũ lụt, hạn hán, thiên tai, bão giông, dịch bệnh, nhất là trong đại dịch Covid-19 những năm qua… thì lại thêm một lần nguồn sức mạnh đại đoàn kết của giang sơn, gấm vóc Việt được nhân lên bởi những con người chân thành trong nghĩ suy và hành động; yêu nước bằng nhiệt huyết, trái tim ấm nóng, tấm lòng rộng mở và bản lĩnh kiên cường; bao dung, nhân ái và sẵn sàng sẻ chia… cùng tụ lại như "dải Trường Sơn hùng vĩ", như "biển Đông dạt dào sóng vỗ"…

Kiên trì thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước

Thực tế cho thấy, 48 năm sau ngày miền Nam được giải phóng, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, với một đường lối chính trị đúng đắn, một chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc nhất quán, xuyên suốt theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy tụ được mọi người dân Việt Nam yêu nước chân chính, mọi nguồn lực "con Lạc cháu Hồng" dù đang sinh sống ở trong nước hay định cư ở nước ngoài trên cơ sở trân trọng và phát huy những yếu tố tương đồng, thống nhất để giải quyết các yếu tố khác biệt, mâu thuẫn một cách phù hợp; để cùng góp sức thực hiện nhiệm vụ trọng tâm vì "TỔ QUỐC TRÊN HẾT" ở mọi nơi và mọi lúc"[6]. Thực tế cũng cho thấy, một đất nước Việt Nam đã, đang và ngày càng hồi sinh sau những năm dài chiến tranh, từng bước vươn mình trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, khẳng định được vị thế của mình trong khu vực và trên trường quốc tế chính là nhờ đã quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc được tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Mẫu số chung của khối đại đoàn kết dân tộc theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", là mỗi người dân đều có quyền được sống, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc; là sự chung sức, đồng lòng vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, ngày càng phát triển phồn vinh, hùng cường, nhân dân được sống trong ấm no, hạnh phúc... Cho nên, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay chính là sự liên kết, gắn bó tất cả các thành viên các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, mọi giới, mọi lứa tuổi, ở mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác, người đã nghỉ hưu… trong đại gia đình dân tộc Việt Nam (dù sống trong nước hay ở nước ngoài) thành một khối vững chắc, ổn định, lâu dài trên tinh thần xóa bỏ thành kiến, thật thà đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ để cùng phụng sự Tổ quốc và nhân dân.

Trong khối đại đoàn kết đó, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt, đông đảo nhất, đồng thời là cơ sở vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thông qua khối liên minh này, Đảng, Nhà nước tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân lao động khác tham gia quản lý nhà nước, làm chủ xã hội, làm cho lợi ích giai cấp gắn chặt với lợi ích dân tộc để tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Đó chính là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó chính là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Vì thế, có thể khẳng định rằng, khi chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, giang sơn gấm vóc Việt Nam càng cần phải "không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta"[7] như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định, mà cụ thể là cần lắm những người có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân, song cũng đồng thời kiên quyết phê phán, phản đối và bác bỏ những luận điệu phản động nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Và cũng vì thế, để củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì hơn bao giờ hết, cần phải chú trọng thực hiện "đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầng lớp nào và quá khứ họ đã hợp tác với phe nào. Trên nền tảng vững mạnh là lực lượng vô địch của tối đại đa số nhân dân ta (tức là giai cấp công, nông), với một cương lĩnh rộng rãi và một chính sách đúng đắn, với sự đoàn kết nhất trí của tất cả những người xứng đáng là con Lạc cháu Hồng"[8] như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Đồng thời, phải chủ động nhận diện và bác bỏ các luận điệu phản động, nhân danh dân chủ, nhân quyền, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, tôn giáo… vừa xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, giữa nhân dân các vùng miền với nhau; giữa đồng bào Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số anh em, giữa đồng bào và kiều bào ta đang cư trú ở nước ngoài mà các thế lực thù địch tung lên mạng xã hội.

Dân trí.

ĐẤT NƯỚC THOÁT KIẾP NÔ LỆ NHƯNG NHIỀU NGƯỜI VẪN NẰM TRONG VŨNG LẦY TĂM TỐI CỦA TƯ TƯỞNG VONG QUỐC NÔ!

     Nước Việt Nam chúng ta nằm dưới sự cai trị của chế độ Phong kiến nhiều năm, kể từ ngày Pháp nổ súng đánh vào cửa biển Sơn Trà - Đà Nẵng năm 1858 và chính thức mất nước năm 1884. Nhà Nguyễn với chính sách "bế quan tỏa cảng", dẫn đến không theo kịp đà phát triển của khoa học, kỹ thuật, đất nước dần lạc hậu và bị xâm lược như mỗi lẽ tất yếu của chân lý thuộc về kẻ mạnh. Vậy nên dễ hiểu khi bị xâm lược và trở thành thuộc địa của Thực dân Pháp một thời gian dài. Mà bản chất của thực dân là bóc lột thuộc địa và chế độ ngu dân, cái ngu dân để trị ấy, có vẻ ám ảnh mãi không thôi. Hiện nay một bộ phận người dân vẫn mang tư tưởng tự nhục, không phải vì họ không có học, thiếu nhận thức mà là vì tư tưởng me Tây, sính ngoại đã ngấm vào máu thịt của nhiều tông tộc, truyền lại cho con cháu họ. Dần dà, vào thời hội nhập, chịu ảnh hưởng của "truyền thông phương Tây" cũng như "báo chí kền kền" trong nước, một thảm họa gọi là "văn hóa tự nhục" từ đó mà sinh ra.
     Vũ Trọng Phụng, ông vua phóng sự đất Bắc là người để lại cho đời nhiều tác phẩm kinh điển. Số Đỏ lột tả bản chất của những kẻ mang tiếng là dân trí thức có chút của cải, đọc dăm tờ lá cải, học theo vài thứ văn hóa méo mó do Pháp đưa sang rồi tự xem mình là thượng đẳng, chê bai văn hóa truyền thống. Hay làn sóng văn minh phương Tây cưỡng ép đã tạo nên những sự thay đổi lố lăng, kệch cỡm với đủ trò giả trá, mị dân mà xóm Thị Cầu (Kỹ nghệ lấy Tây) là ví dụ minh họa cho sự biến đổi đầy chua chát đó. Những tưởng những thứ đó đã được cuốn trôi theo vũ bão của phong trào cách mạng, của thắng lợi huy hoàng khi đất nước đánh tan ách đô hộ, xâm lược của ngoại bang. Nhưng không, thứ tư duy quái thai, vong bản đó vẫn tồn tại và hiển hiện thường xuyên trên các diễn đàn, ngay trong tư tưởng của một bộ phận không nhỏ người Việt Nam.
     Ngày nay, tuy trình độ dân trí tăng cao nhưng hệ lụy của chế độ ngu dân của Pháp còn ảnh hưởng đến tận bây giờ. Nhiều người trong số chúng ta vẫn mang tư duy nô lệ, tự xem văn hóa phương Tây là thượng đẳng và chê bai văn hóa cổ truyền, nâng cao Tây lên mây xanh và tự dè bĩu, khinh miệt chính đồng bào mình. Áo dài được xem là Quốc phục của người Việt Nam qua tiến trình phát triển của nền văn minh Hồng Lạc, thế nhưng khi đất nước mong muốn bảo tồn văn hóa truyền thống thì đám lều báo, báo lá ngón lại bỉ bôi, phì cả ra ngoài theo cái bỉu môi dài thườn thượt khi có vận động viên mang áo dài trong một cuộc thi chạy ở Huế. 
     Họ cho như thế là phản cảm, là xấu xí. Thế nhưng, khi người Anh ăn lông ở lỗ, trần truồng trước cung điện Alexandra thì "những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, tư tưởng" thuộc báo Tuổi Trẻ cho đó là "khoả thân vì nghệ thuật". Tâng bốc, ca ngợi hết lời. Như thể cô Tuyết trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng được tiếp cận với áo cooc sê với các mốt kiểu mới như "ởm ờ", "hãy chờ một phút" hay hân hoan, vui mừng kiểu bà Phó Đoan được Tây phong cho "tiết hạnh khả phong", cho dù bà Phó Đoan "trinh tiết" cũng ngang hàng với kỹ nữ lầu xanh. Chao ôi! Đất nước đã giải phóng, thống nhất lâu rồi nhưng tư tưởng me Tây, sính ngoại và tự nhục về văn hoá dân tộc của một bộ phận không nhỏ người dân xứ An Nam thì vẫn còn cần có một "trận mưa rào" để xoá sạch vết nhơ nhớp khó gột rửa đó. 
     Vũ Trọng Phụng có đội mồ sống dậy cũng chỉ biết ngửa mặt lên trời mà than rằng: một lũ vong bản, một lũ vong quốc nô, một bọn lai căng, một lũ bội tình. Nói như cụ Phan Chu Trinh là cần phải khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, đưa ánh mặt trời chói lọi để xoá hết mây mù u tối của tư duy nô lệ./.
Yêu nước ST.